Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, January 18, 2012

ĐẦU XUÂN ĐI SĂN - Nguyễn Hồng Trân

                   
         (Trích Hồi ký “Dòng đời tôi”, tập 2 “Trở về quê nội – Phú Long, Hải Lăng, Quảng Trị)
         
           
 Có một điều rất ấn tượng trong tuổi thơ của tôi ở quê nội là những cuộc đi săn thú rừng sau mấy ngày Tết. Già trẻ trai gái vui vẻ lên đường vào rừng. Một đàn chó săn chạy thoăn thoắt phía trước, phía sau vẫy đuôi lia lịa tỏ vẻ vui mừng lên đường đi “chiến dịch” săn bắt thú trong vùng sâu.

Những người có kinh nghiệm đi săn thì lo việc dự đoán vùng đồi núi có thú rừng thường ẩn núp rồi chọn địa điểm và làm nhiệm vụ chăng lưới. Một số khác được chia thành từng tốp có người chỉ huy để bao vây xua đuổi thú rừng chạy về phía lưới. Tôi còn nhớ trong những buổi đi săn hồi đó thường có các ông: Nguyễn Bá Kiện, Nguyễn Phúc, Nguyễn Nại, Trương Nậu, Trương Sơn, Trịnh Cẩu, Phạm Vãn, Nguyễn Lượng, v.v…

Khi dàn trận xong xuôi, người chủ cuộc săn la lên mấy tiếng: “ Nổi phèng vào cuộc săn!”. Thế là tiếng la hét “húi lô”! ,“húi lô”! tiếng sạt sạt đập bụi bờ, tiếng phèng la phèng phèng, tiếng mõ cốc cốc, tiếng trống tùng tùng, cứ đánh dồn dập làm náo động cả khu rừng cây. Đoàn người săn cứ bao vây và khép dần về phía mục tiêu giăng lưới. Ở hai đầu và giữa đoạn lưới có 3 người ngồi im lặng, chờ sẵn và quan sát.

Khi con heo rừng hay con mang, con nai bị sập lưới thì có hiệu lệnh ngừng tiếng đuổi bằng một hồi phèng la vang lên và mọi người tập trung lại chỗ lưới đã sập bắt được thú rừng. Nếu gặp thú rừng to lớn vùng vẩy mạnh thì phải có một hai người có tay đâm mác chính xác để kết liễu con thú hung hăng dẫy dụa. Sau khi mở lưới, kéo con thú ra khỏi lưới, buộc các chân lại. Một vài người có nhiệm vụ cuốn lưới. Tất cả chờ hiệu lệnh kết thúc một cuộc săn bằng một hồi kèn tù và (bằng sừng trâu) và phèng la vang lên tưng bừng với khí thế thắng lợi cuộc đi săn.

Thú rừng săn được mang về lấy đầu cúng cho các vị thần linh của núi rừng, có trích một phần cho các chủ lưới còn lại thì chia đều cho mọi người có mặt trong cuộc săn. Mỗi người được hưởng một tý lộc rừng đầu xuân cho vui, kể cả những con chó săn cũng được thưởng thức.

Ôi! những âm thanh, cảnh vật và hương vị núi rừng trong những ngày đầu xuân năm mới thật là tươi vui, ấn tượng! Những kỷ niệm chứa chất hồn quê sao mà mãi mãi đậm đà thân thương đến thế!

Quê tôi thích thú đi săn,
Trẻ già trai gái đều hăng vào rừng.
Phèng la, trống mõ vang lừng,               
Đàn chó chạy sủa tưng bừng rộn vang.
Toán người thét đuổi nhịp nhàng,
Tiến về một hướng sẵn sàng bao vây.
Lưới giăng ẩn khuất rừng cây,          
Con thú khiếp chạy đến đây sập liền.
Nó vùng, nó đạp như điên,
Chỉ trong chốc lát nằm yên “chầu trời”.
Cả đoàn xúm lại vui tươi.
Cuộc săn thắng lợi mọi người hân hoan.

Nguyễn Hồng Trân
nghongtran38@gmail.com
READ MORE - ĐẦU XUÂN ĐI SĂN - Nguyễn Hồng Trân

Tuesday, January 17, 2012

Trương Nguyễn - THI NHÂN VỚI MÙA XUÂN



Mùa Xuân đến với con người, thông thường mà nói đó là quy luật của thời gian. Nhưng đối với thi nhân thường gợi lên những ý tưởng mới lạ, chờ mong- ước mơ một hạnh phúc tươi sáng tốt đẹp sau những ngày tháng miệt mài khó nhọc.

Khi ta nhìn ngắm mấy chiếc lá vàng tàn úa sau mùa đông dài lạnh lẽo, để khai sinh nẩy mầm cho các chồi non, lộc mới tạo nên hương Xuân mượt mà hòa cùng với đất trời, với nhân loại, và cái thế gian đầy dẫy khổ đau thành một mùa Xuân vĩnh cửu, hạnh phúc mãi mãi, không còn thù hận chia ly, không còn tang tóc đau thương nữa.

Mỗi sớm mai thức dậy ngọn gió Xuân dịu mát nhè nhẹ lung lay những giọt sương còn đọng lại trên cành lá, cây mai đầy ắp nụ, chiếc lá non mỏng manh xanh mướt, không khí trong lành, đôi bướm nhởn nhơ lượn bay trên những đài hoa mới nở. Đức vua Trần Nhân Tông không thốt nên lời trước một cảnh Xuân huy hoàng mở ra trước mắt, người đã viết lên đoản khúc Xuân bằng phong thái lạc quan yêu đời.
“Ngủ dậy mở cửa sổ
A ! Xuân về rồi đây
Kìa một đôi bướm trắng
Nhằm hoa phơi phới bay”
(Trần Nhân Tông)

Thi sĩ Tản Đà nhìn mùa Xuân như một hiện tượng đẹp của đất trời giữa một thế gian mù sương khói ám, mọi người bị cuốn vào cơn lốc xoáy bụi bặm của quyền lực, danh vọng, bạc tiền mà quên đi những khoảnh khắc xuân tươi sáng rạng ngời. Mùa Xuân gợi lên cho ông một mơ ước, cái cảm xúc tuyệt vời ấy, mong xuân cứ vĩnh hằng diễm tuyệt.
“Mùa Xuân còn mãi không thôi
Tuổi xanh đâu dễ xanh rồi lại xanh”
(Tản Đà)

Đúng vậy tuổi thanh xuân cho mỗi đời người chỉ có một lần thôi, bởi vậy thi sĩ Trúc Diệp có chung cái nhìn của thi sĩ Tản Đà là:
“Bốn bề nam bắc tây đông
Đố ai tắm được khúc sông hai lần”
(Trúc Diệp)

Với thi nhân mùa Xuân không phải là mùa Xuân bình thường nữa. Các thi sĩ đã cách điệu thành mùa Xuân của đời người và mong ước tuổi thanh xuân ấy sẽ “Thiên trường địa cửu”.

Riêng nhà thơ Xuân Diệu có cái nhìn tinh tế hơn, thấy được cuộc sống là một dòng chảy thiên thu bất tận, không có gì ở nguyên vị trí, mà tất cả mọi sự kiện trên đời là một trường biến dịch, luôn luôn thay đổi, cái giây phút bây giờ thì ngày sau không gặp lại. Xuân đến với ông như một khoảnh khắc nhất thời. Bằng suy tư ấy ông lại viết lên.
“Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết thì đời ta cũng mất”
(Xuân Diệu)

Viết như vậy ông đã thấy cuộc trăm năm cũng chỉ là khoảnh khắc, dù chỉ là khoảnh khắc nhưng đầy hương vị ngọt ngào, cay đắng đi suốt tiến trình thơ ông.

Còn Chế Lan Viên có cái nhìn về Xuân khác lạ, một cái nhìn nhân bản. Thật là ngốc nghếch khi ta nói lên những điều không thể và lại càng không thể.

Khi xuân vẫn hiền hòa nhẹ nhàng gần gũi, thì biết bao nhiêu thân phận đắng cay nghiệt ngã của kiếp người, đang ngóp ngoi chạy vạy, tìm cho bản thân và gia đình một cái Xuân tạm bợ, như là niềm trắc ẩn.
“Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Đem chi xuân đến gợi thêm sầu
Với tôi tất cả điều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”
(Chế Lan Viên)

Với mùa Xuân thì điềm lành hay điềm dữ vẫn là một ẩn ngữ giữa cuộc đời bao la vô tận. Nhưng nếu chúng ta biết suy tư, chiêm nghiệm, nhìn thẳng, để nhận diện tiếp xúc với thực tại sống và khám phá ra rằng: Xuân có đến thì Xuân sẽ ra đi. Nhưng đằng sau những cánh hoa tàn lụi kia một sức sống đang hiện hữu, đang trổi dậy, đầy đủ uy lực để tạo ra một mùa Xuân miên viễn.
“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”
(Thiền sư Mãn Giác)
“ Chớ Bảo Xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai”
(Ngô Tất Tố dịch)
Một cánh hoa hiện hữu đêm qua ấy là một cành mai “Vô tướng” nằm ngoài cái định luật thịnh- suy, mất- còn, bởi vậy ông Ngô Tất Tố cảm nhận được sự thâm diệu sâu xa, câu thơ của ngài Mãn Giác, chuyển hóa cái bi thiết thế gian đến cái phạm trù trác tuyệt của thơ ca.

Dù xuân đến hay đi đó là quy luật tự nhiên, nhưng con người vẫn sống, vẫn phấn đấu để hướng thiện, hướng thượng, lấy tình yêu làm lẽ sống để cứu chuộc thân phận hiện hữu của mình..

Trương Nguyễn 
truongnguyen49@yahoo.com.vn
READ MORE - Trương Nguyễn - THI NHÂN VỚI MÙA XUÂN

LỤC BÁT MÙA XUÂN – Hoàng Văn Chẩm


                         



 CHÚT XUÂN EM NGÀY CŨ

                              
                             Mùa xuân bén gót hồng xưa

                             Xa từ độ ấy em chưa kịp buồn

                             Ngày đơm bông trái cội nguồn

                             Ta thương tiếng hát giữ hồn mong thương



                             Góc trời em níu mù sương

                             Nhớ hoài một bước cuối đường tìm nhau

                             Lặng thầm cắt xén nỗi đau

                             Tri âm vời vợi theo màu áo xưa



                              Mùa xuân nghiêng tay đẩy đưa

                              Cho em lời gió về thưa gửi tình

                              Hoa cười giọt nắng lung linh

                              Người về chợt nhớ cho mình gọi tên.

                                                                
                            Ngày đầu năm 01-01-2012




 BÀI THƠ XUÂN CHO EM


                            Mùa xuân đếm giọt buồn rơi
                            Ngày giao mùa- gọi tôi ơi kiếp nào!
                            Vườn xưa em hái chiêm bao
                            Chia đôi giấc ngủ có thao thức chờ.
                            Chút mang nặng với dòng thơ
                            Như cùng nghĩa tận đôi bờ gọi tên.....

                                                                              12-01-2012

                                            
CÒN CÓ MỘT NGÀY XUÂN
              

                         Còn em còn một mùa xuân
                         Giữ thơm lời hát trong ngần ngày xưa
                         Đàn vang một nhịp đung đưa
                        Theo vai áo lụa nắng mưa gửi lòng.

                        Còn em còn mãi thương mong
                        Thuở ban sơ gọi về trong muộn màng
                        Xuân mơ nhịp bước sang ngang
                        Lạc nhau từ ấy ta mang nỗi buồn

                        Tìm nhau về một ngọn nguồn
                        Nghiêng tay hái nụ tầm xuân cho người
                        Mênh mông khuất lấp tiếng cười
                        Còn em xuân chín một lời yêu thương.

                                              Hai mươi tháng chạp-những ngày giáp tết
hoangvancham@yahoo.com
READ MORE - LỤC BÁT MÙA XUÂN – Hoàng Văn Chẩm

Monday, January 16, 2012

Lê Đăng Mành - NHẮN TIỂN TÁO QUÂN


NHẮN TIỄN TÁO QUÂN!


Ngày tháng ông,tôi choàng mịt mù
Bần nông nội trợ Ông Đông Trù *
Năm thì lễ lạt dâng hoa quả
Mười họa rằm"không"nhang thắp trừ
Hạ giới đây nghèo nhìn cũng thấu
Cao xanh giáng phúc tâu cho nhờ!
Đừng vì đút lót quên tình nghĩa
Gần gũi rạ rơm chớ ngậm... ừ./
                     
23 tháng chạp

*Hi
ệu của táo quân: Đông trù tư mệnh Táo phủ Thần quân.

 

XUÂN CHÚC!

Xuân sắp gõ cửa muôn nhà
Lăng nghe mầm sống chan hòa sinh sôi
Yêu thương lắm cuộc đời ơi !
Ngắt hư không một nụ tươi tặng người ./
                            


TRANH THƯ PHÁP

TRANH THƯ PHÁP
READ MORE - Lê Đăng Mành - NHẮN TIỂN TÁO QUÂN

Trương Nguyễn - ĐI CHỢ TẾT


Sáng nay đi chợ tết
Đôi bàn tay rỗng không
Ngắm hàng hoa thỏa thích
Ghi một chút trong lòng

Đi qua hàng bánh mứt
Khoai-dừa-gừng-bí đao
Tiếng chào mời không dứt
Lấp lánh đủ sắc màu

Bên kia quày quần áo
Người từng lớp lao xao
Ngửi thơm mùi vải mới
Tay chẳng dám sờ vào

Thương con quần áo rách
Thơ chẳng bán được đâu
Vợ ngược xuôi quần quật
Công nợ ngập quá đầu

Thôi đành thôi cứ vậy
Nghèo khó mà thương yêu
Năm sau Xuân có đến
Ta đi mua sắm nhiều .


TRƯƠNG NGUYỄN
truongnguyen49@yahoo.com.vn
READ MORE - Trương Nguyễn - ĐI CHỢ TẾT

Sunday, January 15, 2012

Đình Thu - CỬA VIỆT EM VÀ TÔI



                                               Viết cho một thời đi học
                                                         
Cửa Việt ơi! Cửa Việt
Bao năm trời đi xa
Đêm giật mình thức giấc
Nghe con sóng vỡ oà

Cửa Việt sóng và gió
Nửa đời ta mang theo
Lật úp ngàn nỗi nhớ
Em hồn nhiên trong veo

Cửa Việt cát và nắng
Chiều chênh vênh hàng dương
Đêm nồm lên mát rượi
Thổi nghiêng miền nhớ thương

Cửa Việt sáng và chiều
Cõi riêng em và tôi
Ngoảnh lại miền kí ức
Khúc dạo đầu êm trôi

Cửa Việt ngày và đêm
Biển rì ầm vỗ sóng
Thương mùa sang biển động
Lạc nhau một kiếp người

Cửa Việt em và tôi
Cùng mối tình thơ dại
Nửa đời chưa chạm phải
Vết thương lòng cưu mang  




Đình Thu
  dinhthubank@yahoo.com.vn                                                  

READ MORE - Đình Thu - CỬA VIỆT EM VÀ TÔI

Cao Hoàng Vũ - CHỮ "ĐẠO" TRONG THƠ TRƯƠNG NGUYỄN



Tôi đã đọc hết bốn mươi lăm bài thơ với biết bao nỗi niềm anh gửi gắm trong tập “Trầm ngâm thế kỷ” của anh.

Xin tri ân tấm chân tình và niềm mặn nồng đối với thi ca đối với thi hữu của anh dành cho quý độc giả (trong đó có tôi), khi mà, giữa những ngày bao người đều tất bật, lo toan với bộn bề của cuộc sống, lo toan cho những tính toán của riêng mình để đón xuân Kỷ Sửu, thì anh lại dành cho tôi một món quà hết sức bất ngờ và cảm động: Tập thơ “Trầm ngâm thế kỷ”, để dành tặng trong những ngày đầu năm mới.



Tôi được đọc ba tập thơ của anh: Tập Ngọn cỏ thiên đường; Lửa đêm và Trầm ngâm thế kỷ (Riêng tập Mảnh đời riêng tôi chưa được tiếp cận). Qua mỗi tập thơ, mỗi bài thơ, tôi cảm nhận trong anh luôn man mác tình quê của người con Quảng Trị xa xứ, luôn thấm đượm nỗi trăn trở, suy tư, hoài vọng về con người, cuộc đời, hạnh phúc, khổ đau và sâu thẳm hơn nữa là sự vô vi, vô thường của đạo pháp, đạo làm người.


Những trăn trở, suy tư cho những số phận, những kiếp người có thể độc giả đă dành nhiều bài viết để cùng anh cảm nhận và chia sẻ…Với tư cách là một người mến mộ thơ anh, tôi xin phép được cùng anh nói về chữ ĐẠO trong tập Trầm ngâm thế kỷ này.

Đọc tập thơ của anh, đă để lại trong tôi bao nỗi niềm, những hoài niệm xa xưa; Con người, cuộc đời phút chốc qua mau  như chiếc lá rơi, vó ngựa qua song cửa…tất cả rồi sẽ đi qua. Đọc thơ anh tôi nghe mặn đắng số phận những kiếp người; nghe sắt se từng cơn gió đêm thổi vào hồn những thân phận đang măi trong “cuộc vật vă nhân sinh”, trầm ngâm, tưởng tiếc!


Trong tập thơ này, Anh không dùng những chữ “Từ bi”, “Nhân ái”, “Nhiệm mầu”, “Vô vi”, “Vô thường”, “Vô thỉ”, “Tâm không”…để nói về triết lý nhân sinh quan của đạo pháp, mà bằng những cảm nhận rất đời thường đang hiện hữu hàng ngày trong cuộc sông của mỗi chúng ta với những câu từ không cần gọt dũa, trau chuốt để nói lên triết lý cao siêu đó.


 Nếu trong tập Lửa đêm anh dùng hình ảnh:
            “Trăng và nước giao duyên từ vô thỉ
               Đừng xẻ ḍòng sóng dội mảnh trăng tan.
               Hăy giữ lấy làn nước êm dòng nước
               Và thảnh thơi như gió núi mây ngàn”.
               (Trăng và nước)

Hay:
               “Ta chạy theo ngày đuổi theo đêm”
               để cuối cùng chợt nhận ra
               “Thương nhân sinh lưu chuyển kiếp vô thường”.
               (Đi tìm nàng thơ)

Cho đến
               “ Đêm ba mươi hoa nở cánh nhiệm mầu”…;
               “ Bóng mẹ cha từ bi”…;
               “Em vẫn tự gieo trồng, trên mảnh ruộng đầy nhân ái”…;
               
             “Nụ cười thoáng chút vô vi,
                 Như đùa- như thật- Nửa bi- nửa hài”…;
               
               “ Hai tay buông lỏng sự đời,
               Tâm không nhẹ bước xa rời buồn vui”…

Thì đến tập Trầm ngâm thế kỷ, tôi có cảm nhận rằng cũng với bao thân phận như vậy, những kiếp người trong chốn nhân sinh này, anh tiếp tục có sự hoá thân để cảm thông, chia sẻ và đau đáu niềm đau của một người “lạc bước giữa chốn nhân gian”. Những cảm xúc đó, hình như đă bị “dồn nén đến tận cùng” thì nay lại bỗng “rùng mình thoát xác” để những tứ thơ vượt ra ngoài ý niệm của con người “vượt lên thời gian và không gian mà thường tại”. 

Có lẽ trong thế giới nội tâm, anh đă cảm nhận mọi sự thất bại hay thành công trên thế gian đều bắt nguồn từ chữ TÂM. Bởi tâm là gốc của sanh và tử, là cội nguồn của mọi hạnh phúc và bất hạnh. Bởi hết thảy những danh vọng, tiền tài mà con người theo đuổi suốt đời (theo anh cảm nhận) là hư giả, bèo bọt; như giọt sương mai, như hoa tàn héo rơi văi trên mặt đất, như gió lạnh ban đêm. Có lẽ anh đă cảm nhận được cái tinh túy ấy trong ý thơ của vua Trần Nhân Tông:
                “Thị phi niệm trục tiêu hoa lạc
                 Danh lợi tâm tuỳ dạ vũ hàn
                 Hoa tàn vũ tinh sơn tịch mịch
                 Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn”
(ý nghĩ chạy theo thị phi như hoa rơi ban sớm/ Tâm chạy theo danh lợi như theo mưa đêm lạnh/ Hoa rụng hết, mưa tạnh, còn lại cảnh núi non vắng lặng/ một tiếng chim kêu, xuân lại tàn).

Nếu vậy, xem ra sống giữa vòng danh lợi, hào nhoáng mà Tâm vẫn an trú trong tự tại là điều đáng khâm phục rồi?.

Chính vì vậy mà những phận người
                “Vô tư như gió,
                 hiền hoà như đất,
                 giận hờn như lửa,
                 và đục trong như nước”
tiếp tục được anh hoá thân một cách sống động ở tập thơ này.

Này nhé:
                 “Thắp lên một ngọn lửa
                   Bóng đêm sẽ tan dần
                  Ta đi vào núi thẳm
                  Sau lưng đời phù vân”
                  (Bài thơ thứ Hai).
Hay
               “Áp vào ngực cha khét nắng,
                Vai mẹ chai sần nhiều buổi chợ xa
                Xô đẩy va đập
                Mặt chạm đất
                Lưng hiến cho trời
                Mong mây tích tụ vĩnh hằng
                 Ấm ngày lăn lóc
                Vật vã luân hồi hành khất đó đây”
                 (Bài thơ thứ 9)
vẫn cảm thấy gần gũi, sẻ chia, hoá mình vào kiếp người một cách sâu đậm và thực tế hơn so với:
                “Trong đêm tối mênh mông
                 Tôi xin làm ngọn lửa
                 Thắp lên điều tan vỡ
                 Những khát khao yêu thương”
                 (Lửa đêm)
Hay:
                “Chiếc lưng trần của cha
                 Cõng đời con không mỏi
                 Vầng trăng tròn đêm tối
                  Mẹ soi đường con đi
                  Bóng mẹ cha từ bi
                  Đỗ dài theo năm tháng”
              (Ơn nghĩa)

Một vài minh hoạ có thể thấy “Người hành khất lăng tử” kia đă “lớn lên” rất nhiều, đă không còn vội vă, đă không còn cảm nhận hiện thực mà đă thấu hiểu đến những khía cạnh của bản chất con người, sự đời để hồn thơ không còn thở than, chơi vơi, đau đáu về một kiếp trầm luân mà tâm hồn như tĩnh lặng để trầm ngâm suy nghĩ và cảm nhận.

Cái hay của anh chính là ở chỗ không dùng “thuật ngữ” của đạo pháp mà dùng hình ảnh gần gũi nhất trong mỗi cuộc sống của mỗi kiếp người (mặc dù sự gần gũi có lúc đến trần trụi) để mỗi kiếp người vật vă chốn nhân sinh này nương theo và tìm nơi đó sự an ủi, niềm tin và vượt lên số phận để tiếp tục sống có ích. Đó phải chăng là mục đích cuối cùng của mọi đạo giáo?

  Có lẽ vì va chạm khá nhiều vào nỗi niềm nhân thế, “cuộc sống quắt quay hư ảo loạn cuồng” mà làm cho “văn chương rêu mốc”. Những điều đó đă phần nào làm cho những câu thơ anh hơi thiếu chất mượt mà, thiếu những thanh âm trầm bỗng, những ngôn từ được trau chuốt một cách văn chương. Có lẽ chính điều này, mà một số độc giả vốn quen với những dùng văn chương bay bổng, lăng mạn, thiên về niêm luật chưa chia sẻ nhiều với thơ anh? Nhưng dù sao đi nữa, không phải điều này mà làm ảnh hưởng lớn đến phong cách sáng tác của anh.

Xin cầu chúc cho anh tiếp tục dồi dào sinh lực để cống hiến cho thi hữu những vần thơ đời luôn thấm đượm hồn người.

                                                                             Xuân Kỷ sửu- 2009                                                               
                                                                            Cao Hoàng Vũ

READ MORE - Cao Hoàng Vũ - CHỮ "ĐẠO" TRONG THƠ TRƯƠNG NGUYỄN

Friday, January 13, 2012

VẮN HỌC DÂN GIAN QUẢNG TRỊ

Nguồn: Am Thụy Ứng


Quảng Trị là một vùng đất giàu có vốn văn hoá phi vật thể, trong đó văn học dân gian có vị trí hết sức đặc biệt. Văn học dân gian Quảng Trị là sản phẩm chứng tỏ sức sống mãnh liệt của dòng văn học truyền khẩu. Xét giá trị nội dung và nghệ thuật, văn học dân gian Quảng Trị có những nét riêng, đóng góp cho văn học dân gian Việt Nam thêm phần phong phú. Văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại (huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện cười, tuồng hài…) song phong phú,đa dạng và giàu màu sắc địa phương và có thể phân thành 4 mảng chính là ca dao-dân ca, Tục ngữ-câu đố, Truyền thuyết-cổ tích-truyện trạng, hò vè



CA DAO - DÂN CA 

Nói đến dân ca là nói đến phương thức diễn xướng (bao gồm cả hình thức diễn xướng và môi trường diễn xướng) và các làn điệu. Dân ca lấy khung cảnh làng quê, đồng ruộng, mái đình, giếng nước, cây đa… làm môi trường diễn xướng. Ca hát gắn với con người từ khi lọt lòng đến khi nhắm mắt xuôi tay. Ca hát gắn với lao động, với sinh hoạt giải trí vui chơi, với sinh hoạt gia đình, sinh hoạt thôn xóm… Nhưng tuỳ nơi tuỳ lúc, tuỳ đối tượng sử dụng và thưởng thức mà lúc nó được hát bằng hình thức tập thể, lúc thì chỉ một cá nhân biểu diễn.

Ca dao- dân ca của bất cứ miền nào trước hết cũng là tiếng ca của nghĩa tình, tiếng nói của yêu thương. Trong sinh hoạt gia đình, làng xã, lúc làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi, khi tiếng nói của con tim đã đã ở cung bậc cao nhất, người lao dộng dùng lời ca để bày tỏ tâm tình trước cảnh vật, trước những biến diễn của cuộc đời và trao đổi tâm tình với nhau. Tính trữ tình, bởi vậy thấm đượm trong nội dung lẫn âm điệu của các khúc hát dân gian. Một chút buồn thoáng qua của con người trước cảnh vật:
Chim kêu ghềnh đá gẫm thân thêm buồn
Một tình cảm thành kính dâng lên cha mẹ:
Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi
Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già
Việc tìm kế sinh nhai nhưng người Quảng Trị luôn nhớ về quá khứ, nào công cha, nghĩa mẹ vô bờ bến, tình nghĩa vợ chồng keo sơn, gán bó dù sông cạn đá mòn:
Mẹ thương con qua cầu Ái Tử
Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu
Một mai bóng xế trăng lu
Con ve kêu mùa hạ biết mấy  thu gặp chàng

Tất cả những biểu hiện khác nhau của mối quan hệ giữa con người với con người, tất cả những cung bậc phong phú, đa dạng, tinh tế của tình cảm con người, ca dao – dân ca đã “thấu đến chân tơ kẻ tóc” (chữ dùng của Xuân Diệu) và đã nói bằng một tiếng nói đằm thắm, sâu lắng, thiết tha. Tình cảm ấy mở rộng ra, nâng lên thành tình cảm đối với quê hương đất nước, thành tình cảm giai cấp, nghĩa đồng bào, và sau này trong thời đại mới là nghĩa quân dân, tình dân đối với Cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ và tình nam Bắc ruột thịt. Những biểu hiện khác nhau ấy của tình riêng, nghĩa chung trong ca dao – dân ca miền nào cũng có. Vấn đề đặt ra là cần tìm ra những sắc thái riêng. “Những óng ánh riêng” trong cách biểu đạt tình cảm của ca dao dân ca mỗi miền.

Tiếp xúc với ca dao – dân ca Bình Trị Thiên, ta thấy có nhiều cách biểu đạt khác nhau về những khía cạnh tinh tế, phức tạp của tình cảm con người. Có bài ca dao hết sức mộc mạc, mộc mạc như là lời ăn tiếng nói hàng ngày, diễn đạt một tiếng long cũng hết sức giản dị, chân thực:
Đôi ta thương chắc mần ri
Bọ mẹ mần rứa, eng thì mần răng?
Có trường hợp là một tiếng nói mạnh mẽ, quyết liệt đấu tranh cho một nguyện vọng, một ước mơ một sự trọn vẹn của nghĩa tình.
Thiếp thương chàng gươm vàng không sợ
Súng bắn chin, mười lần duyên nợ không buông.
Chẳng thà chịu tiếng cho luôn
Gươm trường kề cổ không buông nghĩa chàng.

Song nhìn chung tiếng trong ca dao-dân ca Bình Trị Thiên, dù mỗi vùng sắc thái có khác nhau vẫn là tiếng nói đằm thắm giàu ân nghĩa chứ không thiên về rắn rỏi, mạnh mẽ, quyết liệt hoặc quá mộc mạc, trần tục…Cách diễn đạt lại thường nhẹ nhàng, bóng bẩy, có sự trau chuốt, gia công tỷ mỉ trong việc dùng chữ, đặt câu (sắc thái này thể hiện rất rõ trong ca dao dân ca vùng Huế -Thừa Thiên) 

Kháng chiến chống ngoại xâm là một nội dung khá quan trọng. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ca dao dân ca Quảng Trị vẫn không ngừng phát triển để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Cuộc kháng chiến chống Pháp đã vẽ nên những trang sử oai hùng của dân tộc, cho Quảng Trị mà các địa danh Triệu Sơn, Ba Lòng, Như Lệ là những nơi tiêu biểu cho phong trào kháng Pháp. Những nơi khác cũng đã từng in dấu chiến tranh tàn phá như dãy Trường Sơn, sông Thạch Hãn, Bích La Đông, An Hoà, Đại  Hào, Phương Ngạn:
Ai về Bích La Đông khỏi lòng đau xót ruột
Ai về An Hoà khỏi hậm hực thù Tây
Mồ mả cha ông hắn cho xe xới, xe cày
Bao nhiêu oan hồn nước mắt nghĩ lại trăm đắng nghìn cay căm thù.

Cần ghi nhận là dân ca cũng theo thời sự mà chuyển biến, phát triển.
Chiến đấu để thống nhất, để được sống tự do, độc lập trên quê hương là niềm tin mãnh liệt của người dân Quảng Trị thể hiện rõ từ thời kháng chiến chống Pháp đến thời chống Mỹ. Ca dao dân ca Quảng Trị đã phản ánh một cách sinh động ý chí và  tâm tình thiết tha ấy.

Như vậy, sự thêm bớt chữ trong các câu ca dao Quảng Trị là không có quy tắc mà hoàn toàn tuỳ theo cảm hứng của người hò, sao cho tròn ý nghĩa là được. Sự hợp vần trong các  dao thường thay đổi, hết gieo vần lưng lại gieo vần chân, như quy luật hợp vần của thể lục bát và song thất lục bát, nhưng một số ít câu ca dao của Quảng Trị lại có lối gieo ở vần chân.

Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao Quảng Trị cũng khá phong phú. Ta sẽ gặp ở đây những loại từ đối nghĩa, đối ý trong dân ca đối đáp:
- Bánh cả mâm răng gọi là bánh ít
Trầu cả chợ răng nói trầu không
Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi
- Chuối không qua Tây răng gọi là chuối sứ ?
Cây không biết chữ răng gọi là thông ?
Nam nhơn đà đối đặng quyết làm chồng nữ nhi
Trong lời hò đối đáp, lối ứng xử thật thông minh:
Ngồi buồn nói chuyện trên non
Một trăm thứ cá có con không thằng
Khi chọc ghẹo nhau vẫn giữ lối văn nhã:
Em mở khuôn ra cho anh đúc lấy lượng vàng
Hoạ may may hoạ thiếp với chàng dùng chung
- Anh về thưa với hai họ rõ ràng
Mời thân nhân lại, em mở khuôn vàng cho coi

Quảng Trị là vùng đất thành lập sau khi nước ta đã định hình hàng nghìn năm trước. Văn học dân gian vùng này là sản phẩm của những con người có gốc từ Thanh Nghệ truyền vào. Qua cuộc sống chung với dân bản địa ở vùng đất mới, dần dần con người  ở đây mới tạo được một phong cách riêng. Sự giao lưu văn hoá thế tất phải xảy ra. Ca dao là thể loại để lại những dấu vết rõ rệt trong ngôn ngữ văn học



TỤC NGỮ - CÂU ĐỐ 

Tục ngữ và câu đố là hai thể loại suy lý phổ biến ở Quảng Trị . Cũng như ở các nơi khác, tục ngữ Quảng Trị được phân làm hai tiểu loại: Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết và sản xuất. Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về đời sống xã hội.  Đây là phần quan trọng nhất là mọi người cần quan tâm khi viết về đề tài ca dao- tục ngữ

Nhìn chung, kinh nghiệm của nhân dân ở đau cũng tương tự như nhau. Ở Quảng Trị có những câu tục ngữ phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết như sau: Chớp ngã Cồn Tiên; Mưa liền một trộ; hoặc : Sấm Đầu mâu không cầu cũng đến.

Lại có những câu đề cập đến sản vật đặc biệt của từng địa phương. Chính qua những câu tục ngữ này, chúng ta lại càng hiểu sâu sắc hơn văn hoá vật chất của vùng đất Quảng Trị:
-Nem chợ Sãi, vải La Vang
-Khoai quán Ngang, dầu tràm Đại Nại
-Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ
- Khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông
-Cá bống Bích La, gà Trại Lộc...

Kinh nghiệm về đời sống xã hội có những câu thật xác đáng và thực tế:
-Chạy lóc xóc không bằng góc vườn
-Nhiều nghề cá trê húp nác(nước)

Người miền núi cũng bày tỏ kinh nghiệm của họ:
- Đừng mau phai như hoa Toang-a-rát
- Đừng chóng bạc như vôi
- Xách bầu phải xem quai
- Địu con phải xem vải buộc
- Làm cỏ phải xem cán nắm

Về hình thức nghệ thuật, các câu tục ngữ ở Quảng Trị thường hợp vần theo lối yêu vận chứ không theo lối cước vận.

Câu đố Quảng Trị có thể phân thành những tiểu loại:
-Về những bộ phận cơ thể của con người
-Về những hoạt động của con người
-Về các con vật
-Về các loại cây trái
-Về các sự vật hiện tượng khác.

Qua những câu đố ấy, ta thấy được sự tinh vi trong những nhận xét về sự vật, con vật sống cạnh người, như đố về con gà trống:
Đầu rồng, đuôi phụng cánh tiên
Ngày năm bảy mụ tối ngủ riêng một mình.
Hoặc con chó :
Khen ai nho nhỏ
Mắt tỏ như gương
Tối trời như mực
Biết người thương ra chào

Có nhiều khi sự liên tưởng vô cùng sâu sắc. Đố về cau, trầu, vôi có câu:
Hai cây cao đã nên cao
Một người dưới rào xa đã nên xa
Ba người họp lại một nhà
Kết duyên phu phụ duyên đà mặn duyên

Có thể nói sự thông minh dí dỏm, óc nhận xét tinh vi của người Quảng Trị đều được thể hiện trong câu đố:
Da non mà bọc lấy xương
Lửa cháy trên đầu chúa chẳng thương
Đêm năm canh tiêu hao mình thiếp
Nghĩ đến đoạn trường nước mắt nhỏ sa
( Cây đèn sáp)
Một mẹ sinh đặng ngàn con
Trai có gái có , tài khôn rõ ràng
Mặt trời đã xế vàng vàng
Con xa ngái mẹ lại càng thương thay
Cách nhau đã bốn năm ngày
Con lại gặp mẹ mừng thay là mừng
(Phiên chợ Cam Lộ)
Một số câu đố khác theo lối "đố tục giảng thanh" cũng thường được nhân dân Quảng Trị vận dụng để sáng tác.


TRUYỆN TRUYỀN THUYẾT - CỔ TÍCH - TRUYỆN TRẠNG

Truyền thuyết ở Quảng Trị phong phú, những truyền thuyết về tên đất, tên làng, và kể lại sự nghiệp của những người có công khai sinh ra làng xã là khá phổ biến trong dân gian. “Nguồn gốc Câu Nhi”, “ Nguồn gốc Như Lệ” là hai truyền thuyết tiêu biểu giải thích làng xã Quảng Trị.

Các truyền thuyết về đền- tháp- miếu- chùa  như “Sự tích tháp Dương Lệ và tháp Trung Đan”, “ Đề Tương Hầu”, “ Miếu Tương Nghè”…đã vẽ lại một giai đoạn lịch sử lâu đời lúc thần linh còn ngự trị khá sâu sắc trong tư tưởng của nhân dân.. Qua các truyền thuyết đó, ta thấy được lòng tôn trọng văn hoá, biết ơn những vị có công với đất nước, quê hương

Truyện cổ tích lại mang một nội dung khác. Đó là những chuyện phản ánh tâm tư, nguyện vọng của con người, đề cập đến những tình cảm riêng tư trong sinh hoạt cá nhân, gia đình và xã hội. Hệ tư tưởng nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong các truyện cổ. Nhiều truyện nêu bật các đức tính chung thủy, hiền hậu, đảm đang, cần kiệm. Truyện” Vác mía tìm dâu”, “Tình mẹ con” có mục đích khuyến dụ thanh niên nam nữ giữ gìn và phát triển những đức tính ấy để bảo vệ tình cảm, đạo đức trong cuộc sống gia đình. Truyện” Vợ làm quan cho chồng” đề cao người vợ khôn ngoan cũng là truyện có khuynh hướng đạo lý… Có thể nói các truyện cổ tích dân tộc kinh tại  vùng đất Quảng trị dù phương thức diễn đạt khác nhau, có truyện mang tính thần kỳ, có truyện mang tính khôi hài… nhưng nhìn chung xu hướng trong các truyện cổ là đe cao đạo lý làm người.

So với truyện cổ dân tộc kinh thì truyện cổ miền núi Quảng Trị phong phú hơn. Một số truyện cổ tích có tính suy nguyên luận như “ Sự tích sao hôm sao mai” (taôi), “ Tình nghĩa gà vịt” (Vân kiều)…phản ánh sinh hoạt xã hội, có mục đích khuyến giáo đạo lý làm người, đề cao sự chung thuỷ, phê phán những hạng xảo trá, lừa đảo trong quan hệ gia đình, xã hội. Truyện cổ tích thần kỳ miền núi khá hấp dẫn ở những yếu tố người thần, vật thần. Truyện “Con voi thần” hấp dẫn ở nội dung độc đáo, thể hiện sự chất phác cùng sự dung dị trong nếp sống, nếp nghĩ của dân tộc miền núi.

Tư tưởng bao trùm lên các truyện cổ là điều thiện thắng điều ác, tình yêu chung thuỷ luôn được đề cao, những kẻ thống trị tàn bạo luôn bị lên án, cuối cùng bị trừng phạt. Nghệ thuật xây dựng truyện được cấu trúc trên hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện, từ đó chủ đề truyện được bộc lộ.

Trong kho tàng truyện kể Quảng Trị, truyện cười cũng chiếm số lượng lớn và vô cùng phong phú. Đặc biệt vùng đất Như Lệ khô cằn lại tập hợp một khối lượng truyện cười đáng kể. Đáng chú ý hơn cả là truyện Trạng Vĩnh Hoàng. Nghệ thuật kể truyện Trạng Vĩnh Hoàng tuy cũng dùng biện pháp khoa trương, phóng đại, nhưng dựa trên cơ sở  hiện thực như chuyện "Trâu đen trâu bạc" là để phóng đại dưa hấu ở Vĩnh Hoàng, chuyện "Mắc cọp mà cày" là để phóng đại việc người Vĩnh Hoàng ngày trước đi cày rất sớm và vùng này cũng nổi tiếng có nhiều cọp như ở Thuỷ Ba. Về phương thức phóng đại, người Vĩnh Hoàng không dùng lối trực tiếp mà diễn tả bằng lối gián tiếp. Để chỉ quả dưa khổng lồ, họ không so sánh quả dưa đó với vật thể nào mà diễn đạt một cách thông minh hơn: dưa mà đạn bắn vào mắc kẹt không ra được, cả đàn quạ chui vào ruột khoét dưa ăn, rồi mang cả dưa lẫn quạ bay lên cao.
Truyện Trạng Vĩnh Hoàng đã nêu bật được bản sắc độc đáo của con người Việt Nam ở Vĩnh Hoàng. Tuy là truyện Trạng nhưng vẫn có một giá trị hiện thực. Đây không phải là những truyện bông lơn, nói láo một cách hời hợt dễ dãi mà xây  dựng từ những thành quả lao động và chiến đấu. Giá trị ấy cần phải được khẳng định khi xét đến mối tương quan của nó với các loại truyện khác như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn...

Ngoài ra, một loại truyện khác mang tính chất vui tươi, hài hước, thú vị và nhẹ nhàng là các giai thoại dân gian. Phần lớn những giai thoại này xuất phát từ những cuộc hò đâm bắt, hò môi miếng. Có những giai thoại tập trung vào một nhân vật như thợ Thiềm. Thợ Thiềm được lưu truyền trong dân gian nhờ tài năng, sự thông minh nhanh nhẹn trong cuộc hò đối đáp, nhưng nhiều lúc, thợ Thiềm cũng phải chịu thua trước nữ nhi.


HÒ VÈ

Hò địch vận ở Như Lệ vốn là biến điệu của hò mái nhì nhưng vang xa như tiếng ngân vút cao mạnh mẽ phát ra từ con tim yêu nước nồng nàn. Tiếng hò Như Lệ là nét độc đáo trong  dân ca kháng chiến Quảng Trị, nó đã phát huy tác dụng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trong thời kỳ chống Mỹ, tiếng hò kháng chiến lại được dịp vang xa. Nhiều câu hò hai bên bờ sông Bến Hải nói lên niềm ước vọng đất nước thống nhất. Chính ở vùng này đã hình thành nên một bộ phận văn học dân gian mang những đặc điểm riêng của một vùng đất bị chia cắt.
Sông Hiền Lương bên bồi, bên lở
Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương
Bao giờ giặc Mỹ hết phương
Bắc Nam sum họp con đường vô ra.

Vè là một thể loại kể chuyện bằng văn vần phổ biến ở Quảng Trị, phát triển mạnh vào thế kĩ XIX. Vè Quảng Trị cũng như các nơi khác, phần lớn là những bài có dung lượng vừa phải được sáng tác theo thể lục bát, hoặc tứ tự, song thất lục bát. Một số bài nổi bật với nội dung mang tính xã hội sâu sắc. Đó là loại vè thế sự. Vè "Mẹ Hẹ" là một sáng tác độc đáo. Hình thức sáng tác gần như lối thoại kịch với lời đối đáp của hai nhân vật: cô Hẹ và quan huyện. Nội dung bài vè kể lại câu chuyện cô Hẹ vào tuổi xuân tình phơi phới đã bị quan huyện lừa phỉnh. Sau khi để lại một bầu thai cho cô Hẹ, quan huyện ấy đã tàn nhẫn đuổi cô Hẹ ra khỏi nhà. Cô Hẹ nuốt hận trở về nhà mẹ. Sau khi sinh nở, thấy cô vẫn còn xuân sắc, quan huyện lại giở trò tán tỉnh. Cô đã vạch trần thói bạc tình, bạc nghĩa của tên quan này bằng một ngôn ngữ cay chua, mang sắc thái địa phương đậm đà mà không phải bài vè nào cũng thể hiện được.
Xoay quanh thể loại này có những giai thoại mà mỗi khi quây quần bên ấm chè xanh hoặc đôi phút giải lao nơi đồng áng thường được người dân truyền tụng. Chuyện ông Bộ ở làng Gia Độ và O Thơi ở làng Xuân Thành là một trong số đó. Ông Bộ là người nho nhã, có vốn nho học. Tuy đã có gia đình nhưng lại rất say mê hò hát. Còn O Thơi là một gái chưa chồng, tài sắc vào đám nhất vùng thời ấy. Một hôm, gặp O Thơi quang gánh di chợ qua cánh đồng giáp hai làng, ông Bộ nổi hứng cất câu hò:
Buôn bán chi chi rày lời mai lỗ, vất quách thúng rỗ theo anh. Một mai công toại danh thành, ta ngồi chung kiệu hành đó đây”
Không hề chần chừ nghĩ ngợi lâu, O Thơi cất giọng hò đối lại ngay lập tức:
Chữ thánh hiền dược mấy pho mấy bộ, dám huênh hoang xuất lộ vi hành? Một mai đỗ đạt thành danh, đã có O Tam thể nó đợi anh kết nguyền”
Ông Bộ đỏ mặt vì câu hò cay độc. Ai đời đường là một đấng trượng phu ra rứa lại cho rằng chỉ có con mèo tam thể mới lấy anh!
Vẫn cái máu mê gái lại mê hò, một hôm vợ ông Bộ chuyển bụng sắp sinh, nhà lại hết dầu, vợ ông bảo ông xuống chợ mua dầu. Vừa ra đến đầu ngõ gặp cô Thơi đang đang mò cá. Hai người đối đáp đến nổi quên cả mặt trời đã xuống núi. Bỗng ông Bộ cất lên một câu hò trêu chọc rằng:
“ Cảm thương cho Em sớm thì lăn đồng cạn, chiều lại lặn đồng sâu. Con tôm con tép liệu được mấy đồng xu”.
O Thơi hò đáp lại:
“ Chứ làm ra năm trự mười đồng, trước ngon cơm anh sau lành áo mẹ để tỏ tấm lòng nàng dâu”

Cũng cần đề cập thêm một nội dung khác cũng khá phong phú của vè Quảng Trị, đó là vè kháng chiến. Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài bao nhiêu năm trên đất Quảng Trị khô cằn là đề tài cho hàng trăm bài vè phản ánh những nỗi khổ cực của người dân trong cuộc chiến tranh xâm lược, nêu bật tinh thần chiến đấu ngoan cường của nhân dân ở một vùng đất có truyền thống đấu tranh.
 Bao năm tháng qua, văn học dân gian Quảng Trị đã sống cùng nhịp sống của dân tộc bằng tiếng nói hồn hậu, trung thực của mình, ngân vang bằng giọng hò thiết tha, trìu mến thân thương cho đến ngày nay. 


Đường dẫn: http://amthuyung.com/node/22


READ MORE - VẮN HỌC DÂN GIAN QUẢNG TRỊ