Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, August 27, 2017

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN 21; 23


              Nhà thơ Chu Vương Miện



CHÙM THƠ CVM 21

nhai trầu nhả bã
hút thuốc phà hơi
tình nghĩa chúng mình chỉ thế thôi ?
ăn bánh trả tiền
toàn vé một chiều
chả có khứ hồi
nước sông công tù
con bướm vàng đậu nhành mù u
trái mù u ép làm dầu để đốt
tình trái ngang từng đợt gió giao mùa
cuộc đời xơ xác hơn rổ rá
cạp lại mà chi ? những mảng đời
cũng đành xếp xó chờ nấu cháo
thay củi cho qua nốt phận người
lênh đênh sương khói bên làng xóm
lỡ đò như lỡ một cuộc vui
thơ văn lỡ cỡ theo bèo dạt
hụt nhau như hụt mất câu cười
em về bên nớ ngày tháng hạ
ta kẹt nơi này lá đang rơi ?

sắc sắc không không 
không không sắc sắc
nay còn mai mất
nay khóc mai cười
ngang dòng sông trôi ?


CHÙM THƠ CVM 23

chỗ núi cao
chỗ đất trũng
nơi đồng lúa 
chốn xe ngưa
chốn xe lửa
người đi bộ
người đi ô tô
trường giang
sóng sau xô sóng trước
trường đời 
sóng trước dìm sóng sau
làm sông 
thì lặng lẽ qua cầu

Nguyễn Du đã buồn
Nguyễn Bính càng buồn hơn
huống gì  Nguyễn Bắc Sơn ?
buồn trước 
buồn sau?
chiến tranh Trịnh Nguyễn
chiến tranh Gia Long Tây Sơn
và bây giờ chiến tranh
còn khốc liệt hơn ?
miền Bắc khó khăn
theo miền Bắc
miền Nam đau buồn 
theo miền Nam
đông tây toàn tro than ?

CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN 21; 23

ĐỜI CHỈ CẦN - Thơ Thủy Điền

         
                       Tác giả Thủy Điền                              
                       
ĐỜI CHỈ CẦN

Đời chỉ cần một chút tia cũng đủ
Thấy bóng mình đang hiện diện trần gian
Thấy con đê dẫn về đến cổng làng
Thấy cha mẹ, anh em, người lân cận

Đời chỉ cần một chút là: Ánh sáng
Để nhìn đời cái trắng lẫn cái đen
Để xem ai vinh, ai kẻ thấp hèn
Mà còn tránh, tôn sùng , kính phục

Nếu không gian chỉ vàng. Tuy, một chút
Là cuộc đời nầy còn thấy thảnh thơi
Còn như đen thâm thẩm một bầu trời
Chắc có lẽ? Dường như là tận thế

Người và vật sẽ xào... cùng một bể
Lòng hận thù sẽ chồng chất lẫn nhau
Chẳng còn ai nghĩ đến chữ " Đồng bào"
Tình dân tộc sẽ chìm trong thống khổ.

                                       Thủy Điền
                                      27-08-2017

READ MORE - ĐỜI CHỈ CẦN - Thơ Thủy Điền

MÙA VU LAN CON KHÓC - Thơ Lệ Hoa Trần





MÙA VU LAN CON KHÓC

Mùa Vu Lan ngồi khóc
Tiếc, mẹ đã qua đời
Bỏ con lại đơn côi
Muốn tỏ lòng báo hiếu

Nhưng, người đã tiêu diêu
Ba mươi năm thì đã
Cứ mỗi mùa thu qua
Là lòng con ray rứt

Muốn ôm hoa trước ngực
Qùy dưới chân mẹ hiền
Giữa giờ phút thiêng liêng
Dâng mẹ đóa hoa hồng

Thế mà, rồi cũng không
Mẹ ơi ! Người vàng ngọc
Mùa Vu lan con khóc
Vì chẳng trọn chữ "Tình"

Nơi Suối vàng yên tĩnh
Con mong mẹ thứ tha
Lòng con luôn muốn trả
Những ân nghĩa, sanh thành

Nhưng đời chia đôi cánh
Kẻ Địa ngục, trần gian.

              Lệ Hoa Trần
              26-08-2017

READ MORE - MÙA VU LAN CON KHÓC - Thơ Lệ Hoa Trần

Saturday, August 26, 2017

CHIẾC LÁ - Thơ Nguyễn An Bình





CHIẾC LÁ

Ồ! Chỉ là chiếc lá
Lăn tăn rồi lăn tăn
Tìm một đời khác lạ
Dòng đời trôi mênh mông.

Bay trong màu nắng sớm
Bay trong hạt mưa chiều
Bay trong làn sương lạnh
Bay xuống đời quạnh hiu.

Reo vui cùng ngọn gió
Hòa giọng hót loài chim
Miên man nghe suối kể
Một chuyện tình không tên.

Có gì đâu bối rối
Có gì phải ăn năn
Dù tan theo vệt khói
Vàng giữa mùa đục trong.

Tình yêu quá nhỏ bé
Hạnh phúc lại mong manh
Ngàn năm sau có lẽ
Chiếc lá rơi vô tình.

Tiếng vĩ cầm đêm vắng
Thanh âm thật mơ hồ
Rót vào em lời vọng
Nốt nhạc trầm mùa thu.

       Nguyễn An Bình
           17/8/2017

READ MORE - CHIẾC LÁ - Thơ Nguyễn An Bình

MẤT - Thơ Trần Mai Ngân





MẤT

Tạ ơn đời khốn khó
Đưa ta lại gần nhau
Tạ ơn đời chiêm bao
Một cuộc tình xanh xao

Tháng Tám có qua mau
Rủ đi mùa đã cũ
Dắt tay nhau đọa đày
Qua vũng lầy cơn say

Tạ ơn đời chẳng hay
Người rời như giấc mộng 
Tôi học bài sắc không
Nhưng lòng sao đau nhói...

Không quen được mất người 
Tôi học cười, học khóc 
Tạ ơn đời mưa móc
Ta chẳng còn của nhau!

             Trần Mai Ngân

READ MORE - MẤT - Thơ Trần Mai Ngân

Friday, August 25, 2017

GẶP NHAU, ĐỜI NGƯỜI TỰA, DÔNG LUÔN - Thơ Chu Vương Miện


             Nhà thơ Chu Vương Miện


GẶP NHAU

gặp nhau dang dở dở dang
cùng chung một chuyến chiều tàn về không
khi xưa em cũng có chồng
mà nay phiêu bạt tang bồng chốn nao ?
mùa xuân hoa mận hoa đào
mùa thu hoa cúc rộn chào nơi nơi
trời ơi đời đáng mớ đời
bỏ em kẹt giữa chợ trời vắng teo ?
hoàng hôn quán xá tiêu điều
kẻ buôn ngườì bán xế chiều đường xa
chuyện gần lan tới hôm qua
chuyện nay toàn chuyện con gà lứa heo
văn chương giá rẻ ngang bèo
mươi hai bến nưóc chèo queo một mình
dở dang ôi chuyện cũng đành


ĐỜI NGƯỜI TỰA

Bóng câu cửa sổ
Đời ong ruồi làm tổ cành cao
Giật mình tỉnh giấc chiêm bao
Thì ra toàn những tào lao báo đời ?
Khóc cũng đó mà cười cũng đó
tuồng tích nào mặt đỏ mặt xanh
thân chim đâu được lià cành
làm sen thân ở dưới bùn muôn năm ?
mười hai tháng chỉ nằm dưới đất
Nhìn khung trời vằng vặc toàn sao 
năm canh gió thổi lào xào
Bên ao bèo với kiếp nghèo nối nhau
Kiếp bò với lại kiếp trâu
Nhai trầu nhả bã trắng đầu nhớ thương


DÔNG LUÔN

Trải manh chiếu bên nền nhà cũ
Nằm thiu thiu chả ngủ chả nghê
Màn đêm im lặng tứ bề
Mà nghe đất chuyển lòng về cố hương
Chuyện làng xóm ba đường bảy ngả
Chuyện phố phường xác lá rừng thu
Loanh quanh từ bạn ra thù
Lộn qua lộn lại giữa tu với đời
Giới xuống tóc năm ngơi cửa Phật
Người tóc dài chật vật áo cơm
Nhìn về biển lặng đông nam
Ồ con thuyền đã giăng bưồm dông luôn

Nơi chốn cũ bến ngang bến dọc
Chợ vắng người rời rạc bán mua
Trời buồn trời đổ cơn mưa
Người buồn nằm đẫy giấc trưa cũng buồn
Đò ngang trôi hết đường trở lại
Đò dọc thì mát mái dọoc luôn
Sớm mai rồi lại chiều hôm
Qua ngày đoạn tháng cỏ vườn mọc cao ?
Trăng cũng lặn mà sao cũng lặn
Một cánh đồng hiu quạnh cò bay
Nhìn trời nhìn đất nhìn mây
Mây bay vô dịnh gió xoay vật vờ
Cuối đời nào khác bài thơ ?

CHU VƯƠNG MIỆN


READ MORE - GẶP NHAU, ĐỜI NGƯỜI TỰA, DÔNG LUÔN - Thơ Chu Vương Miện

LỤC BÁT, ƯỚC MƠ... - Thơ Tịnh Đàm


            Tịnh Đàm


LỤC BÁT

Anh ru sợi tóc em dài
Làm duyên con gái miệng hoài dạ thưa.
Anh ru giọt nắng đong đưa
Về giăng cánh mộng như xưa ,chốn này .
Anh ru nỗi nhớ trong tay
Thả lên trời hóa mây bay trắng lòng. !
Anh ru đời với ước mong
Sẽ yêu thương mãi ở trong kiếp người .
Anh ru, Ru mãi, ru hời
Tình yêu thêm đẹp những lời cho nhau 


ƯỚC MƠ...

Ước mơ cũng chỉ nhỏ nhoi,
Mà sao lại thấy hiếm hoi với mình !
Đời buồn,nên mãi lặng thinh
Nghe đau một chút nhân tình thế gian !
Niềm riêng theo tiếng cười khan,
Vọng về đâu lúc hơi tàn âm hao ?!
Cõi người với những khát khao,
Sẽ như sóng vỗ rì rào khơi xa !

                          Tịnh Đàm
                 (Hóc Môn, TP.HCM) 

READ MORE - LỤC BÁT, ƯỚC MƠ... - Thơ Tịnh Đàm

NHỚ CHÚ CHẾ LAN VIÊN - Hồi ký của Lâm Bích Thủy


       
          Lâm Bích Thủy thời chưa lập gia đình



NHỚ CHÚ CHẾ LAN VIÊN

Chú đi khỏi thị trấn An Nhơn, khi tôi còn là hạt bụi. Tại Hà Nội, tôi ở xa gia đình. Tốt nghiệp ra trường về miền sơn cước (Nông Trường QD Ba Vì, Sơn Tây) công tác. Tôi chỉ mường tượng về chú qua những cuộc tranh luận của các  nhà  thơ - bạn văn của ba tôi tại 37 Hàng Quạt mà thôi. 
  
Lúc chú bị bệnh phổi, được Chính phủ ta cho sang Trung Quốc điều trị. Được một năm, bệnh chưa khỏi mà họ vẫn trả về; nghe nói phổi chú có vấn đề! 
   Trước đây, tôi thường nghe mọi người ca ngợi tình bằng hữu của nhóm Tứ hữu Bàn Thành; tôi không để tâm về vấn đế này. Song có một cảm nhận rõ trong tôi là cái tình mà ba tôi dành cho gia đình chú Chế Lan Viên khác xa tình bạn; đó là sự thương yêu, chăm sóc đùm bọc như người anh cả đối với đứa em út ruột thịt: Vào những ngày nắng ráo, tôi thấy ông già chạy lên chạy xuống gác gỗ mong manh từ nhà lên gác thượng để phơi sách, báo v.v...; ông lấy gạch chặn lên từng xấp tài liệu để khỏi bay. Thấy ông cứ chạy lên chạy xuống tôi lo ông ngã nên hỏi:
  - Con thấy những thứ này khô rồi, có mốc ỉu gì đâu mà ba phơi kỹ vậy?”
- Của chú Chế Lan Viên nhờ ba phơi cho chết vi trùng (lao), Nhà chú không có trần; các em lại còn nhỏ, chú sợ lây bệnh cho chúng . 
           
Chế Lan Viên thời còn trẻ


  Trước đây tôi thường nghe các chú ca ngợi tài văn của chú Chế Lan Viên: Năm 1938, chú đã xuất bản tập “Điêu tàn”. Ở tập thơ đầu đời này thể hiện rõ nổi đau sâu kín trong tâm hồn của một cậu bé mới 18 tuổi, do đồng cảm với nỗi đau mất nước của một dân tộc đang dần đến chỗ diệt vong, chú trở thành thần đồng về thơ thời đó. 
   Khi chiến tranh ở Miền Bắc trở nên ác liệt, tôi lại nghe các chú Hổ, Long nhất là bác Khương Hữu Dụng v.v...bình thơ chú Chế rất sôi nổi: “Thơ Chế bây giờ mang hình viên đạn nhiều hơn mùa xuân” Sở dĩ có nhận xét này là do trong một bài thơ nào đó có câu “hạnh phúc nhất trên đời là được đi đánh Mỹ”. Ba tôi không tán thành ý nghĩ đó của chú, rằng:
 “Sao Chế lại có ý nghĩ đi đánh Mỹ là hạnh phúc nhất đời  chứ? Nếu tất cả mọi người trên thế giới sống hòa bình với nhau có hơn không?” Bác Dụng đồng tình với ba, nói  “Không có gì hạnh phúc hơn khi con người được sống trong hòa bình, đoàn kết giúp đỡ, yêu thương nhau; không bom đạn, chết choc, được sống tự do thăm nhau... thế mới là hạnh phúc!“..Và tôi còn nghe tranh luận về tập thơ Vàng sao: 
- “Cái điên loạn trong “điêu tàn” người đọc có thể chấp nhận được, còn trong Vàng sao làm cho người ta không chịu đựng được nữa:
              Điên! Điên, điên và say nữa xin say
             Điên đến chết và say cho đến khóc
              Say thêm nữa! Phút giây điên vàng ngọc

Chính vì vậy Vàng sao không để lại cho người đọc một ấn tượng nào hết, nó lặng lẽ đi qua. Hình như chú Chế nhận ra, nên đã tâm sự với bạn trong một bức thư   
    “Mình thấy thơ nó (Tế Hanh) thơ anh em thì “chant”, “bel canto” còn mình thì hơi “cri”, “hurter” quá. Nói thế chứ còn nước còn  tát, Quí ạ.  Mình sẽ cố sửa chữa lại giọng mình”   
                                              (Thư đề ngày 15/9/1972)

Nhân một chủ nhật, Phan Lai Triều đến nhà thăm ba tôi và  lấy cây đàn Mandoline, tôi mượn để bập bênh cho vui mấy ngày nghỉ bù. Triều nói chuyện với ba tôi được một lúc thì tôi chen ngang; rất thẳng thắn, không úp mở: “Tớ nghe mọi người ca ngợi tình bạn của ba tớ và ba cậu, vậy mà chẳng thấy ba cậu đến nhà tớ bao giờ!” Chắc Triều về méc lại chú Chế. Ngay chủ nhật liền sau, chú và cô Thường tản bộ đến. Bước vào cửa, chú kịp cười chào ba má tôi, rồi đưa mắt tìm kiếm trong hai cô gái sàng sàng nhau, cùng nói “chào chú ạ”. Chú đưa mắt nhìn vào tôi, vào Tú Thủy, hỏi: “Trong hai, đứa nào là Bích Thủy”. Tú chỉ vào tôi:- “chú ơi, là chị này ạ”. Ba tôi nghe chú cháu hỏi nhau thì ngơ ngác; hết nhìn chú, lại nhìn tôi như muốn có lời giải thích của một ai đó, song tôi chỉ cười mỉm. Tôi lúc đó ư? chẳng hề ngạc nhiên khi biết, đó là chú Chế Lan Viên - ba của Phan Lai Triều đã bị tôi lục vấn hôm trước. Và tôi tin chắc, nếu còn sống đến giờ, ba tôi cũng không thể hiểu chuyện gì giữa tôi và chú Chế đâu.

                                                                                   Lâm Bích Thủy

READ MORE - NHỚ CHÚ CHẾ LAN VIÊN - Hồi ký của Lâm Bích Thủy

TÌNH ĐÃ LỠ - Thơ Lệ Hoa Trần





TÌNH ĐÃ LỠ

Tình đã lỡ biết bao giờ nhặt lại
Như nước tràn nào có lấy được chăng
Hoa đang tươi rồi bỗng héo úa tàn
Có vun mấy cũng thành loài phân dại

Tình đã lỡ anh ơi ! Đời con gái
Mất duyên rồi, phải chịu nửa chừng xuân
Có ngo ngoe thì cũng chỉ lững chừng
Không cao vút như ngày vừa mới lớn

Anh cũng thế, cũng y cơn sóng gợn 
Vỗ vào bờ còn lại bọt trắng trôi
Thầm, cô đơn, ngơ ngẩn đứng giữa trời
Ôm mặt khóc, để nghe tình dang dỡ

Tình đã lỡ một đời mang nhung nhớ
Biết nói gì khi số phận lao đao
Thôi thì đành xin hẹn lại kiếp sau
Tình hai đứa sẽ tròn duyên, mộng đẹp.

                                      Lệ Hoa Trần
                                      24-08-2017

READ MORE - TÌNH ĐÃ LỠ - Thơ Lệ Hoa Trần

TÔI BIẾT - Thơ Thủy Điền

 
                       Tác giả Thủy Điền



TÔI BIẾT

Tôi thấy, chiều nay gió lắm chiều
Bên nhà cây lá... dạt liêu xiêu
Khói cơm lay chuyển từng cơn sóng
Có lẽ ! Người đang vất vả nhiều

Tôi đoán, chiều nay mưa hắt hiu
Có nàng con gái nhỏ tôi yêu
Thò tay hé mở đôi cửa kín
Nhìn ngắm sang bên, ước đủ điều
  
Tôi biết, chiều nay gió thổi nhiều
Hồn ai se lạnh nỗi cô liêu
Không gian một bóng hình cô lẻ
Khát từng giọt ấm. Biết bao nhiêu.

                                   Thủy Điền
                                  25-08-2017

READ MORE - TÔI BIẾT - Thơ Thủy Điền

Thursday, August 24, 2017

CHÙM THƠ VỀ ỨC TRAI NGUYỄN TRÃI CỦA CHU VƯƠNG MIỆN


             Nhà thơ Chu Vương Miện




NGUYỄN ỨC TRAI
1
nhổ cỏ nhổ tận rễ
nói xong Trần thủ Độ ra khỏi chuà
 Lý Huệ Tôn lấy dây treo cổ
nhà Trần xử với nhà Lý ra sao ?
nhà Hồ xử với nhà Trần y vậy ?
sử sách còn ghi rành rành ra đấy ?
dân chỉ có mỗi việc 
sáng dẫn trâu đi chiều dẫn về ?
sáng ra đồng lúa tối xay lúa
sang đi tát nưóc chiều đặt lờ
bốn mùa, mùa nào cũng thiếu ăn cả
May mà tự chủ, đất nước tự do
tự do trong bệnh hoạn nghèo đói
tự do trong điệu hát câu hò !
con cháu nhà Trần nổi lên chống lại họ Hồ
và giặc Minh thừa cơ qua cướp nuớc ?
lội nước đi sau, ăn thì đi trước !
tài lỗ mồm đánh giặc thua ngay ?
vua quan tù binh một lũ đi đày
kẻ trước người sau chui qua ải bắc ?
con tiễn cha ngoài Nam quan đứng khóc !
bên này Đồng Quan, bên đó Kim Lăng
tên nước Đại Ngu, cha Thái thượng hoàng Hồ Quí Ly
vua con Hồ Hán Thương
chạy đến Thiên Cầm Sơn thời bị bắt 
phá đình phá chùa tiền giấy chính sách 
làm khổ nhân dân rách nát vô cùng !
dân hai miền khố rách áo ôm
nào sưu thuế còng lưng quá nặng
nay đào kinh mơi đào mương, liếp khoai liếp sắn
đời nhà Hồ người vật giống nhau ?
cũng đành bó tay cúi mặt cúi đầu
trưóc đế quốc mang quân sang xâm lưọc ?

2
Cát vần vũ bay trên trời ải bắc
Ngó phuơng nam thương đứt ruột là thương
hai cha con hai ngả hai đuờng?
đường đi tù đày, đường về khốn khổ
Mười năm trời Lam Sơn gian khó
Máu mồ hôi nưóc mắt toàn dân 
Đuổi quân thù ra khỏi cõi phiên cương
Dân Đại Việt vẫn lại hoàn  Đại Việt
chọn tự do hay là ôm nỗi chết 
nói loanh quanh cũng chỉ mỗi con đường ?
trận gió lào thổi tuốt lũ cuồng Minh
chạy thời chết qua quỉ môn quan là thoát ?
mười năm toàn dân thu hồi độc lập 
cởi ách xâm lăng, cởi ách ngục tù
ngó mặt trời rạng rỡ đến ngàn thu 

3
chuyện cũ mèm, công thành thân thoái
chả cần mang bàn cãi mà chi 
một vòng quay mặt nước phẳng lỳ
đi thời thoát, ở lại thời mất mạng
xưa Trương Lương bỏ đi thời sống 
Hàn Tín, Bành Việt, Quý Bố ở lại rơi đầu 
so với thời Tần có khác chi nhau ?
Phạm Lãi trốn vào Ngũ Hồ, Văn Chủng chết thảm
được cá quăng nơm, chuyện đời u ám
đuợc chim bẻ nỏ cũng chuyện đời thường 
chuyện đến đi  xuất sử một đường
nhanh chân sống chậm thời rạc gáo ?
đọc bao nhiêu sách thánh hiền, chưa thông lẽ đạo
nên giờ này cầm bút khóc Ức Trai !

4
danh mà chi ?
tài mà chi ?
trí sĩ Côn Sơn, 61 tuổi chưa thoát chết ?
một đời cúc cung tận tụy
tận trung báo quốc 
nhận đuợc tước phong 
tru di tam tộc 
Ta tiếc thương người
Ngó ải Chi Lăng,  Đồng Đăng
Mà rơi nuớc mắt !


TÂM SỰ ỨC TRAI

“Con thuyền lờ lững bên sông
Biết đem tâm sự ngỏ cùng ai đây?”
thuyền xuôi mặt nước lài lài
người lơ không lái thuyền trôi lờ vờ
một đời tóc trắng bạc phơ
Bình Ngô còn đó bao tờ hoa tiên
trai anh hung, gái thuyền quyên
Tây Thi sánh với Điêu Thuyền xứng đôi
lòng người là cả lò vôi
được chim bẻ ná, chim mồi giết ngay
còn ta mang cái thân gầy
về hưu mây trắng còn bay chập chờn
tấm lòng son với non sông

biết bao tâm sự nỗi lòng gửi ai ?



BÌNH NGÔ ĐẠI CẬT

"hỏi lại chuyện đành Tàu"
công thành thân thoái
dzọt lẹ thì còn cái gáo
chậm chân thời đi đoong
cáo chết, chó săn chim ưng
bị giết thịt
chuyện đời chuyện quan trường
không ai dám nói và cũng không ai viết
nhưng mà thiên hạ ai ai cũng biết 
công thành thân thoái
cáo lão hồi hưu thoát
loay hoay với tước công hầu
ở lại lim dim giấc Nam Kha
giấc hoè là mất đầu
chết không toàn thây
chết không kịp ngáp
vụ án Lệ Chi Viên
kết thúc đời đen bạc
" Bình Ngô Đại Cáo "
đành thôi, chờ kiếp khác !


TRƯỢNG PHU


ngay Ngưỡng Đức Đài
đối diện ải Nam Quan
vua và tôn thất nhà Hồ
các quan nhà Hồ
kẻ gông người xiềng 
người hai tay đeo xích sắt
bị bắt bị tù giải về Kim Lăng
hành tội mặt mũi phờ phạc 
quần áo tươm rách đang ngồi phệt dưới đất
uống nươc lã nhai cơm
cha Phi Khanh, con Nguyễn Trãi 
đứng ôm nhau khóc

nửa canh giờ sau cai tù cầm roi
đánh vèo vèo vào không khí
đoàn tù lam lũ mệt mỏi đứng lên
kẻ trước người sau nhục nhã cúi đầu
đi qua cửa ải Nam Quan
nhớ lời cha dặn
yêu nước thương nòi phải phục hận

mười năm kháng chiến chống cường Minh
từ Mộc Thạnh, Liễu Thăng, Vương Thông
kẻ đầu hàng kẻ đền nợ nước
đại công cáo thành
đến những tên giặc cuối cùng
khom mình chạy bán sống bán chết
qua cửa ải Nam Quan

đất nước thu về một mối
bắc nam
đức trùm cả bá quan
công trạng cao hơn cả nhà vua
"họp hội chốn Lũng Nhai
 uống máu ăn thề "
toàn giòng giống nhà đại Lê
cậu cháu Trần Nguyên Đán Nguyễn Trãi
ra dìa về trí sĩ
công thành thân thoái
"chuyện đời xửa đời xưa"

                          CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ VỀ ỨC TRAI NGUYỄN TRÃI CỦA CHU VƯƠNG MIỆN

NGHIÊNG - Thơ Nhật Quang





NGHIÊNG

Nghiêng chiều, vạt nắng lưa thưa
Nghiêng vành nón lá che mưa ướt mềm
Nghiêng vai, suối tóc nhung huyền
Nghiêng tà áo trắng dịu hiền, thơ trinh
Nghiêng đôi mắt liễu lung linh
Nghiêng vòng tay ấm mơn tình...đắm say
Nghiêng bờ môi chạm ngất ngây
Nghiêng câu Lục bát đong đầy ý thơ.

                                  Nhật Quang
                                    (Sài Gòn)

READ MORE - NGHIÊNG - Thơ Nhật Quang

BIỆT LY, NHỚ - Thơ Tịnh Đàm


            Tịnh Đàm



BIỆT LY

Dùng dằng trước lúc biệt ly,
Lòng da diết nhớ người đi xa vời.
Tìm đâu thấy bóng chim trời
Vừa bay khuất nẻo, ngàn khơi muôn trùng !
Bao đêm anh vẫn mơ cùng,
Đợi em về lại vui chung ước nguyền.
Và em là cõi mộng hiền,
Ru đời anh mãi hồn nhiên... yêu người.


NHỚ
(Gởi đến Kim Chi, Gò Công)

Mỗi chiều
Tôi lại ngồi đây.
Nhìn xe qua với người...
Đầy bụi vương !
Nghe chừng vừa dậy mù sương,
Buồn len trong mắt
Niềm yêu thương nào !
Đường đời
Chân bước chênh chao,
Tìm vui được mấy ngọt ngào em cho !?!
Bến sông,
Giờ vắng bóng đò !
Nhớ ai
Khơi chút tàn tro...
Chạnh lòng !

                                    Tịnh Đàm
                           (Hóc Môn, TP.HCM )

READ MORE - BIỆT LY, NHỚ - Thơ Tịnh Đàm

ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI (KÌ 17) - TS. Nguyễn Ngọc Kiên chọn dịch và giới thiệu thơ


           Nguyễn Ngọc Kiên



ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI (KÌ 17)

NHÀ THƠ LÍ ÍCH – 李益 – Trung Đường
Lý Ích 李益 (748-829) tự Quân Ngu 君虞, người Cổ Tang, Lũng Tây (nay thuộc huyện Vũ Uy, tỉnh Cam Túc), thi nhân đời Trung Đường.

夜上受降城聞笛 
回樂峰前沙似雪, 
受降城外月如霜。 
不知何處吹蘆管, 
一夜征人盡望鄉。

Phiên âm:
 Dạ thướng Thụ Hàng thành văn địch (I) – Lí Ích
Hồi Nhạc phong tiền sa tự tuyết 
Thụ Hàng thành ngoại nguyệt như sương 
Bất tri hà xứ xuy lô quản 
Nhất dạ chinh nhân tận vọng hương.

Dịch nghĩa:
Đêm lên thành Thụ Hàng, nghe tiếng sáo (1) – Lí Ích
Trước núi Hồi Nhạc cát trắng như tuyết 
Ngoài thành Thụ Hàng ánh trăng như sương 
Không biết tiếng sáo lau thổi ở nơi nào 
Làm một đêm nay tất cả các kẻ chinh nhân đều nhớ về quê nhà.

Dịch thơ:
Đêm lên thành Thụ Hàng, nghe tiếng sáo (1)
Bản dịch 1:
Trước Hồi  Nhạc cát bay như tuyết
Ngoài  Thụ Hàng ánh nguyệt như sương
Tiếng sáo lau cứ vấn vương
Làm chinh nhân nhớ cố hương đêm rày.

Bản dịch 2:
Trước Hồi Nhạc cát trắng tựa tuyết
Ngoài Thụ Hàng trăng sáng như sương
Tiếng sáo lau  từ đâu dìu dặt
Chinh nhân đêm ấy  nhớ cố hương.

夜上西城聽梁州曲其一 
行人夜上西城宿, 
聽唱梁州雙管逐。 
此時秋月滿關山, 
何處關山無此曲。

Phiên âm:
Dạ thướng Tây Thành thính Lương Châu khúc kỳ 1 
Hành nhân dạ thượng Tây Thành túc, 
Thính xướng Lương Châu song quản trục. 
Thử thời thu nguyệt mãn quan san, 
Hà xứ quan san vô thử khúc.

 Dịch thơ:
ĐÊM LÊN TÂY THÀNH NGHE 
KHÚC LƯƠNG CHÂU (KÌ 1) 

Hành nhân đêm ngủ Tây Thành 
Bỗng nghe song quản bài hành Lương Châu
Trăng thu soi sáng một màu
Tiếng tiêu văng vẳng dãi dầu quan san. 


夜上西城聽梁州曲其二 
鴻雁新從北地來, 
聞聲一半卻飛回。 
金河戍客腸應斷, 
更在秋風百尺臺。

Phiên âm:
Dạ thướng Tây Thành thính 
Lương Châu khúc kỳ 2 – Lí Ích
Hồng nhạn tân tòng bắc địa lai, 
Văn thanh nhất bán khước phi hồi. 
Kim hà thú khách trường ưng đoạn, 
Cánh tại thu phong bách xích đài.

Dịch thơ:
ĐÊM LÊN TÂY THÀNH NGHE KHÚC LƯƠNG CHÂU (KÌ 2) 
Nhạn hồng mới từ bắc đến thôi
Mới nghe nửa khúc đã bay rồi
Sông Kim khách thú lòng như đứt
Chỉ tại gió thu trăm thước đài

NHÀ THƠ SẦM THAM
Sầm Tham 岑參 (715-770) tổ tiên ở Nam Dương sau di cư tới Giang Lăng, dòng dõi của tể tướng Sầm Văn Bản 岑文本 (595-645), thi nhân đời Đường đại biểu cho thơ biên tái cùng với Cao Thích 高適. Tác phẩm có "Sầm Gia Châu thi tập" 岑嘉州詩集.

獻封大夫破播仙凱歌其一 -  岑參
漢將承恩西破戎, 
捷書先奏未央宮。 
天子預開麟閣待, 
只今誰數貳師功。

Phiên âm:
Hiến Phong đại phu phá Bá Tiên 
khải ca kỳ 1 – Sầm Tham
Hán tướng thừa ân tây phá Nhung, 
Tiệp thư tiên tấu Vị Ương cung. 
Thiên tử dự khai lân các đãi, 
Chỉ kim thuỳ sổ Nhị Sư công.

Chùm thơ này được viết năm 754. Bá Tiên tức trấn Bá Tiên, thành Thả Mạc cũ, nay là thành Xa Nhĩ, huyện Thả Mạt, Tân Cương, nằm phía bắc sông Hoàng Hà. Phong đại phu tức tướng Phong Thường Thanh 封常清. Tác giả làm việc dưới quyền ông này, đã đi theo hành quân tại Cam Túc, Tân Cương nhiều lần. 

Dịch thơ:
Bài ca chiến thắng kính tặng Phong 
đại phu  phá giặc ở Bá Tiên kỳ 1 – Sầm Tham
Tướng Hán thừa ân tây phá Nhung
Thắng trận tin loan trước Vị cung. 
Vua định mở Kỳ Lân tiếp đãi 
Bằng tướng Nhị Sư để thưởng công.

獻封大夫破播仙凱歌其二 -  岑參
官軍西出過樓蘭, 
營幕傍臨月窟寒。 
蒲海曉霜凝馬尾, 
蔥山夜雪撲旌竿。

Hiến Phong đại phu phá
 Bá Tiên khải ca kỳ 2 – Sầm Tham
Quan quân tây xuất quá Lâu Lan, 
Doanh mạc bàng lâm nguyệt quật hàn. 
Bồ hải hiểu sương ngưng mã vĩ, 
Thông sơn dạ tuyết phác tinh can.

Dịch nghĩa:
Bài ca chiến thắng kính tặng Phong 
đại phu  phá giặc ở Bá Tiên kỳ 2 – Sầm Tham
Quan quân đi về phía tây qua khỏi Lâu Lan, 
Trăng lên hạ trại gần một cái hang, trời lạnh. 
Sương sớm bên hồ Bồ đọng trên lông đuôi ngựa, 
Tuyết đêm trên núi Thông treo trên cột cờ.

Dịch thơ:
Bài ca chiến thắng kính tặng Phong 
đại phu  phá giặc ở Bá Tiên kỳ 2 – Sầm Tham
Về Tây, quan lính khỏi Lâu Lan
Trời lạnh trăng lên trại cạnh hang
Sương đọng hồ Bồ trên đuôi ngựa 
Đêm cột cờ Thông tuyết đóng băng

獻封大夫破播仙凱歌其三 -  岑參
鳴笳疊鼓擁回軍, 
破國平蕃昔未聞。 
丈夫鵲印搖邊月, 
大將龍旗掣海雲。

Hiến Phong đại phu phá
 Bá Tiên khải ca kỳ 3 – Sầm Tham
Minh già điệp cổ ủng hồi quân, 
Phá quốc bình Phiên tích vị văn. 
Trượng phu thước ấn dao biên nguyệt, 
Đại tướng long kỳ xiết hải vân.

Dịch nghĩa:
Bài ca chiến thắng kính tặng Phong 
đại phu  phá giặc ở Bá Tiên kỳ 3 – Sầm Tham
Kèn trống vang lừng đón tiếp đoàn quân chiến thắng trở về, 
Tiêu diệt nước nhỏ, bình định nước ngoài, từ xưa chưa từng nghe. 
Ấn tín của người hùng lung lay cả mặt trăng nơi biên ải, 
Cờ hiệu của đại tướng như kéo cả mây biển đi theo.

Dịch nghĩa:
Bài ca chiến thắng kính tặng Phong 
đại phu  phá giặc ở Bá Tiên kỳ 3 – Sầm Tham
Kèn trống lừng vang đón quân về
Diệt tan nước nhỏ chửa từng nghe
Ấn người hùng lay trăng biên ải
Cờ hiệu đại tướng kéo  mây che

獻封大夫破播仙凱歌其四 -  岑參
日落轅門鼓角鳴, 
千群面縛出蕃城。 
洗兵魚海雲迎陣, 
秣馬龍堆月照營。

Phiên âm:
Hiến Phong đại phu phá
 Bá Tiên khải ca kỳ 4 – Sầm Tham
Nhật lạc viên môn cổ giốc minh, 
Thiên quần diện phọc xuất Phiên thành. 
Tẩy binh Ngư Hải vân nghênh trận, 
Mạt mã Long Đôi nguyệt chiếu doanh.

Dịch nghĩa 
Bài ca chiến thắng kính tặng Phong 
đại phu  phá giặc ở Bá Tiên kỳ 4 – Sầm Tham
Buổi chiều trống thúc tù và thổi trước cổng doanh trại, 
Ngàn tù binh bị dẫn ra khỏi thành người Phiên. 
Quân sĩ tập trận bên đầm Ngư Hải bao la mây trời. 
Trăng chiếu cảnh ngựa ăn trong doanh trại trên gò Long Đôi.

Dịch thơ:
Bài ca chiến thắng kính tặng Phong 
đại phu  phá giặc ở Bá Tiên kỳ 4 – Sầm Tham
Chiều trống thúc, tiếng tù trước trại
Ngàn tù binh dẫn khỏi  thành Phiên
Quân đầm Ngư nước mây liền
Trăng thanh ngựa gặm cỏ trên đất gò.

獻封大夫破播仙凱歌其五 -  岑參
蕃軍遙見漢家營, 
滿谷連山遍哭聲。 
萬箭千刀一夜殺, 
平明流血浸空城。

Phiên âm: 
Hiến Phong đại phu phá Bá Tiên khải ca kỳ 5 – Sầm Tham
Phiên quân dao kiến Hán gia doanh, 
Mãn cốc liên sơn biến khốc thanh. 
Vạn tiễn thiên đao nhất dạ sát, 
Bình minh lưu huyết tẩm không thành.

Dịch thơ:
Bài ca chiến thắng kính tặng Phong 
đại phu  phá giặc ở Bá Tiên kỳ 5 – Sầm Tham
Trại Hán quân Phiên ở xa trông
Khắp rừng đầy lũng tiếng khóc ròng
Vạn tên, dao một đêm giết sạch
Sáng ra máu đổ với thành không. 

 獻封大夫破播仙凱歌其六 -  岑參
暮雨旌旗濕未幹, 
胡煙白草日光寒。 
昨夜將軍連曉戰, 
蕃軍只見馬空鞍。

Hiến Phong đại phu phá Bá Tiên khải ca kỳ 6 – Sầm Tham
Mộ vũ tinh kì thấp vị can, 
Hồ yên bạch thảo nhật quang hàn. 
Tạc dạ tướng quân liên hiểu chiến, 
Phiên quân chỉ kiến mã không an.

Dịch thơ: 
Bài ca chiến thắng kính tặng Phong 
đại phu  phá giặc ở Bá Tiên kỳ 5 – Sầm Tham
Mưa chiều ướt đẫm lá cờ hồng
Cỏ trắng khói hồ ánh nhật quang
Quân tướng đánh đêm liền tới sáng
Quân Phiên chỉ thấy ngựa không cương


 山房春事其一 -  岑參
風恬日煖蕩春光, 
戲蝶遊蜂亂入房。 
數枝門柳低衣桁, 
一片山花落筆床。

Sơn phòng xuân sự kỳ 1 – Sầm Tham
Phong điềm nhật noãn đãng xuân quang, 
Hí điệp du phong loạn nhập phòng. 
Sổ chi môn liễu đê y hành, 
Nhất phiến sơn hoa lạc bút sàng.

Dịch nghĩa:
Nét xuân ở nhà trong núi (kỳ 1) – Sầm Tham
Gió yên, tiết trời ấm áp, nắng xuân nhảy múa, 
Bướm nhởn nhơ, ong lãng đãng bay loạn vào phòng. 
Vài cành của cây liễu trồng trước cửa rủ xuống mắc áo, 
Một cánh hoa rơi trên cái giá gác bút.

Dịch thơ:
Nét xuân ở nhà trong núi (kỳ 1) – Sầm Tham
Bản dịch 1:
Gió yên, trời ấm, nắng vui đùa
Ong lượn vào phòng bướm nhởn nhơ
Cành liễu rủ vờn trêu mắc áo
Một cánh hoa rơi gác bút xưa.

Bản dịch 2:
Gió yên, trời ấm,  nắng đầy 
Bướm nhởn nhơ, ong lãng đãng bay vào phòng
Liễu rủ mắc áo như thường
Giá bút kia đóa hoa vương một nhành.

山房春事其二 -  岑參
梁園日暮亂飛鴉, 
极目蕭條三兩家。 
庭樹不知人去盡, 
春來還發舊時花。

Phiên âm: 
Sơn phòng xuân sự kỳ 2 – Sầm Tham
Lương viên nhật mộ loạn phi nha, 
Cực mục tiêu điều tam lưỡng gia. 
Đình thụ bất tri nhân khứ tận, 
Xuân lai hoàn phát cựu thì hoa.

Dịch nghĩa:
Nét xuân ở nhà trong núi kỳ 2 – Sầm Tham
Trong vườn Lương, lúc chiều tà những con quạ bay hỗn loạn 
Cố trông hết tầm mắt cũng chỉ thấy vài ba nhà tiêu điều 
Cây trong sân không biết rằng người ta đà đi hết 
Xuân về lại nở những bông hoa thời xa xưa.

Dịch thơ:
Nét xuân ở nhà trong núi (kỳ 2) – Sầm Tham
Bản dịch 1:
Quạ loạn vườn Lương buổi chiều tà
Xa trông xơ xác chỉ mấy nhà
Cây sân không biết người đi hết
Xuân đến như xưa …. vẫn nở hoa

Bản dịch 2:
Vườn Lương quạ náo chiều tà
Xa trông chỉ thấy mấy nhà xác xơ
Cây sân người vắng bao giờ
Xuân về hoa tự thưở xưa nở bừng.

                                                        Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI (KÌ 17) - TS. Nguyễn Ngọc Kiên chọn dịch và giới thiệu thơ

Wednesday, August 23, 2017

THẰNG LÙN - Nguyễn Văn Uông


             Tác giả Nguyễn Văn Uông


THẰNG LÙN


Trước mặt tôi là một Việt kiều sang trọng trong cái làng hẻo lánh này. Đó mới là điều đáng nói chứ! Giữa  đám người quần cộc, áo ngắn nhàu nát màu đất vàng ngoạch quen mắt, hắn nổi lên với cái áo hàng hiệu vải hoa màu đỏ vàng sặc sỡ, tay áo rộng cắt xuống quá cùi chỏ, cái quần bò bó sát cặp giò chắc nịch. Trông hắn sang trọng hẳn ra. Hình ảnh của hắn so với đám dân làng đen đúa, hốc hác, khô kiệt chất mịn màng của những con người vùng quê miền gió cát, nắng lửa vây quanh, có tính tương phản khá cao trong nghệ thuật tạo hình nếu có ai đó bấm máy chợp được cảnh này. Thế đó! Tôi nửa như giả bộ quay mặt lảng tránh cái nhìn của hắn, nửa như cố nhìn thật  kỹ cái khuôn mặt đầy đặn, đẹp trai với nước da  trắng hồng sáng bóng kia. Hắn nói cười tự nhiên với đám đông như những người thân trong nhà. Cử chỉ thân thiện của hắn làm tôi có cảm tình. Hắn là một Việt kiều thứ thiệt, giàu có từ Mỹ về xây dựng cơ ngơi thờ tự trong cái làng hẻo lánh này. Giọng nói của hắn không Mỹ chút nào cả, tôi nghe thấy quen quen. Mấy lần tôi thấy hắn liếc nhìn tôi. Dầu sao trong cái đám đông quanh hắn trong gian nhà thờ rộng rãi này, tôi cũng có chút tươm tất hơn. Mà hắn là ai? Tôi bắt đầu để tâm tìm hiểu. Ờ! Cái điệu hắn đưa tay cao quá đầu rồi hạ xuống chà vành tai mỗi khi có cái gì khoái chí, tôi thấy quen lắm.
Nhiều mâm tiệc được dọn ra. Hắn có đôi lời mời mọi người ngồi vào bàn. Cái lý do của buổi tiệc là ra mắt bà con trong làng, mừng cho hắn có cái nhà để thờ phụng tổ tiên. Hắn không phải người vùng quê này nhưng cũng là con rể. Tổ tiên hắn là dân vạn đò vùng kinh thành, không rõ gốc tích từ đâu. Hắn làm ngôi nhà thờ này và xin làng cho hắn nhập quê để có chốn đi về mỗi khi về nước. Lời nói của hắn tình cảm, mọi người tỏ ra  hoan hỉ chia vui. Tôi ngồi vào bàn tiệc, lơ đãng gắp vài miếng ăn tuy bụng dạ vẫn còn mang máng nghĩ về cái thứ tiếng nói và điệu bộ quen quen của hắn. Hai vợ chồng hắn đi chào từng mâm. Vợ hắn thì tôi biết. Cô là bà con xa của tôi. Trước kia, thời thiếu nữ, cô gầy đét nhưng  khuôn mặt có duyên. Bây giờ trông cô đẹp hẳn ra, người đẫy đà, dáng dấp sang trọng. Đến bên tôi, cô cười rất tươi: 
- Giới thiệu với anh Minh. Đây là anh Lân, Bùi Bá Lân,  chồng em… để hai người làm quen. 
Tôi đứng dậy, chưa kịp nói gì. Bất chợt hắn ôm chầm lấy tôi:
- Ừ!... Đúng rồi!...Ờ!  Minh đây rồi!... Cố nhớ mãi mà không ra!... Có biết ai đây không?
- Nóng quá!...Buông ra đi! Nhớ rồi!…Là thằng…!...
Tôi gỡ hắn ra, định gọi tên hắn nhưng may kìm lại được. Vợ hắn đã giới thiệu hắn là Lân, Bùi Bá Lân cơ mà!
- Lùn đây! Thằng Lùn đây!... 
Hắn vừa nói lại ôm chầm lấy tôi một lần nữa trước ánh mắt ngạc nhiên của mọi người và vợ hắn:
- Hai người biết nhau hả?
- Sao không biết!... Hắn sởi lởi. Thân lắm!...Em biết không? Anh và anh Minh là bạn chí cốt từ bé khi bố anh bỏ vạn chài, theo mẹ lên ở làm nhà  trên cạn… Lâu quá! Nhớ mãi không ra!
- Lùn… À… Lân này! Không ngờ gặp lại nhau như thế này. Mình nhìn mãi mà chưa nhận ra. Tưởng cậu mất tiêu đâu rồi chứ! Thôi!... Ăn đã!... Nói chuyện sau!... Chuyện nhiều lắm!...

*
Ngày ấy, tên hắn là Lùn làm tôi thắc mắc mãi. Hắn cùng tuổi với tôi mà tôi chỉ cao quá tai hắn. Tôi không phải loại lùn thì gọi hắn lùn sao được! Hắn là con trai. Giả như hắn là con gái thì còn nại ra được cái cớ tên Lùn của hắn do một tên rất xấu, chỉ giới tính con gái mà cha mẹ hắn gọi khi mới sinh, nay đọc trại ra, thì cũng cho cam. Chuyện cha mẹ đặt tên con quá tục tĩu khi còn bé, lớn lên gọi gượng miệng, đọc trại thành một tên khác là chuyện thường gặp trong giới bình dân quê mùa. Hắn là con trai lại có tên Lùn, tôi không hiểu nổi vì sao. Trong xóm, mọi người gọi cha hắn là ông Lùn theo tên con, nhưng thật ra ông tên là Trọng. Mụ Trọng bán nước chè ngoài chợ. Ông  chẳng có việc gì làm, chỉ phụ bà lo cơm nước và những việc vặt cho cái quán nước chè rất đắt khách của mụ. Là con duy nhất, hai vợ chồng ông Trọng rất cưng thằng Lùn, không cho đi trường học. Đã hơn mười tuổi, hắn chưa biết một chữ cái nào. Nhà ông Trọng và nhà tôi chỉ cách nhau một con mương nước giọt giữa hai cái chái nhà. Chái nhà bé tí, con mương chẳng có nước để chảy. Tôi và Lùn thường lợi dụng khoảng cách kín đáo giữa hai tấm phên tre có con mương khô, vừa đủ cho hai đứa ngồi ấy để tổ chức nhiều trò chơi nghịch ngợm, cười khúc khích với nhau. Mụ Trọng cao người, quắc thước trong khi ông Trọng dáng chắc đậm, hiền khô như Bụt. Cái hiền thật thà gần như đến dại của ông trở thành trò đùa cho lũ trẻ trong xóm. Thằng Lùn và bọn chúng mấy lần đánh nhau u đầu, chảy máu mũi cũng vì chuyện ấy. Thuở đó, Ngô Đình Diệm mới về nước chấp chính, chính quyền tổ chức chiến dịch tuyên truyền hạ bệ Bảo Đại, suy tôn Ngô Tổng Thống. Lũ trẻ  được kéo vào các cuộc diễu hành cổ động khắp thành phố. Đám trẻ con chẳng biết gì, vui là theo, ai vẽ gì làm nấy. Dọc theo các con phố, người tổ chức hô lên: “Ai bán nước”, đám diễu hành hô vang: “Bảo Đại”; “Ai dâm ô”: “- Bảo Đại”; “Ai trụy lạc”: “- Bảo Đại”. Về trong xóm, bọn trẻ túm tụm thành đoàn nhại theo: “Ai bán nước”: “- Ông Trọng”,... vang cả xóm. Ông Trọng khiếp vía, sợ vạ lây. Sợ quá ông lên cơn đau tim, phải nằm bệnh viện hơn tháng. Khi hồi phục trở về nhà, ông không dám chiền mặt ra ngoài xóm nhìn mọi người. Ông sợ đến khiếp!...
Sau những lần đi diễu hành như thế, Lùn thấy không biết chữ để đọc các truyền đơn như bọn trẻ là một thiệt thòi. Sỉ diện, hắn không dám nói với ai. Hễ có tờ truyền đơn nào, hắn xếp cất kỹ vào túi, khi về nhà, hắn nhờ tôi đọc cho hắn nghe và học thuộc. Cái khoảng cách con mương giữa hai chái nhà trở thành lớp học cho các buổi phụ đạo học vần của tôi dạy cho hắn. Cách dạy và học của tôi và hắn cũng có một không hai. Lúc đầu hắn nhận dạng cả chữ. Mấy chục chữ trong các truyền đơn, hắn nhớ mặt hết. Có một truyền đơn mới là hắn kiểm tra lại các chữ giống như ở truyền đơn trước đã học, hỏi tôi xem có đúng không. Thường thì hắn rất ít sai. Chữ hắn nhận sai phần nhiều là vì các dấu thanh khác nhau, hắn chưa phân biệt được. Một thời gian, hắn nhớ cả hàng trăm chữ. Các truyền đơn cũng chỉ xoay quanh các nội dung như nhau nên có nhiều tờ, hắn đọc được hơn nửa. Tôi lại bày hắn cách nhận mặt chữ cái và đánh vần, tập viết. Nhanh trí và rất khéo tay, hắn biết đánh vần thành thạo và viết chữ khá rõ nét, đều tắp. Thế là hắn biết chữ và viết được.
Tôi với hắn thường lang thang khắp phố chợ. Hắn nhìn lên các bảng hiệu cửa hàng. Đọc; nhìn các hàng chữ kẽ bên hông xe hơi. Đọc; nhìn biển quảng cáo phim mới treo trước rạp chiếu bóng. Đọc…; nói chung, thấy chữ là đọc và hỏi tôi. Mẹ hắn cho tiền, hắn mua kẹo cho tôi ăn, nhưng là thằng ma mánh, hắn bảo tôi “mút cho ngon” trong khi hắn thì nhai ngấu nghiến hết cả phần kẹo mua được. Một đồng năm cái kẹo nougat thơm phứt mùi sữa và đậu phộng, khi tôi mút hết cái thứ nhất, chìa tay ra thì hắn nói: “Hết rồi!”.
Khi tôi vào trường trung học thì hắn đã biết đọc trôi chảy. Hắn nhờ tôi chỉ cách làm toán. Một thời gian, hắn làm được toán cọng, toán trừ nhưng hắn cứ bảo: “Làm toán không bằng tau tính rợ. Tính rợ mau hơn. Tau tính rợ thôi!”
Tôi và hắn lớn lên bên nhau nhưng ngày càng xa cách. Trong xóm dân lao động nghèo, trẻ con đều ở nhà lêu lổng. Nhà tôi khác, bốn anh em tôi đều đến trường. Nhà hắn kín đáo quá, tôi cũng ít sang chơi. Mới qua hết tuổi thiếu niên, hắn đã đi làm công cho xưởng chế biến thuốc lá trong xóm. Đến tuổi thanh niên hắn tình nguyện đi lính trước tuổi quân dịch. Cha hắn chết, mẹ hắn bán nhà chuyển đi nơi khác. Rất lâu tôi không gặp hắn. 

*

Lễ lạt thết đãi xong, hắn giữ tôi lại nhà hắn. Căn nhà thờ thênh thang cất trơ trọi giữa một khoảnh đất rộng hơn hai sào trung bộ mới được chuyển đổi từ đất ruộng sang đất thổ cư. Theo tầm nhìn phong thủy, vị trí lô đất thật đẹp: Hướng chính đông nam, địa thế cao như mu rùa, sát đường lớn, cách một cánh đồng nhỏ là dòng sông uốn khúc ôm trọn gò bồi mu rùa. Cái thế cận giang, đại đạo thuận lợi cả hai mặt giao thông thủy bộ không phải là loại đất dễ kiếm. Tường gạch bao quanh khu đất và cái cổng vào ba cửa thiết kế với bốn trụ biểu bề thế khiến cơ ngơi mới của hắn nổi lên giữa ruộng lúa như một thách thức với dân trong làng. Hắn nhận biết được điều ấy mới có bữa tiệc hòa giải chiều nay. Hắn mời nhiều nhưng hạng có  máu mặt trong làng chỉ hiện diện mấy người, chưa đúng tầm nhắm của hắn. Hắn bề ngoài vui vẻ nhưng bên trong còn chưa an. Mà sao hắn có được khu đất này? Cũng biết là dọc con đường lớn trải nhựa mới được qui hoạch mở rộng chạy xuyên cánh đồng, nối liền các khu dân cư trong làng, đã có vài cái nhà mọc lên lác đác giữa ruộng lúa. Nhưng đó là đất ruộng của người dân sống lâu đời ở làng, hưởng ơn mưa móc từ qui hoạch có con đường ngang qua. Họ tuy mất một ít đất nhưng bù lại đất ruộng có thể trở thành đất làm nhà. Đằng này, hắn là người đâu đâu. Gia đình vợ hắn đã bỏ làng biệt xứ hơn bốn mươi năm. Dòng họ vợ hắn chỉ còn cô em con chú góa chồng ở trong căn nhà tình thương cất trên nền nhà cũ tận cuối làng với đứa con gái bị di chứng chất độc chiến tranh ngẩn ngẩn, ngơ ngơ dưới mứt bình thường. Thắc mắc này làm tôi thiếu mặn mà khi phải nán lại với hắn đêm nay. Trên vùng quê này, hiện nay tôi cũng là khách xa, một mình về thăm quê, thì giờ không bị ràng buộc. Tuy vậy, tôi cũng kiếm cớ thoái thác. Tôi lo cho hắn:
- Thôi để mình về! Ở lại đêm không tiện đâu!... Mai gặp lại!...
- Không sao cả. Cứ nói chuyện đi! Mai có việc ngày mai!...
Tôi không có cách gì để từ chối. Qua câu chuyện rầm rì suốt đêm, tôi biết rõ thêm cuộc đời của hắn. Gần năm mươi năm rồi, cái chất thằng Lùn ma mánh nhưng tốt bụng của hắn không có gì thay đổi. Khi mới đi làm, thấy cái tên Lùn chẳng ra gì, khai thác cái giấy khai sinh viết tay với những chữ cái rời rạc, hắn  móc thêm một nét xuống trước dấu huyền, thêm đầu cho chữ u thành chữ a. Tên Lùn của hắn thành Lân. Giữa họ và tên khoảng cách khá rộng, hắn thêm vào chữ Bá. Hay quá! Bùi Lùn thành Bùi Bá Lân. Hắn chết cái tên Bùi Bá Lân sang trọng từ đó. 
Hắn đi lính với cái tên này. Đơn vị của hắn thuộc một binh chủng chiến đấu tinh nhuệ thời đó. Chiến trường ác liệt, đồng đội hắn chết lớp này đến lớp khác. Hắn chỉ vài lần bị thương và mãi được thăng chức. Ngày hắn ra nước ngoài theo đám người di tản, hắn đã là Trung úy Bùi Bá Lân.
Hắn chinh phục vợ hắn cũng thật kỳ công. Mỗi khi đơn vị về hậu cứ, hắn cắm chốt suốt ngày ở cái quán cà phê, giải khát bên ngoài cửa đồn, ở đó có cô giúp việc bán hàng “xinh đáo để!”. Ngồi lì nhìn ngắm “cái khuôn mặt dễ thương, có chúm đồng tiền một bên má khi nàng cười”, là hắn quên hết mọi thứ. Hắn bực bội ra mặt khi thấy nàng không phải chỉ cười riêng với hắn. “Ai vào quán nàng cũng cười, cũng phô cái núm đồng tiền làm duyên… mới tức điên lên chứ!” Hắn đâm ra gây gổ với những khách hàng. Những lần sau “nàng không cười”  với hắn nữa. Hắn trở nên lầm lì càng ngồi mãi ở quán nhiều hơn. Chủ quán bực bội nhưng không dám có thái độ gì với hắn, ông đành cho cô gái nghỉ việc. Hắn cho đàn em quậy chủ quán để rồi ra tay trừng trị đàn em lấy lòng ông chủ, biểu lộ uy lực buộc ông chủ để cô gái ấy trở lại bán hàng. Hắn theo cô nàng gần ba năm bằng nhiều đòn “cấm vận những chàng trai mon men tiếp cận với nàng”. Cuối cùng cô nàng đành ngoan ngoãn nghe theo và bây giờ là vợ hắn.
Hai vợ chồng qua Mỹ khi mới có đứa con đầu lòng. “Trông nàng đẹp, hấp dẫn lắm!... Để cho nàng ra ngoài, bọn bạch quỉ tán tỉnh cuỗm mất vợ như chơi!”. Chỗ hắn định cư là một quận mới hình thành của số đông người Việt di tản. Sinh hoạt người gốc Việt không khác mấy so với ở quê. Vợ hắn làm nghề  neo tại nhà rồi chuyển sang nghề đồng bóng. Thấy công việc của vợ phát triển thuận lợi, hắn nghỉ việc ở xí nghiệp, cùng vợ khai thác nghề mới nổi. Mỗi lần hắn theo con đường Việt kiều về thăm quê là dịp hắn hốt bạc nhờ buôn bán các dụng cụ hầu đồng cho các xác lính và tín hữu trong hội hầu đồng của hắn. Một vốn bốn lời, hắn giàu lên rất nhanh. Am hầu đồng của hắn trở thành điểm trung chuyển, phân phối, giao dịch “những sản phẩm mang tính nghệ thuật” phục vụ cho việc hầu đồng. Hắn tậu xe, tậu nhà, đánh bóng tên tuổi, vợ chồng hắn trở thành tâm điểm của một nhóm Việt kiều ở nhiều bang có chung niềm tin hầu đồng là số một. Hắn về nước liên kết, tìm hiểu các hội hầu đồng ở quê hương, bắt mối giao lưu. “Đúng là một mảnh đất màu mỡ chưa khai thác hết”. Hắn nghiệm ra điều đó khi thấy ở quê có nhiều người giàu đủ mọi tầng lớp, mê hầu đồng như là một chỗ dựa thần thánh, bảo kê cho đống tài sản kếch sù do tranh thủ bất chính mà có được. Hắn tìm cách tạo cơ sở “khai thác nguồn tài nguyên vô tận này”. Căn nhà này hình thành trong ý tưởng đó.
*

Hôm sau, khi tôi thức dậy, nắng đã chiếu sáng những cành cao nhất của hàng tre là ngà bên kia sông. Buổi sáng mát mẻ nơi thôn trang đem lại cho tôi cảm giác thư thái dễ chịu mà mấy chục năm xa quê tôi đã quên hẳn. Đêm qua  tôi chợp mắt rất khuya. Giấc ngủ muộn buổi sáng không đủ xóa hết những mệt nhọc của ngày dài nắng nóng hôm trước. Tôi ra ngoài, tản bộ theo con đường lớn. Lúa đang kỳ trổ bông ngan ngát mùi hương. Trời đất như dung hòa trong cái tĩnh lặng bao la trên màu xanh ngút ngàn hai bên vệ cỏ và cánh đồng. Bầu trời không một cọng mây, không một gợn gió. Đồng lúa lặng yên, những bông lúa mới nhú ra khỏi đòng, chưa ngả độ cong, như muốn hướng lên không trung theo từng lá lúa tua tủa. Nắng xuống dần trên ruộng lúa trải thảm bình yên. Tôi trở vào nhà. Vợ chồng hắn đi từ sáng khi  tôi chưa thức dậy. Trong nhà lúc này chỉ còn cô em họ của vợ hắn lọ mọ với những công việc vặt vãnh, thỉnh thoảng cô ra sân đứng nhìn quanh có ý chờ đợi. Vợ chồng hắn về, hai người tươi rói như kẻ bắt được của. Mở cái xách có nắp đậy kín đáo, vợ hắn bày biện bữa ăn sáng còn nóng hổi chị tha về từ các cửa hàng. Hắn nhìn tôi, bô bô cái miệng:
- Đợi lâu sốt ruột không? Buổi sáng phải làm nghĩa vụ với mấy quan xã, quan thôn hôm qua không đến. Vui vẻ cả!... Xong!...
Vợ hắn chêm vào:
- Thời này có cái gì cho không đâu anh! Làm quan thiệt sướng!... ngồi không có người bôi trơn. Quan con đã thế huống gì quan lớn! Thôi! Cho qua! Mời hai anh thưởng thức đặc sản quê mùa làng mình cho biết.
Theo hắn kể thì mảnh đất này hắn có được một cách hợp pháp mà “tiền ngoại tài theo mãi không tính hết được”. “Trâu cột ghét trâu ăn, thằng ăn ít ghét thằng ăn nhiều”… “cả đám cứ xía vào”, bọn chúng xem như đây là  kho tiền kếch xù “chọc mãi không rụng hết”… “Ha…Ha… Cái quân láu cá! Mà chả sao!...Thế mà dễ hơn mấy cha cứ im ỉm khó nuốt”. Hắn mua đất, xin làm nhà thờ chỉ là bề ngoài. Hắn  sẽ tổ chức cơ sở hầu đồng để cho cô em vợ hắn cai quản. Mọi ngõ ngách chung chi đã “lo tuốt luột”, chỉ còn ngán “mấy ông già hủ trong làng săm soi”. Hắn mời tôi nán lại rằm tháng bảy tham dự lễ khánh thành từ đường nhưng thực chất là buổi hầu đồng khai trương cái “Thủy Linh Điện”  ẩn cư trong “Bùi Tộc Từ Đường” này của hắn.
- Anh xem, vợ hắn nói thêm, cả làng này có chỗ đất nào đẹp như ở đây? Không dễ kiếm đâu nghe! Ngày xưa người ta nói: “Đi với bụt mặc cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Em mặc áo cà sa và luôn cả áo giấy. Thế mới “đầu xuôi đuôi lọt”.
Tôi nhìn quanh một thoáng các gian thờ. Đúng như vợ chồng hắn nói, tranh tượng, gươm giáo, cờ xí… chen lẫn các bức hoành phi, câu đối, lư hương, đồ tam sự... Tay bưng tô cháo thơm gậy mùi thịt vịt cỏ chạy đồng, tôi húp từng muỗng nước trôi theo ý nghĩ chợt hiện lên về đôi vợ chồng “đôi lứa xứng đôi” này trong buổi sáng tại ngôi nhà từ đường họ Bùi kiêm Thủy Linh Điện. Mùi vị vừa thấy ngon ngon vừa thấy là lạ. Bất chợt tôi thốt lên rất chân tình:
- Thằng Lùn, bạn chí cốt của tôi ngày xưa không mất đi đâu cả!
- Ông nói mình vẫn ma lanh chứ gì?
Hai đứa nhìn nhau cười ha hả. 
                                                                                                                                                                Nguyễn Văn Uông
                                                                   (Ugno.Vn)

READ MORE - THẰNG LÙN - Nguyễn Văn Uông