Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, June 4, 2013

TIẾNG VỌNG LỜI BÊN SÔNG – thơ Ngọc Long

Ngọc Long

Phóng tác theo cảm hứng từ bài 
Lời Người Bên Sông của Lê Bá Dương.

Đò ơi... bớ đò ơ!
Ghé chở tôi về lại
Ký ức thời lửa khói
Sóng nhuốm màu đạn bom.

Ngày chúng tôi hai mươi
Có người không về nữa
Mẹ ao nhà trăn trở
Mỏi mắt mò bóng trăng

Ơi mênh mông mênh mông
Nơi Hồ Khê núi thẳm
Đồng đội tôi vang mãi
Bài ca của non sông

Ơi mênh mông mênh mông
Bạn ngủ với dòng sông
Gối mây trời yên giấc
Sóng dâng trào nghìn năm.

Tôi hòa vào Thạch Hãn
Tôi hòa vào Hồ Khê
Nước quê mẹ ngọt lắm
Đất quê mẹ nồng thắm.

Đò lên nhẹ đò... ơi!
Van đò nhẹ! Đò... ơi! 

Ngọc Long
lnguyen647@gmail.com

READ MORE - TIẾNG VỌNG LỜI BÊN SÔNG – thơ Ngọc Long

NGUỒN CỘI - truyện ngắn Nguyễn An Bình

Nguyễn An Bình

   Từ lâu trong đầu óc của hắn không còn có chút  khái niệm gì về quá khứ, một quá khứ mà những người như hắn xem đó là một ký ức đau buồn cần phải quên đi. Lúc đầu nó như một màn sương mỏng mà hắn còn cảm nhận lờ mờ sự việc, nhưng từ từ theo thời gian nó tích tụ ngày càng dày thêm và cuối cùng thì đặc quánh lại mà hầu như  không có vật gì có thể xuyên qua nổi, cho đến một ngày người cha nuôi Mỹ nhân từ của hắn trước khi qua đời đã kêu hắn lại nói:

  - Con trai à, ta có điều nầy muốn nói với con mà từ lâu ta giữ mãi trong lòng. Con không phải con ruột của ta, điều nầy con cũng đã biết nhưng con chưa bao giờ hỏi ta con là ai, từ đâu đến, và tại sao gia đình ta lại nhận con là con nuôi? Nhưng ta nghĩ con được quyền biết vì ai cũng có gốc gác, nguồn cội của mình.

   Hắn im lặng không nói, hắn suy nghĩ không biết người cha nuôi Mỹ muốn nói điều gì với hắn, nguồn cội của hắn ư? Từ lâu hắn không còn nhớ tới. Biết để làm gì? Có ích gì trong cuộc sống hiện tại của hắn? Người cha Mỹ im lặng hồi lâu, nói tiếp giọng buồn bã:

  -Ta nhận con từ hội chữ thập đỏ, họ đưa con từ Việt Nam trong chiến dịch Babylift, đó là chiến dịch đưa các cô nhi Việt Nam ra nước ngoài trước khi Sài Gòn thất thủ, lúc đó con 7,8 tuổi gì đó. Ta từng là  một người lính tham chiến ở Việt Nam, ta biết đất nước con là một đất nước tươi đẹp nhưng bị chiến tranh tàn phá, tan nát, nên ta nhận con về nuôi là một điều dễ hiểu, ta cảm thấy có lỗi với đất nước con và ta muốn chuộc lại lỗi lầm đó trong quá khứ.

   Sau khi người cha nuôi Mỹ mất, một thời gian dài tâm trạng hắn không còn được yên ắng như trước, luôn bị giằng co giữa quá khứ và hiện tại, đôi lúc nó còn len tận vào trong giấc ngủ của hắn. Khi được đưa về Mỹ hắn đã có một cuộc sống êm ả, được gia đình người cha nuôi Mỹ yêu thương, chăm sóc, anh em trong gia đình không định kiến. Hắn tốt nghiệp đại học, vào làm trong một công ty hóa chất lớn, lương bổng ổn định, cuộc sống trôi qua một cách bình lặng như bao nhiêu người dân Mỹ khác, thì quá khứ lại bị đào xới lên, những ngày tháng thơ ấu đau khổ, kinh hoàng khi chạy loạn, trong cô nhi viện dần hiện lên trong trí nhớ của hắn mà hắn tưởng đã quên đi từ lâu, cuối cùng hắn nghiệm ra rằng phải đối diện với thực tế, không trốn chạy nó nữa thì mới giải quyết vấn đề một cách rốt ráo được.

   Hắn lên mạng tìm hiểu những thông tin về giai đoạn mà hắn được đưa khỏi Việt Nam. Hắn là một trong khoảng 3.300 trẻ em mồ côi rời khỏi một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh trong một chiến dịch mà thời sự lúc bấy giờ gọi là chiến dịch Babylift (chiến dịch không vận cô nhi) được khởi động trong khoảng thời gian từ 3-26 tháng tư năm 1975. Những đứa trẻ nầy (trong đó có hắn) được đưa đến Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Canada…và chúng được nhận nuôi bởi nhiều gia đình trên khắp thế giới. Hắn gởi thư đến hội chữ thập đỏ, các tổ chức từ thiện, nói chung là tất cả những tổ chức nào có thể tìm được những thông tin về quá khứ của hắn, sau rốt hắn tìm đến tổ chức Operation Reunite, một tổ chức phi lợi nhuận Hoa Kỳ, đã và đang giúp đoàn tụ các gia đình bị ly tán sau chiến tranh, đặc biệt là các trẻ em từng bị đưa ra khỏi Việt Nam trong chiến dịch “Operation Babylift”.Thư đi thư lại nhiều lần, từ những thông tin mơ hồ, ít ỏi  mà hắn cung cấp cho họ, hắn biết được người đưa hắn vào cô nhi viện ở Thủ Đức vào những ngày gần kết thúc chiến tranh Việt Nam là một sĩ quan miền Nam tên Lê Văn Sáu, ông ta nói trên đường di tản khỏi Nha Trang đã gặp hắn trên đường và đã đem hắn theo. Ông ta hứa có điều kiện sẽ trở lại đón hắn và điều đó đã không xảy ra, hắn được đưa khỏi Việt Nam trước ngày 30 tháng 4, không biết thời gian sau đó ông ta có trở lại tìm hắn không thì hắn không biết. Qua tổ chức Operation Reunite hắn đã tìm và kết nối lại được rất nhiều người ngày xưa là những đứa trẻ bị đưa ra khỏi Việt Nam như hắn, họ trao đổi thông tin với nhau những điều mà họ biết được về hoàn cảnh quá khứ của nhau với hy vọng tìm được thân nhân bị thất lạc, vô hình chung Operation Reunite trở thành một cộng đồng kết nối mọi người cùng chia sẻ và giúp đở lẫn nhau tìm kiếm về gia đình của mình.

   Mấy năm trước tổ chức nầy đã làm một chuyến đi đưa hắn và các bạn hắn về thăm Việt Nam cũng vào một ngày cuối tháng tư sau hơn ba mươi mấy năm kết thúc chiến tranh Việt Nam. Một chuyến đi đã để lại trong tâm trí hắn một ấn tượng vô cùng sâu sắc khó phai. Những người tham gia chuyến đi tìm về nguồn cội có các buổi học tiếng mẹ đẻ, viếng thăm viện mồ côi, bảo tàng chứng tích chiến tranh… Hắn cũng có dịp trở về thăm viện mồ côi nơi mà ba mươi mấy năm về trước người ta đã đưa hắn đi. Hắn hỏi thăm người quản lý hồ sơ về những đứa trẻ giai đoạn đó nhưng cũng không có thông tin gì mới hơn mà tổ chức Operation Reunite đã cung cấp cho hắn. Hắn hỏi thăm họ xem người sĩ quan miền Nam ấy có trở lại tìm hắn không nhưng họ lắc đầu. Họ lý giải thêm cho hắn hiểu thời cuộc lúc bấy giờ lộn xộn lắm không biết người lính ấy còn sống hay đã chết rồi không biết chừng. Thôi cũng đành vậy, sợi chỉ tìm về quá khứ của hắn đến đây bị đứt đoạn.

   Về Mỹ hắn trở lại với công việc thường nhật của mình. Một hôm đi làm về hắn cảm thấy cổ họng mình bị đau rát dữ dội, miệng khô khốc khó chịu. Hắn đến gặp bác sĩ gia đình, nhờ giới thiệu đến một bệnh viện chuyên khoa để chữa trị. Ông ta nghe hắn trình bày rồi viết giấy giới thiệu. Hắn điện đến bệnh viện, người ta cho hắn một cái hẹn. Hắn đến rất đúng giờ, nhưng cũng phải ngồi chờ gần một tiếng đồng hồ nữa vì bệnh nhân hôm ấy quá đông, sau cùng hắn cũng được gọi vào. Người bác sĩ khám cho hắn  có nét dáng dấp của người châu Á như Việt Nam hay Trung Quốc gì đó như hắn. Anh ta nói tiếng Mỹ khá sõi. Sau khi kiểm tra, người bác sĩ nói hắn không sao đâu chỉ bị dị ứng bởi một hóa chất mới nhập vào kho mà hắn vô tình hít phải, nhưng để chắc ăn hơn phải làm thêm một vài xét nghiệm nữa. Người bác sĩ nhìn hắn, ánh mắt chợt dừng lại một vết sẹo kéo dài từ gò má đến xuống tận cổ bên trái, anh ta hỏi hắn :

  -Vết sẹo nầy anh bị lâu chưa?

  -Lâu rồi, lúc còn rất nhỏ.

  -Anh là người Việt Nam?

  -Sao bác sĩ biết?

  Người bác sĩ nhìn vào hồ sơ bệnh án, cái tên Nguyễn Hiếu Trung ghi rõ trên đó, anh ta biết mình hỏi hơi thừa. Im lặng một chút, anh ta hỏi tiếp:

  -Anh qua Mỹ lúc nào?

  -1975.

Người bác sĩ đột nhiên  nói:

  -Trong chiến dịch Babylift ?

Hắn ngạc nhiên, một lần nữa hắn lại hỏi:

  -Sao bác sĩ biết?

Người bác sĩ không trả lời mà nói tiếp:

  -Anh ở viện mồ côi Thủ Đức khi còn ở Việt Nam phải không?

Hắn há hốc miệng chưa biết nói gì thì anh ta lại nói:

  -Tôi biết anh. Nhờ vào vết sẹo trên cổ của anh, chính ba tôi đã gởi anh vào đó.

  Như có một luồng khí lạnh chạy dọc theo sống lưng, mồ hôi trong tay hắn rịn ra, thì ra cái người nắm được thông tin về cuộc đời hắn, về cái quá khứ không lấy gì vui của hắn đang ở đây.Vậy mà hắn phải chạy lòng vòng tìm kiếm khắp nơi, phải bay nửa vòng trái đất về Việt Nam để tìm kiếm, hắn nói mà giọng lắp bắp :

  -Ba bác sĩ là…

  -Ba tôi tên Lê Văn Sáu, một sĩ quan trong chế độ cũ. Trên đường di tản khỏi Nha Trang, ông ấy đã gặp anh trên đường đi và đưa anh về Sài Gòn.

-Ông ấy còn sống không? Tôi có thể gặp ông ấy được chứ?

Người bác sĩ lắc đầu:

-Ở đây thì không được. Ba tôi đã hồi hương về Việt Nam từ hai năm nay rồi. Ông than ở bên đây buồn quá, mà anh cũng biết ở bên nầy ai cũng bận bịu cả không có thời gian nhiều để thăm viếng thường xuyên đâu. Ở Việt Nam còn có người quen qua lại có lẽ làm ông ấy vui hơn.Tôi nghĩ ông ấy có quyết định đúng.

  Hắn có vẻ thất vọng nhưng trong lòng hắn vẫn vui vì biết được thông tin về người hắn muốn tìm kiếm, biết đâu hắn còn cha mẹ, anh em gì đó. Hắn hỏi người bác sĩ:

  -Bác sĩ có thể cho tôi xin địa chỉ, số điện thoại của ông ấy ở Việt Nam được không?

  -Hẳn nhiên rồi.Tôi cũng mong anh gặp lại ba tôi, có lẽ ông ấy sẽ rất vui khi gặp lại anh, biết chừng anh sẽ có những thông tin gì đó mà anh cần biết.

  Hắn bắt tay người bác sĩ, nói cám ơn rồi ra về. Hắn còn đến bệnh viện một vài lần nữa để làm một số xét nghiệm cần thiết nhưng không lần nào gặp lại người bác sĩ đó một lần nữa và hắn quyết định xin nghỉ phép để về Việt Nam.

  *

  Hắn choàng tỉnh giấc khi cô tiếp viên hàng không một lần nữa nhắc nhở hành khách trên loa phát thanh máy bay sắp hạ cánh, thắt chặt dây an toàn, kiểm tra lại hành lý. Hắn nhìn ra khung cửa sổ máy bay. Trời trong xanh không một chút mây,hắn thầm nhủ thời tiết thật đẹp, nhìn đồng hồ: 4giờ kém 10 phút. Thời gian thật chính xác. Lần nầy hắn về Việt Nam chỉ quá cảnh một lần ở Nhật Bản mất ba tiếng rồi bay thẳng chẳng bù với lần trước, thời gian quá cảnh dài lê thê.

   Xuống sân bay hắn đón taxi, ban đầu hắn định bảo người tài xế lái về khách sạn mà hắn đã đặt chỗ trước qua mạng, nhưng nhìn đồng hồ hắn lại thay đổi ý định. Hắn đưa tờ giấy ghi địa chỉ nhờ người tài xế chạy đến đó. Xe chạy theo đường Trường Sơn vào thành phố, hắn nhìn dòng người xe di chuyển trên đường phố một cách hối hả không còn thấy dấu vết của một thành phố thời chiến tranh, nhiều cao ốc mọc lên trên đường xe chạy làm bộ mặt thành phố khác hẳn so với ba năm trước trong lần đầu tiên hắn trở lại Việt Nam. Ngôi nhà người đàn ông mà hắn muốn tìm kiếm nằm trong một ngách nhỏ trên một con đường lớn ở Bình Thạnh nên tương đối yên tĩnh, có hàng rào phía sau là một khu đất tương đối rộng trồng bông hoa và một số cây cảnh. Hắn nhìn vào tờ giấy ghi địa chỉ và số nhà gắn trên cổng rồi tìm chuông để nhấn. Cái chuông nằm khuất sau cái cột cổng, chắc có lẽ chủ nhân sợ mấy đứa nhỏ hàng xóm quấy phá chăng? Vừa nghe tiếng chuông reo, trong nhà thấp thoáng có người đi ra phía cổng. Hắn nhìn người đàn ông từ xa, trong đầu óc ban đầu hắn tưởng tượng đó là một người đàn ông lớn tuổi, tóc bạc, đi đứng chậm chạp thậm chí khó khăn, nhưng không  người đàn ông dáng đi còn rất nhanh nhẹn, tuy tóc đã bạc nhưng gương mặt không quá khắc khổ như hắn tưởng. Ông ta mở cổng, nhìn hắn nét mặt lộ vẻ vui mừng:

  -  Cháu là Trung phải không? Vào đi cháu.

  Hắn bước qua khỏng sân rộng trồng cây cảnh bước lên thềm vào nhà.

  - Cháu uống cà phê nhé.

  -  Vâng! Chú cho cháu một ly.

  Vừa pha cà phê, người đàn ông vừa nói:

  Cháu cứ gọi chú là chú, chú chưa già lắm để gọi bằng ông hay cụ. Gọi thế cho cho thân mật cháu ạ.

   Đẩy ly cà phê còn bốc khói về phía hắn mời hắn uống, người đàn ông rút điếu thuốc trong gói thuốc con mèo mồi hút, đưa gói thuốc về phía hắn như mời hút, hắn khẻ lắc đầu từ chối. Người đàn ông nhìn hắn chậm rải nói:

      - Chú có nghe thằng con điện về cho chú biết được gặp cháu. Nào, cháu có điều gì hỏi cứ hỏi, chú còn nhớ điều gì sẽ nói cho cháu biết.

   Hắn nhấp một ngụm cà phê, hương thơm của mùi cà phê đã làm hắn dễ chịu. Hắn kể cho người đàn ông biết về lời dặn dò của người cha nuôi Mỹ trước khi mất, nỗi ám ảnh trong từng giấc mơ, cuộc tìm kiếm thân phận của mình trong nhiều năm nay. Hắn còn kể cho ông nghe đã trở lại viện mồ côi nơi hắn từ đó ra đi nhưng dấu vết vẫn mù tịt. Người đàn ông tên Sáu chăm chú lắng nghe, mặt trầm ngâm, giọng nói như trầm xuống:

     -  Ngày ấy trên đường di tản khỏi Nha Trang chú đã gặp cháu đứng khóc trên đường, cổ còn quấn băng thấm máu. Có lẽ đó là một mảnh đạn pháo mồ côi không biết rơi vào đâu lại nhè ngay cháu. May mà nó không sâu. Cha mẹ cháu hay người nào đó đã băng vội vết thương cho cháu. Gởi cháu vào viện mồ côi  lúc đó và cho tới bây giờ chú vẫn cho là hành động đúng đắn để đảm bảo sinh mạng và cuộc sống của cháu.

   -  Chú có trở lại nơi ấy lần nào không?

   - Xin lỗi cháu, chú đã không thực hiện được lời hứa của mình khi gởi cháu vào đó. Sau giải phóng là những chuổi ngày dài chú ở trong các trại học tập cải tạo. Ra trại chú tìm cách vượt biên, rồi những chuổi ngày làm cật lực nơi xứ người để bảo lãnh vợ con sang đây. Nuôi cho chúng ăn học thành tài thì mình đã già rồi. Chúng mãi mê làm việc quên cả còn có người cha già nầy, chúng còn muốn chú vào viện dưỡng lão để ở. Chú xin hồi hương, dù sao đây cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của mình mà.

  - Về đây chú không buồn sao?

  -  Sao lại buồn? Về đây có biết bao công việc để làm, chú tham gia vào công tác từ thiện, giúp đỡ bệnh nhân nghèo…Cần gì thì phôn qua cho bển để bọn chúng tiếp tế, có sao đâu.

  Hắn nhìn ra ngoài sân, trong ánh nắng chập choạng của buổi chiều, vài cánh hoa tím trên cái cây trong sân rơi xuống đất theo làn gió thoảng. Hắn chỉ cái cây ngoài sân hỏi người đàn ông :

  - Cái cây có bông hoa tím đó gọi là gì hở chú?

  Người đàn ông nhìn theo hướng tay hắn chỉ :

   - À! Cây đó hả? Bằng lăng đó. Đây là mùa bằng lăng trổ bông đấy cháu à. Người ta thường trồng bằng lăng ở mấy con lươn, trên lề đường để làm cảnh, tạo bóng râm. Tháng tư, tháng năm nở tím cả một con đường trông rất đẹp. Cháu có nhìn thấy chùm quả bằng lăng ở trên cành cao đó không? Khi chín nó rụng xuống. Mưa xuống làm cho chúng mọc lên thành những cây con, rồi một vòng đời của nó lại tiếp tục, sinh sôi nẩy nở.

  Rồi ông nhìn hắn:

  - Cháu cũng vậy, về bển bỏ hết những phiền muộn chất chứa trong lòng mấy chục năm nay đi. Không ai chọn được cho mình một hướng để vào đời đâu cháu ạ, Quên hết cái đời mồ côi của cháu mà vui sống, có thế mình mới thanh thản được.

   Hắn nhìn người đàn ông, những tháng ngày cận kề giữa cái sống và cái chết trong chiến tranh, trong trại học tập cải tạo, trên đường vượt biển, ở xứ người phải cật lực làm việc để bảo lãnh con cái rồi khi thành đạt chúng lại muốn đưa ông vào viện dưỡng lão. Hắn muốn nói một lời nào đó mà không biết mở lời như thế nào. Hắn chợt cảm nhận nguồn cội mà hắn đang cố công tìm kiếm nào có đâu xa nó ở trong lòng mình mà thôi.

  Lòng hắn chợt thấy thanh thản lạ thường.

                                            Tháng 4/2013 
                                            Nguyễn An Bình
 

Tên thật:  LƯƠNG MÀNH
Địa chỉ: 108/95/114A đường Nguyễn Việt Hồng, 
quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
ĐT: 0909697644
READ MORE - NGUỒN CỘI - truyện ngắn Nguyễn An Bình

Thơ Trầm Thiên Thu - BÊN NI - BÊN NỚ, BIỂN

Trầm Thiên Thu

BÊN NI – BÊN NỚ

Từng ngày lại từng ngày
Tôi về ký túc xá
Em đi. Bốn mắt… ngó!
Quanh năm vẫn lạ nhau

Chưa nói chuyện lần nào
Ôi, làm quen khó quá!
Cứ bồi hồi trong dạ
Mãi chẳng nói thành lời

Từng ngày trôi vẫn trôi
Em và tôi vẫn lạ
Dù quen mặt lâu rồi
Không gặp là nhớ nhớ

Tôi hóa thành nhà thơ
Bằng mấy vần… con cóc
Giả vờ đi ngang lớp
Để làm rơi bài thơ

Em nhất định làm ngơ
Người dưng nên vẫn lạ
Tôi im re nín thở
Tưởng tượng em… đang thương (!)

Em có biết gì không?
Chỉ một nửa nỗi nhớ
Em học lớp bên nớ
Tôi học lớp bên ni



BIỂN

Biển dìu dặt khúc hát
Nghe như vô biên
Âm thanh lúc khoan, lúc nhặt
Lúc bổng, lúc trầm

Hình như biển chợt khóc
Biển nhớ em
Bình minh ngoài khơi thật đẹp
Nhưng vẫn buồn không tên

Anh ra biển
Tìm gặp em trên sóng đào
Biển nhiều người, chẳng thấy em đâu
Gọi tên em khe khẽ

Em đâu rồi
Sao không về với biển?

TRẦM THIÊN THU
tramthienthu@gmail.com


READ MORE - Thơ Trầm Thiên Thu - BÊN NI - BÊN NỚ, BIỂN

Monday, June 3, 2013

BẾN CŨ ĐỀN XƯA - thơ xướng họa - Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt và thi hữu


BẾN CŨ ĐỀN XƯA

Bài xướng Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt

Ánh nắng chiều rơi bóng đổ nghiêng
Lao xao sóng bạc vỗ ven triền
Đôi bờ cách bến sông bồi lở
Một vũng chung dòng nước xoáy xiên
Nền cũ cây đa trơ trốc gốc
Đền hoang tượng đá vội sang biên
“Ngàn năm guơng cũ soi kim cổ” (*)
Ngẫm nghĩ mà đau cảnh nhãn tiền.

CaUSA:Mar 17-2012


(*) Thơ Bà Huyện Thanh Quan


Y ĐỀ

Bài họa Phùng Trần-Trần Quế Sơn

Đình làng mây khói bóng tà nghiêng
Lãng đãng sương lay động bãi triền
Bến nước sông chau hờn sắc lạnh
Đò chiều mái gỏ lách gành xiên
Đền xưa Nam, Nữ không còn Tượng
Nếp mới "quan, thầy" chẳng có biên
Cám cảnh đau lòng thương đất mẹ
Buồn cho thế thái buổi kim tiền.

(Illinois; Mar-18-2012)




NGẪM

Bài họa Hồ Trọng Trí

Thế tình chao đão giới đồ nghiêng
Đóng cọc bao nhiêu vững núi triền
Phía mạnh ưu phần  giành thế đứng
Bên non lép vế nhận phương xiên
Hiện tiền xu thế đang tăng tiến
Mai hậu vận hành ắt lấn biên
Dựng nước tiền nhân bao cống hiến
Hậu sinh tối mắt bởi kim tiền.




VỀ THĂM QUÊ CŨ

Bài họa Trương Văn Lũy

Cảnh vật bơ phờ, thấy ngửa nghiêng
Mỗi năm mưa lũ quét qua triền
Đời thường vất vả không gian xảo
Lối sống hiền hòa chẳng xỏ xiên
Hồn nước ngàn năm luôn sáng chói
Tình quê muôn thuở vẫn vô biên
Người trôi của mất còn mưa rét
Ngẫm lại mà thương túi cạn tiền.


CẢNH VẬT
(Nương vận bài Bến Cũ Đền Xưa của Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt) 

Bài họa Thái Quốc Mưu

I.

Trời đổ về chiều bóng ngả nghiêng
Vực sâu thăm thẳm ở bên triền
Dưới vùng đất trũng cây chen chúc
Trên khoảnh gò cao cỏ xỏ xiên
Thẳng tắp một đường chia bốn mảnh
Ngoằn ngoèo lạch nước rẽ hai biên
Một sư hai tiểu trong đêm vắng
Gõ mõ gióng chuông trước điện tiền.

II.

Dưới chiều chiếc bóng ngả nghiêng nghiêng
Thăm thẳm vực sâu ở dưới triền
Cỏ mọc chen trên gò nổi nổi
Hoa cài ở dưới cánh xiên xiên
Con đường thẳng tắp chia đôi mảnh
Lạch nước ngoằn ngoèo lượn mé biên
Hai tiểu một sư nương cửa Phật
Công phu chuông mõ mái hiên tiền.

Atlanta, 31, 2012


CHẲNG MONG
(Theo vần bài Bến Cũ Đền Xưa của Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt)

Bài họa Hà Trung Yên

Theo người thơ mãi bước say nghiêng
Dẫm nắng mà đi bóng lả triền
Rượu ngấm trong lời cơn gió giục
Gió ùa theo vận bước chân xiên
Bồi hồi ý nhớ vui bằng trắc
Thảng thốt tình thơ đẹp giới biên
Đi miết theo phương trời mộng tưởng
Trăm năm sáng tạo chẳng mong tiền


ĐẾN CŨ ĐỀN XƯA

Bài họa Duy Trà

Gốc đa chốn cũ đã nằm nghiêng
Vài cánh chim bay lạc dốc triền
Lác đác đầu ghềnh cây trụi lá
Lưa thưa cuối bãi đá mòn xiên
Sông buồn bến vắng đò đưa khách
Tượng mất đền mờ nét chữ biên
Cảnh ấy ai người không xót dạ
Tiếc cho công bộc bậc sinh tiền.

Oklahoma City
Apr.02.2012

Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt biên tập và gởi đăng.



READ MORE - BẾN CŨ ĐỀN XƯA - thơ xướng họa - Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt và thi hữu

CUỘC SỐNG VĂN HỌC TRONG TRẦM HƯƠNG CỦA GIÓ - Bội Nhiên

(Trầm hương của gió,
thơ Võ Văn Luyến,
nxb Thuận Hóa, 2003)
     
       Một cách tự nhiên, việc thụ cảm Trầm Hương của gió làm người đọc liên hệ mật thiết với những cảm xúc và trí tưởng tượng chân tình có được sắc màu lãng mạn từ cuộc sống đã được Võ Văn Luyến chọn lựa trong những khoảnh khắc thi vị của nó. Với tập thơ này, cơ sở tồn tại và những tình cảm của con người là cội nguồn sáng tác trong cảm quan nghệ thuật tinh tế của tác giả đã trở thành cuộc sống văn học khá đặc sắc.

     Trung tâm của những sức hút và sức đẩy về mặt cảm hứng nghệ thuật của Võ Văn Luyến trong hầu hết thời gian sáng tạo Trầm Hương của gió được xác định bằng chính những bài thơ về những con người và tâm trạng của họ trong đời sống. Cuộc sóng văn học trong Trầm hương của gió được hình thành từ đây và trở nên độc đáo bởi Võ Văn Luyến đã xác lập biên độ của cuộc sống đó là những gì ở hiện thực nhân sinh đã gợi cho anh sự chiêm nghiệm về cuộc sống của con người trong đời sống trần thế và tâm hồn. Bởi vậy, làm nên vần nên điệu và hình ảnh thơ trong Trầm hương của gió là những câu chuyện có niềm vui, nỗi buồn, suy tư và ước vọng của những người mà Võ Văn Luyến đã gặp hay chính bản thân anh đã trải qua. Đó là lời ru đọng giữa đêm khuya/trăng thì mờ tỏ như chia nỗi niềm của một người mẹ ở Ái Tử hát ru con, là cảm xúc rạo rực của một người rất yêu Hà Nội khi đi dạo dưới hàng cây sấu /nghe con chim lồng ngực hót vang trời, là tâm tưởng hối tiếc một thời rạn vỡ/ tình đây người đã xa mù trong một ngày ngẩn ngơ anh về thả gió/trầm hương ký ức ngút trời và những con chữ tình yêu tôi vớt được/mãi còn trên mặt nước, là người theo sự thôi thúc của ảo ảnh về nơi bắt đầu hồn nhiên: hồn nhiên tiếng khóc/hồn nhiên nụ cười/hồn nhiên vạt tóc không cần làm dáng/cơn mưa đêm qua rũ hết bụi trần, là câu thơ gầy guộc mỏng manh của người ngày đi dạy, đêm trang giáo án: chong thức với nghĩa đời quá lớn/vẫn biết cơn đau con không tròn giấc/thiếu nồm nam ba làm gió ru hời, là bước hành đạo của người về ngồi trên đỉnh núi/thu trí huệ trăm nơi.

 
Nhà thơ Võ Văn Luyến
     Cuộc sống văn học trong Trầm hương của gió có sự lóe sáng của những tia nhìn của Võ Văn Luyến hướng vào thiên nhiên, ca dao và tâm sự của con người khi anh xây dựng bản chất thẫm mỹ cho thơ. Bài thơ thứ nhất của Trầm hương của gió là tiếng lòng vọng phu. Lời ru con à ơ của người phụ nữ sống cái cảnh ai ăn ở bạc cho hồn ai đau vẫn mang cái thương còn mặn, cái chờ còn mong cho thấy không gian, thời gian và hình tượng thơ trong Trầm hương của gió biểu hiện sự thâm nhập của Võ Văn Luyến vào chiều sâu thế giới bên trong con người.. Từ đó, trong cuộc sống văn học đang mở ra trước sự cảm thụ của người đọc có những tình cảm và khát vọng của con người. . Cuộc sống trong văn học nhờ đó mà có một sự vững chãi cho những câu thơ: Niềm đau chín trái còn lưa/bao giờ cho đến bây giờ riêng mang (Lời xưa); nhiều khi, có nhiều khi đổi gió/ Chẳng đâu hơn ngọn gió quê nhà/ Xin em giữ ngày xưa tôi dại ngộ/ Con đường về đất sẽ nở thành hoa (Không đề ở biển), nước vẫn chảy bèo vẫn trôi nhưng hình hài trái tim ở lại/đập nhịp rộn ràng (Đi bên dòng sông tình sử), dù sao anh vẫn giữ lửa trái tim/ngày mai, ngày kia em hồi quang tia nắng (Độc thoại)…Những thực tế như thế trong Trầm hương của gió cho thấy những gì có giá trị đối với con người đều nằm trong quỹ đạo chú ý của Võ Văn Luyến và có sức vang vọng giữa tâm hồn lẫn trang thơ của anh. Tinh thần chính của cuộc sống văn học mà Trầm hương của gió có được là cảm tình và yêu thương đối với mỗi con người, những câu chuyện tạo ra nỗi xốn xang, xao xuyến và cả trăn trở, ước mong, khao khát tinh thần tràn ngập tâm hồn. Cuộc sống văn học ấy với những nhân vật trữ tình có nhiều tâm trạng và hình ảnh thơ khác nhau mang đậm dấu ấn cảm thụ của cá nhân Võ Văn Luyến đối với hiện thực. Trong cuộc sống ấy, có những chi tiết hòa hợp mật thiết tâm hồn Võ Văn Luyến mà có thể nhận ra nơi cái cách anh phát hiện tâm sự của một người lỗi hẹn cùng xuân hoặc những người ngày ngày ra sông, tâm cảm đầy vơi của đôi tình nhân, nỗi buồn trong câu nam ai quyện tiếng đàn bầu trên mênh mông sông nước, niềm khắc khoải của người phụ nữ chung thủy, suy tưởng của một tu sĩ hướng đạo vào đời sống trần thế…Rõ ràng, trong những mối liên hệ của Võ Văn Luyến với đời sống tinh thần của con người đã đáp ứng nhu cầu thẫm mỹ của anh, làm lóe lên ánh sáng sáng tạo và sự bùng cháy nghệ thuật bên trong cách thụ cảm cuộc đời. Trên cở đó, từ cuộc sống văn học trong Trầm hương của gió vang lên những câu thơ có sức cuốn hút của sự tinh tế như: Nhớ hôm qua nụ cười còn biết tím/Cho nhau nghe dịu ngọt trái mơ hồng (Đầy vơi); vườn rộng roang chẳng nơi nào có cỏ/hoa mộc thơm dìu dịu tỏa làn riêng (Lỗi hẹn cùng xuân); xa xôi đén khát từng giọng nói/dễ đành lòng im lặng gửi vào cây (Tình yêu Hà Nội)…Trầm hương của gió với những câu thơ như thế bộc lộ việc nhận thức hiện thực về mặt thẫm mỹ của Võ Văn Luyến đã có cuộc sống văn học được cắt nghĩa bằng sự gia nhập hữu cơ giữa những tình cảnh đời thường với triết học và mỹ học. Cho nên, một số việc diễn ra trong thực tế đời sống hoặc ở nơi sâu thẳm của tâm lý xã hội và cá nhân vào những thời điểm được Võ Văn Luyến phát hiện đã tạo ra những khơi gợi, những hình tượng, những khung cảnh của thơ. Đây là đặc điểm sáng tạo cho phép cuộc sống văn học trong Trầm hương của gió có lúc đã đạt tới tính nhiều nghĩa trong những hình tượng thơ.

      Đích đến của Trầm hương của gió tựu trung cũng chính là hướng lòng tin của người đọc vào những khả năng tinh thần, đạo đức của con người trong đời sống. Với mức độ nhất định, cuộc sống văn học trong Trầm hương của gió giúp người đọc hiểu và cảm thấy phần nào khả năng con người nâng niu trong mình những suy tưởng và sức amnhj tinh thần, niềm tin đạo đức trên những bước đường đi tới nơi tràn đầy tình yêu thương và hương sắc của cuộc sống.


Bội Nhiên

Võ Văn Hoa gởi đăng


READ MORE - CUỘC SỐNG VĂN HỌC TRONG TRẦM HƯƠNG CỦA GIÓ - Bội Nhiên

THƠ GIỮA ĐỈNH TRỜI - thơ xướng họa - Lữ Thượng Thọ và Lê Văn Thanh


Lữ Thượng Thọ

 THƠ GIỮA ĐỈNH TRỜI

 Lên đỉnh cao ngồi gọi gió mây
 Tóc phơ bạc trắng suốt đêm ngày
 Sầu men chếch choáng hai hàng lệ
 Tiếc bút ơ hờ một cánh tay
 Vỗ đá hỏi tình trơ với đá?
 Uống say gạn nhớ lúc cuồng say!
 Thơ ta hóa mộng trong trời đất
 Thành bóng chim chiều vút cánh bay.

                               Lữ Thượng Thọ


Lê Văn Thanh


        THƠ CÀI ĐỈNH MÂY

        Hòa mộng cài thơ trên đỉnh mây
        Xanh trời tuyết nguyệt tóc em bay
        Mắt huyền dáng ngọc say say tỉnh
        Suối tóc hoa hương tỉnh tỉnh say
        Bút vẫy thanh âm lồng sóng nhạc
        Em dâng tình ái ấm lòng tay
        Hồn ta tỉnh giấc trơ thân đá
        Thể phách phiêu diêu uổng tháng ngày.

                                 Lê Văn Thanh

Lê Văn Thanh biên tập và gởi đăng.

ĐT: 01696 088 466
Email: vanthanh44@gmail.com
READ MORE - THƠ GIỮA ĐỈNH TRỜI - thơ xướng họa - Lữ Thượng Thọ và Lê Văn Thanh

CÁM ƠN EM - thơ Hoàng Yên Lynh


Em vẫn đẹp như ngày xưa vẫn đẹp
Anh đã già mòn mỏi bước tha phương
Cũng đành thôi khi đã cách đôi đường
Đời là thế có gì ta tiếc nuối.

Chẳng trách ai khi anh người ở lại
Bên bạn bè chia sẻ những niềm đau
Cám ơn em nghìn trùng em vẫn nhớ
Để cuối đời anh tập tễnh làm thơ.

Để cuối đời anh mới hiểu tình yêu
Đâu chỉ có bên nhau là trọn vẹn
Dẫu hai ta đã không cùng bến hẹn
Câu ân tình ta vẫn giữ cho nhau.

Cám ơn em cho anh biết ươm mơ
Ngày tháng cũ vẫn chất đầy thương nhớ
Tình yêu đó mình anh xin cất giữ
Như thuở nào anh nắn nót tình thư.


HOÀNG YÊN LYNH
hoangmylinh@live.com
READ MORE - CÁM ƠN EM - thơ Hoàng Yên Lynh

NÂNG TẦM - Tiểu phẩm của Ngọc Châu

Ngọc Châu

Cái trò làm thơ thế mà hay ra phết, các vị ạ!

Trước kia nghe loáng thoáng tới chuyện ai đó trong số người mình quen thích làm thơ, là cả tôi lẫn "basa" đều bỏ ngoài tai, mặc nhiên nghĩ đấy là chuyện của mấy ông "háp". Thậm chí có lần giở cuốn gia phả (vẫn đặt trang trọng trên bàn thờ nhà ông anh cả tôi) thấy viết rằng cụ nội chúng tôi trước đây là nhà nho rất giỏi văn thơ, tôi phải gấp lại đặt vào chỗ cũ lập tức, vội vàng đến mức không kịp phủi bụi cho cuốn gia sử vì sợ "basa" ngó đến. Hắn mà đọc thấy thì rồi mỗi khi có chuyện không vừa lòng, sẽ mát mẻ rằng cả nhà chỉ có tôi được mang "gien trội"!

Chính vì có basa nhà tôi cầm trịch như vậy nên chúng tôi sống yên ổn được đến hai mươi năm chẳng dính dáng gì tới các thứ thẩn thơ, thơ thẩn. Thật đội ơn Phật bà!

Vậy mà sự đời bỗng bất ngờ đổi thay, đổi thay cũng lại chính từ basa nhà này, khiến tôi phải trở thành triết nhân... bất đắc dĩ khi cố suy ngẫm để lí giải: "Con giun khi đang mải kiếm ăn hoặc buộc phải bò qua chỗ đất khô nóng, tránh chậu nước xà phòng ai đó vừa đổ toẹt, thì nó duỗi thẳng ra mà bò trối chết, nhưng lúc no đủ dưới trăng thanh gió mát chúng cũng tung tăng uốn khúc kém gì lân với rồng... giấy đang múa trong ngày Trung Thu, có lẽ là thế!"

Chả là hôm đó basa với dáng đi tung tẩy bước vào nhà (khiến thoạt tiên tôi nghĩ hắn lại bị tái phát chỗ viêm khớp gối!). Chưa kịp hỏi thì hắn dí tờ giấy vào mũi tôi:

- Trưởng... trưởng... à, Sếp Thơ Việt Nam Cờ Lờ Bờ khen bài này lắm nhá!

- Cái gì? Ai?... Cái gì cơ!?

Thề có con chó đá cụt một tai rất thiêng ngoài cổng chứng giám! Tôi mà hiểu được một phần tư những gì basa vừa nói thì phái viên giả mạo của đức... đức Ma... Ham Mít gì đấy có bắt tôi giấu bom vào bụng đi nổ cảm tử ở giữa bãi rác, tôi cũng chẳng dám cãi lại.

- Sao mặt nghệt ra thế? - Cái phì cười của basa làm tôi yên dạ, biết là mình không vướng "phốt" gì - Chả là em chưa kịp nói với anh - nàng hớn hở giải thích - Em tham gia cờ-lờ-bờ Thơ của các giáo chức nghỉ hưu từ tháng trước cơ. Đầu tiên là do nể cụ nguyên giám đốc Sở...

- Cái gì? Thơ! Sao lại dính dáng đến thơ?!

- Thì là thơ chứ còn cái gì. Bây giờ ai mà chẳng làm thơ, anh đến CLB mà xem, ối cụ ông cụ bà, móm hết răng mà vẫn làm thơ tình kia kìa.

Quả thực là tôi không thể nào tiêu hóa nổi những chuyện basa vừa nói. Hắn cũng nhận thấy thế nên xà đến bá vai tôi cười như nắc nẻ khiến tôi phải vội vàng ngó quanh, xem có ai nhìn thấy cặp U60 tình củm với nhau hay không, dẫu biết rằng ở nhà chỉ có hai vợ chồng già.

- Sao ngày xưa, ngày xưa...

Chưa hỏi hết câu thì basa đã ngắt lời:

- Ngày xưa khác, bây giờ khác. Bây giờ đến lúc mình cũng phải nâng tầm rồi. Tẩm thế không biết!!

- .......

- Ngày xưa có ai làm thơ không nào, tôi hỏi ông thế? - Thấy họng tôi vẫn đang tắc, basa hạ cố giải thích - Xưa ai làm thơ thì nghèo kiết xác, con cái nhếch nhác, vợ gom nhặt rác, khách đến phải chạy đi mượn bát... Nhưng bây giờ, bây giờ...Thôi ông cứ đi với tôi tới CLB một hôm rồi sẽ thấy ngay.

"Con mẹ này dở chứng thật rồi", tôi nghĩ bụng và chuẩn bị nổi cạu. Đàn ông bao giờ chả thế, dẫu luôn giữ chức tiểu đội phó như tôi, nhưng con giun xéo mãi cũng quằn! Thì ra hắn đi đến cái cờ-lờ-bờ-mù-mờ-thẫn-thờ gì đó được vài lần đã sắp sửa lên mặt, học cách nói ra vần ra điệu, về nhà định bắt nạt chồng... Đã thế, đã thế...

- Bây giờ làm thơ toàn là những người giàu có thôi, ông hiểu chưa. Đại gia, có chức có quyền mà không biết làm thơ cũng vứt - hắn tiếp tục giải thích nhưng đúng là đổ thêm dầu vào lửa trong khi tôi đã có đầy đủ lí lẽ để tung "chưởng" ra.

- Ra thế, Lượm ơi... Có nghĩa là bây giờ bà chê tôi không biết làm thơ, là đồ vứt đi chứ gì? Tôi nói cho bà biết nhá, không biết mèo nào vứt mỉu nào...

- Thôi thôi, ai nói thế, chưa chi đã... - basa dàn hòa, lập tức áp dụng sách lược "lạt mềm buộc chặt" như mỗi khi sắp có chuyện cãi nhau - Đấy là mấy cụ cựu giáo chức tham luận ngoài luồng với nhau như thế, ai nói đụng gì tới ông...

- Tham với chả lộn! Tôi còn lạ gì mấy lão ấy. Lúc còn đương chức đương quyền thì tham cả đến mấy con chó con nhà chị Dậu, không có vé nọ vé kia đố bà xin được cho cái Thi nhà mình vào trường điểm, chính bà phải lo méo mặt đi còn gì. Bây giờ phải nhường ghế cho người khác rồi thì lại lộn, có mà lộn hành ra tỏi...

- Thôi, thôi, đã bảo thôi thôi rồi mà. Em bảo này... - basa nhũn như con chi chi -  Anh mà làm thơ chắc chắn còn hay hơn mấy ông ấy nhiều. Ngày xưa em có xem cuốn nhật kí của anh, thấy có mấy bài thơ hay lắm, sau rồi vì bận làm ăn con cái nên mới không ngó ngàng gì nữa. Em nghĩ  nhà này chỉ có anh là mang được gien của ông nội thôi. Giờ chúng mình làm một tập thơ rồi gửi in đi...

Gien của ông nội! Thế mới biết một mụ đàn bà bằng ba con ma xó! Tôi lại cứ nghĩ hắn chẳng bao giờ sờ mó đến những thứ không phải nhiệm vụ của giống vịt nhà đẻ toàn ra vịt trời. Hắn vẫn đang say sưa với ý định in thơ thiếc gì đấy nên thấy tôi đã có phần hạ hỏa liền tiếp tục ỏn thót:

- Anh làm đi, đảm bảo thơ của nhà mình hay hơn của nhà họ...

- Nhà nào? Hay hơn thì làm sao, được cái gì mà làm?!

- Lão gia ơi, ngồi đây nghe phu nhân của lão gia nói đã, làm sao cứ sủi lên như bong bóng nồi cám lợn thế. Nghe xong đi đã rồi hãy phát biểu không được à?...

Đã thế thì tôi sẽ để im cho hắn nói. Đã có một vại sành kinh nghiệm từ ngày gánh vác chức phó trong nhà, rằng nhiều khi không cần phải giao ban làm gì, cứ im ỉm mà làm lại khiến cấp trưởng phải đặc biệt lưu ý, thậm chí phải thay đổi nghị quyết đã ban hành.

"Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu" là một sách lược cực kì quan trọng, chẳng thế mà cái công ty Pờ-nhô-đen-sờn-đen-xì gì đấy lập thành biểu trương ở khắp nơi trên thế giới. Chỉ kiên nhẫn lắng nghe một lát là thấu hiểu ráo mọi chuyện, tất tần tật. Tất nhiên là phải sắp xếp thông tin theo tư duy của mình, nếu chỉ ghi âm theo trình tự các các, cạc cạc của họ nhà vịt thì có mà... khà khà!

Nào là ở nước ta hiện giờ có cả triệu người làm thơ, nào bây giờ một chị Cầm...đồ, một anh Thi... Lúa cũng có thể in riêng cho mình một vài tập thơ, dễ dàng hơn in tiền âm phủ, khỏi nói việc muốn có một vài bài thơ trong một TUYỂN THI gồm hàng lô hàng lốc giả... tác, bập bập, phải gọi là "tác giả" cơ đấy. Chỉ cần bỏ ra vài ba trăm ngàn là có một bài của mình trong ấy ngay, sau đấy vào các ngày hội lễ còn nhận được thiếp in rất đẹp mời tác giả từ miệt vườn xa xôi tự bỏ tiền ra Miếu... Văn ở đất Thăng Long ngàn năm, nghe, đọc thơ và gấp thành diều giấy thả lên trời nữa cơ!

Ai muốn gấp bao nhiêu diều cứ tùy ý nhá, trưng mấy bảng quảng cáo "thơ nhà" vẽ rồng vẽ... phượng cũng được, sau đấy được phép thu lại đưa lên máy bay mang về cho em út trong nhà từ Ba cho đến Bảy-Tám-Chín Lúa dán vào cột từ đường lưu giữ muôn đời. Làm thơ bây giờ sướng hết chỗ nói!

Cũng thấy hay hay. Thì cũng phải nâng tầm tí chút chứ nhỉ?!

Tôi nghĩ đến chuyện giở mẹo vặt bằng cách moi các bài thơ tình ngày xưa ở các quyển nhật kí (ba quyển tất cả, ma xó mới biết có một cuốn thôi, hai cuốn kia đã khôn hồn gửi ở nhà thằng bạn từ lâu!) ra sửa lại rồi đem thi thố. Đúng lúc ấy thì ông cậu của basa, một nhà thơ thực thụ tuy chỉ ở cấp tỉnh, tính rất hài hước, bước vào cười khà khà, thì ra ông đã đến đứng nghe ngoài cửa từ lâu mà cả tôi và basa bị dính... keo thơ nên không hay biết.

- Hà hà! Chắc là tay Giáo Chủ đạo Thơ vừa đến thuyết pháp cho CLB các ngươi chứ gì?

- Giáo Chủ?! - Hai vợ chồng tôi cùng ngơ ngác, chưa hiểu ông nói gì.

- Hai ngươi thừa biết rằng bây giờ nhiều người mê mẩn với thơ như cô đồng mê cung văn, trọng TUYỂN THI như người Hồi giáo kính Kinh Co-ran, thăm Văn Miếu thì ngang bằng được hành hương về La-mếch! Vậy nên mới có kẻ đi khắp nơi truyền "ĐẠO THƠ" để được tôn xưng là "GIÁO CHỦ", hiểu chưa?

- Nhưng... nhưng để làm gì hả cậu? - Basa nhà tôi chưa hiểu.

- Sắp lên lão rồi mà còn ngốc! - Ông cậu vợ (chỉ hơn cháu ba tuổi) mắng thế - Tao đây này, thơ được bao nhiêu người biết đến mà muốn in một tập vẫn phải bỏ tiền túi ra, đứa chó nào ra hiệu sách mua thơ đâu! Nhưng tay "giáo chủ" của các ngươi năm nào cũng in hàng chục tuyển tập thơ dăm trăm bài, mỗi tập vài ngàn cuốn rồi bán hết veo với giá cắt cổ cho tín đồ được "giáo chủ" chọn thơ in. Thế thì để làm gì mà các ngươi còn phải hỏi à?

- Mỗi một lần in như vậy "Giáo chủ" đút túi ba bốn trăm triệu đấy - Ông cậu vợ nói thêm.

- Ra thế, Lượm ơi! - Đến lượt tôi gãi gáy trong khi basa mồm há ra như con cá bị vứt lên bãi cát khô.

Nhưng có lẽ vẫn phải tìm cách nào để NÂNG TẦM tí chút chứ nhỉ? Ai bây giờ mà chẳng phải cố để được NÂNG TẦM!!


Ngọc Châu
ngocchaunvhp@gmail.com
READ MORE - NÂNG TẦM - Tiểu phẩm của Ngọc Châu