Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, January 14, 2013

“NƠI ẤY BỐN MÙA, NƠI ẤY MỘT TRÁI TIM” - Võ Thị Như Mai bình thơ Nguyễn Ngọc Hưng


Nói đến Quảng Ngãi, người ta nghĩ ngay đến nghề trồng mía và những sản phẩm từ đường mía nổi tiếng lâu đời, như câu ca dao:

Ai về Quảng Ngãi quê ta
Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền.

Không chỉ có đường, đặc sản Quảng Ngãi còn có cây quế:

Ai về Quảng Ngãi
Cho tôi gởi ít tiền
Mua giùm miếng quế lâu niên
Đem về trị bệnh khỏi phiền bà con.

Cây mía và cây quế giống nhau ở chỗ chúng không cho trái nhưng thân của chúng lại chắt lọc và tích tụ những chất tinh khiết quý giá, ngọt và thơm.

Muốn có sản phẩm từ cây mía, cây quế, người Quảng Ngãi phải bỏ công cày cuốc, trồng tỉa, chăm bón trên đất đai cằn cỗi và khô nóng và rồi phải qua chế biến công phu mới tạo ra được sản phẩm -  đó là một quá trình khó nhọc, đổ mồ hôi sôi nước mắt, đòi hỏi cả sự khéo léo của đôi tay và cả trí tuệ nữa.

Đặc điểm sự hình thành của đường trong thân cây mía, tinh dầu trong thân cây quế và đặc điểm của lao động để làm ra sản phẩm từ đường và quế, thực phẩm có nhiều đường và thuốc chửa bệnh có nhiều quế chắc chắn ảnh hưởng đến tính cách của người Quảng Ngãi, ảnh hưởng đến nếp suy nghĩ, cách ứng xử, tình cảm của họ đối với lao động, thiên nhiên và cộng đồng. Và chắc chắn ảnh hưởng đến thơ văn của họ nữa.

Quảng Ngãi không chỉ nổi tiếng về đường và quế mà còn là sinh quán của nhiều nhà thơ lớn của dân tộc như Bích Khê, Tế Hanh, Thanh Thảo, Lâm Anh, Nguyễn Trung Hiếu, Xuân Thới, Khắc Minh, Nguyễn Tấn On ... và trẻ hơn, ở độ tuổi trung niên, có Đinh Tấn Phước, Mai Bá Ấn, Nguyễn Ngọc Hưng ... Ngôn ngữ thơ của họ phản ánh sức sáng tạo tự thân và lao động nghệ thuật công phu để cho ra những vần thơ giàu chất suy tư và thắm đẩm tình người.

Trong số những nhà thơ trung niên đang sáng tác mạnh, Nguyễn Ngọc Hưng là người được biết đến nhiều nhất không chỉ vì tình trạng sức khỏe khiến anh phải nằm một chỗ, số tập thơ in riêng của anh nhiều hơn những nhà thơ khác, số giải thưởng đồ sộ của anh, mà còn vì cuộc sống của anh hoàn toàn chỉ dành cho thơ, sống chỉ để làm thơ. Cuối năm 2012, anh đã cho in tập thơ thứ 11 của mình: Bài Ca Con Dế Lửa. Tập thơ gồm có 99 bài  thơ và 13 bài bình luận, được phát hành đầu năm 2013, đúng vào dịp kỷ niệm 20 năm kể từ ngày anh xuất bản tập thơ đầu tiên: Cầm Sợi Gió Trên Tay, 1993.

VNQT hân hạnh được nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng tặng tập thơ Bài Ca Con Dế Lửa gởi từ Hà Nội.  

Chân thành cám ơn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng và NXB Kim Đồng và xin trích đăng bài bình thơ của Võ Thị Như Mai, một nhà thơ nữ gốc Việt đang định cư tại Úc. Mời các bạn cùng đọc.



Từ trái: Các nhà thơ: Đinh Tấn Phước, Nguyễn Ngọc Hưng, Võ Thị Như Mai


VÕ THỊ NHƯ MAI
“NƠI ẤY BỐN MÙA, NƠI ẤY MỘT TRÁI TIM”

Mùa đông năm nay ở Tây Úc kéo dài quá chừng. Những ngày đông lê thê cũng có thể do cảm nhận của riêng tôi, do cái ho hen sổ mũi ào ào đến rồi chậm chạp bò đi dăm lần bảy lượt của cậu con trai yêu dấu, do tôi quá bận rộn để đi ra ngoài ngắm những thảm hoa dại nở rộ trên khắp tiểu bang. Thời tiết ở đây cũng hơi trái khoáy. Trong khi tôi thường rên rỉ với bạn về cái lạnh thấu xương, về làn môi nức nẻ thì ở Hà Nội, các cô gái duyên dáng đang tung tăng trong váy hoa giữa khí trời nắng trong.
Qua tháng chín, trời ấm dần lên. Tôi mang những chiếc áo dày xù xì cất vào nhà kho và sắp xếp lại những bộ đồ nhẹ nhàng, dễ chịu cho gia đình. Thế nhưng lòng tôi vẫn trĩu nặng một cảm giác buồn lây lất khó mà diễn tả được. Ở bên nhà lũ lụt triền miên hết miền quê này đến vùng đất khác, hết Quảng Bình lụt cục bộ đến Quảng Trị vỡ hai đoạn đê, hết bùn đỏ ở Cao Bằng đến những băn khoăn về dự án bauxite ở Tây Nguyên.
          Ôi chao, cái guồng máy xã hội vẫn vận hành, vẫn quay, vẫn chống chọi với thiên tai, giông gió, vẫn luôn có kẻ vui như hội, và vẫn có người sầu muôn nơi. Tôi thường hay mè nheo với bạn và thích được nghe bạn nói chuyện thời sự. Bạn bảo, tôi nói chuyện cho cô biết tin tức để mà cập nhật thôi, chứ cô buồn rầu thì cũng không giải quyết được gì, nhưng mà tôi nói cho cô hay, xung đột và những muộn phiền trong xã hội là điều không thể nào tránh khỏi, nhưng đất nước vẫn đang mở cửa và đang đi lên, vẫn rực rỡ trong mùa lễ hội, vẫn giữ được phong thái đặc trưng của mỗi vùng mỗi miền và con người vẫn không ngừng thi đua, học hành, phát kiến. Bạn còn cao hứng đọc cho tôi nghe một bài thơ rất dài của tác giả Nguyễn Ngọc Hưng mà bạn yêu mến: “Nơi ấy bốn mùa nơi ấy một trái tim”. Bài thơ bắt đầu thế này:
Nơi ấy có mùa hạ
Ngan ngát sen thơm
Ngực gió phập phù

Nơi ấy có mùa thu
Bảng lảng sương mù
Nồng nàn hương sữa

Nơi ấy có mùa đông
Run run lá bàng thắp lửa
Thấp thoáng bóng ai nép mình bên cửa
Nghe gió mùa thắc thỏm đợi tình nhân

Nơi ấy có mùa xuân
Nô nức đào son, quất vàng, mai trắng
Chảy như sông lặng như hồ sâu lắng
Đi hết ngày chưa hết một chợ hoa

Nơi ấy có ngàn năm suy- thịnh, chiến- hoà
Máu đỏ nên sông
Xương chồng nên núi
Có thuở xênh xang có khi lầm lũi
Vẫn hào hoa thanh lịch “nhất kinh kỳ…”

Hoá ra bạn đang mơ màng về Hà Nội có bốn mùa rõ rệt với “sen thơm”, “hương sữa”, “lá bàng”, “đào son”, “mai trắng”; Hà Nội của những ký ức bi hùng không thể nào phai, Hà Nội với đại lễ ngàn năm diễn ra sôi động và Hà Nội “thanh lịch” gợi mở cảm hứng cho biết bao thi nhân. Câu chuyện của chúng tôi lần nào cũng thế, loay hoay mãi rồi cũng hướng về nơi ấy. Tôi yêu Hà Nội qua tình yêu thiêng liêng của bạn dành cho miền đất này, qua những bài hát làm đắm say lòng người, qua những bài cảm nhận của những người sống trong lòng Hà Nội và những người đi xa. Một đồng nghiệp của tôi đã đến Hà Nội đến ba lần. Cô ấy bảo rằng dự định của hai lần sau là đi Singapore và Hong Kong thôi, nhưng lần nào cũng “ghé lại” Hà Nội và ở lại đó đến bốn, năm ngày. Tôi chưa từng được đến đó chỉ vì Quảng Trị thường giữ chân tôi lâu trong những dịp hiếm hoi về thăm quê.
Bạn đọc bài thơ này mà như hát. Qua điện thoại, tôi có thể hình dung bạn đang nhắm mắt đắm mình vào trong từng con chữ và thế giới cảm xúc về thiên nhiên đất trời, hoà nhịp vào mạch ngầm cảm hứng của bài thơ với những hình ảnh về ấn tượng của một Hà Nội vô cùng thân thương. Tác giả phải là người có một trái tim thổn thức và một tâm hồn lắng đọng mới có thể vẽ lên một bức tranh Hà Nội qua những hình ảnh đặc trưng và thổi vào những hình ảnh này hồn thơ man mác bằng những từ luyến láy gợi cảm như thế: “ngan ngát”, “phập phù”, “bảng lảng”, “nồng nàn”, “run run”, “thấp thoáng”, thắc thỏm”, “nô nức”, “xênh xang”. Nghệ thuật sử dụng từ láy ở đây không những diễn đạt được sắc thái cảnh vật mà còn biểu lộ rõ nét tâm trạng con người.
Tổ tiên tôi từ nơi ấy ra đi
Khai khẩn đất đai, mở mang bờ cõi
Nắng gió tha phương dẫu ít nhiều lai pha giọng nói
Hát về đất nước quê hương chưa lệch chuẩn bao giờ

Một cuốn sách phát hành gần đây có tựa đề “Ngôn ngữ văn hóa Thăng Long – Hà Nội 1000 năm” (NXB Thông Tin và Truyền Thông, Hà Nội, 2010) có nhiều bài nghiên cứu hay về ngôn ngữ trong tiến trình văn hóa dân tộc. Cũng như quy luật tự thân phát triển của ngôn ngữ nói chung, tiếng Hà Nội biết tiếp nhận cái mới và tinh hoa của bốn phương, hội nhập và chắc lọc để tự hoàn thiện ngôn ngữ Việt (theo PGS TS Nguyễn Xuân Hoà). Tác giả của bài thơ mà bạn tôi qúy mến không trực tiếp đề cập đến ngôn ngữ văn hóa Việt nhưng có một phát hiện thật tinh tế làm bạn cứ xuýt xoa mãi, người tha hương “ít nhiều lai pha giọng nói” nhưng khi “hát về đất nước quê hương” thì “chưa lệch chuẩn bao giờ”. Điều này làm tôi nghĩ ngay đến cô ca sĩ khả ái Thùy Hương của trung tâm Asia, sinh ra và lớn lên ở Mỹ, có học vị cao, có giọng hát trong trẻo và phát âm rõ ràng ngoài cái vẻ trẻ trung, duyên dáng. Bạn bất chợt dừng lại và hỏi tôi dồn dập: Nào là con trai tôi có nói và hát được tiếng Việt nhiều chưa? Tôi có định tập cho cháu viết và đọc được tiếng Việt không? Nào là: Con nít học lẹ lắm, đừng có bỏ phí, tiếc lắm, tiếc lắm…
Bài thơ bước sang một chuyển mạch cảm hứng mới kết nối giữa hiện tại và quá khứ, giữa Hà Nội trong cái hoài niệm thân thương và Hà Nội đáng yêu bây giờ với “pháo hoa đèn điện” và dòng người đến viếng lăng Bác, giữa Hà Nội hào khí hồn thiêng sông núi với niềm kính trọng sâu sắc của một tấm lòng người conViệt đối với quê cha đất tổ.

Hồn sông núi bay lên
Chót vót đỉnh Cột Cờ
Tha thiết “tả thanh thiên” với đài Nghiên tháp Bút
Nơi rùa đá đội bia thơm
Nơi ngựa thần lửa phun ngùn ngụt
Hồ trả gươm nhân nghĩa sáng muôn đời

Nơi “Điện Biên Phủ trên không” từng cháy rực một thời
Giờ rạng rỡ những pháo hoa  đèn điện
Mặt trời
Mặt trăng
Tiếp nối liên miên dòng thăm viếng
Hội tụ năm châu
Dung hoà bốn biển
Lăng Bác Hồ hoá bảo ngọc lương tri

Tôi yêu Người không một chút hồ nghi
Ơi Hà Nội- trái tim hồng Tổ quốc
Một lần đến đã ngàn năm thân thuộc
Người trong tôi
Mãi linh hiển dáng rồng!

Lâu lắm rồi tôi mới có dịp nghe một bài thơ hào hùng đầy cảm hứng về Hà Nội nói riêng và đất nước nói chung như thế. Khi còn học phổ thông, tôi rất thích những bài thơ về quê hương đất nước của Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm và Giang Nam qua lời phân tích đầy xúc động của cô giáo, và sau này được nghe lại khi đi dự giờ của đồng nghiệp. Giờ đây được thưởng thức bài thơ của Nguyễn Ngọc Hưng, tôi bỗng nhớ đến da diết lời giảng bài của cô giáo mình, làn điệu man mác âm hưởng sử thi với những yếu tố cổ điển và hiện đại hoà quyện nhau trong bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm, niềm cảm xúc dâng trào với những hồi tưởng êm ái về mùa thu Hà Nội của Nguyễn Đình Thi hay cái da diết trong tâm khảm khi đọc Giang Nam. Những bài giảng tha thiết ngày ấy tưởng chừng như không có một mối liên quan nào với cuộc sống bộn bề của hiện tại, thế mà trong phút chốc bỗng quay về thật trìu mến thân thương.

Cho tôi xin
Một vốc nước sông Hồng
Một nắm đất gò Đống Đa lịch sử
Một chỗ đứng khiêm nhường nơi vua Lý anh minh từng ngự
Cùng dân tộc nghiêm cẩn, nức lòng nghe đọc “Chiếu dời đô”

Cho tôi xin
Một lần gặp Bác Hồ
Phút thiêng liêng người dõng dạc “Tuyên ngôn Độc lập”
Cho tôi  được cùng 80 triệu trái tim chung nhịp đập
Đơm vạn đoá sen hồng dâng đại lễ NGÀN NĂM…

Xin được thanh tẩy tâm hồn xua sạch bóng tối tăm
Làm một viên gạch Hoàng Thành
Một ánh trăng Văn Miếu
Một chấm vàng hoa rêu năm Cửa Ô
Một tia nắng đỏ đậu vai cầu Thê Húc
Một hòn sỏi vô danh biết quên hết
những giông bão đau thương gió mưa tủi nhục
Lặng lẽ hiến dâng
Lặng lẽ góp mình

Ơi thành- phố- xanh, thành- phố- hòa- bình
Không chỉ ngàn năm, vạn năm Người mãi đẹp như thiên đường thu nhỏ
Mở cửa rồi- bốn phương lộng gió
Bỏ lối mòn xưa tránh con đường cũ
Bay lên cùng vận hội mới
Thăng Long!

Nếu tôi nhắc đến Tố Hữu, một số bạn đọc sẽ không thích lắm, rằng thơ ông không còn hợp thời, rằng thơ ông cực kỳ mang nặng tính tuyên truyền (nhà thơ Ngô Minh), mọi người thuộc thơ ông vì không có chỗ trốn khỏi thơ ấy (nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân). Riêng tôi, tôi thuộc một số bài thơ, câu thơ của Tố Hữu hoàn toàn không phải vì hai lý do trên. Thơ Tố Hữu hay thơ của bất cứ nhà thơ nào trong thời đại nào, tôi thuộc vài câu thơ, vài bài thơ của họ là do tôi yêu thích những vần thơ ấy, chỉ đơn giản thế thôi. Làm thơ và viết văn ở mỗi thời mỗi khác do ảnh hưởng và sức ép của xã hội nhưng không vì thế mà không có những vần thơ đẹp, không vì thế mà không có những hồi tưởng bay cao hay mơ màng hình dung về một thời đã qua. Và trong thời khắc này đây, những vần thơ của Nguyễn Ngọc Hưng đã đưa tôi và bạn hướng về một cái nhìn chung, về một thời đất nước trong đó có Hà Nội sau những tháng năm dài đau thương, chiến tranh khốc liệt, giờ đây đã vươn mình lên yên ấm an lành. Guồng máy xã hội của chúng ta bây giờ vẫn đang nuôi dưỡng những người con đã từng một thời trải qua bom đạn tơi bời, một thời xém bỏ mạng giữa rừng, một thời đặt một nhành hoa lên nhúm mộ của người bạn thân ngã xuống. Tôi cũng đã có lúc trải những suy tư của mình thế này lên trang giấy khi đón nhận một số học sinh mới nhập cư:
em Iraq khuôn mặt tròn bầu bĩnh
em Afganistan vui tính
em Somalia nhỏ nhắn thơ ngây
giữa những nụ cười trong veo ấy
chiến tranh là một từ rất gần

đất nước tôi bây giờ bình yên, rộn rã, tưng bừng
tạm quên vết thương thời chiến
người tìm đến người thánh thiện
những linh hồn bé bỏng lại sinh sôi

Roman Jakobson đã từng nói rằng “Thơ gìn giữ chúng ta chống lại tính máy móc, sự han rỉ hăm dọa tâm hồn”. Xin cảm ơn bạn, cảm ơn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng đã cho tôi những giây phút được hướng về nguồn cội của mình qua một bài thơ viết về một chủ đề lớn, chủ đề đất nước. Khi tâm sự đến đây, tôi nhìn đồng hồ và bất chợt nhớ ra, đã gần 11 giờ trưa rồi. Tôi vội giải thích cho bạn, rằng ngày hôm nay, 11 tháng 11 được chọn là ngày lễ tưởng niệm (Remembrance Day) trên toàn nước Úc.  Một chút xíu nữa, bạn hãy cùng tôi và tất cả mọi người ở Tây Úc, dừng lại và nhắm mắt lặng yên trong 2 phút để được tưởng niệm về những người đã hi sinh trong các cuộc chiến. Hai phút bắt đầu bạn nhé!

Võ Thị Như Mai.
Tây Úc 11/11/2010




LÝ LỊCH VĂN HỌC
NGUYỄN NGỌC HƯNG
*******
SƠ YẾU LÝ LỊCH:

Sinh ngày: 20.04.1960
Quê quán: Hành Thịnh, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi
Tốt nghiệp ĐHSP Quy Nhơn khóa 2 (1979-1983)
Bị bệnh từ năm 1983
Hiện đang sống và viết ở Thị trấn Chợ Chùa, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi với bạn bè thời phổ thông trung học

TÁC PHẨM:
Đã xuất bản 7 tập thơ thiếu nhi, 6 tập thơ tình và góp mặt trong nhiều tuyển thơ.
                  
GIẢI THƯỞNG:

1. Tặng thưởng Văn học cho thiếu nhi - Hội Nhà Văn Việt Nam, 1994
2. Giải thưởng cuộc thi thơ quốc tế dành cho người tàn tật “Một trái tim- Một thế giới” năm 2000
3. Giải B của Ủy Ban Toàn Quốc Liên Hiệp Các Hội VHNT Việt Nam, năm 2009
4. Huy chương “Vì sự nghiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam”, 2004

ĐỊA CHỈ LIÊN LẠC:

NGUYỄN NGỌC HƯNG
Đội 10, thị trấn Chợ Chùa
huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
ĐT: 055.3861.312
Email: nguyenngochung204@gmail.com



READ MORE - “NƠI ẤY BỐN MÙA, NƠI ẤY MỘT TRÁI TIM” - Võ Thị Như Mai bình thơ Nguyễn Ngọc Hưng

Sunday, January 13, 2013

Thương Yến Tử - TRỞ MÙA (thơ mời họa) - MỘT SÁNG TÀN ĐÔNG



TRỞ MÙA
thơ mời họa

Không hẹn mà xuân lại đến rồi
Lặng nhìn con nước dập dềnh trôi
Bên thềm vạt nắng đi chầm chậm
Cuối bãi đàn chim đến rạc rời
Trước cửa mai đào chưa trẩy lá
Sau vườn cam quít đã vươn chồi
Nào ai ngăn được vòng luân chuyển
Không hẹn mà xuân lại đến rồi
                             



MỘT SÁNG TÀN ĐÔNG

Sáng hôm nay
trời mưa không ướt áo
và thời gian
như chậm lại đợi ai về
nụ mai xanh còn giấu màu nguyên thủy
đóa cúc nhìn
vàng ánh mắt đam mê
xuân chưa đến
em chưa về đến
để anh ngồi đếm từng giọt cà phê
ánh nắng tàn đông
ngậm ngùi lẩn trốn
không muốn quay lưng
nên cứ nặng nề
sáng hôm nay
trời mưa không ướt áo
đường phố đông người
chật ních chợ hoa
rộn tiếng cười
tiếng mặc cả lại qua
bướm thầm tiếc
rung hoài đôi cánh mộng
anh chờ em
ngồi lặng lẽ
giọt cà phê
gõ nhẹ
gọi     
     em    
          về
              THƯƠNG YẾN TỬ
thuongyentu131@yahoo.com.vn
READ MORE - Thương Yến Tử - TRỞ MÙA (thơ mời họa) - MỘT SÁNG TÀN ĐÔNG

TIẾNG CHIM HÓT - chùm thơ Thế Lộc



TIẾNG CHIM HÓT

Gục chết trong bụi mận gai
Xin người cứ để hình hài nằm đây
Vắt thân lên bụi gai này
Để cho thương nhớ trải dài trần gian
Để nghe tiếng gió trên ngàn
Mang con chim lạ bay sang dặm dài
Tiếng hót trong bụi mận gai
Ngậm ngùi như thể hồn ai trở về
Tiếng hót như sảng như mê
Như là huyển hoặc lời thề năm xưa.


TÌNH XA

Em ơi tình đã xa rồi
Lấy nhau không được đến hồi chia ly
Em về đi, anh sẽ đi
Buồm năm ba tháng chắc gì quên nhau
Xưa kia tính chuyện trầu cau
Bây giờ tình lỡ thương đau một mình
Mai sau tình có hồi sinh
Cho dù tóc bạc chúng mình lấy nhau.

THẾ LỘC
READ MORE - TIẾNG CHIM HÓT - chùm thơ Thế Lộc

Nguyễn Bá Trình - GỞI CÔ GÁI HÁT VỀ QUÊ HƯƠNG QUẢNG TRỊ


Ơi cô gái xinh xinh
Hát ngợi ca quê hương Quảng Trị
Em sinh lúc nào
      quê quán nơi đâu
Em hát thật hay                                                                                                      
      và múa thật dẻo
Có phải em đang ngợi ca xứ sở của mình?

Em biết không                                                                                                                 
Em đang hát về  quê hương tôi đó
Tôi từng yêu mến nó
      Từ lúc em chưa sinh ra

Xa quê
Nghe em hát mà lòng tôi xao xuyến
Tiếng hát khơi dòng Ô Lâu xanh biếc
Chảy vào trí nhớ một thời
Nhịp cầu nối hai bờ
Lương Điền –Mỹ Chánh
Tuổi  thơ tôi qua lại bao lần
Có một lần chân đi miệng nhẩm
Bài  thuộc lòng thường thức đầu tiên
Mỗi người mang một trái tim
       nằm phía ngực trái
Nhờ thế lớn lên tôi đã hiểu
Như quả tim nằm  phía ngực trái
Tình yêu của tôi nằm phía quê nhà

Không phải là chim nếu không có tiếng hót ngợi ca bầu trời
Không phải là người nếu không có tấm lòng biết ơn xứ sở

                                                              Nguyễn Bá Trình


READ MORE - Nguyễn Bá Trình - GỞI CÔ GÁI HÁT VỀ QUÊ HƯƠNG QUẢNG TRỊ

CHÙM THƠ ĐỜI THƯỜNG CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA - Vũ Hùng giới thiệu


Nhà văn Sơn Nam & LTMK ở môt quán cốc tại  Bà Rịa.        

    Trong những năm 80, bọn tôi hay chép tay và đọc cho nhau nghe những bài thơ đời thường của Khoa: Trong quán cà phê, Đơi bạn ở quán cà phê, Em đi làm gái, Trong quán cà phê, Lối xưa, Tháng bảy trời mưa, Thị trấn tôi ...  và những bài có tựa đề KHÔNG ĐỀ của Khoa. Thời bao cấp, những bài thơ nầy (hồi đó bọn tôi gọi là thơ Lương Sơn Bạc, sau nầy giới văn học gọi là thơ đời thường, chỉ được truyền khẩu, xuất bản miệng thôi, ít khi được đăng báo. Báo chí chỉ đăng những bài thơ khác của anh (mà bọn  tôi gọi để chọc anh là thơ cung đình, thơ phải đạo- có người gọi là thơ chính thống). Sau nầy, đến thời kỳ đổi mới, những bài thơ đó được nhiều báo đăng và nhiều người thích,  chúng  tôi cũng vẫn còn thích. Ở đây, xin giới thiệu với người yêu thơ Chùm thơ đời thường của anh và bài phỏng vấn anh về thơ đời thường do nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Hoàn thực hiện.
                                                    Vũ  Hùng 


ĐÊM BA MƯƠI
Lê Thiên Minh Khoa

Đêm ba mươi ngồi đếm lại đời mình 
khách tha phương cắn môi
thời gian day dứt

Đêm ba mươi rượu đến mềm môi
lùng bùng mắt
đôi chân nằm nghe đôi tay đi hoang 

Đêm ba mươi nhớ những đêm ba mươi
bạn hát gì tôi không nhớ nổi
dừng lại hỏi: rêu có bò lên tuổi
tôi nghe tóc dài già nua
nghe chuyện cũ ba chục năm dồn lại
ngày sau là ngày xưa đẩy tới 

Đêm ba mươi con thạch sùng tắc lưỡi
chuột gặm mái nhà quá tuổi
cô gái ba mươi thút thít phong bên
thời gian lên men
không gian nứt ra mà chưa vỡ được

Và, đất trời ôm chặt lấy nhân gian...


THÁNG BẢY TRỜI MƯA
Lê Thiên Minh Khoa
       Tặng Nguyễn Đình Vinh

Biết bây giờ là tháng bảy trời mưa
Áo mỏng em tôi ướt đã mấy lần ?
Chân bước ngập ngừng lối về hoa rụng
Ngõ cũ còn hằn dấu vết người đi ?

Dạo này nhà mình còn ăn khoai mì?
Gánh than ướt đầm mẹ chắc nặng lắm ?
Chân bước âm thầm dốc dài tóc trắng
Có bóng cây nào để mẹ nghỉ không ?

Có tháng bảy nào mà mưa không rơi
Bạn bè tôi ơi, ướt nhoẹt hết rồi 
Chân bước phiêu bồng mòn khuya nhầu tóc
Thuốc lá vàng tay có  tím làn môi !

Ôi cuộc đời, mưa tháng bảy rơi rơi  ! ...


LẠC ĐIỆU 
Lê Thiên Minh Khoa

Rồi một lần choáng ngợp trước tình yêu 
Phút quyến rũ bắt nguồn bao nỗi nhớ 
Điều bình thường khi lòng để ngõ 
Ước vọng dẫn đi. Thực tại đưa về… 

Ranh giới nào giới hạn nỗi cuồng si 
Từ khoảnh khắc suy tư 
Từ ước mơ sầu muộn 
Từ sâu kín đáy lòng thanh thản 
Hay từ em - một diễm phúc trắng trong 

Những gì đã qua gọi là kỷ niệm 
Em đi qua rồi, tình có qua đâu! 
Để âm thầm chờ thời gian trang điểm 
Rồi mỉm cười trên cuộc sống lặng câm 

Giữa bao điều hỗn tạp vây quanh 
Mọi giá trị chưa nằm đúng chỗ 
Giữa sông đời bên bồi bên lỡ 
Thuyền tình anh biết đổ về đâu?... 


THƠ TẶNG TIẾP
Lê Thiên Minh Khoa
Tặng Nguyễn Hữu  Tiếp

Lời thơ bật ra từ nỗi nhớ 
về Tiếp và Động Đền hai đứa
mùa xuân về nơi đây hững hờ
đã gõ cửa Ðộng Ðền mình chưa?

Nỗi nhớ và tơi dồn lại thành thơ
qua khe hở những mẩu đời xưa cũ
bây giờ dừng chân lữ thứ
bàng hoàng tơi ngả giữa trang thơ

Qua rồi thời lặn lợi nắng mưa
thời non dại vẫn ngọt ngào nỗi nhớ
thời trai trẻ nghẹn ngào tiếc nuối
sống hết mình có phải dễ đâu!


Bây giờ xấp xỉ tuổi năm mươi
bỗng thấy yếu mềm lôi cuốn
nhận ra mình chưa từng khôn lớn
vỡ lòng thôi giữa trường đời


Có những điều tưởng giản đơn thôi 
phải trả giá rất ư là đắt …
những pho sách đã đọc
chỉ là mây trôi trang điểm bầu trời

Ta nghĩ về đời sao quá đỗi mông lung
ta yêu đến thế nào mình ta biết
nên Tiếp ạ, giá chừ gặp mặt
nghiêng ngả vào nhau động chiếu thơ 

Mai này gặp lại, Tiếp ơi!
Và uống rượu. Và thức khuya. Và tâm sự.
Và nhìn nhau. Và cà phê. Và thuốc lá.
Và lặng thinh. Và nhớ 
                                      trước khi xa…




PHỎNG VẤN  Lê Thiên Minh Khoa về thơ đời thường (trích)                                                 
Nguyễn Bá Hoàn thực hiện 

Trích trong các tác phẩm:
Người và Việc:  Những người nổi tiếng, tập 1 (NXB Hội Nhà Văn, 2006).
Người và Việc: Cánh buồm ngược gió (NXB Văn Hóa Sài Gòn, 2008)

Bìa 2 cuốn  Người và Việc, Những người nổi tiếng






Nguyễn Bá Hoàn : Thị xã Bà Rịa chiều cuối tuần, trời mưa lất phất. Tôi ngồi đối diện với nhà thơ, nhà giáo ấy trong một quán cà phê cóc cạnh Nhà Tròn Bà Rịa, có “én liệng đầy trời” quanh di tích lịch sử quốc gia. Chiều xuống, tôi vừa “nhìn tất cả cuộc đời xuôi ngược lướt qua bên”, vừa nghe anh đọc “nhỏ nhẻ như câu tâm tình” bài thơ “Thị trấn tôi” của anh, vừa nhớ ray rứt cái thị xã quê tôi và nghe anh nói: “Tôi sống đất này tính ra đã 2/3 đời người. BR-VT là quê hương thứ hai của tôi”...  

PV: Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình xếp thơ anh vào trường phái “thơ đời thường” của Jaques Prévert …

LTMK: Thiệt tình, từ sau ngày 30.4.1975 , khi biểu hiện bằng thơ những điều mình chiêm nghiệm về những cảnh đời thường ngày xung quanh mình, tôi chưa biết Jaques Prévert là ai. Sau này đi học đại học sư phạm lại , tôi được giáo sư Hoàng Nhân giảng về nhà thơ này khi học văn học phương Tây, nhưng thú thật cũng chưa đọc thơ của Jaques Prévert, dù qua bản dịch. Khi được một số nhà phê bình “xếp loại” như thế, tôi mới tìm đọc Jaques Prévert và thấy rằng ông ta đúng là nhà thơ bậc thầy và có thể nói, đã khai sáng ra lối thơ này. 
      Có điều, những bài thơ tôi viết về đời thường”, đến thời kỳ đổi mới, giữa thập niên 80 mới được đăng công khai, còn trước đó chỉ được những người yêu thích chép tay và đọc cho nhau nghe, như là “văn nghệ dân giả”, còn báo thì chỉ đăng những bài thơ tôi viết theo quan điểm văn nghệ chính thống hồi đó, mà có người gọi là “văn nghệ cung đình”. Bài thơ “đời thường” đầu tiên được phổ biến trên diễn đàn công khai là bài “Trong quán cà phê” đăng trên Văn Nghệ Đồng Nai. Trong bài thơ này, các nhân vật đều là “nguyên mẫu” có thực quanh tôi “Người bạn vong niên đàn con thơ dại - chiếc quần dài cắt tả lót cho con” là thầy hiệu trưởng Nguyễn Quốc Hùng, có 5 đứa con vào thời bao cấp .“Người bạn nhà thơ như tay già thợ mộc - giấu sự đời sau rối nét hoa văn” là nhà thơ Vũ Xuân Hương, người sống và viết như một “tay già thợ mộc”. Rồi “người họa sĩ vẽ chân dung kiếm sống - những bức tranh úp mặt vào vách - những bức tranh ngửa mặt lên trời…” là họa sĩ Phạm Hoan, chồng nhà văn Phạm Thị Nguyệt Cầm (1959-2004). Còn: “Nhà giáo chín chắn nói ra điều mình chưa từng suy nghĩ - và có cuộc đời cứ mòn đi, rỉ ra” có lẽ là không ai ngoài “thằng tôi” đây. Đọc cho anh nghe cả bài thơ “Trong quán cà phê” nhé: 

Trong quán cà phê chúng tôi nói chuyện đời thường 
vợ mang nặng đẻ đau chuyện về thời quá độ 
chuyện thời giá, đồng lương 
chuyện người ta bỏ xứ 
xen chuyện trời nắng, trời mưa… 

Trong quán cà phê chúng tôi nói chuyện tâm tình 
người bạn nghèo cứ hẹn dần với người yêu ngày cưới 
người bạn vong niên đàn con thơ dại 
chiếc quần dài cắt tả lót cho con 

Trong quán cà phê chúng tôi nói chuyện cuộc đời 
có người hỏng thi, có người thành đạt 
đời vẫn thế, cứ là phức tạp 
giản đơn thôi đâu gọi là đời! 
người bạn nhà thơ như tay già thợ mộc 
giấu sự đời sau rối nét hoa văn 
người họa sĩ vẽ chân dung kiếm sống 
những bức tranh úp mặt vào vách 
những bức tranh ngửa mặt lên trời 
nhà giáo chín chắn nói ra điều mình chưa từng suy nghĩ 
và các cuộc đời cứ mòn đi rĩ ra 

Trong quán cà phê chúng tôi góp chuyện ngắn thành dài 
và chuyện dài rồi cũng ngắn 
khi người chủ nhắc khéo giờ đóng cửa 
vuốt đồng trinh lại băn khoăn giá cả 
dù cà phê mới uống có hôm qua 

Câu chuyện trong quán cà phê 
không dứt được cả trong giấc ngủ 
sớm mai lại lao vào công việc 
để gặp lại mỗi ngày 
trong quán cà phê”.
  

PV: Có lẽ do vậy, nhiều người, trong đó hình đó có cả tôi nữa, phân chia thơ anh ra thành hai mảng: “niềm chung” và “nỗi riêng”. Anh thấy như thế có gượng ép không?

LTMK: Đó là do anh em căn cứ vào nhân vật trữ tình nghiêng về “cái ta công dân” hay “cái tôi cá nhân” và đề tài nhấn mạnh vào “đời chung” hay “niềm riêng”. Dĩ nhiên sự phân chia là tương đối thôi. Chẳng hạn, bài thơ “Nghe em hát đêm văn nghệ nông trường,(I)” lại bộc lộ rõ chính mình: “Như dời anh xuôi ngựơc trăm nơi…” Hoặc bài thơ “Thăm nhà mới bạn văn nghệ” có người cho là mình viết về mình: 
“Thương bạn suốt đêm qua 
Thức mòn khuya, nhầu tóc 
Những trang đời bạn viết 
Mấy sợi tóc bạc dần 

Xưa nay người làm thơ 
Mấy khi làm được nhà 
Có lẽ vì mình bạn 
Làm thơ đề làm nhà …”.
        Ngược lại, một bài thơ rất riêng “Tự thú đêm 30” một số anh chị em, kể cả người viết tựa theo tập thơ “Thị trấn tôi” ( nhà thơ Vũ Xuân Hương ) rất thích (đã dành ra gần một trang để bình bài thơ này} và nói: “Cảm ơn Khoa. Khoa viết về tâm trạng của mình thì đúng hơn ”…

PV : Trở lại câu thơ trên: “làm thơ để làm nhà” anh muốn nói rằng ….

LTMK : Câu thơ này cũng lắm rắc rối đó. Sau khi báo văn nghệ BR-VT đăng trong một số báo xuân, sợ bạn buồn, khi đưa vào tập thơ, tôi định sửa chữ “để” thành “trước”, “rồi” hoặc … “và” để thành : “làm thơ và làm nhà” v.v... , rồi hỏi ý kiến nhà thơ Xuân Sách. Chú bảo: “Sửa lại như thế thì mất chất thơ và cũng chẳng có ai có thể khờ khạo tin vào nghĩa đen của câu thơ đó (làm thơ để làm nhà) cả " . Tôi nghe theo để thế và bạn cũng hiểu mình. Chỉ nói thêm: người bạn đó là anh Hồ Ngạc Ngữ là một nhà văn chuyên nghiệp (vì anh không làm gì khác người viết văn) và bây giờ, nhiều kẻ có tiền, có nhà rồi mới “sính” văn chương, bạn tôi thì ngược lại ...

PV: Xin trở lại tập thơ “Thị trấn tôi”. Được biết, tập thơ này in lần đầu là 2 nghìn bản, sau đó tái bản đến 3 nghìn, tổng cộng trước sau 5 nghìn bản in. Do đâu mà anh đã phá kỷ lục về in thơ như vậy?

LTMK: Đây là một câu hỏi quá khó đối với tôi. Tôi biết thơ tôi chẳng xuất sắc gì, nhưng “bán chạy” có lẽ công chúng yêu thơ (một loại độc giả rất khó tính) muốn “đổi món” khi đã thưởng thức hoài những món quá quen thuộc, dù sự thay đổi đó chưa phải “cách mạng” mà chỉ ở mức “cải cách” thôi. Chẳng hạn (cười), dân nhậu trước đây ăn thịt cầy chấm mấm nêm, nay quá ngán, chuyển qua chấm chao mà họ gọi là thịt cầy chấm “thịt Tạm Tạng”, hoặc các đại gia thích ăn gà và đặc sản biển với muối ớt xắt thay vì ăn với muối tiêu chanh như truyền thống. Xin anh bỏ lỗi, vì có thể đã đùa quá đáng. Thực ra, trong 5 nghìn bản thơ đó, nộp lưu chiểu và tặng thân hữu đã hết 500 cuốn rồi. Số còn lại nhờ các thư viện, trường học, cơ quan, xí nghiệp, hiệu sách… nhận giùm. Rồi đồng nghiệp học trò thương “quảng cáo” giùm. Rồi anh em văn nghệ, báo chí ở Trung ương và các địa phương viết tin bài giới thiệu cho … Thức hôm, thức khuya làm thơ đã khổ, phát hành thơ mình cũng nhọc lắm. Nhưng đã lỡ “ký thác” thì lại muốn có thêm “tri âm” thôi …

PV: Đọc trên các báo xuân  vừa qua, tôi thấy gần đây thơ anh “góc cạnh” hơn và đi vào chiều sâu nội tâm hơn, nói cách khác là “thiền” hơn. Chẳng hạn bài “Đi về”:
“Người đi am bặt kệ kinh 
Nhãn lồng chín rụng lặng thinh hương chờ 
Người về Bồ-tát làm thơ 
Khói tòa sen nhập nhòa bờ sắc- không”
Anh nghĩ sao…?

LTMK: Khi người ta đi nhiều, biết nhiều, còn trẻ thì người ta thiên về cái cụ thể, khi lớn tuổi không có điều kiện đi nhiều thì thường thiên về cái khái quát. Dĩ nhiên sự khái quát đó được dựa vào cái cụ thể đã được chiêm nghiệm trước đây. Điều đó diễn ra như một quy luật. Nếu sự khái quát chỉ về mặt tư tưởng thì gọi là tổng kết kinh nghiệm. Nhưng người làm thơ thì thấy khái quát cả hai mặt: tư tưởng (ý) và tình cảm (tình) nên gọi là “đi vào chiều sâu nội tâm” chăng? (cười). Tôi cũng đang rơi vào tình trạng như vậy . Bận bịu quá, không đi đâu được nhiều, gặp nhiều chuyện buồn phiền, không thuận lợi trong cuộc sống, rồi những mất mát, bạn bè lần lượt “từng người… bỏ ta đi” theo qui luật “sanh lão bệnh tử” nên hay suy nghĩ vẩn vơ, hay động lòng vớ vẩn, lại hay nghĩ chuyện nhân tình thế thái… rồi lại lo bao đồng chuyện thiên hạ , nên bức xúc lại thành thơ. Đó là trường hợp của những bài thơ sau này, trong đó có bài “Và em…” mà anh vừa nhắc:

Và em 
Và tôi 
Và thơ
Và dăm li rựơu 
Và chờ đêm qua 

Và Không 
Và Phật 
Và Ma 
Hội nhau trong cõi ta- bà 
Rong chơi 

Và em 
Và tôi
Và ai
Và trăm năm 
Vẫn nhớ hoài ngàn năm 

Và ngàn năm
 Nhớ xa xăm 
Và xa xăm nhớ lầm 
Than kiếp người!...

Và em .
 Và tôi. 
Và ai...

       Còn nói “góc cạnh” thì anh hơi bị … đúng đấy, vì tôi hay viết về góc cạnh đời thường và chắc anh muốn nói tới bài “Trước mồ một nữ liệt sĩ trẻ” đăng trong một số báo xuân vừa rồi. Đề tài này thực ra không khó viết , nếu chỉ ca ngợi tính chất anh hùng của người liệt sĩ. Cái khó và từ đó nảy ra “góc cạnh” là tôi muốn tái hiện mặt “đời thường” của người anh hùng. Tức là tôi nhìn người anh hùng không phải bằng đôi mắt của nhà chính trị - cái đó thì bây giờ chưa cần đến thơ – mà nhìn người anh hùng bằng cặp mắt người nghệ sĩ – nghê sĩ theo trường phái “thơ đời thường”. Bằng cặp mắt đó mà nhìn, thì cảm hiểu được cái lo, sự nghĩ, niềm vui, nỗi buồn và sự hy sinh một cách “vô tư” của người liệt sĩ. Hóa ra,  ca ngợi mặt đời thường (cũng đáng trân trọng) của người liệt sĩ thì càng tôn vẻ đẹp nhân cách của họ hơn. Vấn đề “góc cạnh” này, theo tôi nghĩ, điều quan trọng để công chúng, kể cả công chúng chính trị, chấp nhận là thái độ của tác giả: chân thành, nhân bản và có trách nhiệm. Tiện đây, kể cho anh biết chuyện này: Khi bài thơ được đăng báo, nhiều người không khen tôi mà khen ông Tổng Biên Tập “can đảm, dám đăng”… Ông Tổng biên tập trả lời: “Bài thơ đó có nhân bản không? – Có. Có phản động không? – Không. Có phải là thơ không? – Phải. Thế thì có gì mà không dám đăng! Chẳng qua là chúng ta cứ suy nghĩ theo lối cũ:  Viết về người anh hùng thì phải cứ thế này, không được thế khác”.

PV: Nghe anh nói thế, tôi muốn được nghe bài thơ…

LTMK: Trước mồ một nữ liệt sĩ trẻ 

Người con gái ấy tuổi mới mười lăm 
Có những chiều ngẩn ngơ 
Về mây 
Về gió 
Có những đêm chập chờn 
Lá 
Hoa 
Cây 
Cỏ 
Để bây giờ tan biến với hư vô

Để bây giờ tôi đến với hư vô 
Mong gặp em 
Đóa hoa vàng trên mộ 
Mong gặp em 
Đám mây chiều cơ nhỡ 
Ngọn gió lặng tăm nói giọng xuân thì 

Giá bây giờ đời vẫn còn em 
Sẽ còn có một bà tóc bạc 
Chiều ngồi nhớ những người còn, người mất 
Rồi trăn trở, lo toan 
Bên bi kịch cuộc đời…

Bi kịch cuộc đời dài theo tháng năm 
Còn em ngắn ngủi 
Hoa trái vẫn sinh sôi bên bờ cỏ dại 
Mây vẫn trôi…

Mà cái vĩnh hằng chỉ đến với em thôi

PV: Xin tò mò hỏi anh một câu riêng tư: tôi đọc thấy anh có nhiều bài thơ tình dữ dội, anh không sợ chị ghen sao? 

LTMK: Có nhiều chuyện để kể đây. Trong một buổi tọa đàm về thơ, tôi đọc một bài thơ tình, một bạn thơ gọi là “thơ cháy nhà”. Tôi mới đâm lo. Thơ đăng báo xong, cứ lén lén, lút lút. Con gái tôi lại đem khoe với mẹ nó! Rất may là tôi có một cô vợ tuyệt vời, cô ấy cũng hiểu tình nghệ sĩ của tôi (cười). “Ai cũng có những phút giây ngoài chồng ngoài vợ – Đừng trách chi những phút xao lòng…”


READ MORE - CHÙM THƠ ĐỜI THƯỜNG CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA - Vũ Hùng giới thiệu