TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Saturday, April 15, 2017
CHẦN CHẦN ƠI HỠI CHẦN CHẦN - Hoàng Long Hải
![]() |
| Thau ốc chần chần |
CHẦN CHẦN ƠI HỠI CHẦN CHẦN
(Tặng Trần Quốc Phiệt, “người Chợ Cạn” - Tác giả)
“Chần chần ơi hỡi chần chần,
Ham ăn bỏ việc không mần mạ la”
(Ca dao)
Ốc chần chần nhỏ bằng hột nút áo, dẹp, xoắn ốc theo chiều kim đồng hồ. Tất cả đều xoắn theo một chiều đó mà thôi, cả triệu con chưa chắc đã có con ốc nào có đường xoắn ngược lại. Tỷ lệ đường xoắn rất đều, từ trung tâm mà ra, ở tâm thì nhỏ, to ra dần dần. Nếu dùng thước mà đo - có lẽ cũng khó đo lắm - hay như bây giờ, dùng computer mà đo, tỷ lệ trong nhỏ ngoài to không xê xích chút nào. Đó là sự nhiệm mầu của Tạo Hóa.
Ốc chần chần thường màu trắng, có những đường viền theo hình xoán ốc màu đỏ nhạt, kèm theo là những đường xanh nhạt; trông cũng không đẹp lắm, nhưng cũng không xấu. Mùa hè - chỉ mùa hè mà thôi - người miệt biển gánh lên thị xã Quảng Trị bán chần chần nhiều lắm. Ốc chần chần đã nấu chín, đựng trong thúng cạn, đong bằng cái chén nhỏ, hay bằng cái “loon” sắt, không bán chung với nước như hến hay chắt chắt. Thường người bán cho thêm mấy cái gai cây bưởi. Dùng gai đó để lể, tức là móc con chần chần từ trong vỏ ốc ra.
Ăn chần chần không cần thêm nước chấm - nước mắm pha ớt, gừng chẳng hạn, luộc bằng nước biển hay vì con chần chần ở biển, đã mặn sẵn. Cái gai bưởi dùng nhiều lần bị cùn, không móc được nữa, thì dùng “kim găm”, có nơi gọi là “kim băng”, mấy cô bà thường dùng găm ngang túi áo, để đồ đạc trong túi khỏi rớt ra ngoài; mũi kim băng bằng sắt, nhọn, móc đầu con chần chần ra nhanh và dễ hơn.
Con hến hay con chắt chắt đã nhỏ, con chần chần lại nhỏ hơn, thường người ta chỉ móc được cái đầu chần chần, nhỏ bằng nửa hột gạo, bỏ vào miệng chẳng thấm vào đâu cả. Ruột mắc phía trong, ít khi lấy ra được. Nhưng cái vị mặn, thịt hơi dòn, dễ làm cho người ta “say”. Hết hột nầy, qua hột khác, cứ thế ngồi mà lể hằng giờ. Người ăn chần chần phải kiên trì, ngồi lể hoài, chẳng bao giờ được no, chẳng bao giờ hết “khoái khẩu”, vừa ngồi ăn vừa nói chuyện, có khi là “ngồi lê đôi mách”, thành ra vui chuyện, ngồi lâu, bỏ đi không được. Cái công việc nầy chỉ thích hợp cho “mấy đứa con gái”. Bọn con trai không có cái kiên trì ngồi lể chần chần như thế.
Dĩ nhiên, ngồi hoài thỉ bỏ việc, nên ca dao mới có câu than:
Chần chần ơi hỡi chần chần,
Ham ăn bỏ việc không mần mạ la.
“Ham ăn”? Tức là tham ăn, ăn hoài không thấy chán! Cứ nghe ngôn ngữ trong câu ca dao: “mần việc” thay vì “làm việc”. “Mạ” thay vì mẹ hay má, thì rõ ràng chần chần ở xứ tôi mới có. Chỉ ở Quảng Trị mới có ốc chần chần.
Từ phá Tam Giang trở vào, cho tới miền Tây Nam Bộ, nơi tôi “lặn lội” ở đó nhiều năm dài, tôi không thấy ở vùng đó có ốc chần chần bao giờ. Ngay Thuận An cũng đã không có rồi, nói chi xa hơn về phía Nam.
Thông thường bờ biển Việt Nam nhiều vùng có cát. Cát ở Cửa Tùng, Cửa Việt, ở các làng Cát Sơn, Thủy Bạn, An Mỹ… trắng lắm, màu của tờ giấy trắng. Cát ở Cửa Thuận An vàng hơn. Như vậy, có phải chỉ ở vùng có cát trắng như tờ giấy trắng mới có con chần chần, cát vàng thì không?! Khi tôi lớn lên thì nước ta chia làm hai miền ở sông Bến Hải nên tôi không được ra phía bắc của con sông nầy để biết vùng ngoài đó có chần chần hay không.
Năm 1947, khi gia đình tôi chạy tản cư ra ở làng Huỳnh Công, phủ Vĩnh Linh, dự trù ra Thanh Hóa, theo lệnh của Việt Minh thì Tây đổ bộ lên Đồng Hới, con đường ra Bắc không đi được nữa. Gia đình tôi lại chạy về phía Nam sông Bến Hải, đường đi là dọc theo bờ biển, theo các làng Thủy Tú, Thủy Bạn. Bờ biển vùng nầy cũng toàn cát trắng, nhưng vừa chạy giặc, lại không ở lâu nên tôi không nhớ ở các làng đó, có con chần chần hay không!
Điều nầy, độc giả muốn biết rõ hơn, xin hỏi “Nhà Thổ Nhưỡng Học Thái Công Tụng”, ông quê ở Cam Lộ, ông sẽ giải thích cho. Tôi hy vọng như hế! Nhưng chợ Cạn thì nhiều lắm.
Chợ Cạn có thể coi như một cái chợ nhỏ, nhưng lại là trung tâm của các làng vùng biển Quảng Trị: Phía bắc Chợ Cạn có các làng Việt An, Tường Vân, Gia Đẳng, phía nam có các làng Linh (hay Liên?) Chiểu, Đồng Bào, Phương Lang… Chợ chỉ đông vào buổi sáng, hình như mỗi tháng có mấy phiên, tan cũng rất nhanh. Buổi chiều thì chợ vắng tanh, buồn ghê! Buồn như chợ chiều mà. Ca dao đã nói vậy.
Chợ chiều nhiều khế, ế chanh
Nhiều con gái tốt nên anh chàng ràng
Chàng ràng như ếch hai hang
Như chim hai ổ, như nàng hai nơi...
Khế thường chua, còn chanh thì không ngọt bao giờ. Chanh ngọt thì ai mua? Con gái tốt là con gái đẹp. Thấy con gái đẹp thì “anh chàng ràng”, chắc cũng không sai. Nhưng tại sao lại đem con gái đẹp mà ví với chanh hay khế? Tại vì con gái “chanh chua” hay con gái như trái khế, trái chanh chua. Ngó thì ngọt nhưng ăn vào thì chua lắm… Kinh nghiệm của tôi đó mà!!!
Những năm cuối thập niên 1950, nhiều nhà đua nhau làm rèm cửa. Do một “sáng kiến” nào đó, họ dùng báo “Thế Giới Tự Do” của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ cắt nhỏ rồi cuốn lại, làm rèm như rèm trúc. Dĩ nhiên, sau đó, việc phát không báo “Thế Giới Tự Do” không dễ dàng như trước kia nữa.
Có người lại “sáng kiến” dùng ốc chần chần thế vô. Người ta đục lỗ xuyên qua chiều dẹp của con chần chần, xâu một sợi chỉ vải hay gấc vào đó. Bức rèm trông cũng đẹp, nhưng vỏ ốc chần chần không bền. Vỏ mỏng quá, không bao lâu, cái lỗ xâu rộng ra, cái vỏ ốc nằm ngang, “mất trật tự”, trông xấu quá, người ta phải bỏ đi.
Trở lại chuyện năm 1947, gia đình tôi chạy tản cư về Chợ Cạn, trước khi ra Vĩnh Linh. Chợ Cạn nằm bên con đường đất, từ phía Linh Chiểu, Phương Lan ngang qua chợ mà ra phíc bắc, có các làng Gia Đẳng, Tường Vân… Con đường nầy bây giờ có tên là Tỉnh lộ 68(?). Từ con đường đất ngó vào, bên phải là một dãy nhà, gian ngoài cùng là quán “chạp phô” của chị Ba, người gọi mẹ tôi bằng dì. Chị đã có chồng, có con. Tôi chỉ thấy mấy đứa con mà không thấy chồng chị. Ông “theo Việt Minh” rồi, có lẽ. Phía trong cũng có một dãy nhà song song với con đường đất. Một người thợ hớt tóc, chạy tản cư về đây, mở tiệm hớt tóc. Tiệm ế lắm, buổi chiều, anh cùng đám thanh niên trong làng đánh bóng chuyền ở sân chợ. Kế sân, sát đường đất là một cây bàng già, lưu niên. Điều tôi nhớ nhất ở gốc bàng nầy là cái gì? Một đống vỏ chần chần. Ai ăn chần chần xong, cứ đổ vỏ vào đấy, chẳng ai la rầy gì cả. Đống vỏ chần chần nầy cũng “lưu niên”, có nghĩa là người ta đổ vỏ vào đây từ mấy năm trước. Đống vỏ cũ chưa tiêu hết thì đống vỏ năm sau được đổ chồng lên.
Mấy năm sau, khi lớn hơn tí chút, sau “trận Thanh Lương” năm 1953, Tây thua một trận te tua ở Thanh Lương, ông Đội Trọng, làm “đơ dzèm buya rô” cho Tây ở thị xã Quảng Trị, bị Việt Minh bắt, bị Việt Minh xử tội, treo cổ ở cây bàng nầy. Đó là điều tôi nghe kể lại. Mới đây, hình như ông Trần Quốc Phiệt cải chính tin ấy, nói là ông Đội Trọng bị bắn chớ không phải bị treo cổ ở cây bàng nầy. Đằng nào cũng chết, “một đời theo Tây”.
Hồi ấy chị Sâm, con gái chưa chồng, cũng có gian hàng bán ở chợ. Buổi chiều, ra về, chị thường cầm ở tay một cuốn sách, dày như cuốn tự điển. Tôi nghĩ chị là người có học. Vậy mà cũng mấy năm sau, khi gia đình tôi đã “hồi cư” về thị xã. Tôi lại gặp chị. Chị đã có chồng, một ông đội Tây. Chị thuê nhà ở cạnh nhà tôi. Một hôm, chị nhờ tôi viết một cái thư gởi về cho mẹ còn ở Chợ Cạn - Tôi đang học lớp nhì. Khi đó tôi mới “tá hỏa” ra là chị không biết chữ. Vậy mà hồi ở chợ Cạn, chị thường ôm cuốn tự điển trong tay. Đó là cái hộp gỗ, trang trí như cuốn sách dày. Cái hộp gỗ cũng “hù” người ta được vậy!
Phía đối diện với chợ, có ngôi nhà lớn trở mặt ra phía con suối cạn, tôi “phục” ông chủ nhà nầy lắm. Ông ta khoéo tay, dùng cái cọng dù cũ chế thành cây súng bắn chim. Phía Bắc chợ, cách khoảng chừng nửa cây số la nhà anh Trần (?) Văn Mai, đã có vợ con. Anh cả tôi thường đến chơi, có lẽ anh Mai là người có học. Anh có bằng “ri-me”. Nhà anh Mai khá giả. Con đường đi vô nhà khá dài, hai bên là hai hàng chè tàu. Cũng mấy năm sau, tôi lại gặp anh ở thị xã Quảng Trị, anh làm việc cho ty Công-An Việt Nam.
Nhà tôi ở sát chợ, phía bên kia con đường đất, đối diện với chợ. Hồi đó tôi đã biết hát vài bài: Ngoài những bài như “Không Quân VN”, “Hải Quân VN”, “Lệnh vua hành quân…”, tôi thường hát “Chinh phụ ca”: “Từ chàng ra đi, lưng khoác chiến y, và hồn nương bóng quốc kỳ…” Dân nhà quê, không rành hát hỏng, với lại đó là những bài hát mới, thường gọi là “Nhạc cải cách”, họ ít khi được nghe, nên thường “yêu cầu” tôi hát cho họ nghe. Hát xong, chẳng ai cho gì, ngoài tiếng khen…
Buổi chiều, ba anh em tôi: Anh cả, anh kế và tôi thường đi qua phía làng Linh Chiểu, nơi có nhiều đám ruộng, lúa đã cao nhưng chưa trỗ bông. Phía làng đó có một cô “nữ học sinh” còn trẻ, nhà ở trong Thành cổ Quảng Trị, cũng “chạy tản cư”; nhiều ngày, cô thường mặc một bộ đồ trắng, áo dài tha thướt, lửng thửng ở Chợ Can! Ông anh cả tôi “ngấp nghé” cô nàng nầy chăng?
Từ những đám ruộng và từ trong những cánh đồng ấy, tiếng giun dế kêu liên tu bất tận, dễ làm cho tôi nhớ nhà, ngôi nhà cũ ở thị xã, mà tôi xa cách gần một năm nay, kể từ khi có lệnh tản cư của Việt Minh. Những âm thanh mùa hè đó, rời khỏi Chợ Cạn, tôi không còn nghe nữa. Tuy vậy, nếu độc giả nghe “Four Seasons” của Vivandi, sẽ gặp nó đấy. Té ra, âm nhạc, tiếng hát, tiếng gọi của đồng quê, Đông Tây cũng giống nhau!
Được ít lâu thì Tây về lùng, có lính Bảo Vệ đi theo. Tây thì đốt nhà, giết ai họ nghi là Việt Minh, lính Bảo Vệ thì bắt gà, bắt heo. Bọn trẻ ở chợ như chúng tôi thường nói câu, không biết ai dạy cho: “Cắc, bụp, tùng xeo, mấy thằng Bảo Vệ bắt heo đồng bào” hoặc “Cắc bụp tùng xòa, mấy thằng Bảo Vệ bắt gà bắt heo.” Khi Tây về lùng, thanh niên trai gái chạy cả, chạy vô phía làng Đồng Bào, Phương Lang. Thanh niên thì sợ Tây bắn. Con gái thì sợ bị hiếp dâm. Tôi chạy núp dưới cây cầu tre, mặt cầu đan bằng tre, ở con suối giữa chợ và làng Linh Chiểu. Hai chiếc máy bay đang đảo vòng quanh, chuẩn bị bắn xuống Chợ Cạn lần thứ hai hay lần thứ ba, tôi không nhớ. Tôi chợt nghĩ, núp dưới cầu như thế nầy, người đang chạy trên cầu, máy bay sẽ bắn họ. Bắn họ những lại trúng tôi! Vậy là tôi bỏ cây cầu chạy ra phía biển. Nhà dì tôi, mẹ chị Ba, ở phía ấy. Tây về lùng tới Chợ Cạn thì rút lui. Mọi người lại về. Chị Ba kể: “Có thằng lính Bảo Vệ, nói với thằng Tây: “Mì xự, mì xự. Lấy bún mà măng-giê”. Thằng Tây không ăn. Tên lính Bảo Vệ biểu chị Ba làm cho nó một “đọi” (tô) bún, chan nước mắm và ớt vô. Trước khi ăn, nó đưa tay làm dấu Thánh giá.
Còn tôi? Khi máy bay bắt đầu xả súng, tuị chun nằm dưới gầm giường, bên cạnh chị tôi. Không hiểu sao, tôi lại trồi lui, rồi chạy ra con suối cạn. Một thằng bé cùng xóm chui vô nằm ngay chỗ tôi, bên cạnh chị tôi. Thằng bé lãnh ngay một viên đạn ở ngực, chết liền tại chỗ, thế mạng tôi. Mấy chục năm rồi, tôi vẫn không quên đống vỏ chần chần ở gốc cây bàng trong sân chợ và lần thoát chết ở đó, năm chạy tản cư.
Hoàng Long Hải
C/c: Tôi có đứa cháu nội, cháu gái, mẹ nó quê ở Chợ Cạn. Mẹ đặt tên con là “Juliany”, dân Mỹ mà! Đứa cháu bé làm tôi nhớ Chợ Cạn, nên thay vì gọi nó bằng tên Mỹ, tôi lại gọi nó bằng cái tên nhiều kỷ niệm với tôi: “Con Chần Chần.” Vợ tôi thường nói: “Đưa Chần chần cho nội bồng” mỗi khi vợ chồng nó bồng con tới thăm!
Friday, April 14, 2017
ĐEM TÌNH VỀ THẮP THÁNG TƯ - Thơ Nguyễn An Bình

ĐEM TÌNH VỀ THẮP THÁNG TƯ
Tháng
ba mang đi chiếc lá tội tình
Ô
cửa lớp lạc vào vườn cổ tích
Tình
yêu tôi rất thơm màu mực tím
Chưa kịp phai khi phượng trổ đầu cành.
Tiếng
ve rền đâu đó giữa trời xanh
Sao
xa ngái tiếng cười tan nắng vỡ
Tôi
đứng lại nhìn thời gian ngược gió
Chợt
nghe tim mình lỡ nhịp run lên.
Cũng
đâu còn tiếng guốc mộc êm êm
Buổi
sáng vừa lên nắng hồng đôi má
Màu
mắt trong veo chao nghiêng sắc hạ
Bỏ
mặc mình tôi nắng sớm chuyển mùa.
Tôi
theo mưa về tìm tháng tư xưa
Trong
nỗi nhớ vụng về thời mới lớn
Thương
vạt nắng chông chênh vừa qua cổng
Đỏ
một trời màu phượng của tôi ơi.
Nguyễn An Bình
12/04/2017
Thursday, April 13, 2017
ÔI THÔI RỒI NỒI XÔI, thơ Lê Trung Đình - Lê Viên Ngọc giới thiệu
ÔI THÔI RỒI NỒI XÔI là bài thơ
của tác giả LÊ TRUNG ĐÌNH (1857-1885), một danh nhân Lịch
sử Quảng Ngãi – thời đại Triều Nguyễn, được Hòa
thượng Thích Hồng Ân, trụ trì Thiên Ấn - Tổ Đình ghi
lại vào tiết thanh minh năm Bính Ngọ – 1966.
Lê Viên Ngọc trân trọng kính
giới thiệu.
ÔI THÔI RỒI NỒI XÔI
Giận quá người Nam dại quá ôi
Làm quan với mọi chẳng nên thôi
Giữ gìn cương thổ cùng chung đó
Đoái thấy giang sơn đổ nát rồi
Cũng giống gà cồ bươi lộn bếp
Như loài chó dữ khới hư nồi
Tội đồ chẳng biết chi điều
nhục
Ngọng miệng bởi vì ngậm nắm xôi
Lê Trung Đình
Tiểu sử LÊ TRUNG
ĐÌNH (1857-1885)
Quê làng Phú Nhơn, huyện Bình
Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, Lê Trung Đình là con thứ 6 trong
một gia đình gồm 10 người con của quan Án Sát Bình
Thuận Lê Trung Lượng, xuất thân trong một nhà toàn khoa
bảng, có tư chất thông minh, được giảng dạy chu đáo,
lên 15 tuổi ông đã làu thông kinh sử và nổi tiếng về
tài năng văn chương, khoa Giáp Thân 1884, Ông đỗ cử Nhân
tại trường thi hương Bình Định.
Sinh trưởng và thi đỗ trong lúc
vận nước đen tối: bên ngoài giặc Pháp xâm chiếm đất
đai, bên trong triều đình rối ren, loạn lạc ở nhiều
nơi...ông không ra làm quan mà âm thầm chuẩn bị lực
lượng ứng nghĩa. Cùng với các sĩ phu trong tỉnh, Lê
Trung Đình bí mật lập Nghĩa hội, tổ chức hai đội
quân là Đoạn Kiệt và hương binh, đồng thời ráo riết
xây dựng chiến khu ở Tuyền Tung Huyện Bình Sơn chuẩn
bị đối phó với quân Pháp xâm lược.
Sau đó, nhận lệnh Tham biện Sơn
phòng Nghĩa-Định Nguyễn Duy Cung, Lê Trung Đình cùng
Nguyễn Bá Loan ra Huế gặp người đứng đầu
phe chủ chiến là Tôn Thất Thuyết để nhận lệnh
phối hợp hành động, và Lê Trung Đình được cử làm
Chính quản hương binh.
Ngày 23 tháng 5 năm Ất
Dậu (5-7-1885), cuộc phản công của phe chủ chiến ở
Kinh thành Huế thất bại, Phụ chính Tôn Thất Thuyết
phải phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, xuống dụ
Cần Vương (13 tháng 7 năm 1885).
Nhận được dụ, Lê Trung Đình
cùng với các cộng sự là Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Bá
Loan Nguyễn Tân Kỳ … kéo đến đòi các quan
lại đầu tỉnh cấp vũ khí, lương thực để chống
Pháp, nhưng quyền Bố chính Lê Duy Thụy và quyền Án sát
Nguyễn Văn Dụ từ chối.
Ngay trong đêm ấy, các ông tập
hợp khoảng ba ngàn hương binh tại khu vực bãi sông Trà
Khúc (phía tả ngạn, trước đền Văn Thánh). Sau khi
làm lễ tế cờ, cả đoàn quân nhanh chóng vượt sông,
tấn công tỉnh thành Quảng Ngãi.
Được sự hỗ trợ của quân nội
ứng, hương binh Quảng Ngãi nhanh chóng đánh chiếm tỉnh
thành, bắt giữ các quan lại, thả tù phạm, thu ấn
triện, binh khí và tiền lương...rồi phát động phong
trào Cần Vương trong toàn tỉnh.
Nghĩa quân làm chủ tỉnh thành
được một hai hôm, vào ngày 5-6-Ất Dậu (16-7-1885),
quyền Tiễu Phủ sứ Sơn phòng Nghĩa-Định bấy giờ là
Nguyễn Thân (trước theo Nghĩa hội Quảng Ngãi, sau theo
Pháp) cùng Đề đốc Đinh Hội đem khoảng 900 biền binh
tiến về tỉnh thành mở cuộc vây đánh.
Sau khi quân triều giết chết
Nguyễn Tự Tân và sáu viên chỉ huy khác, thì bắt được
Lê Trung Đình. Dụ hàng không thành, ngày 23-7-1885, Lê
Trung Đình bị phe triều đình thân Pháp đem ra xử chém
tại góc phía Bắc thành Quảng Ngãi.
Sài Thành tiết Thanh Minh năm
Đinh Dậu – 2017.
Lê Viên Ngọc cẩn chí
Lê Viên Ngọc cẩn chí
.........
* Theo Sử Liệu Bách Khoa Toàn thư Google.
* Theo Sử Liệu Bách Khoa Toàn thư Google.
TÌNH ĐẤT PHƯƠNG NAM - Thơ Vũ Trầm Tư
Nắng nghiêng một phía trời chiều
Bờ tre oằn ngọn hiu hiu gió về
Trâu còn gặm cỏ ven đê
Đường hoa cau trắng hồn quê dạt dào
Đàn cò xoãi cánh về đâu
Mênh mông Đồng Tháp, xanh màu U Minh
Xuồng con vượt sóng vàm kinh
Dấu chân đồng mẹ nặng tình Cửu Long
Gởi tình theo chín cửa sông
Nghe bìm bịp gọi chạnh lòng chốn quê
Buồn thương con nước đầy vơi
Ầu ơ cánh võng đêm say hương tràm
Thuyền ghe chợ nổi chờ trăng
Nghe bài dạ cổ hoài lang nao lòng
Bập bềnh sóng vỗ mênh mông
Cái Bè, Ngã Bảy, Trà Ôn đón chờ
Dịu dàng con gái Cần Thơ
Nha Mân duyên dáng ngẩn ngơ lòng người
Đi đâu chẳng thiếu nụ cười
Cô em phố Mỹ đẹp trời Tiền Giang
Vũ Trầm Tư
CÒN GỌI TÊN EM - Thơ Vũ Trọng Tâm
![]() |
| Tác giả Vũ Trọng Tâm |
Còn Gọi Tên Em
Anh vẫn gọi tên em là tuổi ngọc
Bởi vì em mãi mãi tuổi mười lăm
Trong sáng ngây thơ như ánh trăng rằm
Bên chú Cuội, lặng thầm mơ cung ngọc
Anh vẫn gọi tên em là nỗi nhớ
Vì tim anh em đã giữ lâu rồi
Ở nơi nầy buồn nhìn áng mây trôi
Chim phương Nam, nhớ hoài trời phương Bắc
Anh vẫn gọi tên em là nhan sắc
Dòng thời gian, chưa nhòa dấu giai nhân
Gọi mãi tên em không biết bao lần
Vườn hạnh phúc ươm mầm hoa thơm ngát
Dù trên tóc đã thêm nhiều sợi bạc
Em vẫn là tiên nữ chốn bồng lai
Bờ môi thơm nồng ấm khúc tình say
Đêm gối mộng hương trinh còn vương vấn
Anh để hồn thơ dâng trào bất tận
Bởi trong mắt em, có nụ cười xuân
Khép chặt vòng tay cho hơi thở thật gần
Gọi khẻ tên em mà lòng còn bối rối.
Vũ Trọng Tâm - Gò Công
NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (Kì 15) - Nguyễn Ngọc Kiên

NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ
THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ - (Kì 15)
(40)万事俱备,只欠东风 [Vạn sự câu bị, chỉ khiếm đông phong]
(Mọi sự chuẩn bị sẵn sàng nhưng chỉ thiếu gió đông). Tích này dựa theo tích Chu Du muốn dùng hỏa công phá quân của Tào Tháo như sau:
Một hôm, Chu Du đứng quan sát động tĩnh quân Tào thì gió Tây Nam nổi lên, đập cả cờ phướn vào mặt.
Chu Du vì quá lo lắng nên thổ huyết mà ngã xuống bất tỉnh. Nghe tin, Gia Cát Lượng mượn cớ đến thăm và viết mật thư 16 chữ: “Dục phá Tào công, nghi dụng hỏa công; Vạn sự cụ bị, chỉ kiếm đông phong”. Câu này có nghĩa là muốn đánh bại Tào tháo thì nên dùng hỏa công, mọi sự chuẩn bị đã xong, chỉ chờ gió đông.
Vui mừng vì Gia Cát Lượng hiểu được nỗi lo lắng của mình, Chu Du hỏi xem Lượng có kế gì hay. Gia Cát Lượng tự tin nói mình có tài “hô phong hoán vũ”, mượn gió đông 3 ngày 3 đêm để giúp Đông Ngô đánh Tào Ngụy.
Theo yêu cầu của Gia Cát Lượng, Chu du cho người lập Thất tinh đàn ở phía nam Tịnh sơn, tạo điều kiện để Lượng hàng ngày cầu khấn.
Mặt khác, Chu Du cũng ra lệnh cho Hoàng Cái chuẩn bị sẵn 20 thuyền nhẹ chất đầy vật dễ cháy để chuẩn bị đánh Tào. Nhiều ngày trôi qua mà thời tiết chưa có dấu hiệu biến chuyển khiến Chu du lo lắng.
Nhưng đến một ngày, gió Đông Nam bỗng nhiên thổi mạnh. Chu Du chỉ chờ có vậy phất cờ tấn công. Hoàng Cái soái lĩnh đội thuyền hỏa công, vờ ra hàng Tào Tháo để tìm cách đến gần rồi bất ngờ phóng hỏa, thiêu cháy chiến thuyền Tào Ngụy.
Gió đông càng thổi mạnh khiến lửa bén nhanh, chỉ trong chốc lát, hàng trăm chiến thuyền chìm trong biển lửa.
Thừa thế xông lên, Liên minh Lưu Bị-Tôn Quyền truy đuổi tàn binh Tào Tháo. Trên đường rút chạy gặp mưa lớn, quân Tào Ngụy chết rất nhiều. Tào Tháo sau đó phải giữ lại một phần binh sĩ trấn giữ Giang Lăng và Tương Dương, còn mình rút quân về phương bắc.
Trên thực tế, Gia Cát Lượng không phải là người giỏi trong việc dự báo thời tiết, ông chỉ có thể đoán ngày nào có gió đông chứ không “mượn” được gió.
Gia Cát Lượng là người am hiểu về Kinh Dịch, nên lợi dụng sự biến đổi định kỳ của thời tiết để giúp quân sĩ có sức chiến đấu tốt nhất.
Theo cách lý giải khoa học, Xích Bích là khu vực nằm ở phía đông, gần khu vực sông Trường Giang. Vào mùa đông, vùng đất này hạ nhiệt độ nhanh hơn ở trên sông, tạo thành các khối khí áp cao, giúp cho xuất hiện gió Đông Nam trong từng khoảng thời gian nhất định.
Theo các học giả Trung Quốc, Gia Cát Lượng có thể dự đoán sự xuất hiện của gió Đông Nam nhờ khả năng tinh thông địa lý và thiên văn, ông có thể nhận ra những hiện tượng bất thường để biết được dấu hiệu thời tiết thay đổi.
Cũng có thể gió đông giúp thiêu cháy chiến thuyền Tào Tháo trong trận Xích Bích chỉ là lời thêu dệt. Nếu không có gió, liên minh Lưu Bị-Tôn Quyền vẫn có thể sử dụng các yếu tố về địa hình để dùng hỏa công.
Sau này, khi đọc Kinh Dịch, Tào Tháo đã ngộ ra nguyên nhân thất bại của mình là bởi yếu tố thời tiết và chỉ còn biết cười lớn.
Cũng từ đó, người ta dùng điển tích này để nói lên rằng chỉ còn thiếu điều kiện tiên quyết. Hãng xe ô tô ĐÔNG PHONG thì quảng cáo: 万事俱备,只欠东风 (Mọi sự đã sẵn sàng, chỉ thiếu ĐÔNG PHONG)
Người Việt cũng mượn thành ngữ này vào tiếng Việt theo lối dịch sát ý. Chẳng hạn, báo Petrotimes.vn ngày 19/3/2014 giật tít “Muôn việc đủ cả, chỉ thiếu gió đông” để nói về tình hình bất ổn ở Crimea
(41) 煮豆燃豆萁[Chử đậu nhiên đậu ky] (Củi đậu nấu đậu / nồi da xáo thịt / huynh đệ tương tàn)
Đời Tam Quốc (220-264), Tào Thực tự Tử Kiến là con thứ ba của Tào Tháo, vốn có tài làm thơ hay, được tiếng là đệ nhất thi nhân đời Tần-Hán nhưng có tính phóng túng. Tào Tháo thương lắm nhưng không thể truyền ngôi cho một chàng giàu tâm hồn nghệ sĩ ấy được.
Tháo chết, truyền ngôi cho con cả là Tào Phi. Thực bản tính ngông nghênh bất phục, có ý chống lại ông vua anh. Phi giận lắm, truyền người bắt Thực đến định làm tội. Nhưng vì yêu tài Thực nên Phi bảo:
- Ta với mày tuy tình anh em nhưng nghĩa vua tôi, sao dám cậy tài miệt lễ? Ngày tiên quân còn, mày thường đem văn chương khoe giỏi lòe đời. Ta rất nghi, có lẽ mày nhờ người khác làm giúp. Vậy giờ đây ta ra hạn: đi bảy bước phải làm xong một bài thơ. Nếu làm được thì tha tội chết; bằng không xong, ta quyết chẳng dung.
Thực nói:
- Xin ra đề cho.
Trên điện sẵn có treo bức tranh thủy mặc, vẽ hai con trâu chém nhau bên bức tường đất. Một con rơi xuống giếng chết. Tào Phi trỏ vào bức tranh, bảo:
- Hãy lấy bức họa kia làm đề. Nhưng trong thơ cấm phạm vào những chữ "Ngưu", "Đẩu", "Tường", "Trụy", "Tỉnh", "Tử" (Trâu, chọi, tường, rơi, giếng, chết).
Thực đi khoan thai. Vừa hết bảy bước, liền cất tiếng ngâm:
Hai tấm thân đi đường,
Trên đầu bốn khúc xương.
Gặp nhau tựa sườn núi.
Bỗng đâu nổi chiến trường.
Đôi bên đua sức mạnh,
Một địch lăn xuống hang.
Đâu phải thua kém sức,
Chẳng qua sự lỡ làng.
Nguyên văn:
Lưỡng nhục tề đạo hành,
Đầu thượng đới ao cốt.
Tương ngô do sơn hạ,
Huất khởi tương đường đột.
Nhị địch bất câu cương,
Nhất nhục ngọa thổ quật.
Phi thị lực bất hư,
Thịnh khí bất tiết tất.
Tào Phi cùng tất cả quần thần đều giựt mình, nức nở khen. Phi lại hỏi:
- Bảy bước thành thơ, ta còn cho là nhàm. Mày có thể ứng khẩu đọc ngay một bài được chăng?
Thực đáp:
- Xin ra đề cho.
Phi nói:
- Ta với mày là anh em. Cứ lấy câu đó làm đầu đề. Nhưng cấm dùng hai chữ "Huynh", "Đệ".
Thực chẳng cần nghĩ ngợi một giây, ứng khẩu đọc ngay:
七步詩
煮豆持作羹,
漉豉以為汁,
萁在釜下然。
豆在釜中泣,
本自同根生,
相煎何太急。
Thất bộ thi
Chử đậu trì tác canh,
Lộc thị dĩ vi trấp,
Cơ tại phủ há nhiên.
Đậu tại phủ trung khấp,
Bản tự đồng căn sinh,
Tương tiễn hà thái cấp.
Dịch nghĩa
Đun đậu nấu làm canh,
Lọc đậu để lấy nước.
Cành đậu đốt ở dưới nồi,
Hạt đậu ở trong nồi khóc.
Vốn từ một gốc sinh ra,
Sao lại đốt nhau khốc liệt như vậy?
Phi nghe xong, có ý thẹn liền tha tội chết cho Thực. Sự việc đầu tiên được thấy chép trong Thế thuyết tân ngữ. Tào Thực mượn hình ảnh dùng cành đậu để nấu hột đậu để ám chỉ việc anh em tương tàn. Bài thơ này còn có một dị bản bốn câu được lưu truyền: “Chử đậu nhiên đậu ky, Đậu tại phủ trung khấp. Bản thị đồng căn sinh, Tương tiễn hà thái cấp?” 煮豆燃豆萁,豆在釜中泣。本是同根生,相煎何太急? (Nấu đậu đun cành đậu, Đậu ở trong nồi khóc. Sinh ra từ một gốc, Sao nỡ đốt thiêu nhau.)
Phi nghe cảm động, sa nước mắt, liền tha cho, nhưng giáng Tào Thực làm An Hương Hầu.
Ở Việt Nam trong thời Tây Sơn (1771-1802), hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ suýt đánh nhau để tranh quyền. Nguyễn Nhạc yếu thế, phải khóc nói với em:
- Bì oa chữ nhục, đệ tâm hà nhẫn?
Nghĩa là: nồi da nấu thịt, lòng em sao nỡ? Nên Nguyễn Huệ cảm động rồi cả hai hòa nhau.
Ở tỉnh Bình Định, mỗi khi người ta đi săn được hươu nai gì thì lột da ra làm nồi mà nấu thịt. Do đó ca dao Bình Định có câu:
Da nai mà nấu thịt nai,
Việc đời như thế không ai động lòng.
Thịt nai mà chín bên trong,
Da nai cũng cháy còn mong nỗi gì!
Cảm động lời nói của Nguyễn Nhạc, người Bình Định đem lời đó diễn bằng câu ca dao:
Lỗi lầm anh vẫn là anh,
Nồi da xáo thịt sao đành hỡi em?
Đời nhà Nguyễn (1802-1945) vua Tự Đức giết anh là Hồng Bảo để củng cố địa vị ngai vàng của mình. Một hôm, trong một buổi chầu, nhà vua vô ý để răng cắn nhằm lưỡi mới khiến quần thần làm bài thơ chơi, nhưng trong thơ cấm dùng tiếng "Răng", "Lưỡi".
Đây là bài thơ của cụ Nguyễn Hàm Ninh:
Ngã sinh chi sơ nhữ vị sinh,
Nhữ sinh chi hậu ngã vi huynh.
Bất tư cộng hưởng trân cam vị;
Hà nhẫn tương vong cốt nhục tình.
Tạm dịch:
Thuở tớ sinh ra, mày chửa sinh,
Mày sinh sau tớ, tớ là anh.
Ngọt bùi chẳng nghĩ cùng nhau hưởng,
Xương thịt đành tâm nỡ dứt tình.
Nhà vua khen hay, thưởng một chữ một nén vàng; nhưng vì cho bài có ý "móc", nên bắt phạt mỗi chữ đánh một roi.
"Củi đậu đun hột đậu", "Nồi da xáo thịt", "Răng cắn lưỡi" thành ngữ điển tích này đều có một ý nghĩa như nhau.
(42) 庐山真面目 [Lư Sơn chân diện mục] (bộ mặt thật của núi Lư) bộ mặt thật / chân tướng của sự việc
Thành ngữ này lại có xuất xứ từ bài thơ Đề Tây Lâm bích của Tô Đông Pha. Khi đến thăm chùa Tây Lâm ở gần núi Lư, Tô Đông Pha có đề thơ lên vách:
題西林壁
橫看成嶺側成峰,
遠近高低各不同。
不識廬山真面目,
只緣身在此山中。
Đề Tây Lâm bích
Hoành khan thành lĩnh trắc thành phong,
Viễn cận cao đê các bất đồng.
Bất thức Lư Sơn chân diện mục,
Chỉ duyên thân tại thử sơn trung.
Hoành khán thành lĩnh trắc thành phong
Viễn cận cao đê các bất đồng
Bất thức Lư sơn chân diện mục
Chỉ duyên thân tại thử sơn trung.
Dịch nghĩa:
Nhìn ngang thành dẫy, nhìn nghiêng thành chỏm
Do đứng xa, gần, cao, thấp, mà mỗi nhìn mỗi khác
Không biết mặt mũi thật của núi Lư nó thế nào
Ấy bởi người nhìn đang đứng ngay trong núi ấy.
Dịch thơ:
Nghiêng hòn ngang rặng, một thôi!
Nhỏ to cao thấp, tùy nơi đứng nhìn.
Núi mong chi thấy chân hình,
Khi ta còn mãi giam mình giữa non...
(43) 毛遂自进【Mao Toại tự tiến cử】
Một câu tục ngữ nói: “Vàng thế nào cũng óng ánh”. Trung Quốc có một câu thành ngữ “Mao Toại tự tiến cử” chính là chỉ việc này.
Thời Chiến quốc cổ đại Trung Quốc, kinh đô Hàn Đan nước Triệu bị quân đội nước Tần hùng mạnh bao vây chặt chẽ, lâm nguy sớm tối.
Để giải cứu Hàn Đan, nhà vua nước Triệu muốn liên hợp với nước Sở, một nước lớn ở khu vực cùng chống lại nước Tần. Vì vậy, nhà vua nước Triệu cử hoàng thân Bình Nguyên Quân đến nước Sở du thuyết.
Bình Nguyên Quân dự định chọn 20 người dũng cảm và có mưu trí trong hàng nghìn đầy tớ ở nhà đi cùng, nhưng chọn đi chọn lại, ông chỉ chọn ra 19 người. Lúc này, một khách không mời mà đến, xin bù vào chỗ thiếu. Khách này tên Mao Toại.
Bình Nguyên Quân nhìn Mao Toại và hỏi: “Nhà ngươi là ai? Tìm ta có việc gì?”
Mao Toại nói: “Thưa ông, Tôi tên là Mao Toại. Nghe nói ông sẽ đến nước Sở du thuyết để giải cứu Hàn Đan, tôi xin sẵn sàng đi cùng với ông.”
Bình Nguyên Quân hỏi tiếp: “Thế thì nhà ngươi đến nhà ta đã lâu chưa?”
Mao Toại đáp: “Dạ, ba năm rồi.”
Bình Nguyên Quân nói: “Ba năm là một quãng thời gian không ngắn. Nếu một người có tài năng đặc biệt gì đó, thì giống như cái dùi để trong túi sẽ lộ ra ngay cái mũi nhọn của nó, tài năng của người này cũng sẽ lộ rõ rất nhanh. Nhưng mà nhà ngươi đã ở nhà ta 3 năm, ta chưa nghe thấy nhà ngươi có tài năng gì đặc biệt. Lần này ta đi nước Sở, gánh vác trọng trách xin cứu binh giải cứu xã tắc, những người không có tài năng không thể đi cùng với ta. Theo ta, nhà ngươi lưu lại thì tốt hơn.”
Bình Nguyên Quân nói rất thẳng thắn. Nhưng Mao Toại lại trả lời một cách tự tin rằng: “Thưa ông, ông nói không đúng, không phải là tôi không có tài năng đặc biệt, mà là ông không để tôi trong túi. Nếu ông để tôi trong túi sớm hơn, thế thì tài năng đặc biệt của tôi sẽ lộ ra như cái dùi lộ ra cái mũi nhọn.”
Qua lời nói của Mao Toại, Bình Nguyên Quân cảm thấy Mao Toại có lẽ quả thật có tài năng, do vậy ông chấp nhận yêu cầu của Mao Toại, dẫn 20 người tùy tùng đi nước Sở. Đến nước Sở, Bình Nguyên Quân đàm phán với nhà vua nước Sở. Sau khi trình bày tường tận sự cần thiết liên hợp chống lại nước Tần, Bình Nguyên Quân mong nhà vua nước Sở nhanh chóng cử quân đội đi giải cứu Hàn Đan, nhưng nhà vua nước Sở không trả lời. Cuộc đàm phán của họ kéo dài từ sáng sớm đến buổi trưa, nhưng vẫn chưa có kết quả gì. Hai mươi người tùy tùng chờ đợi ở bên ngoài thấy nóng ruột.
Vì Mao Toại là tự giới thiệu mới được đi cùng, nên 19 tùy tùng khác coi khinh ông, cảm thấy ông có phần nào tự tâng bốc mình. Lúc đó, họ muốn xem Mao Toại có tài năng gì, bèn xúi giục ông rằng: “Mao tiên sinh, đàm phán lâu rồi mà chưa có kết quả. Anh vào xem thế nào rồi.”
Mao Toại đồng ý ngay. Ông nắm chắc chuôi gươm đeo trên lưng, đến gần nhà vua nước Sở và nói: “Thưa bệ hạ, nước Sở và nước Triệu liên hợp lại chống nước Tần là việc nhất thiết phải thực hiện. Việc này chỉ cần vài câu đã có thể xác định. Nhưng mà tại sao đàm phán từ sáng sớm cho đến bây giờ vẫn không có kết quả?”
Sự xuất hiện và lời quở trách của Mao Toại khiến nhà vua nước Sở tức giận lắm. Nhà vua nước Sở bỏ mặc Mao Toại, quay sang hỏi Bình Nguyên Quân một cách tức giận: “Hắn là ai?”
Bình Nguyên Quân nói: “Dạ, hắn là tùy tùng của tôi.”
Nhà vua nước Sở tức giận, quay mình trách mắng Mao Toại rằng: “Quả Nhân đang bàn việc với chủ nhà ngươi, nhà người là ai, dám nói chen vào!”
Lời nói của nhà vua nước Sở khêu gợi lòng phẫn nộ của Mao Toại. Mao Toại rút gươm, tiến hai bước đến sát nhà vua nước Sở, nói to tiếng rằng: “Kính thưa bệ hạ, sở dĩ bệ hạ dám trách móc thần là vì nước Sở của bệ hạ là một nước lớn, là vì bên cạnh bệ hạ có nhiều thị vệ. Nhưng, bây giờ thần cho bệ hạ biết rằng, trong phạm vi 10 bước hiện nay, nước lớn không có tác dụng gì, thị vệ đông cũng không có tác dụng gì. Tính mạng của bệ hạ đã nằm trong tay thần, bệ hạ kêu không có tác dụng gì.”
Nghe Mao Toại nói như vậy, nhà vua nước Sở sợ hãi đến nỗi vã mồ hôi, không nói gì nữa.
Mao Toại nói tiếp: “Nước Sở là nước lớn, nên làm bá chủ thiên hạ. Thế nhưng, bệ hạ sợ nước Tần vô cùng. Nước Tần từng nhiều lần xâm lược nước Sở, chiếm đóng nhiều địa phương của nước Sở, đây là sỉ nhục lớn biết bao!Nhớ lại những việc như trên, thậm chí người nước Triệu chúng tôi cũng lấy làm xấu hổ. Hiện nay, chúng tôi mong liên hợp với nước bệ hạ chống lại nước Tần, nói là giải cứu Hàn Đan, nhưng đồng thời cũng là trả thù rửa nhục cho nước Sở của bệ hạ. Nhưng, bệ hạ lại hèn nhát như vậy. Bệ hạ có phải là nhà vua không? Chẳng lẽ bệ hạ không lấy làm xấu hổ sao?”
Trước lời nói mạnh mẽ của Mao Toại, nhà vua nước Sở lấy làm xấu hổ và không biết nên trả lời như thế nào.
Mao Toại lại nói tiếp rằng: “Kính thưa bệ hạ, bệ hạ thấy thế nào? Bệ hạ có sẵn sàng liên hợp với nước Triệu chúng tôi cùng chống lại nước Tần hay không?”
“Ta xin sẵn sàng!Ta xin sẵn sàng!”
Nhà vua nước Sở trả lời một cách quả quyết.
Sau khi hai nước Sở và Triệu ký hiệp nghị liên hợp chống nhà Tần, Bình Nguyên Quân và các người cùng đi trở về Hàn Đan rất nhanh. Khi gặp nhà vua nước Triệu, Bình Nguyên Quân nói: “Lần này tôi đi sứ nước Sở, may sao có tiên sinh Mao Toại đi cùng. Nhờ khẩu tài của tiên sinh, nước Triệu chúng tôi quan trọng vô cùng. Tiên sinh thật là mạnh hơn quân đội có hàng triệu chiến sĩ.”
Mấy hôm sau, ở kinh đô Hàn Đan nước Triệu, ai ai cũng biết tên Mao Toại. Hiện này, câu thành ngữ này được dùng trong tình hình người có tài năng dũng cảm giới thiệu mình với người khác.
(Theo China ABC)
Nguyễn Ngọc Kiên
(Viết tại Hải Đường 4/ 2017)
Subscribe to:
Posts (Atom)



