Nhạc sĩ Nguyễn An
Sinh: 1953
Quê quán: Quảng Trị
Hiện sinh sống tại TP HCM
CA KHÚC: XUÂN TÌNH YÊU
NHẠC VÀ LỜI: NGUYỄN AN
BIỂU DIỄN: ANH THƯ (ái nữ của nhạc sĩ Nguyễn An)

Ca sĩ Anh Thư
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.


Vậy thì, dưới thời chúa Nguyễn có thi Đình không? Có. Thi Đình còn gọi là Điện thí. Vào năm nào? Năm Ất Hợi, 1695, thời điểm Hòa Thượng Thạch Liêm - Thích Đại Sán được chuas Nguyễn Phúc Chu mời đến Thuận Hóa. Thi vào tháng 3, lấy 5 người trúng cách về Chính Đồ làm Giám sinh, 8 người làm Sinh đồ, 15 người làm Nhiêu học, 22 người trúng cách về Hoa văn, 10 người trúng cách về Thám phỏng. Tổng cộng 60 tân khoa.

“Ủa, sao nhìn em thấy giống ca sĩ Vân Khánh quá? Có bà con gì với Vân Khánh không vậy?”. “Dạ, ai cũng nói vậy hết chị à. Chắc em phải về hỏi lại… bố em thử xem”.
Nhạc sĩ Võ Công Diên
Nhạc sĩ Võ Công Diên quê ở xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng. Sinh năm 1957, anh lớn lên bên con sông Thạch Hãn bốn mùa nước xanh trong vắt. Thời niên thiếu, cứ mỗi lần nhìn những con thuyền theo dòng sông đến những bến bờ xa, lòng anh lại rạo rực khôn tả . Anh đã từng mơ ước có một ngày nào đó mình sẽ theo những con thuyền lênh đênh đi khắp đó đây cho thỏa chí tang bồng. Và rồi ngày đó đã đến, vào một buổi chiều quê năm 1979, có một chuyến đò như thế đưa anh lưu lạc xa quê hương biền biệt suốt hơn 28 năm qua chưa lần trở lại.
Bây giờ sống ở giữa TPHCM, mỗi khi có dịp cầm bút sáng tác một ca khúc mới thì trong anh lại trổi dậy những tình cảm quê hương mãnh liệt, những tình cảm này đã giúp anh cho ra đời một số ca khúc quê hương mang âm hưởng dân ca. Đa số các ca khúc của anh nếu có khác nhau về cấu trúc, thể loại, tiết tấu nhưng có một điểm chung dù viết về đề tài nào: Quê hương, Tình yêu, Tình người, Tình nghĩa mẹ cha… thì trong mỗi đề tài đó đều thấp thoáng hình ảnh quê hương nơi anh sinh ra và lớn lên, ở đó có dòng sông quê, một bến sông, một con đò, một cội ngô đồng, bên kia sông là ngôi trường một thời anh đi học, là khoảng sân trường im lắng, mấy cánh phượng hồng lác đác rơi vào những buổi trưa hè, là ánh trăng non bàng bạc trên con đường quê cho những lứa đôi tình nhân yêu đương hò hẹn...
Hiện nhạc sĩ Võ Công Diên là Giám đốc PR của Công ty Âm nhạc - Phim ảnh - Phù Sa Trẻ, đồng sáng lập Công ty cùng với nhạc sĩ Trung Phước, nhạc sĩ Phạm Nguyễn. Ngoài mảng ca khúc viết về tình yêu, quê hương, anh còn tham gia sáng tác một số ca khúc thiếu nhi, anh được Ban biên tập Đài truyền hình HTV đề nghị viết một số ca khúc thể loại này. Các ca khúc của anh đã được phát sóng vào mỗi sáng chủ nhật trong chương trình Bim Bim, chương trình Cầu Vồng Xanh, chương trình vui Trung thu năm 2007 của Đài Truyền hình HTV, môt số ca khúc khác cũng đã được phát sóng trên Đài Truyền hình Đồng Nai, Đài Truyền hình VTV do hãng phim Tây Đô thực hiện.
Một trong những bài hát của nhạc sĩ Võ Công Diên được bà con người Quảng Trị tại TPHCM ưa thích đó là bài “Quê hương tuổi thơ” trong đó có các câu như “Tìm lại tuổi thơ đi qua/Nơi tôi sinh ra bên dòng Thạch Hãn/…” và những lời nhắc đến các địa danh của quê hương như Vĩnh Định, Thi Ông, Gia Môn, Cửa Việt, gió Lào…
Nhạc sĩ Võ Công Diên tâm sự: “Bài hát “ Quê hương tuổi thơ” được tôi viết sau gần 30 năm ngưng sáng tác vì điều kiện mưu sinh... Trong một dịp giao lưu Hội thân hữu miền Trung Q7 tại nhà anh Huy Trường, Chủ tịch Hội, tôi có cơ hội được giao lưu với nhiều anh em văn nghệ sĩ Quảng Trị hiện sinh sống và làm việc tại TPHCM. Đêm giao lưu thật đầm ấm và chân tình, những kỷ niệm về Quảng Trị được anh chị em nhắc lại khiến cho mình cảm thấy rất nhớ quê hương, biết bao kỷ niệm thời thơ ấu chợt ùa về trong tâm trí và tối hôm đó bài hát “ Quê hương tuổi thơ” ra đời”.
Nguyễn Đăng Bình
Nhà văn Nguyễn Đức Tùng. Ảnh từ trang arttao.wordpress.com
Tặng nhau từ ngữ lạc lầm
Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn
(Bùi Giáng)
BÀI HAI
Sự hấp dẫn của chữ
Ảnh hưởng của phương pháp siêu thực:
Chủ nghĩa siêu thực xuất hiện từ Pháp. Người đầu tiên đặt tên cho nó vào năm 1917 là Guillaume Apollinaire, nhưng người cổ vũ đến cùng là André Breton. Các nhà siêu thực nhấn mạnh đến phương pháp sáng tạo tự động (automatic writing), liên tưởng tự do (free association) và các giấc mơ. Rõ ràng là họ chịu ảnh hưởng của phân tâm học.
Breton kể một giai thoại rằng có một thi sĩ nọ, sống trong một ngôi biệt thự vùng Camaret, mỗi khi đi ngủ, ông lại cho treo trước cửa nhà mình tấm bảng đề: “nhà thơ đang làm việc”.
Thật đúng là:
Mía cứ ngọt âm thầm trong bóng tối
(Mai Văn Phấn)
Phương pháp siêu thực cho phép các nhà thơ đi xa trong liên tưởng, tạo ra các hình ảnh không có liên hệ thuần lý (disjunctive images). Các hình ảnh và các ý tưởng trong thơ có mối liên hệ khó giải thích, có thể gọi là vô thức. Cần chú ý rằng mặc dù phong trào siêu thực đã thúc đẩy những tiến bộ đáng kể trong văn chương, những người lập ra hay khai triển nó như Breton, Aragon, có lẽ với một ngoại lệ duy nhất là Octavio Paz - lâu về sau, đều có tính quá khích, phá hủy, thậm chí phá hoại, đồng bóng. Hầu hết các nhà thơ Việt Nam đều có sử dụng, không nhiều thì ít, hình ảnh siêu thực. Từ Bùi Giáng, Trần Dần, Dương Tường trước đây…đến Thường Quán, Đỗ Kh., Chu Vương Miện, Nguyễn Quang Thiều, Trần Nghi Hoàng, Bùi Chát, Đỗ Quyên, Lý Đợi, Phan Nhiên Hạo, Đặng Thân, Đỗ Lê Anh Đào, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Vi Thùy Linh hiện nay… chẳng hạn đều có khuynh hướng vô thức. Trong âm nhạc, có một người chịu ảnh hưởng sâu đậm của phương pháp siêu thực khi viết lời, nhưng điều này hình như chưa được ai nói tới, đó là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Nhờ phương pháp siêu thực, cách sử dụng các ẩn dụ trở nên giàu có, gần như phóng túng, bất tận.
Nhưng bao giờ cũng thế, cái dễ là cái bẫy chết người.
Ngày nay, chủ nghĩa siêu thực không còn tồn tại như một phong trào văn học, nhưng vẫn tiếp tục sức mạnh của nó như một phương pháp sáng tác, mà tôi cho rằng sẽ còn lâu dài. Người đại diện xứng đáng đầu tiên của nó ở Việt Nam là Thanh Tâm Tuyền vào những năm 1960 ở miền Nam, mặc dù tôi tin rằng lúc đó ông còn khá xa lạ với phân tâm học. Do áp lực của thời cuộc, chiến tranh trở nên khốc liệt, du kích đánh phá các thành thị, lính Mĩ đổ bộ vào miền Nam, người đọc thơ chưa có thời gian trang bị cho mình kiến thức để sẵn sàng tiếp nhận nó, các nhà phê bình ở miền Nam lúc đó cũng không có đủ sự chuẩn bị về lý luận để đánh giá nó. Các nhà phê bình miền Bắc cùng thời dĩ nhiên là không hay biết hay là không được phép tiếp cận phong trào này. Gần bốn mươi năm sau, chủ nghĩa siêu thực trở lại Việt Nam, lần này đơn giản như một phương pháp. Nó chinh phục một số không ít các nhà thơ trẻ trong nước cũng như hải ngoại, và trong khi hào phóng khơi nguồn ở họ những dòng chảy năng lượng sáng tạo dồi dào, không biết vung phí vào đâu, thì lại dẫn họ vào các khu rừng rậm đầy gai của thơ ca, bỏ mặc họ ở đó, không có một viên sỏi nào, và nhiều người mãi mãi không tìm thấy lối ra.
2. Ngôn ngữ và vài dòng tự sự về việc chọn chữ:
Trên Talawas, độc giả Quỳnh Thi hỏi như sau:
“Anh lật trái lá sen hồ
Thấy đề mấy chữ
Lên chùa
Vậy là anh lên chùa
Thăm Phật
Theo tôi hiểu, người Phật tử lên chùa là để lễ Phật hay là để cúng Phật. Không ai nói là để “thăm Phật.”
Người đọc thơ đọc như Quỳnh Thi là rất kỹ, tinh ý. Đúng là Phật tử lên chùa là để lễ Phật hay là để cúng Phật. Vấn đề là tôi không biết chắc Chế Lan Viên có phải là Phật tử hay không? Nhưng quan tâm của chúng ta không dừng ở đó. Bất cứ nhà thơ nào khi viết cũng dụng công rất kỹ về từ ngữ. Tôi cũng thế. Nhiều người tìm cách định nghĩa thơ, nhưng không ai định nghĩa được trọn vẹn. Dù định nghĩa như thế nào thì có một điều chắc chắn là thơ gồm có…những chữ. Các loại thơ không có chữ là những ngoại lệ mà chúng ta chưa bàn ở đây.
Khi viết câu trên tôi đã chọn một số chữ sau đây, các nhà văn còn gọi là “thao tác chữ”: lễ Phật, cúng Phật, lạy Phật, viếng Phật, tìm Phật, hỏi Phật, thỉnh Phật. Thậm chí còn nghĩ đến những chữ rất táo bạo nhưng… không dám viết xuống. Không dám đây là không dám vô lễ với Chế Lan Viên, chứ không phải với Phật (Mô Phật!).
Cuối cùng, tôi đã chọn chữ nào?
Robert Frost, nhà thơ hàng đầu của Mỹ, có một lời khuyên dành cho những người làm thơ và cả những người đọc thơ, đó là đọc to các câu thơ để xem chúng vang lên như thế nào?
Tôi cũng tin là tai của chúng ta sẽ bắt được những chữ mà mắt của chúng ta bỏ sót.
Đọc như thế vài lần thì tôi chọn chữ thăm.
Đối với nhiều nhà thơ, âm nhạc của bài thơ là quan trọng nhất. Nhưng không phải bao giờ cũng vậy. Một số thể loại thơ không đặt nặng nhạc tính nhiều như một số thể loại khác. Thơ Đường rất mạnh về nhạc tính nhưng thơ Haiku Nhật Bản coi trọng hình ảnh hơn, mặc dù không phải là họ không chú ý vần điệu. Thơ Haiku vốn có vần điệu chặt chẽ. Thơ hiện đại và hậu hiện đại ngày càng xa rời nhạc tính, và đây có lẽ là điều đáng tiếc chăng?
Thật ra, trong bài thơ Chùa, yếu tố quan trọng nhất để người viết quyết định chọn chữ “thăm” không phải là nhạc điệu, mà là ý nghĩa của chữ. Chữ “thăm” dĩ nhiên rất khác với chữ “lễ”, chữ “cúng”. Tôi chọn chữ này để mô tả tính cách của Chế Lan Viên là người mà tôi đề tặng. Đúng ra không phải là tính cách mà là thái độ của ông trước một số vấn đề. Đó là một thái độ, theo tôi, vừa sang cả siêu hình vừa lưu manh phi trí thức đối với các vấn đề siêu hình và tôn giáo. Cho đến cuối đời Chế Lan Viên vẫn nằng nặc đẩy xa các câu hỏi siêu hình nhưng tôi nghĩ trong các nhà thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa chính thống, chính ông mới là người bị nó ám ảnh nhiều nhất, như trong ví dụ lát nữa đây.
Chúng ta bàn tiếp chuyện chọn chữ. Các nhà thơ ngày càng có khuynh hướng sử dụng ngôn ngữ của đời sống hàng ngày, vì vậy có một hiện tượng hiểu lầm đáng tiếc. Có nhiều thi sĩ ngày nay cho việc chọn chữ khi làm thơ cũng hệt như việc chọn chữ khi viết văn xuôi, “cả hai đều như rứa”. Vì vậy họ làm cho các độc giả yêu thơ rất đáng yêu của chúng ta vô cùng bối rối, nhiều khi như kẻ lạc đường. Không trách họ bỏ các nhà thơ, cầm tập thơ lên rồi bỏ xuống không mua, là phải. Bạn có thể tìm thấy vô số những thí dụ như vậy trên các trang web và báo chí, nên tôi thấy tạm thời không cần phải trích ra.
Nhưng hãy xem ngôn ngữ của một số nhà thơ khác. Từ các bài thơ tôi đang có sẵn trên bàn, lấy tiện tay, nhưng dĩ nhiên không chỉ giới hạn trong số họ.
Có hơi hướm của văn xuôi:
Một ngày loáng thoáng một ngày qua
(Nguyễn Bắc Sơn).
Chạm nhẹ vào văn xuôi:
Đom đóm chữ tụ về
Từ các bãi tha ma văn học
(Đỗ Quyên)
Rõ hơn nữa:
Nghệ thuật cũng vậy thôi. Cao siêu thường bị chối.
(Nguyễn Trọng Tạo)
Giễu nhại và rất thực:
Ở đâu có mùi thối là ở đó có hoa cứt lợn
Bởi vì hoa cứt lợn là một loại hoa rất bẩn
(Lý Đợi)
Nghi thức và rất… sạch:
Em tắm rất kỹ và rửa sạch tay mỗi khi ngồi trước giấy
(Vi Thùy Linh)
Dung dị:
Mẹ tôi chưa từng ăn một cọng bún
Một tô phở một tô bánh canh
Một hột vịt lộn
Một miếng cá chiên
(Du Tử Lê)
Còn Chế Lan Viên thì sao?
Bây giờ mà anh cứ lai nhai lải nhải
Tồn tại hay không tồn tại
Thì ai nghe anh?
Rõ ra là lối nói có chất ngôn ngữ đường phố. Thoải mái, thêm mấy chữ thì, mà…buông thả. Có vẻ như ai cũng viết được.
Không phải thế. Chúng ta cùng đọc lại xem: các chữ đi với nhau rất khéo- bây, lai, nhai, lải, nhải, tại, hay, tại, ai. Đó là các vần trùng điệp liên tiếp mô tả một anh chàng đúng là lai nhai, lải nhải. Tôi chắc chắn rằng ông đã chọn chữ rất kỹ.
Khi phỏng vấn loạt bài Thơ Đến Từ Đâu, tôi phải đọc nhiều thơ và trường ca của các nhà thơ đi từ miền Bắc, vốn xa lạ với tôi. Ngoài Bắc gọi đó là các nhà thơ thế hệ “chống Mỹ” (Xin dùng chữ này với nghĩa quy ước, vì ngày nay hầu hết họ đã thôi chống Mỹ, vì thấy chơi với Mỹ, như các nhà thơ miền Nam trước đây, vui hơn). Tôi nhận ra rằng các nhà thơ này (Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Thụy Kha … ) có thể so sánh với các nhà thơ miền Nam cùng thời hay trước họ một thế hệ thơ (Tô Thùy Yên, Trần Dạ Từ, Quách Thoại, Nguyễn Đức Sơn, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Bắc Sơn, Du Tử Lê, Viên Linh, Nguyễn Tất Nhiên…) xét riêng về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, và chỉ riêng về mặt này mà thôi, trong những thời điểm chiếu sáng nhất của họ, và chỉ trong những thời đìểm đó mà thôi, đạt đến mức tài hoa điêu luyện, mà các nhà thơ trẻ hiện nay, muốn chạy đuổi theo họ cũng còn… hơi bị lâu.
Thí dụ, Hữu Thỉnh. Nhà thơ này, điều hành Hội nhà văn thì dở, bị một số hội viên chê là bảo thủ giáo điều, nhưng làm thơ không tệ chút nào. Trong một trường ca, tôi quên mất tên, mở đầu, Hữu Thỉnh viết:
Đường xuống bến có mười sáu bậc
Mẹ nhớ thương đã bạc mái đầu
Quê tôi bên dòng nước trong xanh (nhưng nhiều cá!), mỗi ngày vào mùa hạ bọn học sinh đều xuống bến sông tắm rửa. Đó là nói trước chiến tranh, trước khi quân đội miền Bắc tiến vào, theo chân… nhà thơ Nguyễn Thụy Kha. Trước chùa sư nữ gần bến đò Thạch Hãn có một tam cấp dẫn xuống nước. Tôi đã từng đếm đúng mười ba bậc. Vì vậy tôi tự ý sửa lại như sau:
Đường xuống bến có mười ba bậc
Nhưng đọc lại, tôi thấy nó… kỳ kỳ. Tức là không hay. Ba chữ b đi trong một câu là quá nhiều. Tôi thử các phép khác: mười một, mười hai, mười bốn, mười lăm, mười sáu, mười bảy, mười tám, mười chín. Đọc đi đọc lại chỉ có mười sáu là hay nhất. Tôi không biết quê ngoài Bắc của nhà thơ Hữu Thỉnh có thật là có bến sông mười sáu bậc hay không? Nếu cử người về điều tra thì chúng ta có thể biết được sự thật, nhưng các nhà phê bình không ai dại dột làm điều đó. Tại sao thế?
Vì sự thật văn chương không phải là sự thật thông thường. Nếu là văn chương đích thực, nó phải cao hơn. Và đúng hơn. Kiểu khác.Tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một bài viết khác.
Tôi xin kể tiếp. Trong các chữ còn lại, tôi thấy chữ mười tám là khá hơn cả:
Đường xuống bến có mười tám bậc
Mười tám là thanh xuân. Mười sáu cũng thanh xuân. Nhưng ngày xưa mười tám thì có… hơi già. Vậy mười sáu đẹp hơn. Về âm, nghe kĩ thấy mười sáu đi với nhiều thứ. Này nhé: chữ sáu bậc phát âm dễ hơn chữ tám bậc hay bốn bậc. Cũng như mười ba, chữ bốn bậc, bảy bậc có quá nhiều vần bờ, trong khi chữ sáu lại vần với âm cuối của câu sau (bạc mái đầu).
Tất nhiên điều này chỉ đúng cho câu thơ nói trên, vì sự lập lại các âm tương tự (repetition) vốn là một thủ pháp quen thuộc của các nhà thơ bậc thầy.
It bleeds the black blood from the blueberries
(Warren)
Tôi có đang vượt qua lãnh vực của ngôn ngữ học không? Nhưng mười sáu thanh xuân mà đi với bạc mái đầu thì đối xứng lắm.
Trăng mười sáu tuổi, em mười sáu
Áo lụa phơi buồn sân gió xưa
(Trần Dạ Từ)
Tôi không cần phải bình nữa. Đọc lên thơm cả không gian.
Nguyễn Đức Tùng
(Còn tiếp)
Các sách tham khảo cho bài viết:
Thi Vũ: Bốn mươi năm thơ Việt Nam, NXB Quê Mẹ, 1993
Hai mươi sáu nhà thơ Việt Nam đương đại, Biên tập: Đinh Trường Chinh, Phan Nhiên Hạo, Thận Nhiên, Đỗ Quyên, Nguyễn Đức Tùng, NXB Tân Thư, 2002
Hoàng Ngọc Hiến: Những ngã đường vào văn học, NXB Giáo dục, 2006
Nguyễn Hưng Quốc: Thơ con cóc và những vấn đề khác, NXB Văn mới, 2006
Tuyển Tập Tiền Vệ I, NXB Tiền Vệ, 2007
Có jì dùng jì có nấy dùng nấy, NXB Giấy Vụn, 2007
Đặng Tiến: Vũ trụ thơ II, Thư Ấn Quán 2008
Trần Dần: Thơ, NXB Đà nẵng, 2008
Gary Geddes, 20th Century poetry & poetics, Oxford University Press, 1996
Harold Bloom: Genius, NXB Warner books, 2002
Dana Gioia: Twentieth century – American Poetry, McGraw Hill, 2004
David Lehman: The Oxford book of Poetry, 2006
Nguồn: Phongdiep.net

Truyện ngắn
Một năm nay, sư thầy về quê thường xuyên hơn, ít nhất mỗi tháng một lần. Ông cụ thân sinh của thầy đã già yếu lắm rồi. Trước ngày rời chùa, bao giờ thầy cũng thu xếp mọi việc, căn dặn đệ tử rồi mới an tâm xách túi vải màu lam thong dong bước ra cửa.
Những chuyến về quê thầy thường cho điệu Sanh đi cùng. Có lẽ tại điệu Sanh là chú tiểu nhỏ tuổi nhất trong các đệ tử nên được thầy cưng chiều hơn cả. Với lại thầy biết điệu Sanh vốn tính hiếu động, ở chùa mà vắng thầy thì thể nào điệu cũng bày trò quấy rầy các sư huynh hoặc khách hữu đến thăm viếng. Về quê, thầy nói cho điệu Sanh đi cùng vừa để chùa “yên”, cũng là để điệu ấy được tu. Điệu Sanh thắc mắc: “Tu là phải ở trong chùa, có Phật mới tu được chứ?” Thầy mỉm cười nhẹ, bao giờ điệu Sanh thắc mắc những điều như thế, thầy cũng chỉ cười mà không trả lời.
Ra đến cổng chùa, điệu Sanh lại hỏi: “Thầy ơi! Hôm qua con nghe các sư huynh nói đi tu là quên hết chuyện gia đình. Sao giờ thầy lại về quê?” Sư thầy dừng chân, yên lặng một lúc rồi lại mỉm cười hiền dịu và quay sang phía điệu: “Vậy điệu Sanh ở lại chùa, để thầy về quê một mình, nghe”. Nói xong thầy rảo bước đi. Điệu Sanh chạy theo cầm lấy vạt áo nâu. Thầy đưa tay lên xoa đầu điệu Sanh: “Thôi nhanh lên con, sắp tới giờ xe chạy rồi”.
Mất gần ba tiếng đồng hồ ngồi xe, sau đó hai thầy trò thả bộ chừng ba mươi phút mới tới được quê nhà của thầy. Con đường làng hai bên cỏ rợp lên, những bông cỏ dại nở màu vàng trắng tím khiến điệu Sanh thích thú. Đi một chặng, điệu Sanh cúi xuống hái hoa hoặc đuổi chụp cánh bướm vờn, rồi lại lon ton chạy theo thầy. Mỗi lần như thế, thầy lại mắng yêu: “Trên đường cứ mải hái hoa nghịch bướm thì chừng nào mới tới được”. Rồi như để điệu Sanh bớt nghịch, thầy kể chuyện cho điệu Sanh nghe. Mà điệu Sanh lại hay tò mò. Điệu Sanh hỏi: “Thầy ơi! Sao thầy lại đi tu? Có phải thầy cũng ghét cha mẹ như con không?”.
Sư thầy không trả lời. Nhưng câu hỏi đã khiến thầy như chạnh nhớ. Ký ức tưởng đã xa xăm chìm vào lãng quên.
*
Hồi mười tám tuổi, sư thầy lúc đó là chàng trai làng tên Khôi sức vóc, siêng năng.
Khôi thương cô Nguyệt cùng làng. Cô Nguyệt hiền lành, xinh xắn. Cả làng ai cũng khen hai người đẹp đôi. Đi làm đồng, lúc nghỉ giữa buổi thể nào Khôi cũng kéo Nguyệt lên trên triền cỏ ngồi tâm tình. Khôi khéo ăn nói, cả làng bảo thằng này đi cưa gái lắm đứa chết mê. Nhưng Khôi chỉ để ý đến Nguyệt. Biết tin hai người có tình cảm với nhau, ông giáo Tuệ, cha của Khôi, liền ngăn cấm.
Ông Tuệ chê nhà cô Nguyệt nghèo. Cha Nguyệt mất sớm. Song thân đằng ấy không đầy đủ. Không môn đăng hộ đối. Nguyệt còn có một chị gái, một em gái; nòi nhà toàn… cái. Mà Khôi là con trai duy nhất của ông giáo Tuệ, phải đẻ cháu đích tôn. Ông dõng dạc nói như phán: thằng Khôi nhà này không thể lấy con Nguyệt. Cấm!
Ông giáo Tuệ vốn là người nhất nhất nghi lễ. Biết cha mình “phong kiến” và nghiêm chỉnh, cộng với chút nông nổi tuổi trẻ, Khôi quyết chí bỏ làng đi vào Nam. Đi suốt một ngày chàng vẫn chưa hết buồn lòng, nhưng lại đói lòng, thế là Khôi tìm vào một ngôi chùa. Chàng ở lại chùa rồi xin xuống tóc. Tu luôn!
Ừ! Thầy đi tu có phải cũng vì ghét cha mẹ như điệu Sanh không?
*
Đến nhà rồi. Điệu Sanh ném mấy bông hoa dại mới ngắt lúc nãy, cùng thầy bước chậm vào ngõ. Cụ giáo Tuệ nằm trên giường ngó ra như thể ngóng đợi. Sư thầy mới bước qua cửa thì ông cụ Tuệ đã bật lời rền rĩ như mắng: “Về đi! Tu chi cho khổ”. Rồi cụ cố nghiêng người quay mặt vào tường. Sư thầy nhìn mọi người trong nhà và mỉm cười. Nụ cười thanh thoát của vị sư hai nhăm tuổi đạo.
Hai tháng sau, điệu Sanh lại theo sư thầy về quê. Thấy sư thầy gấp gáp chuẩn bị túi vải, điệu Sanh bớt hoang, dọc đường không nghịch hoa hay hỏi han nữa. Ông cụ Tuệ yếu hẳn đi, gầy rộc, nằm yên ắng. Cụ vẫy vẫy sư thầy tới, đưa tay kéo đầu thầy xuống và nói nhỏ vào tai, lần này không mắng. Cụ không còn sức mắng, hay là cụ đang năn nỉ? “Về đi! Lấy vợ. Cháu đích tôn”. Và sư thầy cũng không cười như lần trước nữa, dù chỉ là một nụ cười mỉm thật nhẹ.
Tu là để đạt đạo. Mà hiếu cũng là đạo. Hiếu đạo. Ngày xưa thái tử Tất Đạt Đa đã từng có vợ, sinh cháu cho phụ vương rồi mới đi tu để thành Phật. Vậy là Ngài trọn hiếu đạo.
Tu là đi. Về cũng là đi. Về đi! Tu, đi hoài liệu có tới cõi Phật? Nhưng về, ít nhất đối với sư thầy lúc này, về là sẽ tới... cõi người.
Sư thầy trầm ngâm nghĩ suy từ lúc ấy cho đến khi quay lại chùa. Trong thầy hai chữ về đi cứ thổn thức. Thầy như chìm vào cơn mê kiểu giấc mơ Trang Tử. “Không biết ta là sư thầy giữa cõi người? Hay ta là người thường lạc giữa cõi đạo?”
Đám tang cụ Tuệ tổ chức trọng thể. Đám làm cơm chay và theo nghi thức nhà Phật. Lễ nhập liệm, lễ cầu siêu… đều có các thầy trong giáo hội và đoàn sinh Phật tử tụng kinh. Đêm trước ngày di quan, mọi người đã đi nghỉ cả rồi, chỉ còn sư thầy ngồi trước bàn vong niệm kinh Sám Hối.
*
Thuở ấy tôi là điệu Sanh, nghịch ngợm bướng bỉnh, không yêu thương cha mẹ nên được gửi vào chùa tu để cải nghiệp. Tôi là con trai duy nhất của cha mẹ.
Đêm tôi ngồi trước thềm chùa, lá si rơi từng chiếc tán xuống sân.
Về đi!
Về đi!
Về đi!

Ngày nay truyền thống tốt đẹp ấy đã được tiếp nối một cách tự nhiên và sôi nổi, dồi dào hơn trước. Nói là “đẹp”, vì suy cho cùng nếu một dân tộc có nhiều nhà thơ, e rằng dân sẽ dễ bị đói, nhưng nếu có rất nhiều người yêu thơ, cuộc sống tinh thần của dân tộc ấy sẽ trong sáng, hướng thiện, không bị văn minh vật chất với lối sống thực dụng tầm thường lũng đoạn. Nhà doanh nghiệp Phạm Bá Nhơn thuộc lực lượng "không chuyên" ấy và tập Nguồn cội mà quí bạn đọc đang có trên tay là thi phẩm thứ hai của anh.
Bị chìm trong guồng quay đến chóng mặt của công việc kinh doanh xây dựng, anh vẫn tỉnh táo để cố thu xếp cho mình những phút giây nhàn rỗi hiếm hoi. Những đêm khuya "khi tỉnh mộng lúc tàn canh", những lúc dong duổi trên đường thiên lý hoặc trên tầng cao của mây trời, để thả hồn vào mảnh vườn thơ tĩnh lặng của riêng mình. Trước khi đứa con tinh thần của Phạm Bá Nhơn có được những người tri kỉ, anh muốn qua thơ để có thể thầm thì tâm sự với chính mình.
100 bài thơ, dài nhất cũng chỉ 9 khổ 36 câu thơ (Nỗi niềm xa xứ), ngắn nhất là chùm 7 bài tứ tuyệt (Vô đề, Ngẫm, Nghĩa tình vô tận, Với mình, Với đời, Sự đời, Đạo nghiệp); thể thơ khá quen thuộc (năm chữ, bảy chữ, tám chữ, lục bát); chữ nghĩa chân phương (đôi khi chưa được gia công trau chuốt); hình ảnh gần gũi (cũng có lúc bị trùng lặp); nhưng điều đáng trân trọng ghi nhận từ tập này là sự chân thành - tâm trạng chân thành, cảm xúc chân thành. Cũng có lúc anh suy tư và có thể cũng khiến ai đó trong chúng ta có sự thông cảm, thậm chí đồng cảm:
Trăm năm trong cõi siêu hình
Dường như có chút vô tình đã qua
Cũng là một kiếp người ta
Mà sao tìm mãi chưa là của nhau
(Vô đề)
Nhưng thế mạnh của thơ anh là ở chỗ khác: anh thể hiện khá hồn nhiên những tình cảm thấm đẫm chất nhân văn vốn đã thường xuyên đi về trong thơ ca của muôn đời và mọi nơi, nhưng vẫn có chút gì đấy, sắc thái nào đấy của riêng Phạm Bá Nhơn. Ngẫm về hạnh phúc “ngày thơ còn mẹ” và ngược lại, hạnh phúc của người mẹ khi có con thơ trong vòng tay yêu thương, anh có những câu thơ đẹp”
Mỗi ngày có mẹ một ngày xuân
Nhìn con khôn lớn cùng năm tháng
Quên hết gian lao, mẹ tảo tần
(Ngày thơ còn mẹ)
Do đặc trưng nghề nghiệp, Phạm Bá Nhơn đến với nhiều vùng miền khác nhau của đất nước. Và thật là thú vị, ở nhiều nơi sau những toan tính bàn soạn lạnh lùng về công việc, anh vẫn kịp "chớp" lấy những nét độc đáo của đất trời và con người các nơi đó. Anh có những cảm xúc tinh tế về Thanh Hoá (Mơ về xứ Thanh), Nha Trang (Nha Trang ngày trở lại), Vũng Tàu (Vũng Tàu ngày em đến v.v…) Anh lắng lòng lại, say đắm và tha thiết hơn, với Thủ Đô (Hà Nội trong tôi, Thăng Long Hà Nội ngàn năm, cũng như với Cố Đô (Về Huế, Huế vào xuân, Hẹn cùng với Huế). Thế nhưng dù thành đạt nhưng Phạm Bá Nhơn vẫn khắc khoải, da diết nhớ và nghĩ về quê nghèo Quảng Trị của mình (Hẹn về Quảng Trị, Nỗi niềm xa xứ, Bến sông xưa, Tôi về quê tôi, v.v…). Ngẫm ra trong cuộc sống vừa đa dạng phong phú vừa xô bồ phức tạp hôm nay, có thể tin được những con người không "vong bản", những người mà chỉ cần nhắc đến một bến sông, một bãi cát, một đồi sim, một con đò của nơi chôn nhau cắt rốn cũng khiến mình xốn xang, thao thức. Phạm Bá Nhơn có được nét son đó trong tâm hồn. Vì thế, anh có những câu thơ rất gợi. Và đây là một:
Đêm Gio Linh, trùm chăn trời mưa lạnh
Bến Hải buồn, hoang vắng bãi bồi xa
Thời khói lửa, đất nghèo chia đôi nửa
Thương mẹ cha lặn lội chốn quê nhà
(Hẹn về Quảng Trị )
Nhà thơ Phạm Bá Nhơn
Chỉ là hai kẻ người dưng
Sao ta vẫn nhớ, vẫn mừng, vẫn thương
Ước chi mình ở chung đường
Để khi ta nhớ ta thường ghé thăm
Ước chi ngay cửa em nằm
Ta là chiếc bóng trăng rằm soi qua
Nhưng mà em của người ta
Nên chi mình chẳng phải là của nhau
(Lời ước vu vơ)
Đúng là lời ước vu vơ, nhưng thật dễ thương, dễ cảm. Và sự tỉnh táo của hai câu kết cũng khiến ta hiểu thêm nhân cách của người làm thơ.
Như trên đã nói, Phạm Bá Nhơn không phải và không định sống bằng thơ, nhưng cho đến nay (vì ai dám vội vã đoán định tương lai?) anh như muốn luôn được sống với thơ. Có lẽ để tạo “sự cân bằng sinh thái” cho con người làm doanh nghiệp, anh tìm đến sự trong lành, thanh khiết của bầu khí quyển thơ?
Dù gì lý do gì, chúng ta cũng mến và trân trọng đón nhận những sản phẩm tinh thần của Phạm Bá Nhơn, mà Nguồn Cội* là mới nhất. Có lẽ tôi đã dài lời, xin quý bạn đọc hãy trực tiếp lắng nghe tiếng lòng của anh qua các trang thơ.
PGS.TS TRẦN HỮU TÁ
*Phạm Bá Nhơn, Nguồn Cội, Thơ, NXB Văn Học, 2010
MỜI CÁC BẠN TIẾP TỤC VÀO XEM HAI TẬP THƠ KHUNG TRỜI MÂY TRẮNG VÀ NGUỒN CỘI CỦA PHẠM BÁ NHƠN BẰNG CÁCH BẤM VÀO ĐÂY
Ảnh: Nguyễn Khắc Phước
Từ sau khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, Hội An với những nét đẹp văn hóa truyền thống đã thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, cũng từ đó phố cổ hình thành một thị trường mỹ thuật sôi động.
Nhiều họa sĩ đã về đây sống và vẽ hoặc mở gallery. Rảo bước trên các ngả đường giữa lòng phố cổ, có thể thấy hàng trăm gallery lớn nhỏ, cá nhân và tập thể; tác phẩm mỹ thuật đích thực không thiếu mà tranh du lịch cũng vô số… Bên cạnh các triển lãm hội họa, còn có nhiều dịch vụ mỹ thuật như vẽ chân dung, truyền thần, chép tranh… và có nhiều người đã thực sự đổi đời nhờ những hoạt động này.
Những tháng gần đây, khi kinh tế thế giới suy thoái, lượng khách du lịch nước ngoài giảm đáng kể thì hoạt động mỹ thuật của Hội An cũng trải qua thời kỳ đầy khó khăn. Tuy nhiên, ngoài sự suy giảm khách du lịch nước ngoài, vẫn còn những lý do khiến hoạt động mỹ thuật ở Hội An lâm vào cảnh chợ chiều.
Phố cổ Hội An với vẻ đẹp đặc trưng ẩn chứa trong những phố phường có bề dày lịch sử, trong một không gian kiến trúc độc đáo với những ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi, những con đường nhỏ và những ngõ hẹp lô xô mái ngói rêu phong, cùng nếp sống xưa cũ của một cảng thị còn được lưu giữ nguyên vẹn, từng là nơi các họa sĩ nổi tiếng về sống và vẽ, có thể kể: Bùi Xuân Phái, Lưu Công Nhân, Trần Lưu Hậu, Vũ Giáng Hương, Đinh Cường, Bửu Chỉ, Thành Chương…
Đặc biệt, cố họa sĩ Lưu Công Nhân từng ở lại đây một thời gian dài để vẽ; ông mê đắm đến độ chiều ba mươi tết vẫn còn đứng vẽ phố rêu. Ông từng nói: “Ở Hội An ngồi đâu cũng vẽ được tranh, đứng đâu cũng nhìn ra góc đẹp…”. Toàn bộ đô thị cổ này là một bức tranh dưới mắt Lưu Công Nhân. Không phải vô cớ mà Hội An trở thành nơi chốn của tranh. Mối duyên giữa hội họa và phố cổ phát triển sau này có lẽ cũng bắt đầu từ tình yêu của giới mỹ thuật cả nước dành cho Hội An vậy.
Khi Hội An trở thành mảnh đất màu mỡ cho các hoạt động và dịch vụ mỹ thuật thì không chỉ giới họa sĩ chuyên nghiệp mà ngay cả những người chưa từng học vỡ lòng về hội họa cũng nhảy vào kiếm ăn. Không đâu như Hội An: một khu phố nhỏ loanh quanh vài bước chân đã về chốn cũ mà có đến mấy chục gallery bán tranh và các sản phẩm ăn theo, giá cả cỡ nào cũng có. Tranh chép, tranh nhái tác phẩm của những tác giả nổi tiếng xuất hiện khắp nơi; thợ vẽ, nghệ nhân phút chốc biến thành nghệ sĩ!
Hội An trở thành một thị trường tranh sôi động nhất miền Trung với tất cả mặt tích cực và tiêu cực của nó. Một số họa sĩ như Hoàng Đăng Nhuận, Phan Ngọc Minh, Hoàng Đặng, Bùi Công Khánh… lặng lẽ rút lui nhưng cũng có những người khác đến như Từ Duy (gallery Lá Gai), Vĩnh Phong (gallery Ngói Nâu và Làng) hay hai anh em song sinh Lê Ngọc Thanh, Lê Đức Hải…
Trở lại Hội An những ngày này mới thấy đời sống mỹ thuật phố cổ sa sút thật rõ nét: số lượng phòng tranh, gallery còn tồn tại không bằng một nửa ngày trước, người mua cũng vắng vẻ, thưa thớt. Nói về tình trạng này, họa sĩ Huỳnh Thị Nhung cho biết: du khách nước ngoài không chỉ giảm hẳn mà họ cũng không còn mặn mà với tranh pháo như trước đây nữa trong khi đó thì giá thuê mặt bằng và tiền lương cho nhân viên không giảm nên “thị trường tranh ngắc ngoải là điều không tránh khỏi”.
Dễ nhận thấy tranh bày bán khắp nơi tại Hội An hiện nay khai thác sở thích của khách du lịch nước ngoài về sơn mài, song hầu hết được làm không theo quy trình truyền thống, sơn ta được thay bằng sơn hóa học cho mau khô để dễ sản xuất hàng loạt. Chính “công nghệ” làm tranh sơn mài đó đã làm mai một niềm tin ở khách hàng. Ông Bryan, một nhà sưu tập tranh người Ireland, trước đây năm nào cũng đến Hội An khi sang Việt Nam nhưng mấy năm gần đây đã không còn thấy ông dạo bước qua các gallery trên các phố cổ nữa.
Du khách nước ngoài giảm và không còn quan tâm nhiều đến tranh pháo như xưa…
Theo nhà biên kịch phim truyền hình Đoàn Huy Giao, tình trạng bát nháo của đời sống mỹ thuật phố cổ lẽ ra đã không đến nếu những người không chuyên không chiếm lĩnh thị trường. Họa sĩ Phan Ngọc Minh là người gắn bó sâu nặng với phố cổ, anh từng triển lãm tranh tại đây hơn 20 năm trước và từng đem vẻ đẹp của Hội An – Mỹ Sơn đến với nhiều nước trên thế giới.
Anh tâm sự: Hiện nay tranh ở Hội An vàng thau lẫn lộn, thật giả nhập nhằng, người người, nhà nhà mở phòng tranh. Ngay một số họa sĩ cũng nặng kinh doanh, coi nhẹ nghệ thuật, tranh cứ sản xuất rập khuôn theo kiểu souvenir. Theo Phan Ngọc Minh, Hội An là một đô thị văn hóa nên mọi sự phổ biến, truyền bá tác phẩm nghệ thuật phải mang tính thẩm mỹ cao. Anh đề nghị chính quyền địa phương cần khắt khe hơn trong việc cấp phép mở gallery. Cửa hàng lưu niệm phải được phân biệt rạch ròi với gallery mỹ thuật.
Bên cạnh đó, chính quyền thành phố phải thành lập một hội đồng nghệ thuật giám định chất lượng tác giả – tác phẩm để sàng lọc thật giả rồi mới cấp phép. Có như vậy Hội An mới mong sẽ trở lại là một vùng đất mỹ thuật của cả nước, là một địa chỉ mỹ thuật đáng tin cậy trong mắt khách du lịch và các nhà sưu tập tranh nước ngoài…
Bài và ảnh đã đăng trên Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần và www.nguoihoian.info, 15/9/09
Ảnh: Hoàng Hữu TưVỀ QUÊ
được phong phanh thuở nọ
quần màu đất nón cời
cùng trâu soi bùn nước
đều là ruộng: mỉm cười
bao năm lạc vào phố
mùi hôi trâu nhớ sao!
ta nặng qua sông rộng
trâu nhẹ thênh làm phao
bước mỏi trên đê cỏ
trâu cõng về xóm nghèo
nửa khuya thành sương biếc
bỏ chuồng, mây bay theo
ta thương ngàn năm cổ
trâu muôn xưa mệt rồi
chào máy cày gặt đập
hai đứa tìm xanh ngơi.
Ảnh: Hoàng Hữu TưNHỮNG MÙA HÈ QUÊ XA
tóc mây xoã mượt vai đầy
tôi từ rừng khổ về say láng giềng
chái lều thủng đạn tường nghiêng
nhìn qua đường đất nắng xiên rây vàng
và đêm sao mọc truông làng
mái trời tia biếc chiếu tràn dáng trinh
gió hè tre hóp gầy mình
em tươi mát với nét xinh thon tròn
cát mềm sương khói bãi cồn
bạch đàn rủ lá lả hồn dịu hương
nghe ngai ngái ngợp yêu thương
thắt tim: tay trắng, rụng buông, bao lần…
Ảnh: Hoàng Hữu TưTHOÁNG XƯA
tôi trở về đây sông ơi
bước trên lối cỏ một thời ấu thơ
ơ kìa chú bé ngây ngô
mải theo chiếc bướm thoắt chờ thoắt bay
dù áo đầy bông cỏ may
súng vang, tiếng mẹ khô gầy tìm con!
vẫn thơm nắng gió say hồn
vời trông cánh nhỏ chập chờn dần xa
sông ơi bao năm trôi qua
thoáng xưa gặp lại ướt nhoà mắt tôi.
1990
Ảnh: Hoàng Hữu TưBÀU VỊT VÀ ÁNH TRĂNG
tặng Võ Văn Luyến
và những người anh đồng hương, cùng bạn bè Quảng Trị
bên bờ bàu Vịt tưởng như tù đọng này
các anh ngồi quanh chai rượu
ngâm thơ và hát
trên cành tre
trăng trong veo tưởng như huyền hoặc
trăng nghìn năm dân dã cao vời
bên bờ bàu Vịt bên bờ bàu Vịt
tưởng như mãi hoài câm nín tàn rơi
rượu ngấm vào lòng
thơ bừng lên từng tạng chất
thơ xanh tóc và thơ bạc tóc
nhạc tỉnh người và nhạc đắm say
bên bờ bàu Vịt bên bờ bàu Vịt
tưởng như tù đọng này
những mảnh đời
tưởng như chìm trong nỗi áo cơm
nỗi gỉ mòn
tận đáy
với tín ngưỡng thơ với tín ngưỡng thơ
ôi cõi miền thẳm sâu kì diệu ấy
nên vẫn rất người
giữa đời thường nhàm nhạt tháng ngày
bên bờ bàu Vịt bên bờ bàu Vịt
tưởng như tù đọng đến quẫn trí này
ta nhìn ra nhau – trăng bâng khuâng đáy mắt
những tấm lòng hoá khoáng đạt chân trời
nhạc và thơ mở ra lối thoát
cùng Thạch Hãn qua bao xóm làng
ra tận biển khơi
và mây xa khơi lại trở về
trong bầu nước ngời trăng dân dã.
1991
TRẦN XUÂN AN