Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, September 16, 2010

CA SĨ NHƯ QUỲNH


NGHE GIỌNG CA NHƯ QUỲNH:

NHƯ VẠT NẮNG

BUỒN NHƯ PHƯỢNG


Như Quỳnh tên thật Lê Lâm Quỳnh Như, là một ca sĩ người Mỹ gốc Việt, cô rất nổi tiếng tại Việt Nam với CD Chuyện hoa sim và Người tình mùa đông , hiện đang định cư tại thành phố Hungtinton Beach ở Nam California, Mỹ.
Tiểu sử
Như Quỳnh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1970 tại Đông Hà, Quảng Trị. Tên khai sinh là Lê Lâm Quỳnh Như quê ở Thôn Ái Tử - Xã Triệu Ái -Huyện Triệu Phong - Quảng Trị. Cô có 2 người em trai là Lê Lâm Tường Duy, mới tốt nghiệp kỹ sư điện toán vào khoảng giữa năm 2000, và Lê Lâm Tường Khuê là một người rất đam mê về ngành thiết kế y phục, từng may nhiều kiểu áo dài cho Như Quỳnh mặc khi biểu diễn.

Sau khi vào Sài Gòn năm 1971, Như Quỳnh cư ngụ trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và theo học cấp 1 tại hai trường Nguyễn Bỉnh Khiêm và Đinh Tiên Hoàng trước khi học tiếp cấp 2 ở trường Trần Văn Ơn và cấp 3 ở trường Trưng Vương. Cô đạt giải Đặc Biệt (trên cả giải nhất, mà cho đến nay vẫn chưa có ca sĩ nào khác nhận được) Cuộc thi Tiếng hát Truyền hình TP.HCM năm 1991. (Vào năm 2006, nữ ca sỹ Phương Trinh, lúc đó vừa tròn 18 tuổi có thể xem là người thứ 2 nhận giải này với giải Supper Star - giải đặc biệt, trên cả giải nhất. Phương Trinh sau đó vừa trở thành ca sỹ vừa là diễn viên).

Tháng 4 năm 1993, cô cùng gia đình định cư tại Mỹ theo diện HO. Ban đầu cả gia đình Như Quỳnh cư ngụ tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania là nơi cha cô đang sống hiện nay với người em trai của cô là Tường Duy sau khi đi đến sự đổ vỡ với mẹ cô. Hai mẹ con cô và một người em khác là Tường Khuê đến cư ngụ tại thành phố Hungtinton Beach ở Nam California. Hiện nay cha cô cùng về sống với cô tại Santana (California).

Năm 1994, người điều hành Trung tâm AsiaTrúc HồThy Vân mời cô sang California thử giọng. Sau lần thử giọng đó, Như Quỳnh được mời ký giao kèo và ngay sau đó đã thu hình nhạc phẩm đầu tiên là Chuyện hoa sim trong chương trình Tác giả và tác phẩm.

Hai năm sau, cô chuyển sang cộng tác cho trung tâm Thúy Nga cùng một lúc với việc điều hành trung tâm nhạc NQ Records với Huy Anh - một người từng được cô coi như thân thiết - và hiện nay là Như Quỳnh Entertainment. Dù tình hình được coi như trì trệ đối với các trung tâm nhạc , nhưng những CD của Như Quỳnh vẫn là một trong những CD bán chạy nhất.

Về cuộc sống riêng tư, Như Quỳnh đã kết hôn với kỹ sư Không gian Nguyễn Thắng hiện đang công tác trong cơ quan chính phủ Hoa Kỳ và họ có một con gái tên là Melody Đông Nghi vào năm 2007.
(Theo vi.wikipedia.org)
READ MORE - CA SĨ NHƯ QUỲNH

Sunday, September 12, 2010

MINH TUẤN - BẢO TỒN NHÀ CỔ HỘI KỲ?

Nhà của bà Dương Thị Hường
Ảnh: Minh Tuấn


Làng Hội Kỳ (xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, Quảng Trị), một ngôi làng cổ gần 500 năm với bề dày truyền thống văn hoá vật thể, phi vật thể. Ngày xưa, làng có khoảng 60 nhà rường, nhà cổ có niên đại hơn 90 năm. Quần thể nhà nằm nghiêng nghiêng bên dòng sông Ô Lâu thơ mộng cùng với sân đình làng rợp mát bóng cây đa đã tạo nên bức tranh sinh động hoài niệm về một thời tổ tiên đến đây khai canh lập xứ.
Thế rồi bom đạn chiến tranh tàn phá, vì thời gian bào mòn, rồi tư nhân mua ra phố thị, nên nhà cổ làng Hội Kỳ đang bị mai một dần. Đến nay, trong làng còn lại khoảng 6 ngôi nhà cổ niên đại hơn 100 năm cùng hàng chục cổ vật giá trị văn hoá đang đứng trước nguy cơ bị hư hại.
Căn nhà cổ của ông Dương Văn Mạnh có tên là Tích Khánh Đường, (tạm dịch là hội tụ niềm vui). Tích Khánh Đường được dựng vào năm 1889 (dưới triều vua Thành Thái), đến nay vừa tròn 120 năm. Ông Mạnh là đời thứ 4 sinh sống và bảo quản, hương khói tổ tiên trong căn nhà này. Nhà có bề ngang 12,3 m, rộng 9,5m, hình chữ đinh. Kiến trúc 3 gian, 2 chái, 4 mái lợp so le 9 lớp ngói liệt với hơn 10 vạn viên.
18 lá cửa ban khoa được chia thành ba cụm tạo sự cân đối. Toàn bộ ngôi nhà được chống đỡ bằng 48 cột gỗ mít nài (mít rừng) có đường kính khoảng 30 cm. Gian giữa làm nơi thờ tự tổ tiên được trang trí bức hoành phi ghi chữ Tích Khánh Đường bằng Hán tự, trên bàn thờ còn đầy đủ những tự khí cổ như đỉnh đồng, bát nhang, chân đèn và bình hoa, chò tử quả.
Hai bên có 4 bốn bức liễn ghi Hán tự mang tính giáo dục cháu con đời sau: Lâm thượng chất hào vạn cổ thư hùng tưởng duyên/Quang tầm khoát hậu thiên thu đậu thư hinh hương/ Hiếu hữu môn phong minh đức kỳ lai dã viễn hỉ/ Thi thư thế phùng hiển thừa lưu xạ tùng nhân tư (nghĩa là: Con cháu xây dựng phúc ấm vĩnh cữu/Để tiếng thơm lưu truyền cõi thiên thu/Sống có hiếu mang đức sáng truyền lại/ Thi thơ vẹn toàn xứng danh gia tộc).

Ông Mạnh cho biết: “Năm 1889, thời vua Thành Thái, cụ cố của tôi là Dương Văn Vĩ làm chức quan Chánh tổng phủ An Thư (An Thơ). Cụ đã huy động 12 tay thợ mộc lành nghề lao động miệt mài trong 3 năm mới hoàn thành ngôi nhà này. Hiện nay, tôi vẫn còn bảo quản hơn 20 cổ vật và các bút tích sắc phong của vua Thành Thái”.
Cách nhà ông Mạnh không xa, nhà bà Dương Thị Hường có tên là Đức Lưu Quang (tạm dịch là lưu truyền đức sáng). Niên đại ghi rõ: Tân Mùi niên trọng thu tạo (nghĩa là dựng vào năm Tân Mùi (năm 1931). Nhà hình chữ nhất, cấu trúc 1 gian 2 chái trên diện tích khoảng 60 m2. Cân xứng giữa gian thờ là hai câu đối khảm bằng chữ Hán: Đức thừa tiên tổ tứ đại đồng đường thiên niên thạch/ Phúc ấm nhi tồn bát tuần song thọ vạn thế vinh (Tạm dịch là: Hưởng đức tổ tiên 4 đời cháu con thịnh vượng/ Nhờ phúc thọ ấm song thân gia tộc mãi mãi hiển vinh).
Hiên nhà có những mảng điêu khắc theo tuồng Mai - Lan - Trúc - Cúc sống động. Trên các khuôn bông, kèo hiên chạm khắc Long - Lân - Quy - Phượng được cách điệu khéo léo thành nhưng linh vật đang vươn ra đỡ mái hiên nhà. Trong nhà treo bức hoành phi viết bằng Hán tự là: Tứ đại đồng đường (Bốn thế hệ sống trong một nhà).
Theo quan niệm người xưa, ngôi nhà trải qua 4 thế hệ kế tiếp sinh sống thì dòng họ đó được coi là có phúc. Chúng tôi đến thăm nhiều nhà cổ và thấy rằng, nhà nào chưa đạt đến “Tứ đại đồng đường” hoặc “ Tam đại đồng đường” đều có trưng chữ “An” bằng Hán tự. Đối với nghĩa tượng hình của người Trung Quốc thì chữ “An”, trong an lạc, an bình, an sinh...gồm bộ Nữ (người phụ nữ) viết dưới bộ Miên (mái nhà).
Luận rằng: Có người phụ nữ tần tảo dưới mái nhà chung thì đó là sự an bình. Phải chăng, ngày xưa, ông cha ta đã thấy rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể để giáo dục con cháu luôn hướng về cội nguồn mà “Xây dựng phúc ấm vĩnh cữu/ Để tiếng thơm lưu truyền cõi thiên thu”.

Hiện nay, nhà cổ làng Hội Kỳ đang đứng trước nguy cơ bê tông hoá hoặc thay đổi kết cấu thành nhà Rội, nhà đơn sơ. Nhiều nhà nguyên gốc 3 gian gian 2 chái do bị xuống cấp đã được chủ nhân rút gọn lại thành 1 gian 2 chái đơn giản, hoặc lưu lại một căn nhỏ làm kỷ niệm.
Đặc biệt kiến trúc không ít nhà bị thay đổi hoàn toàn vì chủ nhân không có điều kiện tu bổ. Ông Mạnh thật thà: “Để giữ nguyên hiện trạng nhà cho đến hôm nay, tôi đã cho trùng tu 2 lần với chi phí tốn kém. Thấy vậy, nhiều người đến đây trả giá ngôi nhà này hàng trăm triệu đồng nhưng tôi kiên quyết không bán đi”.
Trao đổi với chúng tôi, ông Cáp Xuân Tá, Trưởng Phòng VHTT huyện Hải Lăng cho biết: “Trên địa bàn huyện Hải Lăng chỉ duy nhất làng Hội Kỳ còn lưu giữ nhiều nhà rường, nhà cổ và cổ vật có giá trị văn hoá cao. Đáng buồn vì mặc dù người dân rất ý thức trong việc giữ gìn giá trị văn hoá kiến trúc cổ của tổ tiên để lại, nhưng phần lớn họ không có điều kiện tu bổ và phương pháp lưu giữ tối ưu nên kiến trúc văn hoá bị ảnh hưởng không nhỏ”.
Theo chúng tôi, đưa một làng cổ đầy đủ các tiêu chí vào diện quy hoạch bảo tồn văn hoá vật thể là điều tất yếu. Nhà nước đã và đang có chính sách khuyến khích bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống của dân gian. Vấn đề là làm sao khai thác giá trị văn hoá gắn với việc phát triển đời sống kinh tế xã hội mới là điều đáng lưu tâm.
Bên kia sông Ô Lâu, làng cổ Phước Tích, tỉnh Thừa Thiên Huế được Nhà nước công nhận di tích cấp Quốc gia. Mỗi năm Phước Tích thu hút hàng trăm lượt khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu, góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch. Mới đây, UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế lại tiếp tục đưa làng chạm khảm Mỹ Xuyên, làng gốm Phước Tích vào quy hoạch bảo tồn.
Chúng tôi cho rằng, làng cổ Hội Kỳ nếu được khảo sát đánh giá và đầu tư đúng mức thì có thể trở thành một tour du lịch lý tưởng trên tuyến hành lang kinh tế Đông-Tây, hoặc một điểm dừng chân của tour du lịch Thánh địa La Vang- trằm Trà Lộc- bãi tắm Mỹ Thuỷ. Thạc sĩ Lê Đức Thọ, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh băn khoăn: “Đến nay, vẫn chưa có một cuộc khảo sát rốt ráo về thực trạng di sản văn hoá trên địa bàn tỉnh, nên công tác bảo tồn còn gặp nhiều bất cập. Theo tôi đây là một việc cần triển khai kịp thời”.
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Bình, Phó Giám đốc Sở VHTT&DL cho biết: Bộ VHTT&DL có chương trình “Mục tiêu bảo tồn các làng, bản cổ”. Sau khi xét đủ các tiêu chí, chương trình sẽ cấp kinh phí để trùng tu bảo tồn những giá trị văn hoá dân gian. Hiên nay, Sở đang lập đoàn khảo sát để tổng kiểm tra di sản văn hoá dân gian trên địa bàn toàn tỉnh. Sau đó sẽ lập Hội đồng khoa học đánh giá và phân loại các giá trị văn hoá cần bảo tồn để lập đề án đưa vào chương trình.
Chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc văn hoá, người ta có thể đọc được hành trình lịch sử của mỗi dân tộc. Làm thế nào để bảo tồn và giữ gìn những giá trị văn hoá là trách nhiệm không chỉ của cá nhân mà của toàn cộng đồng. Khi chia tay, người dân làng cổ Hội Kỳ hứa như đinh đóng cột: “Nếu được Nhà nước quan tâm đầu tư, làng chúng tôi và con cháu nguyện sẽ gìn giữ nếp nhà của tổ tiên bằng mọi giá”.
Minh Tuấn
Nguồn: www.baoquangtri.vn
READ MORE - MINH TUẤN - BẢO TỒN NHÀ CỔ HỘI KỲ?

Thursday, September 9, 2010

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - TÍM CẢ CHIỀU HOANG



TRUYỆN NGẮN

Nhà thơ Hữu Loan , tác giả của bài thơ Màu tím hoa sim" đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 19h ngày 18.3. Và Màu Tím ngắt lòng của Hữu Loan ở mãi cùng chúng ta.

lần tôi hỏi nhà thơ thích bản nhạc nào trong hai bản phổ nhạc bài thơ Màu Tím Hoa Sim. HL trần ngâm rồi trả lời, Bài của Dzũng Chinh hợp với tâm trạng của ông hơn. Hình như đoạn hành khúc hùng tráng trong bài Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà của Phạm Duy không hợp với cái buồn da diết trong thơ HL.

Tôi thuộc bài thơ MTHS từ nhỏ. Vậy mà đến khi đi cắt tranh ở Ái Tử mới thấy Những Đồi Hoa Sim vùng trung du Quảng Trị. Khi viết truyện về vùng đất này tôi không ngần ngại đặt tựa đề là : Tím Cả Chiều Hoang.



Tôi dân thành thị, về làng cũ cùng gia đình làm ruộng hợp tác xã. Cha mạ tôi vốn gốc nông dân, tôi lại chưa quen nghề nông, làm việc gì cũng vụng về, khó nhọc. Ba mạ thương con nhưng biết làm sao, có ta có mình con à, đừng buồn, vài năm ổn định con lại đi học. Mạ tôi hay khuyên con mà môi mạ giật giật, muốn khóc. Có lúc tôi buồn, nhớ bạn bỏ vô Huế chơi mấy ngày. Những đứa bạn cùng lớp tôi ở thành thị cũng chẳng hơn gì, tụi nó cũng đi thủy lợi, thanh niên xung phong đâu hết. Những Socrates , Sartre, Heidegger, những thuyết hiện sinh, nhân vị… ở phân khoa triết chúng tôi nào có ích gì với cuộc sống mới cuồn cuộn, đói rách nhưng hồ hởi này. Ai cũng giải thích với tôi là “cực chừ sướng sau…”, tôi thì nhiều khi chán nản, không tin cái sướng sau là mấy. May mà có anh Nợ.

Anh Nợ là tù binh được tha, được sung vào đoàn vận tải trong chiến dịch mùa xuân năm bảy lăm, anh về làng với bộ đồ bộ đội, nón cối hẳn hoi. Lần đầu cùng anh đi gặt lúa tôi có thiện cảm với anh ngay. Anh chân tình chỉ bảo, không khe khắt như những lão nông cùng đội, họ luôn coi tôi là thứ ăn bám, trí thức nửa mùa. Mấy mùa rồi tôi cố gắng lắm cũng chỉ được năm điểm, có nghĩa là ngày công của tôi chỉ bằng nửa những lão nông, mà suốt buổi họ chỉ đi lòng vòng hoặc giả vờ đi tiểu. Buổi chiều trên đường gánh lúa về anh Nợ dặn: “Chú mua một gói thuốc Tam Đảo, mời mấy cụ mỗi người một điếu. Tui nói chi kệ tui, thế nào chú cũng được nâng điểm”. Thế mà tôi được nâng bảy điểm, nhờ cách đề nghị khôn ngoan có tình có lý của anh. Bài học đầu tiên về lao động tập thể là thế, tôi xem anh Nợ như sư phụ của tôi. Anh lại quý tôi như đứa em có học mà ngây ngô, tội nghiệp. Có lần tôi bảo: “thèm xôi quá” khi ngang qua một thửa ruộng nếp đang chín, anh Nợ nói tỉnh bơ, “mai qua nhà tau ăn xôi nếp mới”. Chạng vạng tối, anh ra dấu tôi theo anh, đến bờ ruộng nếp, anh bảo tôi đứng canh, có ai ngang qua cứ đằng hắng. Loáng một cái anh đã có một bao nếp chẹn. Hôm sau tôi đến nhà đã nghe nồi xôi thơm phức. Anh dạy tôi, tập thể là rứa đó, mấy năm ở tù anh học được nhiều điều hay lắm. Anh bảo, “chú mày bỏ cái thói trí thức sĩ diện đi, hạt cơm rất vô tình, chỉ vào chén những người khôn khéo”. Uy tín với bà con nhờ vào tính bộc trực tháo vát bên ngoài của anh Nợ, trong sâu xa bà con lại trọng anh vì một lẽ khác: Cái chi anh cũng biết, kể cả những bài chính trị mấy cô cán bộ phổ biến. Có lần anh chỉnh cán bộ vì phổ biến chính sách đường lối không chuẩn. Anh bảo bảy năm cải tạo ngày nào không học chính trị, anh thuộc còn hơn ông Lại hò quẻ.

Anh Nợ, mạ anh đặt tên chơ có ai khác, thiệt ra anh có nợ ai đâu, chỉ nợ một tấm lòng, một người, vợ anh, chị Nần.

Chị Nần người đâu trên vùng Cam Lộ, vùng đất cực tây của Quảng trị. Nghe nói hồi vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở, sau khi bị Pháp bắt, cung phi mỹ nữ chạy tán loạn, có người lấy chồng rồi sinh con đẻ cháu. Bà nội bà cố là cung phi chắc phải đẹp nên vùng Cam Lộ con gái đẹp nổi tiếng!?

Anh Nợ hai mươi tuổi đăng lính bộ binh (chế độ cũ). Đáng lẽ là con một, cha mẹ trên sáu mươi tuổi được hõan dịch vì lý do gia cảnh, nhưng nhà nghèo, chiến tranh loạn lạc, ở vùng nông thôn thanh niên không theo bên này cũng phải theo bên kia. Trong một lần đóng quân ở vùng Cam Lộ anh gặp chị Nần. Cô nông dân đem lòng yêu thương chàng lính gốc nông dân. Họ cưới nhau rồi chị theo anh về quê chồng, thay anh phụng dưỡng cha mạ. Ăn ở với nhau chưa bén hơi, anh Nợ trở lại chiến trường, trong trận Khe Sanh anh bị bắt làm tù binh, thời đó gọi là mất tích.

Chị Nần góa chồng, được ăn lương quả phụ. Mười chín tuổi, da thịt trắng ngần, mang khăn tang đi làm sổ tử tuất, bao con mắt hau háu chọc ghẹo, bao lời ngon ngọt dụ dỗ, chị vẫn sắt son ở vậy, chăm sóc gia nương, chờ chồng. Nhưng số phận oan nghiệt, cuộc đời không tha cho, xóm làng đồn chị có ý tình với lão Lại hò quẻ.

Lão Lại làm nghề thầy bói, mỗi quẻ được đặt tiền, lão cầm đồng tiền vân vê rồi hò:

“ Như ri tui cũng đã biết rồi, chồng o xuống suối lên đồi tội chưa”.

Giọng hò của lão Lại trầm, ấm, tha thiết lắm, ai nghe cũng mủi lòng. Vậy là quá phụ khóc tức tưởi. Lão lại cầu cho hồn người chồng nhập vào xác …chính lão. Thế rồi quẻ vận vào trong lời hò, vong xưng anh anh em em ngọt xớt. Lão lại hò:

“ Hơ.. hơ…, âm dương cách trở, đêm ở ngày đi / Thiếp với chàng gần gụi như ri mà răng không chộ / hơ… hơ không chộ nên dạ cứ bổi hổi bồi hồi / hay là thiếp lạc lòng xiêu dạ theo ai rồi cũng nên…”

Những bà quá phụ sụp xuống lạy, khóc lóc minh oan. Lão Lại vờ như tha lỗi, vừa hò vừa sờ sẩm âu yếm các bà quá phụ. Các bà tưởng vong linh của chồng về, mắt lim dim tận hưởng hơi chồng qua bàn tay lão Lại. Có bà ở lại với lão vì theo quẻ, theo lời yêu cầu của vong linh chồng nhập vào trong lão đòi hỏi như thế. Chị Nần thương chồng có ở lại với lão mấy đêm cho …thỏa tình những ngày âm dương cách trở. Chị có mang với …vong linh chồng, chị hằng tin tưởng điều ấy . Bà con làng xóm lại cho chị là đàn bà hoang dâm, chồng chưa biết sống chết thế nào mà chửa hoang. Buồn tình chị về quê mẹ sinh đẻ nuôi con thờ chồng. Người ta đồn rằng có người chồng chết ngủ với lão Lại, đẻ con ra giống chồng như đúc. Lại có người bảo, có cô lấy chồng còn nhớ người yêu cũ, do đêm ngày mơ tưởng rồi đẻ con giống hệt người tình xưa, bị chồng ghen tương hất hủi, oan ức tự tử.

Hằng tháng chị Nần vẫn bồng con về thăm ông bà nội (chị luôn nghĩ thế). Thằng bé càng lớn càng giống anh Nợ. Năm bảy hai chị lại bồng con về thăm, trong bom đạn chị dắt díu cả nhà sơ tán ra Vĩnh Linh, ông bà cụ trúng bom chết.

Từ ngày về làng chưa bao giờ nghe anh Nợ nhắc đến chị Nần, ai nói tới là anh trừng mắt bảo “có rảnh không đó” rồi nhìn đi chổ khác, mắt buồn và dữ. Có người ra Đông Hà về bảo chị Nần làm công nhân lâm trường, có gặp chị dắt con đi chợ, mặt thằng bé giống anh Nợ như đúc. Anh nghiêm mặt hỏi, “giống thiệt không, không giống thì đừng có trách”. Anh cầm cây rựa nhứ nhứ, “từ nay tôi nói với bà con lần chót, ai nhắc đến chuyện của tui là đừng có trách”.

Mỗi ngày không gặp anh Nợ tôi thấy như thiếu cái gì đó. Tôi và anh hay nhận đạp nước đêm, trong tiếng lá xe cuộn nước lào xào nghe anh kể chuyện. Chuyện đời anh đã trải qua, chuyện lính tráng, chiến tranh, chuyện ở tù ngoài Bắc, chuyện lần đầu anh ngủ đò với gái... Anh kể mạch lạc, hấp dẫn. Ấn tượng nhất là chuyện tù binh đi củi rình con gái nông trường tắm. Anh nói con c... là kỳ diệu nhất, đói khát thế mà đứa nào thấy phụ nữ trần truồng cũng ngóc đầu lên hết. Nói xong anh sờ tôi, cười ha hả, “thằng nhỏ mày cũng nhạy dữ”. Có hôm trong mạch chuyện kể về vùng Cam Lộ, anh hứng chí kể luôn chuyện tình anh với chị Nần. Anh bảo con gái đứa mô cũng mê nhạc và lãng mạn. Thấy chị Nần đẹp quá không biết làm sao quen, một hôm đi ngang đồi sim anh bèn bẻ một cành hoa, gói trong bản nhạc màu tím hoa sim(1) đem tặng. Chị Nần thích lắm, mắt long lanh nhận quà. Hôm sau anh đến, mượn theo cái đàn ghita của tay đại đội phó. Anh không biết đàn cũng quẹt lung tung, đàn một đường hát một nẻo, mắt cứ mơ màng như người chồng hát về mối tình tang thương với cô vợ trẻ. Chị Nần cứ tròn xoe mắt ra nghe anh hát, rồi mê anh. Từ yêu đến chuyện đó mau lắm, anh gật gừ bảo thế. Con gái nhà quê nhút nhát nhưng khi đã thương ai rồi còn bạo hơn dân thành thị. Anh thở dài rồi phán một câu “đàn bà nó hứng lên rồi thì ai cũng không chừa”. Anh buồn rầu bảo “nghỉ, đi uống rượu’. Đêm đó anh say, đi liêu xiêu dưới trăng hát lè nhè “ Áo anh sứt chỉ đường tà, vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu”.(2)

Mùa gặt xong. Đội họp phân công người đi tranh. Anh Nợ lên kế hoạch rồi xung phong dẫn xã viên đi cắt tranh trên Trấm. Người đầu tiên anh chọn là tôi và ba người nữa, đặc biệt có Hoài. Hoài mới về làng mấy tháng chưa quen việc đồng áng, khi nào đội đi làm xa thường cử Hoài đi theo nấu ăn. Hoài ít nói, đôi mắt khi nào cũng buồn buồn ươn ướt. Hoài cũng sinh viên văn khoa năm thứ nhất, được chuyển qua học cao đẳng sư phạm được mấy tháng, theo bạn bè vượt biên bị bắt rồi bị đuổi học. Tôi có biết Hoài nhưng chưa quen. Anh Nợ nói nhỏ với tôi, “con Hoài đẹp dữ, chú tán đại đi”, tôi cười mơ ước.

Mỗi người chuẩn bị bảy ngày ăn, mang theo liềm và đòn xóc. Ngày thứ tám toàn đội lên Trấm gánh tranh về. Anh nợ phổ biến nhanh gọn kiểu quân đội.

Chúng tôi khởi hành từ bốn giờ sáng, tờ mờ đã đã vượt qua quốc lộ một. Lần đầu tôi đi về hướng tây xa như thế, dù quê tôi từ rừng xuống biển có nơi chưa đầy hai mươi cây số. Tuổi thơ tôi nhìn về trường sơn lờ mờ mây khói, ở đó đôi khi vọng về những trận bom rền như sấm đất.

Dưới nắng trưa, gió nam Lào thổi hừng hực qua những đồi trọc lưa thưa lau lách. Tôi chỉ xuống thung lũng hỏi anh Nợ có phải cây cỏ tranh không, anh cười bảo “công tử ơi đi một đoạn nữa, cây tranh không thích những nơi đất trũng, tù túng. Nó bần hàn mà cao sang. Chỗ triền giốc tranh mới sạch, mới săn. Đời cũng rứa chú à. Như chú thì đàn bà sẽ đè đầu cưỡi cổ”. Vượt giốc lần thứ ba anh chỉ lên đồi, “Đó, tranh đó, tranh và sim thường mọc với nhau, từ lưng chừng đồi trở lên. Dưới thung lũng cũng có cây sim nhưng không có hoa trái, chỉ chặt về làm củi. Sim sinh ra để đơm hoa kết trái, không để làm củi. Những nơi ẩm thấp cũng có đôi bụi tranh mọc không thành vạt, cây tốt nhưng không dùng được, mối mọt ăn liền”. Anh giải thích “Đi cắt tranh đói bụng khát nước thì hái sim ăn, cho nên có câu: “Đói lòng ăn nửa trái sim…”. Hoài cãi “nhưng mà đi tìm người thương chơ có phải đi cắt tranh đâu”. Anh Nợ nói vu vơ: “Ai có người thương thì đi tìm, ai không có thì... lo mà cắt tranh”. Tôi và Hoài nhìn nhau nháy mắt, lần đầu tôi thấy Hoài cười.

Những đồi sim chạy theo con đường ngoằn ngoèo ký ức tuổi thơ và câu hát, màu tím hoa sim tím cả chiều hoang biền biệt . Những đồi tranh phơ phất bông trắng lẫn vào những bụi sim tím ngắt lòng. Anh Nợ ti tỉ hát “áo anh sứt chỉ đường tà, vợ anh chết sớm…”. Từ làng đến nơi cắt tranh đi hết non một ngày đường, ngang qua bao đồi hoang, những hố bom nở toác miệng đỏ bầm bên màu trắng bông tranh, bên màu tím hoa sim còn tươi rói màu đất.

Chúng tôi dừng nghỉ chân trong một lán trại của ai đó bên bờ suối, trước sân có mấy bụi chuối xanh tốt. Ở đây có những vạt sắn của các đội sản xuất hoặc của lâm trường, lán trại được họ dựng sẵn tạm đủ tiện nghi. Bên kia suối, chếch phía thượng nguồn có tiếng người í ới, léo éo. Anh Nợ bảo chỗ nào nghe toàn giọng đàn bà con gái là nông hoặc lâm trường, rồi anh nhìn tôi đùa “đẹp trai như chú thì đừng có léng phéng qua bên nớ, coi chừng bị bắt cóc”. Hoài cười cười “biết đâu anh Thương thích bắt cóc cũng nên”. Lần đầu Hoài gọi tên mình, tôi quay mặt đi, sướng rơn!

Ăn trưa bằng những gói cơm độn khoai mang theo. Xong anh Nợ bảo: “Chiều ni đi tìm tranh, mai sáng bắt đầu làm việc. Chú Sa với tui đi một hướng, chú Thương với bác Lễ đi một hướng. O Hoài ở nhà lo cơm tối”. Hoài dẫy nẫy lên: “ Em không ở nhà mô, sợ lắm”. Anh Nợ ỡm ờ “rứa thì o đi với chú Thương, bác Lễ ở nhà. Nhớ tìm ra vạt tranh tốt, không thì tôi trừ điểm cả hai”.

Tôi và Hoài đi theo hướng Nam, băng qua một ngọn đồi toàn lau lách, lội xuống một thung lũng đủ loại cây dại cao quá đầu cũng chẳng thấy tranh đâu.

Má rớm máu vì lau lách cắt, mắt Hoài tròn, vòng tròn đen thẳm nhìn lên nói như reo: “ Hoa sim tề, tranh tề…” Chúng tôi níu tay nhau chạy lên đồi tranh. Vạt tranh lào xào gió, gợn những đợt sóng lao xao ôm quấn quýt thân Hoài. Những bụi sim lúp xúp, hoa tím ngắt lung lay, trái chín đen mọng dưới tàn lá.

Chúng tôi ngồi xuống trên đỉnh đồi, bên một bụi sim rậm trĩu quả. Chiều xế đi trên dãy trường sơn. Dãy núi lờ mờ phía tây, u hoài sương khói. Trên cao, nhìn về hướng đông, nơi có xóm làng quê cha đất tổ, mồ mả mênh mang bao đời cát trắng. Ngoài xa, biển Đông, lơ mơ một chân trời. Cha ông mình không sợ biển, sao con cháu sợ biển thế. Tôi hỏi Hoài có sợ biển không, Hoài bảo không sợ gì hết, chỉ sợ tình người ly tán.

Hoài hái đầy nón lá những trái sim mọng nước, miệng hai đứa tím ngắt màu sim. Chúng tôi theo đường cũ về lán, trời nhá nhem tối.

Sáng hôm sau Hoài vẫn không chịu ở nhà nấu ăn, đòi theo cắt tranh. Chúng tôi chọn vạt tranh tôi và Hoài tìm ra hôm qua. Nắng tháng năm buổi sáng đã nóng hầm hập, ngồi xuống cắt tranh bốn bề khuất gió, mồ hôi như tắm. Mặt hoài đỏ lơ đỏ lớn, anh Nợ bảo, “chưa ăn thua đâu, gần trưa rồi biết mặt”. Hoài cười khúc khích: “Không sợ, chỉ lo công tử thôi”. Chúng tôi dàn hàng ngang từ dưới đồi cắt lên. Anh Nợ bảo “tranh sạch và săn, chú thím vậy mà được việc”. Sa và anh Nợ cắt nhanh, còn xếp ngay hàng thẳng lối. Tranh vướng vào mặt xót rát rất khó chịu, tôi và Hoài chưa quen cắt chậm rì, dùng dằng như gà mắc tóc. Hoài ngừng cắt, chăm chú nhìn kỹ những động tác anh Nợ, nói nhỏ, “anh Thương này, nhìn tề, anh không cắt sát gốc như mình, cắt cao lên một chút. Mà nữa, anh để ý đi, anh cắt đầy tay thường là bảy đến mười lát mới quay đằng sau rải xuống. Được chưa, chừ thì coi ai nhanh hơn nghe”. Chúng tôi cắt từ chậm đến nhanh, nói cười ríu rít, đến trưa vẫn hăng hái thi đua. Nhìn áo Hoài đẫm mồ hôi, đóng váng một đường viền bạc trắng như bản đồ châu Úc sau lưng, tôi chạnh lòng: “Mệt lắm không Hoài”. “Mệt mà vui, muốn ngon thì ăn cỗ, muốn khổ thì đi tranh mà”. Tôi đùa “Muốn khổ thì yêu…”. Cả hai cười buồn.

Anh Nợ ngạc nhiên nhìn những hàng tranh chúng tôi rải ngay ngắn, cười: “Có đôi có cặp làm việc chi cũng nên”. Trưa ăn qua loa mấy cái bánh sắn. Chúng tôi làm việc đến chiều, nhìn lui một khoảng trống rộng lởm chởm gốc tranh, trên đó là những vạt tranh phơi đều thẳng tắp. Anh Nợ bảo năng suất vậy là tốt, công lớn thuộc về chú thím.

Đến ngày thứ tư số lượng tranh cắt được theo tính toán của anh Nợ là vừa đủ hai mươi gánh. Chú Lễ và Sa về trước để ba ngày sau tranh khô dẫn đội viên lên gánh về.

Buổi tối. Trăng thượng tuần sáng lắm. Tôi và Hoài ngồi trước sân ngắm trăng nói chuyện. Anh Nợ đem chai rượu đế ra nhâm nhi. Anh mời tôi một ly, Hoài bảo “chỉ uống một ly thôi, tối nay anh Thương phải ngâm thơ cho Hoài nghe. Hồi ở trong trường văn khoa Hoài đã nghe anh ngâm thơ rồi’. Anh Nợ thở dài, ực một ly rượu “thơ với nhạc chỉ dụ dỗ được phụ nữ nhưng không cầm chân họ được. Thơ ca hò vè dễ làm cho con đàn bà ngoại tình lắm. Nghe hò nghe hát có ngày mang họa như chơi. Chú Thương có nhớ cái bài chi đó có câu “Vô tình để gió hôn lên má…”(3), gió hôn mà cũng bẽn lẽn huống chi người. Tâm địa đàn bà…” anh ngưng đột ngột, ực thêm một ly.Yên lặng. Hoài ư ư trong cổ một làn điệu thơ nào đó không rõ như đệm nhạc. Tôi ngâm theo:

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động

Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi

……..

tình để gió hôn lên má

Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm

Em sợ lang quân em biết được

Nghi ngờ đến cái tiết trinh em…

Gió xao nhẹ tàu lá chuối dưới trăng rách bươm như…cành liễu.

“Thấy chưa, thấy chưa, ha ha “ Anh Nợ cười ha hả đứng lên, đi theo đường mòn lên đồi. Tôi và Hoài ngồi nhìn theo cái bóng xiêu vẹo khuất dần. Trong xạc xào gió cơ hồ vẳng lại tiếng hát nghẹn ngào: “à ời, à ơi áo anh sứt chỉ đường tà…”, tiếng hát anh Nợ nhỏ dần, lẫn vào gió trăng.

Nghỉ trưa xong anh Nợ rủ tôi xuống suối tát cá. Hoài ở nhà đọc Thép Đã Tôi Thế Đấy.(4) Tôi nhìn Hoài nheo mắt, “ chào nữ Paven. Hoài cừ thiệt, định luyện đến bao giờ mới thành thép, nhớ chừa lại trái tim nghe’. Hoài ư ư, gấp sách nhìn tôi bảo; “Đi mau về nghe, Hoài ở một mình sợ lắm”.

Con suối bắt nguồn từ những đồi phía tây, chảy ngoằn ngoèo qua các thung lũng đồi tranh đổ ra sông Thạch Hãn. Mùa khô, những đìa nước lẫn dưới lau lách lạnh tanh. Anh Nợ be bờ bamội thì bịt lại. Khoảng hai tiếng, nước cạn dần. những con cá giếc cáa mại bắt đầu nổi lên. Anh Nợ bắt cá thành thạo, cầm con cá giếc to tràn cả bàn tay la lên: “Chú có lần nào bụm cá giếc chưa, sướng vô cùng tận. Nhớ bụm con Hoài một cái cho nó sướng, sướng cả hai, hà hà”. Tôi bắt con nào cũng sẩy, anh Nợ bảo: “Bắt cá tràu mới khó mà tụi đàn bà con gái còn bắt được, chú mày không xong”.

Được vài cân cá. Anh Nợ bảo lên bến lâm trường tắm. Anh cười hì hì, “giờ này tụi lâm trường xuống tắm, mình đi tắt lối này tụi nó không để ý. Hôm qua tau xem địa thế rồi, có cây mưng rậm trên bờ, mình leo lên ngồi chờ, hướng quan sát tốt, đi” Tôi theo anh như cái đuôi. Anh rẽ lau lách đi băng băng, tôi xách oi cá chạy theo hụt hơi. Đến gần gốc cây mưng anh nhẹ nhàng như mèo leo lên, cầm tay tôi kéo theo, ngồi khuất trong nhánh lá, ở chạc ba cây mưng.

Bến nước trong vắt, vắng hoe. Mặt trời sắp lặn mà chưa thấy ai xuống tắm. Tôi nghĩ đến Hoài. Hoài mà biết tôi thế này chắc khinh ghét lắm, lòng cứ mong là đừng có ai xuống tắm. Tôi thờ thẩn nhìn về hướng lán trại, có Hoài trong đó, chắc giờ này cũng… tắm. Anh Nợ nói nhỏ, “lạ thiệt, không nghe tụi nó la réo như mọi ngày, à chết rồi, hôm nay chủ nhật chắc tụi nó về nhà hết rồi. Thôi về”. Chúng tôi chuẩn bị tụt xuống thì nghe tiếng hát từ sau đám lách, tiếng hát lớn dần theo đường mòn: “ Tím cả chiều hoang đây tím cả chiều hoang…Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi czaòn tóc búi vai…”. Mặt anh Nợ căng lên, cằm bạnh ra nhìn về hướng tiếng hát. Có tiếng trẻ con, “ mạ ơi, chiều ni bến vắng, mạ con mình tắm thích hỷ’. Anh Nợ cầm tay tôi dằn lại cứng ngắt, căng mắt về hướng tiếng hát: Thiếu phụ dắt tay đứa bé trạc bốn tuổi xuống bến. Tôi nói nhỏ vào tai anh Nợ: “Chị Nần tề, thằng nhỏ sao giống anh quá, hay là…” Anh càng siết mạnh tay tôi đau điếng, thì thào “chú về đi, nhẹ thôi, theo lối này’ Anh chỉ tay về hướng có Hoài.

Kết 1

Tôi xách oi cá lủi đi , xăm xăm leo giốc. Những gốc tranh tua tủa nhói buốt gan bàn chân đau điếng. Tôi lặng đi, ngẫn ngơ nhìn về hai phía, phía anh Nợ và phía Hoài. Hoài ám ảnh tôi từ chiều hôm qua, từ lúc Hoài dừng liềm cắt tranh, hơi ưỡn người ra phía trước, đưa cườm tay lên quệt mồ hôi trán. Từ ngực áo Hoài, cái mùi gì thơm thơm ngây ngất như mùi đứa trẻ còn hơi sữa mẹ, quyện trong mùi nắng hanh vàng, vừa gay gắt ngai ngái, vừa gợi lên những vực thẳm mê hồn mà rùng rợn, chơi vơi. Nhớ lúc ấy, tôi đã vội vàng cúi gằm mặt xuống, nghiến răng, tránh cái nhìn hồ hởi vô tư lự của Hoài, tưởng đôi mắt dao cau ai đó cắt ngang lưng.

Hoài đang làm gì trong mái tranh khuất sau bụi chuối kia, tôi trân người tưởng tượng hoài đang nằm ngữa đọc sách, hai chân dang ra, hay đang trần truồng tắm. Từng đợt gió ào tới xé te tua những tàu lá, chấp chới mái tranh. Hai bên thái dương tôi nóng bừng, giần giật. Toàn thân tứa ra chất gì như mồ hôi, quyện lại khô đi, tan đi. Cảm giác cồn cào nhồn nhột chỗ bụng dưới, ùa lên đầu váng vất, thôi thúc điên cuồng rồ dại: Tôi muốn vồ lấy Hoài mà nghiến mà ngấu ngay tức khắc. Cào cắn, ngụp lặn trong cái mùi hương huyễn hoặc ấy cho đến chết thì thôi.

Tôi, thằng con trai hai mươi mốt tuổi chưa hề biết tới nụ hôn. Chẳng biết anh Nợ ở lại chỗ bến ấy làm chi, cho tội! Anh có lại gần chị Nần và đứa bé, rồi nói gì với chị hay không? Có chửi mắng chị không? Hay anh sẽ đập chị một trận cho thỏa nỗi ghen tuông của thằng đàn ông thất chí, vô tình bị phản bội? Hay là…

Không kịp suy nghĩ gì, tôi để oi cá xuống, chạy băng băng ngược lại chỗ bến tắm. Tôi lủi nhẹ nhàng dưới lau lách, dừng lại bên bờ suối, núp dưới bụi lau. Có tiếng khỏa nước, tiếng con nít cười rúc rích và thỏ thẻ những gì không rõ. Da mặt tôi rần rần như bị kim châm, tai lào phào gió thổi. Thằng cu con cởi truồng đứng nghênh dưới suối chờ mạ khỏa nước lên mình cho. Người thiếu phụ vận nguyên bộ bà ba đen ướt sũng, hằn rõ những đường nét cơ thể nở nang căng tràn, nút áo trể xuống lộ mảng ngực trần trắng ngần. Tôi như chết điếng, không thể rời mắt qua chỗ khác. Nước bọt ứa ra đầy miệng, tôi mân mê dương vật đang căng cứng, thao tác từng nhịp từng nhịp, nghe đau thắt hai tinh hoàn, rồi nghe dật dật từng nhịp hoan lạc vỡ òa trên tay chất nước sền sệt. Tôi rùng mình ứa nước mắt thương Hoài cay đắng.

Tôi ngững lên, bên kia suối, trên cái "đài quan sát" của chúng tôi, anh Nợ đang ngồi bó gối, xo xụm sần sì như một đụn gốc cây bị đốn lâu rồi. Lưng anh sụm xuống, hai tai như đang vểnh ra, như níu chặt lấy cái gì đó tự bên trong mình. Níu chặt. Không cho mình đứng dậy hay làm bất cứ một cử chỉ nào khác. Gương mặt cháy nắng xam xám của anh như ươn ướt, cơ hồ nước mắt giàn giụa nhểu ra lấp đầy hốc má, chảy tận xuống cằm. Hình như anh đang cố nén những tiếng hức hức…, chực chờ bật ra khỏi lồng ngực rắn đanh đang thổn thức của chính mình, với mình…

Kết 2:

Tôi xách oi cá lủi nhanh qua lau lách, ngược về hướng cũ. Hoang mang nghĩ ngợi nên đi lạc, sẩm tối mới về đến lán. Cửa lán sập kín. Tôi gọi Hoài ơi, ngủ hả, dậy đi, cá nhiều lắm. Không nghe tiếng trả lời, chỉ tiếng gió ào qua những tàu lá chuối tơi tả. Tôi gọi lần nữa, lắng nghe, có tiếng ư ư rất nhỏ như tiếng chó con đang vòi mẹ. Tôi áp tai vào khe hở, vẫn tiếng ư ư yếu ớt. tôi nghĩ đến chuyện Hòai đang ân ái với thằng vô lại nào chăng. Máu nóng dồn lên mặt, nghe nhói đau lồng ngực, tôi kéo mạnh cửa, chống lên. Dưới ánh sáng lờ mờ, một thân hình lõa lồ dang chân tay nằm dính bất động trên chiếc sạp tre. Tôi kêu lên Hoài ơi. Chiếc sạp tre lung lay cùng tiếng ứ ứ giọng mũi. Tôi đến gần, chạm tay vào chân Hoài, nơi có sợi dây lạt buộc vào thành giường. Tôi lúng túng kéo tay từ dưới lên trên, qua đùi và háng nhầy nhụa, qua bụng qua ngực rồi đến cằm miệng. Một nùi giẻ có dây, hình như là áo ngực của Hoài nhét chặt miệng. Tôi dật mạnh nùi giẻ, Hoài nấc lên: “Anh Thương…”. Tay tôi run rẫy mở từng nút lạt, tay trái tay phải và hai chân của Hoài. Hoài ngồi bật dậy co rúm úp mặt lên đầu gối. Tôi mò được cái áo phủ lên vai Hoài, đôi vai rung lên từng nhịp tiếng khóc tức tưởi. Tôi châm ngọn đèn dầu, dưới ánh sáng vàng vọt chao đảo, Hoài ngước lên, đôi mắt thất thần dàn dụa đưa tay ra trước mặt tôi. Bàn tay trắng xanh, bầy nhầy những vệt máu.

Tôi chạy ra sân, đưa tay làm loa kêu lớn về phía bến tắm “Anh Nợ ơi, ơi…ơi…” Tiếng kêu lẫn trong tiếng ào ào của gió Nam Lào thổi ngược.

READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - TÍM CẢ CHIỀU HOANG

Wednesday, September 8, 2010

NHẠC SĨ TRẦN QUANG LỘC

Ảnh từ trang my.opera.com/tranquangloc


Nhạc sĩ Trần Quang Lộc sinh năm 1945, tại Quảng Trị, theo học âm nhạc tại Trường Quốc gia âm nhạc Huế năm ông 20 tuổi. Một thời gian ông sống ở Đà Nẵng
Bắt đầu sáng tác cuối thập niên 60. Tuyển tập đầu tiên của ông có tựa: "Hát trong dòng sông xưa", xuất bản năm 1970. Trần Quang Lộc viết và phổ nhạc những bài hát mang sắc thái tình người, tình quê hương, như bản "Về Đây nghe em", "Em còn nhớ Huế không", "Có phải mùa thu Hà Nội", "Chợt Nghe Em Hát", "Định Mệnh" . ...
Hiện sống tại phường Long Toàn, thị xã Bà Rịa, là hội viên Hội VHNT Bà Rịa Vũng Tàu.


NGHE CA KHÚC CỦA TRẦN QUANG LỘC VÀ NHỮNG BÀI VIẾT VỀ ANH, XIN
BẤM VÀO ĐÂY

MỘT CHIỀU LẠ VỚI TRẦN QUANG LỘC
Lê Thanh Trường
Một chiều Sài Gòn khoảng 8, 9 năm trước, tôi đến thăm gã bạn thơ. Trong căn phòng yên ắng khan khan vài ly rượu đưa hứng, giữa câu chuyện văn nghệ lai rai, bạn tôi bật máy mở nhạc: "Mày nghe thử bài này, mới!"
Và tôi nghe... "Đã hết rồi... những giấc mơ đầu, chiều hoàng hôn hoa khế rụng đầy sân..." - giọng hát Thanh Lam day dứt... - "có những chiều nghe rất lạ, một mùi hương xa vắng ngày xưa, quyện vào hồn thơm những đêm mưa..."
Tôi ngạc nhiên thật tình. Ngày đó Làn sóng xanh đã bắt đầu "bỏ rơi" Hà Nội, đang đi sâu vào lối "thị trường", một bài "hot" đứng đầu bảng xếp hạng tuần này, qua tuần sau đã không ai còn nhớ... Vậy mà tự dưng trên kệ đĩa xuất hiện một tâm trạng tế nhị và đầy đặn đến thế...
Trước vẻ ngơ ngáo của tôi, gã bạn buông gọn: "Trần Quang Lộc!"
- À, thì ra là Trần Quang Lộc!
Nhắc tới nhạc sĩ Trần Quang Lộc, lớp trung niên sẽ nhớ ngay đến "Về đây nghe em" - một bài hát đã được hát đi hát lại từ những thập niên 1960 với những giọng ca hàng đầu: Thái Thanh, Ý Lan, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc... và được hàng triệu người yêu thích vì lời gọi mộc mạc mà tha thiết về với những giá trị dân dã ngọt ngào. Còn giới trẻ hơn lại thường nghĩ đến ca khúc "Có phải em mùa thu Hà Nội" - bài hát được xếp vào top 10 ca khúc hay nhất viết về Hà Nội và từng được Hội nhạc sĩ Việt Nam trao giải. Hai ca khúc của nhạc sĩ Trần Quang Lộc nổi tiếng cách nhau gần 30 năm thực ra đều được viết trong thời gian rất gần nhau, khi tác giả đang ở tuổi 18, 20...
Có lần nghe tin nhạc sĩ Trần Quang Lộc chuyển về sống ở Bà Rịa - Vũng Tàu và sinh hoạt trong Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh này. Một ngày tháng 9, tôi có dịp về ngang Vũng Tàu, bèn đi tìm ông. Đi tìm mà trong tay không có một dòng địa chỉ. Hôm ấy lại nhằm ngày thứ bảy, các cơ quan đều nghỉ làm việc, chỉ còn cách gọi 1080. Hỏi trụ sở Hội VHNT, trả lời: không có thông tin. Hỏi địa chỉ và điện thoại nhạc sĩ Trần Quang Lộc, vì không biết ông ở phường nào xã nào, nên nhận được 8 số điện thoại của 8 ông có cùng tên trên toàn tỉnh. Đành nhắm mắt cầu may, bấm từng số hỏi thăm coi ông nào là nhạc sĩ Trần Quang Lộc. Lần này thì may thật. Gọi số thứ nhất: không liên lạc được. Số thứ hai. Bắt máy là một giọng phụ nữ thuần Huế: "Đúng rồi em, đây là nhà nhạc sĩ Trần Quang Lộc!"
Sau khi trình bày ý định đến thăm nhạc sĩ, tôi được phu nhân của ông (người tiếp điện thoại) hướng dẫn tỉ mỉ đường đến nhà. Té ra, nhà ông ở tuốt một góc xa của phường Long Toàn, thị xã Bà Rịa, cách TP. Vũng Tàu ngót 30km.
Cơn mưa chiều vừa xong, cây lá mới được tắm gội, nắng ngả hồng vàng tở mở... Đến Long Toàn, sau một hồi tới lui lẫn lộn và gọi thêm mấy cuộc điện thoại, cuối cùng tôi cũng vào đến nhà nhạc sĩ - căn nhà nhỏ nằm cuối một nhánh đường xương cá, sát bên vườn cây ngậm bóng chiều còn nặng trĩu nước mưa.
Nhạc sĩ đón tôi bằng nụ cười giản dị. Tôi sẽ không nói Trần Quang Lộc là một vị "trung cận lão niên" tuổi U60 có hàng ria mép bạc, hơi đậm người và bước đi hơi nghiêng, vì ông đã từ chối khi tôi xin phép chụp hình, "thôi, mình già rồi, không đẹp đâu, đừng chụp!"
Căn nhà nhỏ xíu dành hẳn một gian ngoài cho mấy hàng bàn ghế như một lớp học, những cây guitar treo dọc tường và những giá để nhạc đủ gây một không khí văn nghệ nhẹ nhàng. Nhạc sĩ mở lớp dạy đàn cho bọn trẻ tại địa phương. Những đứa nhỏ đến học và chơi đùa với "thầy Lộc" có lẽ không biết, không ngờ những tác phẩm của thầy đã được hát và được yêu thích hàng chục năm qua, từ trong nước đến hải ngoại. Chúng học đàn với "thầy" để chơi những bài nhạc trẻ, đại khái "chiều hôm qua em đã cất bước ra đi nơi xa bởi vì em không còn yêu anh nữa"... đương nhiên nhạc của thầy phải xa lạ và... khó nghe!
Cuối phòng khách là một bàn mix và ô cửa kính ngăn một phòng thu nhỏ xíu. Trần Quang Lộc sở hữu cái studio tí hon này "để lâu lâu thu chơi vài bài cho vui!" - như ông giải thích.
Vào cuối thập niên 1960, Trần Quang Lộc đang học trung học Phan Chu Trinh, Đà Nẵng, sinh hoạt trong nhóm sinh viên, học sinh và tập tành sáng tác. Ban đầu chỉ viết những bài hát để "hát cho bạn bè nghe". Trong số những bài ông viết đoạn này có "Gõ đàn hát chơi", chỉ cần ngồi gõ thùng đàn giữ nhịp và hát. Bài hát viết cho những người không biết đàn, viết mà chơi cho đã cơn phấn hứng tuổi trẻ, nhưng đã mang những ý tứ già dặn, có thể nói là "bất quy tắc", như một định mệnh của người "du ca" không chịu được khuôn khổ ràng buộc: "Ta mua cho ta một phận nghèo, thương thay thương thay nợ áo cơm... Về ngồi trên đồi cao, gõ đàn hát chơi... chân nhảy nhót một mình, bên chiếc bóng lung linh... bên nấm mồ xanh xanh..."
"Về đây nghe em"cũng ra đời từ những ngày tuổi trẻ ấy, rồi thoát khỏi khuôn khổ "hát cho nhau nghe", trở nên quen thuộc với nhiều lớp người nghe gần 40 năm qua. "Về đây nghe em... về đây mặc áo the đi guốc mộc... chở hồn mình trở về quê hương, chở thật thà vào lòng dối trá..."
Vài năm trước, báo chí và dư luận ồn ào một dạo về tác quyền của phần lời "Về đây nghe em". Những chuyện không vui tưởng chẳng nên nhắc lại. Có điều là trong những lần xuất bản sau 1975, Trần Quang Lộc đã châm chước lại vài đoạn cho phù hợp với yêu cầu của cơ quan văn hóa, chẳng hạn câu "này thịt xương ta chưa mang theo, khi ngã xuống miên man tủi hờn, và về đây nghe nhau thở dài trong đêm..." được thay bằng "nụ cười tươi trên môi em thơ, là tiếng hát hân hoan cho đời, và về đây cho nhau nụ cười tương lai...", những lời trơn tru hơn, đẹp đẽ hơn nhưng thiếu mất cái tự nhiên của tuổi trẻ vốn nhiều tưởng tượng và ham muốn dấn thân...
Nhạc Trần Quang Lộc thường có những biến đổi bất ngờ, khiến cho cảm xúc không xuôi chiều mà luôn ngầm chứa những mầm mống nổi loạn, phá cách. Nhưng những bất ngờ ấy không gây náo động, có lẽ vì bản tính nghệ sĩ thường xúc cảm nhiều hơn hành động. Dù sao, nghe những bài hát của chàng học sinh trung học Trần Quang Lộc thuở ấy, người ta có thể nhận ra cái tài hoa đang nảy nở, và quả thật nó đã tạo ra một tên tuổi rất riêng trong nền tân nhạc Việt Nam thời bấy giờ và những năm sau này.
Nói về bài hát khiến tôi "rắp tâm" tìm ông - "Có những chiều rất lạ" - Trần Quang Lộc tâm sự giản dị như một chiều "đốt thuốc nghe mình". Cái tuổi trẻ một đi không về với những yêu ghét trong trẻo của nó bao giờ cũng gây thương nhớ trong con người, chỉ khác nhau là người này thương mến lắng nghe, người khác rộn ràng không để ý... Và những phút, những niềm cô đơn khó bày tỏ cứ tích tụ, rồi một buổi chiều xuất thần, thấy tất cả dồn lên hối hả, và nhạc, và lời... Cho nên những chiều lạ vì không giống mọi chiều khác, khi con người được sống trọn vẹn với hoài niệm và ý thức tình yêu đời! Vì vậy bài hát nghe vừa thiết tha tiếc nuối vừa yên ổn dịu dàng, một tâm thế vững chãi và đầy cảm xúc.
Ca khúc "Có phải em mùa thu Hà Nội", được nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ năm 1972 ở Đà Nẵng từ bài thơ của người bạn Tô Như Châu. Nhưng bài hát cũng chỉ được truyền tụng trong bạn bè với nhau, mãi đến khi "Làn sóng xanh" dậy lên giữa thập niên 1990 với hàng loạt bài hát về Hà Nội, người yêu nhạc mới được nghe qua giọng hát ngọt ngào của Hồng Nhung, sánh cùng những "Hoa sữa" của Hồng Đăng, "Chiều phủ Tây hồ" của Phú Quang ... những bài hát đều được viết từ thập niên 1970. Rồi được Hội nhạc sĩ trao giải A cho ca khúc viết về Hà Nội hay nhất, năm 1997. Điều đặc biệt là ngày ấy, cả nhà thơ Tô Như Châu và nhạc sĩ chưa ai từng đặt chân đến Hà Nội. Theo lời bộc bạch của nhạc sĩ Trần Quang Lộc, thời ấy trong xóm nhà ông bên bờ biển Sơn Trà, Đà Nẵng có nhiều thiếu nữ Hà Nội di cư. Các chàng trai mới lớn như Tô Như Châu và Trần Quang Lộc vì hâm mộ các giai nhân nói giọng Hà Nội mà mơ tưởng đến thủ đô ngàn năm văn hiến thanh lịch. Vả lại, tên thu Hà Nội mà cảnh thu thì rõ ràng là bờ dương trút lá ven biển Sơn Trà đẹp và đầy chất thơ, những lớp lá dương "mùa thu sang anh lót em nằm" đã làm rung động hàng triệu trái tim của người yêu nhạc thời bấy giờ ...
Sau 1975, nhóm bạn bè văn nghệ như Trần Quang Lộc đều đang tuổi thanh niên mới vào đời, tứ tán bốn phương. Phải nói đây là thế hệ chịu khủng hoảng tư tưởng sâu sắc nhất của một thời bom đạn vừa đi qua. Người viết nhạc tiếp tục viết nhạc, người làm thơ vẫn làm thơ, nhưng cơ hội họp nhau chia sẻ những sáng tác mới không còn nhiều. Năm 1981, nhà thơ Vũ Hữu Định người được biết đến nhiều qua bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc"Còn chút gì để nhớ" - "Phố núi cao phố núi đầy sương... em Plây-cu má đỏ môi hồng..." - bị tai nạn chết ở Đà Nẵng. Trần Quang Lộc viết bài khóc bạn "Mộ trăng": "Đêm không trăng của phố núi cao, em Plây-cu má đỏ môi hồng, có thật đã ngủ yên trên ngọn núi cao kia?... Đêm không trăng đào mộ chôn, giữa chập chùng sương hoa đỏ, linh hồn xa đời nhưng lòng chẳng kêu van, trong bóng tối ôi lạnh quá đôi chân trần..." Bài hát tỏ một nỗi riêng tư trên âm hưởng cồng chiêng Tây Nguyên, nơi nhà thơ Vũ Hữu Định rất yêu mến và nhiều năm gắn bó với phố núi cao này. Nhiều người vẫn quen nghe những bài hát Tây Nguyên hoang dại và mạnh mẽ, nhưng âm hưởng ấy lại phản chiếu vào trong khúc hát tế bạn của Trần Quang Lộc một cách tha thiết và đau thương, qua giọng hát dã dượi của tác giả, nghe càng u uẩn như linh hồn khuất lấp tâm sự giữa sương núi gió rừng...
Trần Quang Lộc còn viết rất nhiều ca khúc mang âm hưởng dân ca 3 miền. Những năm gần đây trong các album của ca sĩ Hương Lan, Ngọc Sơn, Quang Linh, Vân Khánh, Quang Dũng... vẫn xuất hiện đều đặn các sáng tác của ông. Nhạc sĩ cho biết, con số ca khúc của ông đã lên đến trên 600 bài. Cũng như bất cứ nghệ sĩ nào, ông viết như là nghiệp dĩ, như con tằm có tơ phải nhả. Ông không quan niệm quá cầu kỳ trong việc trau chuốt ca từ, nên tâm sự cứ tuôn theo ý nhạc. Dù thế, nếu nghe kỹ thì trong các bài hát của Trần Quang Lộc, phần ca từ vẫn có nét tao nhã riêng, ít nhiều không bị lẫn lộn với "thị trường lời nhạc" hơi bị cẩu thả bây giờ. Có lẽ cái riêng ấy cũng từ quan niệm sáng tác của ông: cảm xúc không thật - không viết! Và có lẽ từ một nguyên do nữa: các nhạc sĩ lớp trước sử dụng ca từ "chuẩn mực" hơn những người trẻ hôm nay.
Trong buổi chiều gặp gỡ, Trần Quang Lộc mở cho tôi nghe một số ca khúc ông tự thu ở studio của mình, những bài quen thuộc và cả những bài chưa từng nghe, quả thật ông có một giọng hát rất ngọt, rất ấm và tràn trề những cảm nghiệm khó diễn tả. Giọng hát không phải rèn luyện bằng kỹ thuật mà được tôi luyện qua thời gian và những thăng trầm trong cuộc sống, những chuyện ông "không muốn kể lại làm gì"...
Nhạc sĩ Trần Quang Lộc bây giờ sống nhẹ nhàng và lặng lẽ như một ẩn sĩ với người bạn đời cũng lặng lẽ nhẹ nhàng, với vài đứa học trò và một phòng thu tí hon. Tuy vậy, trong câu chuyện rả rích lúc ngày tàn, hơn một lần nhạc sĩ đã bày tỏ ý muốn ngày nào đó sẽ tự mình thực hiện một album tuyển những ca khúc đắc ý nhất. Cũng là lẽ thường vậy thôi, một người sáng tác dù đã lui về vui với mấy cây huệ góc vườn, dù đã mệt mỏi bao nhiêu với những chen lấn thời cuộc, thì cái khao khát trình bày những đứa con tinh thần của mình trước công chúng vẫn không hề suy giảm. Trần Quang Lộc là một trong số ít nhạc sĩ có thể hát rất hay những bài hát của mình, thì việc ấy không phải quá khó. Vấn đề có lẽ chỉ là khi nào cái "ca hứng" đủ lớn để lôi ông bước ra khỏi chốn ẩn cư nhàn hạ, xa cách thị phi này, để người yêu nhạc được thỏa lòng thưởng thức những bài hát trải dài 40 năm cuộc đời, với giọng ca chất chứa cũng chừng đó thời gian nỗi niềm của người sáng tạo.
*Đã đăng trên Tạp Chí Đàn Ông số tháng 11-2007
READ MORE - NHẠC SĨ TRẦN QUANG LỘC

Tuesday, September 7, 2010

XUÂN ĐỨC - Giới thiệu tập thơ CHIÊM BÁI QUÊ NHÀ của TRẦN BÌNH



TRẦN BÌNH - THAO THIẾT MỘT HỒN QUÊ


Hẳn nhiều người còn nhớ câu hát trong một ca khúc nổi tiếng thời chống Mỹ trên đất Quảng Trị "Tiếng trống trận từ Gio An vọng tới.." Gio An, một mảnh làng nhỏ âm thầm của miền tây Gio Linh-Quảng Trị, nơi có hệ thống giếng cổ là di tích văn hoá rất đặc sắc ghi dấu một thời phồn thịnh của người Chăm ở đất này. Trong lòng đồi đất đỏ ba-zan, những mạch nước ngầm trong ngần và trường cửu cứ lặng lẽ chảy ra, người dân địa phương gọi là nước mội. Nhiều thế kỷ trước, người Chăm đã biết xếp đá khoanh lại thành giếng quanh mội để lấy nước sinh hoạt và cấy lúa. Các nhà khảo cổ học gọi đó là những công trình thuỷ lợi "dẫn thuỷ nhập điền". Ở những mội nước đó có một loại rau cũng rất đặc biệt, nó chỉ sống được với khe nước trong veo chảy ra, chỉ cần vẩy chút bùn lên là rau sẽ chết. Đúng là rau sạch tuyệt đối. Rau ấy có tên là rau Liệt, hay còn gọi là xa-lách-xông...Trần Bình, tác giả tập thơ nhỏ này sinh ra, lớn lên và hiện vẫn đang sống lặng lẽ trong lòng mảnh làng ấy.


Sở dĩ tôi nói lan man về giếng nước mội và giống cây rau Liệt trước khi bàn đến tập thơ bạn có trong tay, bởi nếu ai đó quen biết Trần Bình rồi. đọc thơ anh hẳn sẽ có cùng nhận xét với tôi, anh là hiện thân của cọng rau thuần khiết đó, tâm hồn anh được nuôi dưỡng bằng chính dòng nước trong veo và cũng rất thuần khiết của đất Gio An. Con người sống trên đời và sống trong thơ, ai cũng có nỗi buồn, niềm vui, ai cũng không thể thoát ra khỏi vòng thế tục, cũng nhớ nhung, dằn vật, trở trăn, thậm chí cả giận hờn uất ức...Nhưng tất cả các cung bậc cảm xúc đó đối vơí Trần Bình đều rất tinh khiết và chân chất.


Nơi chốn người đi qua nhớ nhung

Ta đau tình ấy những mùa trăng

Ngọt trong nguồn cội dòng tinh khiết

Ta tắm lời yêu nguyện đá vàng..

(Ta về giếng cổ thăm người cũ)


Bình làm thơ cũng đã lâu nhưng rất ít khi gửi thơ đăng báo nên ít người biết được anh đã có đến hàng trăm bài thơ. Cũng như hầu hết những người làm thơ khác, cảm xúc đầu tiên, cảm xúc sâu nặng nhất là tình yếu ngỡ như vô hạn đối với mảnh đất đã nuôi dưỡng nên mình. Vùng đất đỏ Gio An của Trần Bình không chỉ âm thầm trong vắt mạch nước hàng trăm năm chắt ra các giếng cổ, mà đã từng có một thời đất rung, cây đổ, vòm trời mù mịt khói bom, và máu đổ đầm đìa nhuộm sẫm thêm màu đất đỏ. Tuổi thơ Trần Bình lớn lên giữa những năm tháng bi hùng đó. Bởi vậy mà bạn đọc sẽ chẳng hề ngạc nhiên khi những dòng thơ viết về quê hương, không có nhiều cái chất hương đồng cỏ nội, cây đa bến nước nên thơ như rất nhiều trang viết ban đầu của các thi nhân khác. Đổi lại, quê hương trên trang thơ anh thật da diết, thật nặng sâu, nhiều lúc còn thao thiết đến nghẹn lòng.Mẹ sinh tôi ra giữa làng.


Năm bom đạn

Quê tôi thành làng trắng

Ngày khói lửa theo mẹ đi sơ tán

Tuổi thơ lưu lạc, xa nhà..

(Làng ơi )


Cũng có cánh cò trên rẻo làng quê, nhưng cánh cò trong thơ Trần Bình nhoi nhói một nỗi đau của tấm lòng đứa con đất nghèo tự thấy nặng tội với mẹ vì chưa làm nên được gì để tròn đạo hiếu.


Để rồi khi con bĩu môi thả một ánh nhìn lạ lẫm

Vào cái mặt trăng nhăn nheo đồng quê

Vào câu hát ru, mẹ à ơi bến bãi

Cánh cò, cánh vạc chao chiều

Buốt lòng trái đắng cò ơi..

(Cò ơi thao thiết)


Cũng có cây đa, nhưng cây đa trên quê của Bình là chứng nhân của máu và hương hồn người liệt sĩ bị kẻ thù găm đạn đến nát thịt xương. Người liệt sĩ ấy đã trở thành Thành Hoàng của làng Gio Bình. Cây đa ấy cũng là liệt sĩ, cũng vảng vất hồn vía nơi đây để chứng tích cho một thời bom lửa:


Hết chiến tranh chúng tôi tìm về

Cây đa chứng tích giờ thành thiên cổ

Trồng lại một cây đa lá đỏ

Đồng đội ơi, thương nhớ tháng năm dài..

(Cây đa và đồng đội)


Cũng có giếng nước, có mái đình, có cả ánh nắng chiều, đêm trăng thanh và bãi cỏ mịn...Tóm lại, trong thơ Trần Bình có tất thảy những gì được gọi là hồn quê. Nhưng tất cả đều day dứt, nặng trĩu và thao thiết. Ngay cả những bài thơ chỉ mang tính thù tạc, chạm chén rượu với bạn bè nơi đất khách quê người thì cái men nồng vẫn không đủ nguôi ngoai nỗi trở trăn hồn quê, đôi lúc còn xen cả sự mặc cảm, hay chút giỗi hờn của một tâm hồn đầy mặc cảm:


Vô tư đi. Cứ vào nam mà sống...

Chả nhẽ rời quê- muôn kiếp mặn mòi

Chả nhẽ vì mẹ cha nghèo cực

Mà ta mơ thành kẻ mồ côi?

( Đồng hương)


Là nói vậy, nhưng cũng không hoàn toàn chỉ có vậy. Hồn quê trong thơ Trần Bình không phải chỉ có sự dằn vật, ưu tư. Cuộc sống của chàng thi sĩ chân quê này không chỉ có những đêm thao thức.Vẫn còn đó những mùa trăng rời rợi sắc tình, vẫn có đêm đi hội Sim ngất ngây khúc hát ghẹo, vẫn có nhịp trống rộn ràng lễ hội Khe Me và tiếng đàn Ta-Lư réo rắt len lỏi vào trong từng giấc ngủ. Bởi lẽ giản đơn là, dài hơn những năm tháng máu lửa quặn đau là những mạch nước ngọt ngào trường cửu, sâu hơn nỗi ưu tư trăn trở vì cuộc sống mưu sinh và sự thiệt thòi bản thân một con người cụ thể là lòng đất đỏ quê hương ấm áp nghĩa tình. Và trên tất cả cõi riêng của một đời người cụ thể là khí chất của con người Quảng Trị gan góc,lạc quan. Vì vậy mọi cay đắng rồi sẽ qua, men đời cứ say trong từng câu hát. Cái chất ấy làm nên màu xanh của khung trời Quảng Trị, màu xanh thuần khiết của cọng rau liệt quê anh. Tôi thích bài lục bát này bởi nó rất Trần Bình, rất là trai Quảng Trị:


KHÚC TƠ TÌNH HỘI SIM

Rủ nhau lên bản mà chơi

Mà nghiêng câu hát lý lơi đêm tình

Sơn nữ ơi! Ta đi tìm

Đằm trong mắt suối cái nhìn lúng la

Bập bùng ngọn lửa kiêu sa

Ngực trần phô với núng na nói cười

Từng đôi,bên suối từng đôi...

chén yêu say khướt nghiêng trời tình nhân

Phập phồng đồi núi trăng ngân

Chung chiêng trắng một đêm xanh

hội tàn


Cuộc sống đang từng ngày đổi thay trên đất Gio An cũng như trên tất cả những mảnh làng khác của đất nước. Thơ Trần Bình cũng vậy. Tập thơ mỏng đầu tay này chỉ mới như là những lô đất vừa vỡ hoang. Chúng ta rất tin và có đầy đủ cơ sở để tin vào một hồn thơ đang lặng lẽ làm mùa trên vùng đất âm thầm mà sâu nặng, bên những mạch nước ngàn đời trong vắt đã nuôi những cánh rau thuần khiết nên xanh


Trúc Sơn Trang, Đông Hà, 9/12/2009

Xuân Đức

Nguồn: tiengdantalu.vnweblogs.com

READ MORE - XUÂN ĐỨC - Giới thiệu tập thơ CHIÊM BÁI QUÊ NHÀ của TRẦN BÌNH

MINH TỨ - MÂY TRẮNG BAY TRÊN ĐỈNH TRƯỜNG SƠN



Ảnh từ trang www.varchi.com


Bút ký


"Trường Sơn đông nắng tây mưa

Ai chưa đến đó như chưa rõ mình."

Câu thơ của nhà thơ Tố Hữu viết thời chiến tranh mà bây giờ đọc lại vẫn thấy xốn xang kỳ lạ. Với Trường Sơn, chúng tôi cứ đi đi, về về với các bản làng đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô, và mỗi lần như thế luôn thắp lên ước vọng về một cuộc đổi đời cho miền tây gian lao nhưng anh dũng kiên cường.

Chắc có lẽ nhiều người chưa quên chuyện ông Kbo, nhà dân tộc học người Hunggari hồi những năm tám mươi của thế kỷ hai mươi đã đến với vùng đồng bào dân tộc miền tây Quảng Trị. Quá say mê với phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô Hướng Hóa nên ông quyết định làm nhà sàn ở lại nghiên cứu dân tộc học, để rồi vợ ông phải thân chinh qua Việt Nam nhờ Đại sứ quán tìm tung tích.

Ngày trở về, chia tay với bản làng và những người dân miền tây hào hiệp, mến khách, khi được các lãnh đạo huyện hỏi: "Qua thời gian thâm nhập thực tế dài như thế, theo ông làm thế nào để miền núi tiến kịp miền xuôi?", ông Kbo nói rằng: "Tôi không phải là kinh tế gia, cũng không phải là chính trị gia mà chỉ là một nhà dân tộc học, nhưng nếu được phép nói thì theo tôi phải có một con đường". Con đường mà ông đề cập ở đây là yếu tố để chuyển tải nền văn minh, có con đường là có tất cả.

Lời ông Kbo nói vậy ai cũng thấy được bởi có sống với miền tây hồi ấy mới thấy việc dịch chuyển đi lại ở miền núi khó khăn đến mức nào. Chuyện cũ có thật, có lần huyện gửi công văn mời cán bộ xã ra huyện họp, công văn gửi đi mười ngày sau mới đến đến được xã thì cuộc họp đã diễn ra cách đó lâu lắm rồi. Mà có nhận được sớm hơn thì ở vùng sâu Hướng Hóa, Đakrông phải cơm đùm, cơm vắt lội bộ bao nhiêu dặm đường rừng ra đến huyện mất hơn ba ngày đường, cả đi lẫn về mất một tuần chỉ để họp có một ngày.

Còn sản phẩm hàng hóa của dân làm ra thì khỏi phải nói, một quả dứa nặng một ký ở Abung, Ango, Đakrông bán 500 đồng cũng chẳng ai mua bởi không ai có thể gánh gồng trèo đèo, lội suối ra được đến chợ thị trấn để bán. Có khi đến mùa thu hoạch bà con phải bỏ đi sản phẩm mà biết bao công sức của mình đã đổ ra.

Nhắc lại một vài chuyện cũ như thế để thấy rằng đầu thế kỷ hai mươi mốt khi nhà nước mở con đường Trường Sơn thời công nghiệp hóa đã mở ra "con đường tương lai giàu có của Tổ quốc ta". Một thuận lợi là đường Trường Sơn từ miền tây Quảng Bình qua Quảng Trị có hai nhánh đi song song theo Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây với điểm gặp gỡ là cầu Đakrông theo đường 14 chạy dài vào Thừa Thiên- Huế có tổng chiều dài 180 km. Và, như thế những vùng núi đồi hàng ngàn năm u tịch ở miền tây của các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Đakrông và Hướng Hóa được đánh thức.

Cách đây mươi năm về trước, để đến được Sen Bụt, Cù Bai, chúng tôi phải đi xe ba cầu băng qua hàng chục cây số đường rừng hiểm trở, quanh năm vắng bóng con người, còn bây giờ dọc đường vào đã thấy thấp thoáng những điểm dịch vụ của dân từ Khe Sanh, Lao Bảo vào bán hàng nhan nhản khắp bản làng. Con đường khai mở đến đâu là có sự giao thương đến đó. Dọc đường lên Cù Bai chúng tôi phóng xe chạy băng băng trên con đường thảm nhựa, tha hồ ngắm nhìn những cánh rừng nguyên sinh miên man với đủ loại cây đẹp đến mê hồn.

Đã nhiều lần lên với Trường Sơn nhưng lần này tôi mới có dịp cảm nhận đầy đủ hơn vẻ đẹp của những cánh rừng. Khi nắng xuân lan tỏa xua tan màn sương mỏng buổi sớm mai, cũng là lúc tiếng chim hót líu lo chào buổi sáng vang động tạo nên một bản đại hợp xướng của rừng. Thi thoảng trên đường bắt gặp những chú sóc nhảy ngang qua đường. Thú vị hơn cả là khi đoàn chúng tôi bắt gặp đôi gà lôi lam mào trắng trên đường đi Cù Bai với bộ lông thật sặc sỡ, loài gà được ghi trong sách đỏ và còn rất ít ở Việt Nam.

Một thành viên đi trong đoàn chúng tôi tỏ ý lo ngại cho những cánh rừng nguyên sinh quý giá này liệu có được gìn giữ, bảo tồn nếu không có kế hoạch bảo vệ ngay từ bây giờ. Đường Trường Sơn đâu chỉ là con đường chiến lược phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng mà còn là con đường của du lịch sinh thái rất hấp dẫn.

Anh bạn ở Văn phòng Huyện ủy Hướng Hóa cùng đi nói với tôi rằng hãy chờ đêm xuống ở nơi này mới thấy hết cảnh đẹp của miền tây. Quả thật ở tây Trường Sơn đêm xuống trời se lạnh, sương giăng giăng cả triền núi. Mùa này cà phê bắt đầu nở hoa trắng cả những quả đồi bạt ngàn. Có thể nói nếu như đất Hướng Hóa rất phù hợp cho việc phát triển trồng cà phê thì Hướng Phùng là nơi có tập trung với diện tích cà phê khá lớn với hơn 1500 ha. Nguồn lợi từ trang trại, nương rẫy cà phê mang lại không chỉ cuốn hút người dân miền xuôi lên đây lập nghiệp mà còn làm cho bà con dân tộc Vân Kiều bấy lâu nay chỉ quen với tập quán canh tác lạc hậu: phát, đốt, cốt, trỉa cũng chuyển sang làm cà phê với kỹ thuật canh tác mới. Đã có 80% hộ đồng bào dân tộc Vân Kiều ở Hướng Phùng có vườn cà phê chè từ 2-3 ha.

Trong khi nhiều người trồng cà phê trong cả nước phải lao đao thì cà phê chè ở Hướng Hóa vẫn được giá. Sản phẩm chế biến của Công ty cà phê- dịch vụ đường 9, Công ty hồ tiêu Tân Lâm, Công ty chế biến cà phê Thái Hoà vẫn có thị trường tiêu thụ tốt không chỉ ở Tây Âu mà còn xuất sang cả Mỹ. Chỉ có điều còn phân vân của bà con nông dân hôm chúng tôi dừng lại ở Hướng Phùng là cách tổ chức thu mua của các công ty chế biến chưa tốt, nên gây ra cảnh nông dân bị ép giá. Giá sụt một tí là người trồng cà phê chết đứng bởi công chí phí đầu tư chăm sóc cho cây cà phê rất lớn.

Mà thôi, chuyện cây cà phê thì nói bao nhiêu cho hết, trong khi chuyện đồng bào các dân tộc miền tây sống trên đất đai màu mở, bạt ngàn mà phải chịu cảnh đói nghèo là chuyện đáng bàn. Cũng cần phải nói rằng Nhà nước đã đầu tư nhiều cơ sở vất chất hạ tầng để cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc, nhưng nhìn chung cuộc sống của bà con vẫn chưa khá lên được. Những năm trước đây hầu như năm nào cũng vậy, cứ vào cử này lên miền tây là nghe chuyện đồng bào dân tộc thiếu đói. Cái đói của đồng bào dân tộc được hiểu là thiếu gạo ăn, phải ăn ngô, ăn sắn thay cơm. Đó là cái đói triền miên chưa dứt được bởi tập tục canh tác lạc hậu: phát, đốt, cốt, trỉa; là diện tích lúa rẫy, ruộng nước còn quá ít, chưa được tích cực khai hoang để canh tác; là cái sự thiếu căn cơ tự thân của đồng bào khi làm được chừng nào lương thực đều dốc vào ghè rượu uống suốt mùa ăn mừng lúa mới.

May mà mấy năm trở lại đây có nhà máy chế biến tinh bột sắn ra đời, người dân trồng sắn bán được giá nên đời sống có nhiều cải thiện. Tôi đã gặp trên dọc hành trình Trường Sơn những nhân tố điển hình. Đó là những ông chủ trang trại đã làm chủ được cái nương, cái rẫy của mình, như Hồ Cài ở bản Trằm, xã Hướng Tân, Hướng Hóa có trang trại cà phê với diện tích 5 ha, mỗi năm thu hơn 70 tấn cà phê, cùng với cơ sở chế biến và các nghề phụ khác mỗi năm thu nhập lên đến hàng trăm triệu đồng. Tôi đã gặp Pảtahơn ở xã Thanh, người du kích gan dạ năm xưa trở thành ông chủ giàu có nhờ rẫy sắn, vườn ươm cà phê thu nhập hàng năm lên đến hàng chục triệu đồng, là hình mẫu cho nhiều người làm theo...

Nhưng với miền tây hiện nay, trước hết dân trí là một nhân tố hết sức quan trọng. Đã qua rồi cái thời nhận thức lạc hậu của bà con dân bản rằng con cái chỉ cần biết cái nương, cái rẫy. Hôm chúng tôi rẻ lại Abung, Ango, hai xã biên giới vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Đakrông, kiến nghị đầu tiên của Hồ Liên, chủ tịch xã Ango và Ađeng Thiếu, chủ tịch xã Abung là mong muốn tỉnh, huyện quan tâm mở thêm trường lớp cho con em học lên bậc học cao hơn tại cụm Tà Rụt, vì hiện nay ở địa phương mới chỉ có mới có lớp nhô. Còn Hồ Thị Lý, Chủ tịch Hội phụ nữ xã Hướng Phùng, Hướng Hóa thì nói với tôi rằng chị muốn được học lên thêm nữa mặc dù chị đã từng được đào tạo để làm cô giáo, bởi theo chị không có tri thức thì không làm được cán bộ tốt.

Khát vọng đó càng được nhân lên khi Hồ Thị Ân, ở bản Saly, Hướng Lập thổ lộ cùng tôi: "Mình lấy chồng sớm nên thấy tiếc cái thời trẻ không chịu học, bây giờ muốn học lên thì không có điều kiện". Tôi chia sẻ với suy nghĩ của Ân, bởi mới 28 tuổi đầu Ân đã có ba con nhỏ. Ân cho biết đã kiên quyết kế hoạch hóa để có điều kiện chăm sóc con cái và sắp tới có điều kiện đi học thêm cho có tri thức để về xã làm việc tốt hơn.

Khi con đường nối hai phía Trường Sơn, dự phóng về miền tây phát triển đang hiển hiện từng ngày. Và hôm nay dọc theo con đường Trường Sơn huyền thoại, khi lên thăm cột mốc biên giới R16 ở cửa khẩu quốc gia La Lay trong một buổi trưa mây trắng bay lãng đãng qua dọc triền núi, đứng ở cột mốc, nơi có độ cao hơn 500 m so với mặt biển, cảm giác sóng mũi cứ cay cay. Bất chợt tôi lại nghĩ đến lòng dân miền tây, nghĩ đến những người lính biên phòng, những thầy cô giáo đang cắm bản dọc khắp nẻo Trường Sơn mà tôi từng gặp. Có các anh các chị, có lòng dân miền tây, biên giới luôn trường tồn, cho những áng mây trắng như buổi trưa này cứ mãi bình thản bay qua trên đỉnh Trường Sơn hùng vĩ nắng lắm mưa nhiều.

Minh Tứ

Nguồn: vn.360plus.yahoo.com/minhtuqtri

READ MORE - MINH TỨ - MÂY TRẮNG BAY TRÊN ĐỈNH TRƯỜNG SƠN

Monday, September 6, 2010

HOÀNG CÔNG DANH - NẮNG QUÊ

Ảnh : Lưu Quang Minh ( từ Flickr)




Trong những thứ không cầm nắm được của quê hương, có lẽ nắng là một cuộc chập chờn nào đó. Nắng có khi đáng yêu, có khi đáng ghét, nhưng người ta đi xa không ai quên được. Dường như những thứ không cầm nắm được thì luôn khắc sâu trong cõi nhớ của con người ta hơn cả, như tình yêu cũng vậy.


Tuỳ bút

Sang hạ, một ngày mới làng đều thức dậy trong màn sương bồng bềnh. Sương như ai đó đã khóc suốt đêm và tràn ra, kéo từ trong xóm ra đến ngoài cánh đồng. Hôm nào sương sớm càng dày đặc thì hôm đó nắng càng to. Nhưng sương hạ tan rất nhanh, chỉ những ai thức dậy thật sớm mới được tận hưởng được cuộc phối khí của đất trời. Tất cả chân cỏ đẫm sương bóng lên. Mỗi đầu cỏ ngậm một hạt nước ngọc vừa như muốn giữ, vừa như muốn lả lơi. Lát sau, mặt trời vén sương cười một cái và thả nắng lên phía làng. Ấy là lúc bắt đầu một ngày. Bắt đầu một huyền thoại... Chuyện kể rằng, cứ mỗi bình minh thì các nàng con gái thần mặt trời đều níu buồm vào bờ để tắm tiên. Trong một lần, người con gái út đã mê mẩn tiếng hát của một chàng trai hiền như đất, thế là nàng ở lại với nhân gian. Sau đó nàng thương nhớ cõi trời nên mỗi sớm ra ngóng về phía hừng đông và hoá thành bông hoa Hướng Dương. Chẳng biết có phải người quê là con của nàng út ấy không mà bất cứ ai sáng thức giấc cũng đều nhìn về phía đông.

Mặt trời rưới một vết dầu và châm lửa cho nắng bén lên chầm chậm. Tôi không sao quên được trò chơi đuổi nắng dễ thương của tuổi dại. Sớm mai, ra đứng đầu đường và đi dần về phía tây theo cái vệt nắng. Cứ thế cho đến khi mỏi chân thì dừng. Lúc ấy, nắng bất ngờ lướt nhanh rồi uốn vòng lên trời theo cách đánh nan quạt, xoè tung điệu đà. Con đường buổi sang hạ hoa dại ngây ngô cũng lanh lẹ hẳn, chỉ một chút nắng hôn vào là hoa bật cánh gửi sắc lên không. Những ngày ấy trẻ con chúng tôi đều rủ nhau đi học thật sớm, phần vì sợ lát nữa nắng lên chích rát, phần vì muốn giỡn cùng nắng. Thế nên đến lớp muộn là chuyện thường ngày ở... trường. Chúng tôi men theo những lối cỏ phủ tràn lên hai bên mép đường, có khi lột dép ra để chân trần giẫm lên cỏ cho mát. Buổi trưa đi học về thì nắng to và trong veo, mỗi đứa xé một mảnh lá chuối che đầu thay nón. Nắng rang mảnh chuối mỏng mảnh khiến phấn lá bong ra rắc vài hạt xuống. Suốt thời đi học, duy nhất một lần tôi được gặp tơ trời vào đúng cái hôm nắng "mất màu". Đoạn đi qua cồn Bạt, tự dưng đứng gió, nắng trắng bạch ra và tơ trời ở đâu không biết cứ bay lơ lửng trước mắt rất nhiều. Tơ trời ấy chính là một thứ hoa nắng dịu dàng của tôi; bởi vì nó không có cành mà "nở" ra ngay trong nắng.

Người Quảng Trị coi nắng như một thứ tín ngưỡng, nên chi mặt trời được gọi là "ôông". Chẳng hạn đến mùa hè nắng to quá thì bà con đều quở một câu: "Ôông mần chi mà nẻ óc rứa ôông?". Hoặc ai thức dậy muộn đều bị mắng: "Ôông lên trợt trôốc rồi răng không chịu dậy?". Tín ngưỡng nắng thể hiện rõ trong các lễ lược, tức là kỵ giỗ đều phải làm vào buổi trưa, lúc nắng to nhất. Riêng trong đám ma, nắng trưa tương ứng với thần trời và màn đêm tương ứng với thần đất, vì thế có hai lễ quan trọng bắt buộc phải có đó là: cúng ngọ vào đúng giữa trưa và cáo đạo lộ thì vào đêm trước khi di quan.

Đến mùa gặt, người quê rất chú trọng đến nắng. Nắng để ra đồng gặt, gặt về có nắng mới phơi phóng được. Muốn biết hôm sau nắng to hay nhỏ thì buổi tối coi sao trời, càng nhiều sao sáng thì nắng càng to. Có một cái hay là nếu trời dim thì gió dừng, trời nắng mới có gió, càng nắng to gió càng mạnh và mát. Cho nên độ này ai cũng muốn được ra đồng hơn là ở nhà. Lúa vụ đông xuân xuôi nhẹ theo chiều giót phớt, gặt rất đã! Bà con hay nói vui: "Chà, nắng mát ri thèm gặt quá hè!".

Yêu nhất là những buổi chiều, nắng vàng khờ khạo như một gã say luống cuống vấp phải mây, ngã một phát là có bóng râm, ngã phát nữa có ngay mưa, gọi là mưa bóng mây. Mưa bóng mây chỉ thoáng qua một chút rồi trời lại nắng, hườm hơn trước. Sau mưa thường có chuồn chuồn lướt cánh dạo nắng mơ màng theo kiểu Canon của Beethoven. Trời khi ấy phảng phất chút buồn, buồn như con chuồn chuồn. Tôi đến quỳ rạp xuống vạt cỏ, rình tay chộp một cánh chuồn đang say nắng. Lần ấy tôi tạ ơn nắng đã đem cánh chuồn đến với tuổi thơ tôi, hơn thế, cánh chuồn ấy còn mang một thông điệp dí dỏm: Buồn bắt chuồn chuồn mà chơi! Sau này có khi buồn, tôi lại lặng lẽ đi trong nắng và tìm cho mình một cánh chuồn u hoài đồng cảm như tìm lại một người tình muội sầu dĩ vãng.

Chiều nay đi giữa Minsk, tìm mãi vẫn không có một cánh chuồn nào. Hình như thứ tặng vật ấy nắng chỉ dành cho tuổi thơ, và nắng đã cất giữ cho tôi một cánh chuồn thương nhớ ở phía quê nhà mà thôi!

Hoàng Công Danh
Nguồn: hkzanh.vnweblogs.com
READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH - NẮNG QUÊ

Sunday, September 5, 2010

NGUYỄN HỮU QUÝ - VÙNG CÙA MẤY NẺO VUI BUỒN

Đường vào Cùa ngày nay đẹp như một dải lụa vắt qua núi.

Bút ký


Từ đường Chín vào đến chợ Cùa chỉ xa chừng bảy cây số nhưng phải vượt qua một con đèo quanh co dài năm cây số. Bây giờ người ta gọi nó là đèo Cùa nhưng nghe đâu thời xa xưa nó có tên là đèo Vắt. Bố vợ tôi bảo: Quãng đường này thời đánh Pháp rừng rú còn rậm rạp, trên những lối mòn thỉnh thoảng lại bắt gặp dấu chân hổ beo và vắt thì nhiều vô kể. Trời mưa mà cuốc bộ qua đèo thì cực lắm, vắt bám lầy nhầy bắp chân, gạt đi không kịp.

Hai mươi lăm năm về trước, vào cái thời tôi yêu mê mệt cô gái vùng Cùa là vợ tôi bây giờ, đèo Cùa đã quang quẻ lắm. Miên man năm cây số đường đèo uốn khúc, gập ghềnh, chỉ rặt những bụi cây lúp xúp, sim móc mọc chen nhau nhiều vô kể. Bom đạn tàn phá, chất độc màu da cam hủy diệt suốt mấy chục năm chiến tranh ác liệt lại thêm cái khắc bạc của thiên nhiên Quảng Trị làm cho những cánh rừng ở đây sớm bị lụi tàn, trơ trụi. Thời ấy tôi còn trai trẻ, dù đang hừng hực ngọn lửa tình yêu nhưng mỗi bận đạp xe vượt đèo Cùa cũng mệt bở hơi tai. Đường dốc, có cả cua tay áo, một bên là vách núi, một bên là vực sâu, non tay lái hoặc đứt phanh là “hy sinh” như chơi.

Con đường vào Cùa hôm nay đẹp như một dải lụa vắt qua núi. Đường miền núi nhưng rộng rãi, mặt rải nhựa phẳng lì, những đoạn dốc cao đã được bạt xuống, không còn cua tay áo nữa. Từ chợ về các thôn một số đoạn đã được nhựa hóa, bê tông hóa và kém lắm cũng rải cấp phối. Chương trình đường nông thôn theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” thực sự hiệu quả cao ở Cùa. Vùng Cùa heo hút ngày nào bây giờ quá gần với huyện lỵ là thị trấn Cam Lộ và thị xã Đông Hà. Cùa gần hơn với cả nước và cả thế giới nhờ mạng điện thoại di động Viettel và Mobi đã phủ sóng tại đây. Quả là một bước ngoặt về thông tin ở vùng đất chiến khu xưa này. Cuối năm ngoái tôi về thăm bố mẹ vợ có mang theo máy di động nhưng nó bị biến thành cái cục sắt vì Cùa nằm ngoài vùng phủ sóng của tất cả các hãng viễn thông. Giờ thì nói như em vợ tôi là “gọi vô tư” rồi và sóng lại rất mạnh.

Người dân không ngần ngại rút hầu bao để mua sắm phương tiện hiện đại phục vụ cho mình theo tôi cũng là một dấu hiệu tốt đẹp của nền kinh tế đang phát triển và chất lượng cuộc sống được cải thiện.

Dù chưa giàu nhưng bộ mặt cuộc sống ở vùng đất lịch sử có căn cứ Tân Sở của vua Hàm Nghi và từng là chiến khu chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ này đã sáng sủa hơn rất nhiều. Chương trình điện- đường- trường-trạm, cơ bản đã được thực hiện ở Cùa. Điện lưới quốc gia thắp sáng mọi nhà, không ai còn phải chịu cảnh sống trong ánh đèn dầu tù mù nữa. 100% gia đình có ti vi và trên 80% gia đình có xe máy. Các trường tiểu học, trung học phổ thông mang tên nhà cách mạng Lê Thế Hiếu đã được xây dựng cơ bản, khá khang trang và bề thế. Con em nông dân đến trường không ai phải mặc áo vá, ăn cơm độn sắn khoai như trước đây. Trạm xá khu vực xây cách đây mười lăm năm, chưa được tân trang mở rộng thêm nhưng vẫn là nơi khám chữa bệnh có uy tín của nhân dân trong vùng.

Với 56 ha diện tích trồng lúa, xã Cam Chính tập trung gieo cấy các loại giống có năng suất cao, gạo ngon và chống chịu sâu bệnh tốt như XI 23, Khang Dân. Mạnh dạn đưa cây lạc vào trồng tại các vùng đất phẳng và đủ độ ẩm như ở thôn Mai Lộc 1, Mai Lộc 3, Mai Đàn, Sơn Nam, Thiết Xá. Nhưng cây mũi nhọn của xã là cao su, hồ tiêu và trồng rừng. Xã tập trung chăm sóc tốt 402 ha cao su đang kiến thiết cơ bản, chủ động đề nghị với dự án và ngân hàng giải ngân vốn sớm cho bà con mua vật tư chăm sóc cây. Cây hồ tiêu vẫn là cây chủ lực trên vùng đất Cùa; ngoài việc tiếp tục chăm sóc tốt 137,5 ha đã có, tiếp tục trồng mới, trồng dặm thêm 10 ha ở các vùng dân cư mới. Trồng rừng hiện nay thu được hiệu quả kinh tế rất cao đối với người dân nên Cam Chính tập trung chăm sóc tốt 1.000 ha rừng đã có và tiếp tục trồng thêm 50 ha rừng ở vùng đồi núi trọc...
Đối với tôi, Cùa đã trở thành quê hương thứ hai thân thiết. Tôi thực sự mừng vui trước những đổi thay của mảnh đất trước đấy vô cùng nghèo khó này. Đã có lần tôi nghe mẹ đọc câu ca buồn bã:
Ai ơi chớ lấy trai Cùa
Quanh năm quần cụt, bốn mùa áo nâu.
Cùa đất đỏ bazan, tơi xốp mỡ màu, rất hợp với cây hồ tiêu. Hạt tiêu vùng Cùa bé những chắc và cay nồng nàn. Cái vị cay ấm nức mà không gay gắt. Nói đến Cùa là phải nói đến hạt tiêu. Thế mà trước đây chẳng hiểu sao dân Cùa vẫn chịu cảnh đói nghèo từ đời này qua đời khác. Chẳng nói đâu xa, những năm tám mốt, tám hai khi tôi đã trở thành rể Cùa, lên nhà bố, mẹ vợ phải còn ăn sắn củ thay cơm. Thời chưa đổi mới, xóm làng hầu hết là nhà tranh, cứ bốn, năm năm phải lợp lại một lần. Vợ tôi ra trường, về quê dạy học, được xã cấp cho mấy sào làm nhà, lập vườn. Một ngôi nhà gỗ, vách đất, mái tranh bé nhỏ được dựng lên trên đất đỏ bazan. Vợ chồng tôi tranh thủ ngày nghỉ cuốc đất trồng mít, trồng chuối, trồng sắn. Nhà chúng tôi ở trên đồi, ngay đầu xóm, gió thổi lồng lộng. Tôi làm việc ở Đông Hà, cuối giờ chiều thứ bảy mới được lên nhà. Mùa nắng, đạp xe theo đường Chín ngược chiều với gió Lào thổi như bão khan, mệt tưởng đứt hơi. Mùa mưa, qua đèo Cùa đất đỏ dính bết vào bánh xe, chốc chốc lại phải xuống xoi. Sau xe bao giờ cũng thủ sẵn một que xoi bùn. Ai đến Cùa vào mùa mưa cũng bảo “Đất chi mà mến khách dữ rứa”. Ba đứa con tôi, hai gái một trai đều sinh ra ở Cùa. Cuống rốn của các con tôi đã vùi vào đất đỏ dưới những gốc cau do tôi trồng. Mười năm gia đình tôi sống ở Cùa, cực khổ nhưng bình an, thanh thản lắm. Bà con láng giềng ai cũng thương yêu, đùm bọc. Chẳng mảy may có sự khác biệt đối xử giữa dân chính gốc và dân nơi khác đến. Nhiều anh bộ đội đánh Pháp, đánh Mỹ, quê Bắc sau chiến tranh tự nguyện ở lại Cùa, lấy vợ sinh con, lập nghiệp ở đây. Người dân miền Cùa rất mộc mạc, chân thực và ngay thẳng. Ta sai, họ nói liền, nói xong là thôi, không để bụng, không thù oán dài lâu. Sau này sống ở nơi khác gặp phải người hẹp bụng, thù dai, tôi lại tơ tưởng đến những ngày sống ở Cùa. Gia đình tôi chuyển ra thị trấn Cam Lộ xa Cùa một ít và bây giờ như định mệnh ra sống ở Thủ đô Hà Nội, càng xa Cùa, miền đất đỏ ấy hơn. Bây giờ, mỗi khi vợ chồng tôi trở về thăm Cùa thì bà con vẫn đối xử ấm áp như thuở hàn vi nào.

Cùa còn là vùng đất lịch sử mà theo tôi hiện nay ít nhiều đang bị bỏ quên. Chắc nhiều người đã biết đây là nơi có căn cứ Tân Sở của thời vua Hàm Nghi- một vị vua yêu nước của triều đình nhà Nguyễn. Lịch sử đã ghi rõ: Vào năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã từng bước nhượng bộ và đầu hàng giặc. Trước nguy cơ mất nước, Thượng thư Bộ binh Tôn Thất Thuyết và quan phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường cùng phái chủ chiến của triều đình đã tiến hành xây dựng khẩn trương khu căn cứ Tân Sở ở vùng Cùa núi non hiểm trở (thuộc làng Mai Đàn, xã Cam Chính hiện nay). Căn cứ được bắt đầu xây dựng từ năm 1883 và hoàn thành vào năm 1886. Thành được xây dựng theo cấu trúc hình chữ nhật dài 548 mét, rộng 418 mét với tổng diện tích là 22,9 ha. Thành ngoại có đủ bốn cửa: tiền, hậu, tả, hữu, đắp bằng đất, phía ngoài có hàng rào cọc nhọn và hệ thống hào sâu bao quanh. Xung quanh thành, mỗi phía trồng bốn hàng tre ken dày đan kín, gai góc um tùm. Bờ tre ngoài cùng cách bờ tre thứ hai 21 mét, bờ tre thứ hai cách bờ tre thứ ba 13 mét, bờ tre thứ ba cách bờ tre thứ tư 5 mét. Giữa các bờ tre là tường thành đắp bằng đất nện chặt. Bên trong thành ngoại có nhà cửa, trại lính, kho tàng, bãi tập trận của voi ngựa. Tiếp đó là thành nội được xây dựng vững chắc và ở giữa là nơi làm việc của vua quan. Sau vụ binh biến đêm 23/5/1885 tại kinh thành Huế, phái chủ chiến tiến hành đánh úp giặc Pháp nhưng thất bại. Vua Hàm Nghi cùng các quan đại thần của phái chủ chiến và đoàn tùy tùng phụ xa giá ra Tân Sở. Tại đây, giữa núi non vùng Cùa hiểm trở, ngày 13/7/1885, thay mặt vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết đã ban hịch Cần Vương kêu gọi nhân dân phụng sự vua đánh giặc Pháp.
Hiện nay, khu di tích lịch sử đã được xếp hạng Tân Sở đã trở thành phế tích. Chẳng còn gì cả ngoài mấy bụi tre gai sót lại. Cả một vùng đất được gọi là di tích trống trơn hoang vắng. Tôi thầm mong có một bảo tàng Cần Vương được dựng lên ở đây, trong đó người ta phục dựng lại một góc căn cứ Tân Sở cũ, ví như một đoạn thành, mấy khúc hào, vài bờ tre, trại lính, bãi tập... Đến lúc đó, một hướng kinh tế mới sẽ được mở ra với Cùa là du lịch. Khách thập phương đến Cùa tham quan di tích Tân Sở và những khu vườn, cánh rừng sinh thái...
Giờ đây, việc cần làm ngay là dựng cho Tân Sở một tấm bia di tích đàng hoàng và xác định, kiểm tra lại diện tích đất có lấn chiếm không. Nơi khu vực này đang hình thành một làng tái định cư Cồn Trung và đã mọc lên một ngôi trường trung học cơ sở.
Tân Sở là một di tích lịch sử quan trọng, ghi dấu ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta lẽ nào phải chịu cảnh phế tàn bỏ quên như thế.
Thời chống Pháp, chống Mỹ gian nan, Cùa là chiến khu vững chãi của cách mạng ở Quảng Trị. Thời chín năm kháng chiến chống Pháp ở đây đã có trường cấp hai mang tên Lê Thế Hiếu, một trong ba đại biểu đầu tiên của tỉnh Quảng Trị tại Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa một. Ông Lê Thế Hiếu sinh năm 1892, là con đầu của cụ Lê Thế Vỹ, một sĩ phu yêu nước của phong trào Cần Vương và là anh ruột của đồng chí Lê Thế Tiết, Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Đảng Cộng sản tỉnh Quảng Trị.
Cùa là xứ sở của núi non hữu tình, in đậm những dấu tích lịch sử đáng trân trọng và con người ngay thật, cởi mở. Con gái Cùa nổi tiếng về dáng vóc đẹp, lam làm, khéo tay và chiều chồng. Đến chợ Cùa vào những dịp tết, không hiếm dịp khách phương xa phải ngẩn ngơ bởi cái dáng thắt đáy lưng ong và những khuôn mặt trái xoan hiền thục của những cô gái vùng bán sơn địa ở chốn này. Và, chao ôi, má lúm đồng tiền, hình như tôi chưa hề thấy ở đâu con gái lại nhiều má lúm đồng tiền như ở Cùa.

Nguyễn Hữu Quý
READ MORE - NGUYỄN HỮU QUÝ - VÙNG CÙA MẤY NẺO VUI BUỒN