Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, November 16, 2016

TRẢ CHO NGƯỜI - Thơ Đào Duy Nguyên



          Tác giả Đào Duy Nguyên


TRẢ CHO NGƯỜI

Ai đem làn gió ngu ngơ
Bay theo tóc rối chưa vơi nỗi sầu
Ai gieo sợi nhớ cho nhau 
Nghe đau môi khép nhuộm màu tàn phai

Thả chi hương gió hôm mai
Mà đành lỡ phụ tình ai ngọt ngào
Gieo chi một bóng chiêm bao
Để ta nhung nhớ ra vào khôn nguôi

Ai đem tóc gió buông lơi
Cho đời hiu quạnh chơi vơi lối về
Ai gieo nỗi nhớ tóc thề
Để ta chìm đắm cơn mê muộn màng

Gieo chi lời hứa dở dang
Mà giờ lỡ bước sang ngang ưu phiền
Ai mang giấc mộng triền miên 
Để ta say đắm một miền phù du

Gieo chi thương nhớ nhẹ ru
Nghe chừng đã mấy mây thu qua rồi
Xin người một chút tình thôi 
Ta đem nỗi nhớ trả người năm xưa


                       Đào Duy Nguyên

READ MORE - TRẢ CHO NGƯỜI - Thơ Đào Duy Nguyên

CHÙM THƠ NGUYỄN NGỌC KIÊN



           Nguyễn Ngọc Kiên và Lê Mai (từ trái sang)




NHÀ VĂN LÊ MAI

“Tẩu hỏa nhập ma”(1) thoát mấy niên
“Thời gian xuẩn ngốc”(1) chẳng chức quyền (2)
“Ngày vô vi” sống không oan ức
“Cún khóc”(1) mà sao chẳng được rên(3)?

1/ Tên các tiểu thuyết và truyện ngắn nổi tiếng của Lê Mai
2/ Lê Mai nguyên là giáo viên trường cấp 3 Nguyễn Trãi Hà Nội
3/ Truyện ngắn “Quyền được rên” của Lê Mai


TRÊN CÁP TREO BÀ NÀ

Kẻ lữ khách cô đơn như treo lơ lửng cuộc đời mình trên sợi tóc
Mây trắng ở dưới chân trời xanh ở trên đầu.
Với em, chỉ một tích tắc thôi anh có thể là mãi mãi,
Mãi mãi với ngàn xưa và vĩnh viễn với ngàn sau !

Chợt thấy mình gấp ngàn lần mạo hiểm
Dám đem cá cược cả số phận mình
Trên một sợi dây vô hình
Đưa anh đến với cuộc đời em!

               Nguyễn Ngọc Kiên
               Đà Nẵng 18/7/2013

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN NGỌC KIÊN

THƯƠNG NHỚ MƯỜI MỘT - thơ Mai Thị Vân



Ảnh tác giả Mai Thị Vân


Thương Nhớ Mười Một
Mai Thị Vân

Mười Một về trời chớm trở heo may,
Giữa dòng sông vẫn lặng lẽ dáng thầy,
Chèo con đò đến cù lao tri thức,
Bụi phấn – sương sa bạc trắng tóc thầy.


Bao năm rồi? Thầy chẳng chút đổi thay,
Thức trắng đêm, miệt mài bên giáo án.
Cũng lắm lúc thầy lắc đầu ngao ngán,
Trò ham chơi, chẳng chịu học hành!


Mười Một về gõ cửa… thật nhanh
Mùa Hiến Chương – tri ân thầy cô giáo.
Bước vào đời lo bạc, tiền, cơm, gạo…
Mấy ai nghe… Mười Một… để nhớ thầy(!)


Thầy đừng buồn, còn có chúng con đây,
Tiếp bước thầy chèo con đò tri thức
Trang giấy xưa vẫn còn in màu mực,
Mười Một ơi! Vang vọng tiếng của thầy.


MTV
Tác giả: 
Mai Thị Vân,
Giáo viên, 
Trường THCS Duy Ninh, Xã Duy Ninh, 
Huyện Quảng Ninh, 
Tỉnh Quảng Bình.
maivanspv34.0306@gmail.com


READ MORE - THƯƠNG NHỚ MƯỜI MỘT - thơ Mai Thị Vân

NGƯỜI DƯNG - thơ Phan Minh Châu





NGƯỜI DƯNG
Phan Minh Châu

Tôi có quán cà phê
Nên mỗi sáng thường ra ngồi trước cửa
Vừa trông khách vừa dắt xe
Cho vợ tôi dư ra vài buổi chợ .
Sáng hôm nay như mọi ngày
Tôi bày bàn, bày ghế
Rồi căng dù che nắng, che mưa.
Tôi mang tờ báo củ ra trước sân ngồi đọc .
Những người bán hàng rong, những người chào vé số
Già trẻ gái trai, kể cả tật nguyền
Kéo về đây mỗi ngày như cơm bữa
Ngước mắt nhìn tôi như đã từng thân.
Tôi phớt tỉnh như chưa hề nhìn thấy
Tôi phớt tỉnh nhiều lần tôi đứng dậy
Mời họ đi theo đúng nghĩa người dưng.
Duy người đàn ông chỉ có một chân
Ôm đôi nạng gõ từng bước nặng.
Tôi ngước nhìn lên.
Không thể nào tin nổi
Người bạn tôi năm nào thuở tuổi hai mươi
Bất ngờ gặp nhau anh bối rối mĩm cười
Đôi tay run vuốt từng tờ vé số
Tôi kéo ghế mời anh ngồi
Rót cho anh ly trà, đốt cho anh điếu thuốc
Rồi bần thần nghĩ đến ngày xưa…
Những ngày xưa …
Tôi hồi tưởng những điều tôi còn nhớ!
Anh với tôi cùng chung đơn vị
Trận đánh nào cũng bỏ chút thịt da
Trong một đêm giặc càn
Bom dày, đạn xéo
Đôi chân tôi máu chảy dầm dề
Anh vác tôi băng qua làn đạn lửa…
Đưa tôi về tuyến sau…
Bao nhiêu năm sau ngày giải phóng
Lặn lội tìm anh trên mỗi chiến trường
Có tìm hỏi từng đồng đội cũ
Nhưng họ đều lắc đầu dửng dưng
Bởi họ biết tôi chỉ hoài công…
Ngày xuất ngũ.
Có lẽ tôi may mắn hơn anh
Cưới được người vợ xinh gia đình khá giả
Tôi có tiền việt kiều của cả cùng hai họ
Nên cuộc đời cũng bớt nổi lo toan.
Uống xong ly nước trà
Chưa kịp nói gì, anh chào tôi đi
Trong đôi mắt ngân ngấn từng giọt nước
Tôi giữ lại biết là không được.
Những đứa con anh ở nhà
Đang cần vài ký gạo
Và dăm ba hộp sữa
Một ít thuốc men, đôi phút dỗ dành
Bữa cơm chiều không phải chỉ rau xanh
Tôi chợt nhận ra mình mới đúng nghĩa người dưng.

PMC
Nha Trang
READ MORE - NGƯỜI DƯNG - thơ Phan Minh Châu

TỰ THÁN - thơ Chu Vương Miện


Ảnh tác giả










TỰ THÁN
Chu Vương Miện

Đêm nửa khuya hết trằn đến trọc
Mõ bên làng lóc cóc kêu than
Đời ta theo ván cờ tàn
Ngổn ngang xe pháo ngổn ngang cơ đồ
Bầy sĩ tượng dở trò biến mất
Anh tướng quèn phơ phất nằm yên
Tốt đen một góc ưu phiền
Mã hồng một cặp cũng liền dông luôn
Nhìn đất nước mà tuôn nước mắt
Một lũ leo đệ thất tuần duơng
Đuờng binh duy mỗi một đuờng
Thôi đành để lại cố hương đục ngầu
Ôi thời thế tu tù cũng vậy
Cũng toàn là bị gậy với nhau
Qua Tây rồi lại qua Tàu
Cũng toàn bào ảnh nhuốm màu tà dương
Ôi cuộc thế ngủ đuờng ngủ chợ
Ôi tình người bỏ vợ đợ con
Trơ ra một tấm thân còm
Nửa như tàn phế nửa còn lất lây
Thôi một kiếp tù đầy đáng chán
Kéo nửa đời buồn nản nhấp nhô
Tàu cau rồi lại tàu dừa
Giờ rơi loạn xạ cũng vừa xót xa
Nhìn ao bèo toàn gà hoá vịt
Nhìn lên cành trái mít gần rơi
Nhìn ta rồi lại nhìn ngươì
Nhìn qua ngó lại con ruồi mất tiêu
Quán thu phong tiêu điều dưới gió
Cầu hẹn thề toàn đó không đăng
Dồn ta đến bưóc đuờng cùng
Bốn bề tiếng pháo đì đùng nổ vang.

CVM

READ MORE - TỰ THÁN - thơ Chu Vương Miện

QUA MÙA ĐÔNG CŨ - Thơ Nguyễn An Bình

                      Nhà thơ Nguyễn An Bình


QUA MÙA ĐÔNG CŨ

Một ngày heo hút
Mênh mông lá sầu
Bóng người xa khuất
Nên tình chìm sâu.

Mùa mưa đã dứt
Chim trắng về trời
Cánh diều bay mất
Tình đành mù khơi.

Người đã đi xa
Vết thương còn lại
Trôi giấc mơ hoa
Tim đau hoang hoải.

Trời đông cánh mỏng
Nghiêng bước ai về
Đất trời lồng lộng
Tình còn u mê.

Heo may nhè nhẹ
Se lạnh hồn người
Ai bên dốc đợi
Hoa vàng đã phai.

Còn lại chút nầy                                 
Phố nhỏ mưa bay                              
Qua mùa đông cũ
Thôi thì chia tay.

Nguyễn An Bình

READ MORE - QUA MÙA ĐÔNG CŨ - Thơ Nguyễn An Bình

Tuesday, November 15, 2016

LỐI NÓI KHOA TRƯƠNG TRONG TIỂU THUYẾT “CHUYỆN LÀNG CUỘI” CỦA LÊ LỰU - Nguyễn Ngọc Kiên


        


LỐI NÓI KHOA TRƯƠNG TRONG TIỂU THUYẾT
         “CHUYỆN LÀNG CUỘI” CỦA LÊ LỰU

                                     Nguyễn Ngọc Kiên

Lời dẫn: Nhà văn Lê Lựu sinh ngày 12 tháng 12 năm 1942 tại xã Tân Châu, huyện Khoái Châu - Hưng Yên, là một nhà văn Việt Nam, thành viên của Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1974, chuyên về tiểu thuyết và truyện ngắn, tiêu biểu là Thời xa vắng . Ông hiện nay đang đảm nhiệm chức Giám đốc của Trung tâm Văn hóa Doanh nhân tại Hà Nội. “Chuyện Làng Cuội” là cuốn tiểu thuyết lớn thứ hai của đời văn Lê Lựu.

                 1.Khái niệm về khoa trương
Trong tiếng Việt, khi cần nhấn mạnh làm nổi bật đặc trưng, tính chất của đối tượng, người ta cố tình nói quá sự thật; việc nói quá ở đây có thể là phóng to hoặc thu nhỏ đối tượng cần miêu tả. Lối  nói này được gọi là khoa trương. Khoa trương không phải là nói khoác hay nói dối để đánh lừa người nghe. Tác giả Đào Thản cho rằng, nó không làm cho người ta tin vào điều nói ra, mà chỉ cốt hướng cho ta hiểu được điều nói lên [2, tr.1].
Theo chúng tôi, khoa trương là cường điệu quy mô, tính chất, mức độ của những sự vật, hiện tượng miêu tả. Tuy nói quá nhưng vẫn phản ánh được và đúng bản chất của sự vật, hiện tượng. Khoa trương luôn mang đậm phong cách và dấu ấn của cá nhân hoặc cộng đồng sử dụng ngôn ngữ. Xét các ví dụ sau trong “Chuyện Làng Cuội”:
           (1)Rồi các ông cứ nghiệm mà xem. Cái mắt và cái mồm của hắn rất là chửi nhau. Cái mồm là cái mồm thằng tán gái thành thần. Con kiến trong lỗ cũng phải chui ra với nó.
        (2) Dù được đi đây đi đó nhưng lần nào đến ga Hàng Cỏ trông thấy con “phe” đã thấy đẹp hơn vợ mình, huống hồ gặp lại Nho, con người có cái cười “toàn dân”. Chị ta vừa mở quán nữa tháng trời, cả huyện đã biết “lai lịch, có riêng gì anh.
2. Phân loại khoa trương trong tác phẩm “Chuyện Làng Cuội”
Căn cứ vào ý nghĩa, lối nói khoa trương được chia thành ba loại như sau:
Khoa trương phóng to là cố ý làm cho sự vật to ra, đem đặc trưng, số lượng, trạng thái, tính chất, đặc trưng của sự vật làm cho nhiều lên, nhanh hơn, cao lên, dài ra, mạnh hơn. Ví dụ:
(3) Chị lành thật, nhưng nếu cần mang con lên kêu gào trước cổng huyện ủy, tỉnh ủy hàng tháng, hàng năm chị cũng không quản ngại.
(4) Cả nhà công tác. Cả nhà phải gánh vác công việc hệ trọng như là quả đất sắp sửa vỡ bửa ra ngày mai.
(5) Khi bần cố đã vùng lên thì sức mạnh kinh hoàng khủng khiếp của nó sẽ làm rung chuyển cả trời đất, không có gì có thể cản nổi.
 Khoa trương thu nhỏ là thu nhỏ sự vật; tức là cố ý đem số lượng, đặc trưng, tác dụng, mức độ của sự vật làm cho nhỏ đi, ít đi, chậm lại, thấp đi, ngắn lại hoặc yếu đi. Ví dụ:
(6) Làng nào xã nào cũng nhơn nhơn tuyên bố: “Bọn Tây bốt Thiệt có biến thành những con chuột nhắt cũng không chui lọt hàng rào để vào đây”.
(7) Hai ngôi nhà của vợ chồng anh và của mẹ vợ trông như hai cái lều, cách nhau một vườn chuối rộng hơn một sào mà anh vẫn tưởng cái gãi tai bên này tiếng thì thầm của vợ chồng anh ở bên này bên kia đội vẫn nghe, vẫn biết.
(8) Mong ngày mong đêm cái giây phút dắt đứa con đi cạnh chồng giữa thanh thiên bạch nhật, rốt cuộc cứ phải trốn lủi cả người quen lẫn người lạ, cả ánh mặt trời và giật mình với cả tiếng lá rơi. Để rồi sau khi ông tổng lên thăm bà Nhớn, mấy chữ của ông như những lưỡi dao chém vào niềm hi vọng của cô về một đứa con có bố.
Trong tiếng Việt, khoa trương thời gian hay khoa trương theo trật tự nghịch là đem sự việc xuất hiện sau nói thành việc xuất hiện trước hoặc đồng thời xuất hiện. Ý nghĩa của câu là “chưa thế này thì đã thế kia” hoặc “vừa mới thế này đã thế kia”, chẳng  hạn “ chưa ăn đã hết” “rượu chưa uống đã say”. Tuy nhiên trong “Chuyện Làng Cuội”, chúng tôi không thấy lối nói này, mà chỉ thấy ông khoa trương thời gian khi nói “trong chớp mắt” “trong nháy mắt”, “thoắt cái”. Ví dụ:
(10) Luật pháp và những chuẩn mực nghìn đời cũng có thể thay đổi mười lăm lần trong một ngày. Chỉ cần mình muốn. Con người đã muốn gì thì cái gì cũng có thể làm được trong nháy mắt.
(11) Bằng cách đối xử của con vợ mình đêm hai vợ chồng đứng cạnh thằng Lăng ở miếu ông Cuội và sau đấy anh biết những con đàn bà dù nhà quê nó cũng có khả năng biến hóa như con yêu tinh, thoắt cái đã hiện ra nanh vuốt của quỉ dữ, thoắt cái lại dịu hiền ngây dại như trẻ thơ.
2.2. Phân loại khoa trương theo hình thức
Căn cứ vào hình thức có thể chia khoa trương thành hai loại: khoa trương trực tiếp và khoa trương gián tiếp.
(1) Khoa trương trực tiếp:
 Khoa trương trực tiếp là khoa trương không sử dụng bất cứ biện pháp tu từ nào, còn được gọi là khoa trương thuần túy. Ví dụ:
(12) Hôm nay lại tưởng chết vì trận nôn tám ngày nay, không biết bao nhiêu trận cứ móc họng lôi thốc cả ruột gan ra ngoài.
(13) Trong lúc cả làng sôi sục chạy đuổi “nhét cứt vào mồm con Xuyến”, làm con bé xanh xám mặt mũi, cắt không còn hột máu, thằng Hiếu đứng ra chặn mọi người ôm lấy vợ bảo: - Em cứ bình tĩnh, đừng sợ.
(14) Cô ôm lấy chồng. nước mắt ướt đẫm mặt anh: - Nếu được thế thì bảo em liếm xuống đất mà lễ sống mẹ với các em, em cũng làm. Mẹ anh là mẹ em, đi đâu mà thiệt hả anh.
(2) Khoa trương gián tiếp
Là khoa trương phải sử dụng các biện pháp tu từ khác để thực hiện, còn được gọi là khoa trương dung hợp. Chẳng hạn:
+ so sánh có từ so sánh. Ví dụ:
(15)Từ cái nón mê, cái bị, bộ quần áo thủng, rách buộc túm, cho đến tay, chân, mặt mũi đều chạt ghét và đất có thể bóc ra như bóc vỏ sắn.
(16) Đêm đêm nhìn quầng lửa đỏ cháy rực góc trời làng mình, nước mắt chảy ra như máu ứa từ ruột trào lên, hai hàm răng cắn lại nuốt nước mắt như nuốt máu mình chảy vào miệng mình.
(17) Tao nói cho thằng lưu manh kia biết nhé. Nếu tao là con đĩ, mày là cái gì. Ở đại hội nó phê bình chỉ như gãi ghẻ cho mày.
+ so sánh không có từ so sánh
(18) Chó cắn và người kêu. Tóc gáy thằng Hiếu dựng lên, nó lo thon thót không hiểu mẹ nó làm sao.
Ở đây, ta phải hiểu rằng, “tóc gáy thằng Hiếu như bị dựng lên”.
+ So sánh có hệ từ 
(19) Có rượu vào mà rủ nhau lẳng bà lão đi rồi. Đúng là họ đóng đinh vào đầu mình.
+ Sử dụng hoán dụ để khoa trương
Tác giả Trần Vọng Đạo trong  Tu từ học phát phàm lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về phép hoán dụ: “Sự vật được nói tới tuy rằng không có điểm tương tự với sự vật khác, giả sử khi giữa chúng còn có quan hệ không thể tách rời, tác giả có thể mượn tên của sự vật có quan hệ đó thay cho sự vật được nói tới. Cách mượn như vậy gọi là phép hoán dụ tu từ” [93]. Nghĩa là, không nói thẳng ra tên người hoặc sự vật mà mượn tên của sự vật có quan hệ mật thiết với nó thực hiện phép thay thế.
Phép hoán dụ tu từ được chia thành nhiều loại khác nhau. Theo quan sát của chúng tôi, lời nói khoa trương trong “Chuyện Làng Cuội”, tác giả thường dùng cái toàn thể để thay cho từng vật chứa trong đó. Ví dụ:
(20) Tên bác cả nước người ta còn biết. Chúng em ở xã bên cạnh, bác lại không cho chúng em được vinh hạnh biết tên bác ư?
(21) Lại đồn: ông tổng Lỡi về kì này truy tìm xem ai là kẻ chủ mưu phá kho thóc nhà ông ấy. “Kì này không khéo ông ta móc họng cả làng, cả tổng chứ chẳng chơi”.
(22) Sao bà lại sinh ra vào cái thời buổi lạ lùng. Thoắt cái cả làng cả tổng xô lại ai cũng như xé ruột xé gan cho bà.
Ở các ví dụ trên, “cả nước” “cả làng cả tổng” là  vật chứa đựng đại diện cho những người trong đó.
2.3. Phân  loại khoa trương theo mức độ
Căn cứ vào mức độ khoa trương (đã đến mức phi lí hay chưa đến mức phi lí), khoa trương trong “Chuyện Làng Cuội” của Lê Lựu có thể thành mấy loại:
(1) Khoa tương ở mức độ thấp
 Khoa trương ở mức độ thấp là cách nói quá đi so với cái có thật trong thực tế; tuy có thể nhân lên tới hàng trăm hàng nghìn lần, thậm chí hàng vạn lần, nhưng vẫn chưa đến mức phi lí, vẫn có thể chấp nhận được. Sở dĩ như vậy là vì, nghe mãi thành quen tai, cả người nói và người nghe không ai nghĩ rằng mình đang khoa trương. Chẳng hạn, trong khẩu ngữ người ta vẫn hay sử dụng các cụm từ sau để khoa trương: vô cùng vĩ đại, cực kì khó khăntrăm công nghìn việc, phục sát đất. Ví dụ:
(23) Anh buồn bã bảo bà: - Thì đúng thế còn gì nữa. người ta phổ biến, tôi ngồi, mặt dầy như cái mặt mo ở trên huyện ấy.
(24) Nghe cháu nói bà quặn ruột lại .
(25) Ông thấy giận em gái. Nó không xui con nó làm cái việc khốn nạn ấy, nhưng ông vẫn tím mặt lại khi nhìn thấy em.
(26) Cô bám vào cột quằn người kêu la tưởng là đứt ruột chết ngay.
 (2)   Khoa trương ở mức độ cao
Khoa trương ở mức độ cao là cách nói nói quá sự thật một cách quá đáng, đến độ phi lí không thể tin được. Trong giao tiếp, người ta hay sử dụng các cụm từ và các thành ngữ khoa trương sau:  không cánh mà bay, một bước lên giời, một chữ bẻ đôi cũng không biết, một ngày dài hơn thế kỉ, ngàn cân treo sợi tóc, ba đầu sáu tay. Chẳng hạn, trong Chuyện  Làng Cuội:
(27) Khai được chuyện này ra, bao nhiêu chuyện khác sẽ gỡ ra được, chồng mụ không phải bị buộc oan, không phải “ngàn cân treo sợi tóc” như bây giờ.
(28) Kẻ khác đụng đến là thấy đứt ruột ra làm năm, làm bảy.
(29) Khi bần cố đã vùng lên thì sức mạnh kinh hoàng khủng khiếp của nó sẽ làm rung chuyển cả trời đất, không có gì có thể cản nổi.
2.1. Khoa trương ở mức độ cực cấp
Là khoa trương ở mức độ cao nhất.
Khái niệm “cực cấp” chúng tôi dùng ở đây là khoa trương được xếp vào mức độ cao nhất. Loại này thường dùng cho những tính từ “thang độ”. Ví dụ:
(30) Bao nhiêu vất vả gian truân, bao nhiêu đau đớn tủi nhục người mẹ nuốt hết vào trong lòng cốt để trở thành bất tử, thành người hạnh phúc nhất trần gian lúc đứa con bập bẹ tập nói.
2.2. Khoa trương về điều phi thực tế
Kiểu khoa trương này là khoa trương về những điều không có thực hoặc trái với thực tế. Ví dụ:
(31) Nghĩa là, nếu chạy lên trời chị cũng cầm chân kéo xuống, mà chui xuống đất thì chị túm tóc lôi lên. Có mà thoát đằng trời.
(32) Mẹ con cô đột ngột trở về như người chết tự nhiên sống lại, như từ trên trời rơi xuống.
(33) Đã chắc gì ông thiết. nhưng chúng bay cũng không được phép quên ông, bắt ông nằm suông bẹp dí ở đây mãi gần trưa mới được bát ngô bung thì vẫn trợn trạo rắn như cái đầu lâu con mẹ mày, ai nhai được. Chúng mày ác với ông thì trời đánh thánh vật chúng bay.
(34) Đêm ấy cô lại thức trắng, nhớ lại lúc ngồi với bà Nhớn, bà mắng cô: “Ăn nói độc mồm, độc miệng, hổ báo nó bắt mày đi”.

3. Kết luận
Khoa trương là một thủ pháp nghệ thuật hết sức độc đáo trong các tác phẩm của Lê Lựu. Nó luôn tạo sự mới mẻ, kích thích trí tưởng tượng và lôi cuốn người đọc.
Trong tiếng Việt mà tiêu biểu là trong tiểu thuyết “Chuyện làng Cuội” cũng như trong tiếng Anh, khoa trương hết sức đa dạng và phong phú. Căn cứ vào ý nghĩa có thể chia thành khoa trương phóng to, khoa trương thu nhỏ và khoa trương thời gian. Căn cứ và hình thức, có thể chia thành khoa trương trực tiếp và khoa trương gián tiếp. Căn cứ vào mức độ lại có thể chia thành khoa trương ở mức độ thấp và khoa trương ở mức độ cao. Người Việt và người Anh mặc dù có hai nền văn hóa khác nhau nhưng họ thích nói khoa trương và trong cách khoa trương của họ có nhiều điểm tương đồng. Bài báo trên đã lý giải những điểm tương đồng ấy.
Thông qua lối nói khoa trương, lời ăn tiếng nói của quần chúng vào “Chuyện Làng Cuội” của Lê Lựu hết sức tự nhiên như cuộc đời thực vốn có của nó. Đây là một trong những cuốn tiểu thuyết lớn của nhà văn Lê Lựu và ông xứng đáng được mọi người mến mộ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB ĐH Quốc Gia HN.
2. Huỳnh Ái Nguyên (2005), Phương tiện nhấn mạnh trong tiếng Anh và tiếng Việt, Luận văn Tiến sĩ Ngữ văn, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
2. Đào Thản (1990), Lối nói phóng đại trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ.
3. Cù Đình Tú (2007), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục.
4. Viện Ngôn ngữ học (1997), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng
NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN
5. Lê Lựu (2003), Chuyện Làng Cuội, NXB Văn học.

READ MORE - LỐI NÓI KHOA TRƯƠNG TRONG TIỂU THUYẾT “CHUYỆN LÀNG CUỘI” CỦA LÊ LỰU - Nguyễn Ngọc Kiên

NẾU MỘT MAI - Thơ Thủy Điền





NẾU MỘT MAI

Nếu một mai quả đất nầy thiếu vắng
Bóng con người, vạn vật lẫn lá hoa
Chỉ còn riêng một chú khỉ thật thà
Ngồi mân tóc giữa bầu trời hoang vắng
Chắc có lẽ chú khóc và buồn nhiều lắm
Khi quanh mình như một bãi tha ma

Nếu một mai ngồi ngắm khoảng trời xa
Nhìn tinh tú sáng tà không còn nữa
Và, có thể đôi mi nhòa lệ ứa
Khóc thương đời tận thế quá vội nhanh
Khi đêm về trời thiếu ánh trăng thanh
Ngày cũng thế mặt trời đi ngủ mất

Nếu một mai tình người không ngôi bậc
Xem nhau thường và đấu đá lẫn nhau
Hễ chạm nhau là xách búa, xách dao
Chém tứ tả như thời xưa, tiền sử
Để tranh giành cho được miếng thừa dư
Mà hiện tại mọi người đang chối bỏ.

Nếu một mai nhân loại nầy thấu rõ
Đâu là tình, đâu là nghĩa, đức nhân
Đâu bậc thước, vế vai và bình đẳng
Đời còn gì hạnh phúc “Đúng vậy chăng “?
Đời làm gì bật lửa gợi chiến tranh
Chỉ mỗi tội còn hơn, thua nhiều quá

Nếu một mai có một mầu phép lạ
Từ trên trời biến khắp cõi trần gian
Thì hy vọng trời mưa rồi lại sáng
Hay đêm tàn sẽ trở lại ngày sang
Còn bằng không con người xin chấp nhận
Trăm năm nầy xin hiến tặng đời không.

                                         Thủy Điền
                                        12-11-2016


READ MORE - NẾU MỘT MAI - Thơ Thủy Điền

ĐỌC BÀI THƠ “HƯƠNG THU” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Lời bình của Chử Văn Long


         
                   Tác giả Chử Văn Long



ĐỌC BÀI THƠ “HƯƠNG THU” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN
                                                                            Chử Văn Long

Giữa một đô thị như Hà Nội gần như đã chật cứng xe cộ, nhà cửa, âm thanh… Trừ những người giàu có, quyền tước chiếm giữ được những khoảng không gian riêng có cây che bóng mát cho những ô cửa sổ mở ra để nhìn ngắm ánh trời… Còn cuộc sống của hầu hết mọi sinh linh chọn thành phố làm nơi cư ngụ. Âm thanh chát chúa, khói bụi cay mù, xe cộ với tốc độ luồn lách… Nhìn những dòng người, dòng xe với những chiếc mũ bảo hiểm dọc theo những con đường nắng bốc hơi ngùn ngụt người đã thấy nôn nao như mình đã lạc sang một “tiểu hành tinh” nào đấy mù xa… Không biết làm thế nào đấy mà người thơ vẫn có một buổi chiều Hà Nội, vẫn dành riêng cho mình một cõi đắm say thanh thản. Ta như nghe được tiếng reo của người đang chìa bàn tay chờ đón mùa thu bằng cảm giác mùi hương.
Tạo hóa ban phát riêng cho những người làm thơ thứ hạnh phúc không ai có thể tranh giành, không luật pháp khắc nghiệt nào có thể ngăn trở tâm hồn người ta đến với cái đẹp; người thơ như được đứng riêng một cõi:
Ô kìa chiều
Ai thả nắng vương cây
Tóc rối ai bay
Mòn ai đuôi mắt
Điệu lý buông lơi tính tang khoan nhặt
Da diết bổng trầm xao xác sông xưa
 “Tóc rối” của ai bay? Ai nhìn ai “mòn đuôi mắt”? Cái gì “bổng trầm”? Cái gì “xao xác” và “sông xưa” là con sông nào mà thả được dòng trôi vào cái mảnh đất nhà cửa chen chúc những khối bê tông thô ráp mệt mỏi dâng đầy!
Đọc đoạn hai bài thơ “Hương thu”
Ta hỏi chiều
Thu đã về chưa
Mà lá vàng rơi khẽ nghiêng thật nhẹ
Mà gió mơn man vuốt ve thật khẽ
Biêng biếc trời chiều
Man mát hương sen.
Đọc đến đây ta có thể khẳng định sự mơ hồ của “lá rơi” của ngọn “gió mơn man ve vuốt” của sắc trời chiều “biêng biếc”, thêm vào chút “hương sen man mát” làm cho ngây ngất, mở lòng, chứ anh cũng chưa gặp mùa thu - vì còn phải hỏi chiều “thu đã về chưa”? Nhưng nào say đắm có mất gì, khi lòng ta bỗng dưng bổi hổi, xao xuyến nhớ về một mùa thu đẹp đã đi qua để lại cho hồn ta những vẻ đẹp, những màu sắc âm thanh sáng trong, ngập ngừng, bối rối:
Ta hỏi chiều
Sao rất đỗi thân quen
Tí tách bếp ai dẻo thơm cốm mới
Câu lý giao duyên ngập ngừng bối rối
Bồng bềnh người ơi
Mây tím lưng trời.
Thơ hay thường là những kỷ niệm đẹp nhưng phải được cháy lên hoặc thắt quặn lòng mình. Thêm vào một tay nghề … “Hương thu” có nhiều nét đẹp nhưng mới chỉ dừng lại ở những “xốn xang”, còn “thiếu vị buồn”. Bởi cái gì đẹp thăm thẳm thường pha thêm chút ánh buồn (Đẹp và buồn đi với nhau), bài thơ mới chiếm được hết lòng độc giả, mới làm mê mẩn người xem./.

Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2016
Nhà thơ CHỬ VĂN LONG
Địa chỉ: Thôn 2, Vạn Phúc, Thanh Trì, Hà Nội.       
Điện thoại: 01658818263


   


HƯƠNG THU
.
Ô kìa chiều
Ai thả nắng vương cây
Tóc rối ai bay
Mòn ai đuôi mắt
Điệu lý buông lơi tính tang khoan nhặt
Da diết bổng trầm xao xác sông xưa
Ta hỏi chiều
Thu đã về chưa
Mà lá vàng rơi khẽ nghiêng thật nhẹ
Mà gió mơn man vuốt ve thật khẽ
Biêng biếc trời chiều
Man mát hương sen.
 .
Ta hỏi chiều
Sao rất đỗi thân quen
Tí tách bếp ai dẻo thơm cốm mới
Câu lý giao duyên ngập ngừng bối rối
Bồng bềnh người ơi
Mây tím lưng trời.
*.
Hà Nội, chiều 07 tháng 08 năm 2014
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - ĐỌC BÀI THƠ “HƯƠNG THU” CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Lời bình của Chử Văn Long