
NGHE GIỌNG CA NHƯ QUỲNH:
NHƯ VẠT NẮNG
BUỒN NHƯ PHƯỢNG
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.

Nhà của bà Dương Thị Hường
Nhà thơ Hữu Loan , tác giả của bài thơ Màu tím hoa sim" đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 19h ngày 18.3. Và Màu Tím ngắt lòng của Hữu Loan ở mãi cùng chúng ta.
Có lần tôi hỏi nhà thơ thích bản nhạc nào trong hai bản phổ nhạc bài thơ Màu Tím Hoa Sim. HL trần ngâm rồi trả lời, Bài của Dzũng Chinh hợp với tâm trạng của ông hơn. Hình như đoạn hành khúc hùng tráng trong bài Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà của Phạm Duy không hợp với cái buồn da diết trong thơ HL.
Tôi thuộc bài thơ MTHS từ nhỏ. Vậy mà đến khi đi cắt tranh ở Ái Tử mới thấy Những Đồi Hoa Sim vùng trung du Quảng Trị. Khi viết truyện về vùng đất này tôi không ngần ngại đặt tựa đề là : Tím Cả Chiều Hoang.
Tôi dân thành thị, về làng cũ cùng gia đình làm ruộng hợp tác xã. Cha mạ tôi vốn gốc nông dân, tôi lại chưa quen nghề nông, làm việc gì cũng vụng về, khó nhọc. Ba mạ thương con nhưng biết làm sao, có ta có mình con à, đừng buồn, vài năm ổn định con lại đi học. Mạ tôi hay khuyên con mà môi mạ giật giật, muốn khóc. Có lúc tôi buồn, nhớ bạn bỏ vô Huế chơi mấy ngày. Những đứa bạn cùng lớp tôi ở thành thị cũng chẳng hơn gì, tụi nó cũng đi thủy lợi, thanh niên xung phong đâu hết. Những Socrates , Sartre, Heidegger, những thuyết hiện sinh, nhân vị… ở phân khoa triết chúng tôi nào có ích gì với cuộc sống mới cuồn cuộn, đói rách nhưng hồ hởi này. Ai cũng giải thích với tôi là “cực chừ sướng sau…”, tôi thì nhiều khi chán nản, không tin cái sướng sau là mấy. May mà có anh Nợ.
Anh Nợ là tù binh được tha, được sung vào đoàn vận tải trong chiến dịch mùa xuân năm bảy lăm, anh về làng với bộ đồ bộ đội, nón cối hẳn hoi. Lần đầu cùng anh đi gặt lúa tôi có thiện cảm với anh ngay. Anh chân tình chỉ bảo, không khe khắt như những lão nông cùng đội, họ luôn coi tôi là thứ ăn bám, trí thức nửa mùa. Mấy mùa rồi tôi cố gắng lắm cũng chỉ được năm điểm, có nghĩa là ngày công của tôi chỉ bằng nửa những lão nông, mà suốt buổi họ chỉ đi lòng vòng hoặc giả vờ đi tiểu. Buổi chiều trên đường gánh lúa về anh Nợ dặn: “Chú mua một gói thuốc Tam Đảo, mời mấy cụ mỗi người một điếu. Tui nói chi kệ tui, thế nào chú cũng được nâng điểm”. Thế mà tôi được nâng bảy điểm, nhờ cách đề nghị khôn ngoan có tình có lý của anh. Bài học đầu tiên về lao động tập thể là thế, tôi xem anh Nợ như sư phụ của tôi. Anh lại quý tôi như đứa em có học mà ngây ngô, tội nghiệp. Có lần tôi bảo: “thèm xôi quá” khi ngang qua một thửa ruộng nếp đang chín, anh Nợ nói tỉnh bơ, “mai qua nhà tau ăn xôi nếp mới”. Chạng vạng tối, anh ra dấu tôi theo anh, đến bờ ruộng nếp, anh bảo tôi đứng canh, có ai ngang qua cứ đằng hắng. Loáng một cái anh đã có một bao nếp chẹn. Hôm sau tôi đến nhà đã nghe nồi xôi thơm phức. Anh dạy tôi, tập thể là rứa đó, mấy năm ở tù anh học được nhiều điều hay lắm. Anh bảo, “chú mày bỏ cái thói trí thức sĩ diện đi, hạt cơm rất vô tình, chỉ vào chén những người khôn khéo”. Uy tín với bà con nhờ vào tính bộc trực tháo vát bên ngoài của anh Nợ, trong sâu xa bà con lại trọng anh vì một lẽ khác: Cái chi anh cũng biết, kể cả những bài chính trị mấy cô cán bộ phổ biến. Có lần anh chỉnh cán bộ vì phổ biến chính sách đường lối không chuẩn. Anh bảo bảy năm cải tạo ngày nào không học chính trị, anh thuộc còn hơn ông Lại hò quẻ.
Anh Nợ, mạ anh đặt tên chơ có ai khác, thiệt ra anh có nợ ai đâu, chỉ nợ một tấm lòng, một người, vợ anh, chị Nần.
Chị Nần người đâu trên vùng Cam Lộ, vùng đất cực tây của Quảng trị. Nghe nói hồi vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở, sau khi bị Pháp bắt, cung phi mỹ nữ chạy tán loạn, có người lấy chồng rồi sinh con đẻ cháu. Bà nội bà cố là cung phi chắc phải đẹp nên vùng Cam Lộ con gái đẹp nổi tiếng!?
Anh Nợ hai mươi tuổi đăng lính bộ binh (chế độ cũ). Đáng lẽ là con một, cha mẹ trên sáu mươi tuổi được hõan dịch vì lý do gia cảnh, nhưng nhà nghèo, chiến tranh loạn lạc, ở vùng nông thôn thanh niên không theo bên này cũng phải theo bên kia. Trong một lần đóng quân ở vùng Cam Lộ anh gặp chị Nần. Cô nông dân đem lòng yêu thương chàng lính gốc nông dân. Họ cưới nhau rồi chị theo anh về quê chồng, thay anh phụng dưỡng cha mạ. Ăn ở với nhau chưa bén hơi, anh Nợ trở lại chiến trường, trong trận Khe Sanh anh bị bắt làm tù binh, thời đó gọi là mất tích.
Chị Nần góa chồng, được ăn lương quả phụ. Mười chín tuổi, da thịt trắng ngần, mang khăn tang đi làm sổ tử tuất, bao con mắt hau háu chọc ghẹo, bao lời ngon ngọt dụ dỗ, chị vẫn sắt son ở vậy, chăm sóc gia nương, chờ chồng. Nhưng số phận oan nghiệt, cuộc đời không tha cho, xóm làng đồn chị có ý tình với lão Lại hò quẻ.
Lão Lại làm nghề thầy bói, mỗi quẻ được đặt tiền, lão cầm đồng tiền vân vê rồi hò:
“ Như ri tui cũng đã biết rồi, chồng o xuống suối lên đồi tội chưa”.
Giọng hò của lão Lại trầm, ấm, tha thiết lắm, ai nghe cũng mủi lòng. Vậy là quá phụ khóc tức tưởi. Lão lại cầu cho hồn người chồng nhập vào xác …chính lão. Thế rồi quẻ vận vào trong lời hò, vong xưng anh anh em em ngọt xớt. Lão lại hò:
“ Hơ.. hơ…, âm dương cách trở, đêm ở ngày đi / Thiếp với chàng gần gụi như ri mà răng không chộ / hơ… hơ không chộ nên dạ cứ bổi hổi bồi hồi / hay là thiếp lạc lòng xiêu dạ theo ai rồi cũng nên…”
Những bà quá phụ sụp xuống lạy, khóc lóc minh oan. Lão Lại vờ như tha lỗi, vừa hò vừa sờ sẩm âu yếm các bà quá phụ. Các bà tưởng vong linh của chồng về, mắt lim dim tận hưởng hơi chồng qua bàn tay lão Lại. Có bà ở lại với lão vì theo quẻ, theo lời yêu cầu của vong linh chồng nhập vào trong lão đòi hỏi như thế. Chị Nần thương chồng có ở lại với lão mấy đêm cho …thỏa tình những ngày âm dương cách trở. Chị có mang với …vong linh chồng, chị hằng tin tưởng điều ấy . Bà con làng xóm lại cho chị là đàn bà hoang dâm, chồng chưa biết sống chết thế nào mà chửa hoang. Buồn tình chị về quê mẹ sinh đẻ nuôi con thờ chồng. Người ta đồn rằng có người chồng chết ngủ với lão Lại, đẻ con ra giống chồng như đúc. Lại có người bảo, có cô lấy chồng còn nhớ người yêu cũ, do đêm ngày mơ tưởng rồi đẻ con giống hệt người tình xưa, bị chồng ghen tương hất hủi, oan ức tự tử.
Hằng tháng chị Nần vẫn bồng con về thăm ông bà nội (chị luôn nghĩ thế). Thằng bé càng lớn càng giống anh Nợ. Năm bảy hai chị lại bồng con về thăm, trong bom đạn chị dắt díu cả nhà sơ tán ra Vĩnh Linh, ông bà cụ trúng bom chết.
Từ ngày về làng chưa bao giờ nghe anh Nợ nhắc đến chị Nần, ai nói tới là anh trừng mắt bảo “có rảnh không đó” rồi nhìn đi chổ khác, mắt buồn và dữ. Có người ra Đông Hà về bảo chị Nần làm công nhân lâm trường, có gặp chị dắt con đi chợ, mặt thằng bé giống anh Nợ như đúc. Anh nghiêm mặt hỏi, “giống thiệt không, không giống thì đừng có trách”. Anh cầm cây rựa nhứ nhứ, “từ nay tôi nói với bà con lần chót, ai nhắc đến chuyện của tui là đừng có trách”.
Mỗi ngày không gặp anh Nợ tôi thấy như thiếu cái gì đó. Tôi và anh hay nhận đạp nước đêm, trong tiếng lá xe cuộn nước lào xào nghe anh kể chuyện. Chuyện đời anh đã trải qua, chuyện lính tráng, chiến tranh, chuyện ở tù ngoài Bắc, chuyện lần đầu anh ngủ đò với gái... Anh kể mạch lạc, hấp dẫn. Ấn tượng nhất là chuyện tù binh đi củi rình con gái nông trường tắm. Anh nói con c... là kỳ diệu nhất, đói khát thế mà đứa nào thấy phụ nữ trần truồng cũng ngóc đầu lên hết. Nói xong anh sờ tôi, cười ha hả, “thằng nhỏ mày cũng nhạy dữ”. Có hôm trong mạch chuyện kể về vùng Cam Lộ, anh hứng chí kể luôn chuyện tình anh với chị Nần. Anh bảo con gái đứa mô cũng mê nhạc và lãng mạn. Thấy chị Nần đẹp quá không biết làm sao quen, một hôm đi ngang đồi sim anh bèn bẻ một cành hoa, gói trong bản nhạc màu tím hoa sim(1) đem tặng. Chị Nần thích lắm, mắt long lanh nhận quà. Hôm sau anh đến, mượn theo cái đàn ghita của tay đại đội phó. Anh không biết đàn cũng quẹt lung tung, đàn một đường hát một nẻo, mắt cứ mơ màng như người chồng hát về mối tình tang thương với cô vợ trẻ. Chị Nần cứ tròn xoe mắt ra nghe anh hát, rồi mê anh. Từ yêu đến chuyện đó mau lắm, anh gật gừ bảo thế. Con gái nhà quê nhút nhát nhưng khi đã thương ai rồi còn bạo hơn dân thành thị. Anh thở dài rồi phán một câu “đàn bà nó hứng lên rồi thì ai cũng không chừa”. Anh buồn rầu bảo “nghỉ, đi uống rượu’. Đêm đó anh say, đi liêu xiêu dưới trăng hát lè nhè “ Áo anh sứt chỉ đường tà, vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu”.(2)
Mùa gặt xong. Đội họp phân công người đi tranh. Anh Nợ lên kế hoạch rồi xung phong dẫn xã viên đi cắt tranh trên Trấm. Người đầu tiên anh chọn là tôi và ba người nữa, đặc biệt có Hoài. Hoài mới về làng mấy tháng chưa quen việc đồng áng, khi nào đội đi làm xa thường cử Hoài đi theo nấu ăn. Hoài ít nói, đôi mắt khi nào cũng buồn buồn ươn ướt. Hoài cũng sinh viên văn khoa năm thứ nhất, được chuyển qua học cao đẳng sư phạm được mấy tháng, theo bạn bè vượt biên bị bắt rồi bị đuổi học. Tôi có biết Hoài nhưng chưa quen. Anh Nợ nói nhỏ với tôi, “con Hoài đẹp dữ, chú tán đại đi”, tôi cười mơ ước.
Mỗi người chuẩn bị bảy ngày ăn, mang theo liềm và đòn xóc. Ngày thứ tám toàn đội lên Trấm gánh tranh về. Anh nợ phổ biến nhanh gọn kiểu quân đội.
Chúng tôi khởi hành từ bốn giờ sáng, tờ mờ đã đã vượt qua quốc lộ một. Lần đầu tôi đi về hướng tây xa như thế, dù quê tôi từ rừng xuống biển có nơi chưa đầy hai mươi cây số. Tuổi thơ tôi nhìn về trường sơn lờ mờ mây khói, ở đó đôi khi vọng về những trận bom rền như sấm đất.
Dưới nắng trưa, gió nam Lào thổi hừng hực qua những đồi trọc lưa thưa lau lách. Tôi chỉ xuống thung lũng hỏi anh Nợ có phải cây cỏ tranh không, anh cười bảo “công tử ơi đi một đoạn nữa, cây tranh không thích những nơi đất trũng, tù túng. Nó bần hàn mà cao sang. Chỗ triền giốc tranh mới sạch, mới săn. Đời cũng rứa chú à. Như chú thì đàn bà sẽ đè đầu cưỡi cổ”. Vượt giốc lần thứ ba anh chỉ lên đồi, “Đó, tranh đó, tranh và sim thường mọc với nhau, từ lưng chừng đồi trở lên. Dưới thung lũng cũng có cây sim nhưng không có hoa trái, chỉ chặt về làm củi. Sim sinh ra để đơm hoa kết trái, không để làm củi. Những nơi ẩm thấp cũng có đôi bụi tranh mọc không thành vạt, cây tốt nhưng không dùng được, mối mọt ăn liền”. Anh giải thích “Đi cắt tranh đói bụng khát nước thì hái sim ăn, cho nên có câu: “Đói lòng ăn nửa trái sim…”. Hoài cãi “nhưng mà đi tìm người thương chơ có phải đi cắt tranh đâu”. Anh Nợ nói vu vơ: “Ai có người thương thì đi tìm, ai không có thì... lo mà cắt tranh”. Tôi và Hoài nhìn nhau nháy mắt, lần đầu tôi thấy Hoài cười.
Những đồi sim chạy theo con đường ngoằn ngoèo ký ức tuổi thơ và câu hát, màu tím hoa sim tím cả chiều hoang biền biệt . Những đồi tranh phơ phất bông trắng lẫn vào những bụi sim tím ngắt lòng. Anh Nợ ti tỉ hát “áo anh sứt chỉ đường tà, vợ anh chết sớm…”. Từ làng đến nơi cắt tranh đi hết non một ngày đường, ngang qua bao đồi hoang, những hố bom nở toác miệng đỏ bầm bên màu trắng bông tranh, bên màu tím hoa sim còn tươi rói màu đất.
Chúng tôi dừng nghỉ chân trong một lán trại của ai đó bên bờ suối, trước sân có mấy bụi chuối xanh tốt. Ở đây có những vạt sắn của các đội sản xuất hoặc của lâm trường, lán trại được họ dựng sẵn tạm đủ tiện nghi. Bên kia suối, chếch phía thượng nguồn có tiếng người í ới, léo éo. Anh Nợ bảo chỗ nào nghe toàn giọng đàn bà con gái là nông hoặc lâm trường, rồi anh nhìn tôi đùa “đẹp trai như chú thì đừng có léng phéng qua bên nớ, coi chừng bị bắt cóc”. Hoài cười cười “biết đâu anh Thương thích bắt cóc cũng nên”. Lần đầu Hoài gọi tên mình, tôi quay mặt đi, sướng rơn!
Ăn trưa bằng những gói cơm độn khoai mang theo. Xong anh Nợ bảo: “Chiều ni đi tìm tranh, mai sáng bắt đầu làm việc. Chú Sa với tui đi một hướng, chú Thương với bác Lễ đi một hướng. O Hoài ở nhà lo cơm tối”. Hoài dẫy nẫy lên: “ Em không ở nhà mô, sợ lắm”. Anh Nợ ỡm ờ “rứa thì o đi với chú Thương, bác Lễ ở nhà. Nhớ tìm ra vạt tranh tốt, không thì tôi trừ điểm cả hai”.
Tôi và Hoài đi theo hướng Nam, băng qua một ngọn đồi toàn lau lách, lội xuống một thung lũng đủ loại cây dại cao quá đầu cũng chẳng thấy tranh đâu.
Má rớm máu vì lau lách cắt, mắt Hoài tròn, vòng tròn đen thẳm nhìn lên nói như reo: “ Hoa sim tề, tranh tề…” Chúng tôi níu tay nhau chạy lên đồi tranh. Vạt tranh lào xào gió, gợn những đợt sóng lao xao ôm quấn quýt thân Hoài. Những bụi sim lúp xúp, hoa tím ngắt lung lay, trái chín đen mọng dưới tàn lá.
Chúng tôi ngồi xuống trên đỉnh đồi, bên một bụi sim rậm trĩu quả. Chiều xế đi trên dãy trường sơn. Dãy núi lờ mờ phía tây, u hoài sương khói. Trên cao, nhìn về hướng đông, nơi có xóm làng quê cha đất tổ, mồ mả mênh mang bao đời cát trắng. Ngoài xa, biển Đông, lơ mơ một chân trời. Cha ông mình không sợ biển, sao con cháu sợ biển thế. Tôi hỏi Hoài có sợ biển không, Hoài bảo không sợ gì hết, chỉ sợ tình người ly tán.
Hoài hái đầy nón lá những trái sim mọng nước, miệng hai đứa tím ngắt màu sim. Chúng tôi theo đường cũ về lán, trời nhá nhem tối.
Sáng hôm sau Hoài vẫn không chịu ở nhà nấu ăn, đòi theo cắt tranh. Chúng tôi chọn vạt tranh tôi và Hoài tìm ra hôm qua. Nắng tháng năm buổi sáng đã nóng hầm hập, ngồi xuống cắt tranh bốn bề khuất gió, mồ hôi như tắm. Mặt hoài đỏ lơ đỏ lớn, anh Nợ bảo, “chưa ăn thua đâu, gần trưa rồi biết mặt”. Hoài cười khúc khích: “Không sợ, chỉ lo công tử thôi”. Chúng tôi dàn hàng ngang từ dưới đồi cắt lên. Anh Nợ bảo “tranh sạch và săn, chú thím vậy mà được việc”. Sa và anh Nợ cắt nhanh, còn xếp ngay hàng thẳng lối. Tranh vướng vào mặt xót rát rất khó chịu, tôi và Hoài chưa quen cắt chậm rì, dùng dằng như gà mắc tóc. Hoài ngừng cắt, chăm chú nhìn kỹ những động tác anh Nợ, nói nhỏ, “anh Thương này, nhìn tề, anh không cắt sát gốc như mình, cắt cao lên một chút. Mà nữa, anh để ý đi, anh cắt đầy tay thường là bảy đến mười lát mới quay đằng sau rải xuống. Được chưa, chừ thì coi ai nhanh hơn nghe”. Chúng tôi cắt từ chậm đến nhanh, nói cười ríu rít, đến trưa vẫn hăng hái thi đua. Nhìn áo Hoài đẫm mồ hôi, đóng váng một đường viền bạc trắng như bản đồ châu Úc sau lưng, tôi chạnh lòng: “Mệt lắm không Hoài”. “Mệt mà vui, muốn ngon thì ăn cỗ, muốn khổ thì đi tranh mà”. Tôi đùa “Muốn khổ thì yêu…”. Cả hai cười buồn.
Anh Nợ ngạc nhiên nhìn những hàng tranh chúng tôi rải ngay ngắn, cười: “Có đôi có cặp làm việc chi cũng nên”. Trưa ăn qua loa mấy cái bánh sắn. Chúng tôi làm việc đến chiều, nhìn lui một khoảng trống rộng lởm chởm gốc tranh, trên đó là những vạt tranh phơi đều thẳng tắp. Anh Nợ bảo năng suất vậy là tốt, công lớn thuộc về chú thím.
Đến ngày thứ tư số lượng tranh cắt được theo tính toán của anh Nợ là vừa đủ hai mươi gánh. Chú Lễ và Sa về trước để ba ngày sau tranh khô dẫn đội viên lên gánh về.
Buổi tối. Trăng thượng tuần sáng lắm. Tôi và Hoài ngồi trước sân ngắm trăng nói chuyện. Anh Nợ đem chai rượu đế ra nhâm nhi. Anh mời tôi một ly, Hoài bảo “chỉ uống một ly thôi, tối nay anh Thương phải ngâm thơ cho Hoài nghe. Hồi ở trong trường văn khoa Hoài đã nghe anh ngâm thơ rồi’. Anh Nợ thở dài, ực một ly rượu “thơ với nhạc chỉ dụ dỗ được phụ nữ nhưng không cầm chân họ được. Thơ ca hò vè dễ làm cho con đàn bà ngoại tình lắm. Nghe hò nghe hát có ngày mang họa như chơi. Chú Thương có nhớ cái bài chi đó có câu “Vô tình để gió hôn lên má…”(3), gió hôn mà cũng bẽn lẽn huống chi người. Tâm địa đàn bà…” anh ngưng đột ngột, ực thêm một ly.Yên lặng. Hoài ư ư trong cổ một làn điệu thơ nào đó không rõ như đệm nhạc. Tôi ngâm theo:
Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi
……..
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ đến cái tiết trinh em…
Gió xao nhẹ tàu lá chuối dưới trăng rách bươm như…cành liễu.
“Thấy chưa, thấy chưa, ha ha “ Anh Nợ cười ha hả đứng lên, đi theo đường mòn lên đồi. Tôi và Hoài ngồi nhìn theo cái bóng xiêu vẹo khuất dần. Trong xạc xào gió cơ hồ vẳng lại tiếng hát nghẹn ngào: “à ời, à ơi áo anh sứt chỉ đường tà…”, tiếng hát anh Nợ nhỏ dần, lẫn vào gió trăng.
Nghỉ trưa xong anh Nợ rủ tôi xuống suối tát cá. Hoài ở nhà đọc Thép Đã Tôi Thế Đấy.(4) Tôi nhìn Hoài nheo mắt, “ chào nữ Paven. Hoài cừ thiệt, định luyện đến bao giờ mới thành thép, nhớ chừa lại trái tim nghe’. Hoài ư ư, gấp sách nhìn tôi bảo; “Đi mau về nghe, Hoài ở một mình sợ lắm”.
Con suối bắt nguồn từ những đồi phía tây, chảy ngoằn ngoèo qua các thung lũng đồi tranh đổ ra sông Thạch Hãn. Mùa khô, những đìa nước lẫn dưới lau lách lạnh tanh. Anh Nợ be bờ bamội thì bịt lại. Khoảng hai tiếng, nước cạn dần. những con cá giếc cáa mại bắt đầu nổi lên. Anh Nợ bắt cá thành thạo, cầm con cá giếc to tràn cả bàn tay la lên: “Chú có lần nào bụm cá giếc chưa, sướng vô cùng tận. Nhớ bụm con Hoài một cái cho nó sướng, sướng cả hai, hà hà”. Tôi bắt con nào cũng sẩy, anh Nợ bảo: “Bắt cá tràu mới khó mà tụi đàn bà con gái còn bắt được, chú mày không xong”.
Được vài cân cá. Anh Nợ bảo lên bến lâm trường tắm. Anh cười hì hì, “giờ này tụi lâm trường xuống tắm, mình đi tắt lối này tụi nó không để ý. Hôm qua tau xem địa thế rồi, có cây mưng rậm trên bờ, mình leo lên ngồi chờ, hướng quan sát tốt, đi” Tôi theo anh như cái đuôi. Anh rẽ lau lách đi băng băng, tôi xách oi cá chạy theo hụt hơi. Đến gần gốc cây mưng anh nhẹ nhàng như mèo leo lên, cầm tay tôi kéo theo, ngồi khuất trong nhánh lá, ở chạc ba cây mưng.
Bến nước trong vắt, vắng hoe. Mặt trời sắp lặn mà chưa thấy ai xuống tắm. Tôi nghĩ đến Hoài. Hoài mà biết tôi thế này chắc khinh ghét lắm, lòng cứ mong là đừng có ai xuống tắm. Tôi thờ thẩn nhìn về hướng lán trại, có Hoài trong đó, chắc giờ này cũng… tắm. Anh Nợ nói nhỏ, “lạ thiệt, không nghe tụi nó la réo như mọi ngày, à chết rồi, hôm nay chủ nhật chắc tụi nó về nhà hết rồi. Thôi về”. Chúng tôi chuẩn bị tụt xuống thì nghe tiếng hát từ sau đám lách, tiếng hát lớn dần theo đường mòn: “ Tím cả chiều hoang đây tím cả chiều hoang…Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi czaòn tóc búi vai…”. Mặt anh Nợ căng lên, cằm bạnh ra nhìn về hướng tiếng hát. Có tiếng trẻ con, “ mạ ơi, chiều ni bến vắng, mạ con mình tắm thích hỷ’. Anh Nợ cầm tay tôi dằn lại cứng ngắt, căng mắt về hướng tiếng hát: Thiếu phụ dắt tay đứa bé trạc bốn tuổi xuống bến. Tôi nói nhỏ vào tai anh Nợ: “Chị Nần tề, thằng nhỏ sao giống anh quá, hay là…” Anh càng siết mạnh tay tôi đau điếng, thì thào “chú về đi, nhẹ thôi, theo lối này’ Anh chỉ tay về hướng có Hoài.
Kết 1
Tôi xách oi cá lủi đi , xăm xăm leo giốc. Những gốc tranh tua tủa nhói buốt gan bàn chân đau điếng. Tôi lặng đi, ngẫn ngơ nhìn về hai phía, phía anh Nợ và phía Hoài. Hoài ám ảnh tôi từ chiều hôm qua, từ lúc Hoài dừng liềm cắt tranh, hơi ưỡn người ra phía trước, đưa cườm tay lên quệt mồ hôi trán. Từ ngực áo Hoài, cái mùi gì thơm thơm ngây ngất như mùi đứa trẻ còn hơi sữa mẹ, quyện trong mùi nắng hanh vàng, vừa gay gắt ngai ngái, vừa gợi lên những vực thẳm mê hồn mà rùng rợn, chơi vơi. Nhớ lúc ấy, tôi đã vội vàng cúi gằm mặt xuống, nghiến răng, tránh cái nhìn hồ hởi vô tư lự của Hoài, tưởng đôi mắt dao cau ai đó cắt ngang lưng.
Hoài đang làm gì trong mái tranh khuất sau bụi chuối kia, tôi trân người tưởng tượng hoài đang nằm ngữa đọc sách, hai chân dang ra, hay đang trần truồng tắm. Từng đợt gió ào tới xé te tua những tàu lá, chấp chới mái tranh. Hai bên thái dương tôi nóng bừng, giần giật. Toàn thân tứa ra chất gì như mồ hôi, quyện lại khô đi, tan đi. Cảm giác cồn cào nhồn nhột chỗ bụng dưới, ùa lên đầu váng vất, thôi thúc điên cuồng rồ dại: Tôi muốn vồ lấy Hoài mà nghiến mà ngấu ngay tức khắc. Cào cắn, ngụp lặn trong cái mùi hương huyễn hoặc ấy cho đến chết thì thôi.
Tôi, thằng con trai hai mươi mốt tuổi chưa hề biết tới nụ hôn. Chẳng biết anh Nợ ở lại chỗ bến ấy làm chi, cho tội! Anh có lại gần chị Nần và đứa bé, rồi nói gì với chị hay không? Có chửi mắng chị không? Hay anh sẽ đập chị một trận cho thỏa nỗi ghen tuông của thằng đàn ông thất chí, vô tình bị phản bội? Hay là…
Không kịp suy nghĩ gì, tôi để oi cá xuống, chạy băng băng ngược lại chỗ bến tắm. Tôi lủi nhẹ nhàng dưới lau lách, dừng lại bên bờ suối, núp dưới bụi lau. Có tiếng khỏa nước, tiếng con nít cười rúc rích và thỏ thẻ những gì không rõ. Da mặt tôi rần rần như bị kim châm, tai lào phào gió thổi. Thằng cu con cởi truồng đứng nghênh dưới suối chờ mạ khỏa nước lên mình cho. Người thiếu phụ vận nguyên bộ bà ba đen ướt sũng, hằn rõ những đường nét cơ thể nở nang căng tràn, nút áo trể xuống lộ mảng ngực trần trắng ngần. Tôi như chết điếng, không thể rời mắt qua chỗ khác. Nước bọt ứa ra đầy miệng, tôi mân mê dương vật đang căng cứng, thao tác từng nhịp từng nhịp, nghe đau thắt hai tinh hoàn, rồi nghe dật dật từng nhịp hoan lạc vỡ òa trên tay chất nước sền sệt. Tôi rùng mình ứa nước mắt thương Hoài cay đắng.
Tôi ngững lên, bên kia suối, trên cái "đài quan sát" của chúng tôi, anh Nợ đang ngồi bó gối, xo xụm sần sì như một đụn gốc cây bị đốn lâu rồi. Lưng anh sụm xuống, hai tai như đang vểnh ra, như níu chặt lấy cái gì đó tự bên trong mình. Níu chặt. Không cho mình đứng dậy hay làm bất cứ một cử chỉ nào khác. Gương mặt cháy nắng xam xám của anh như ươn ướt, cơ hồ nước mắt giàn giụa nhểu ra lấp đầy hốc má, chảy tận xuống cằm. Hình như anh đang cố nén những tiếng hức hức…, chực chờ bật ra khỏi lồng ngực rắn đanh đang thổn thức của chính mình, với mình…
Kết 2:
Tôi xách oi cá lủi nhanh qua lau lách, ngược về hướng cũ. Hoang mang nghĩ ngợi nên đi lạc, sẩm tối mới về đến lán. Cửa lán sập kín. Tôi gọi Hoài ơi, ngủ hả, dậy đi, cá nhiều lắm. Không nghe tiếng trả lời, chỉ tiếng gió ào qua những tàu lá chuối tơi tả. Tôi gọi lần nữa, lắng nghe, có tiếng ư ư rất nhỏ như tiếng chó con đang vòi mẹ. Tôi áp tai vào khe hở, vẫn tiếng ư ư yếu ớt. tôi nghĩ đến chuyện Hòai đang ân ái với thằng vô lại nào chăng. Máu nóng dồn lên mặt, nghe nhói đau lồng ngực, tôi kéo mạnh cửa, chống lên. Dưới ánh sáng lờ mờ, một thân hình lõa lồ dang chân tay nằm dính bất động trên chiếc sạp tre. Tôi kêu lên Hoài ơi. Chiếc sạp tre lung lay cùng tiếng ứ ứ giọng mũi. Tôi đến gần, chạm tay vào chân Hoài, nơi có sợi dây lạt buộc vào thành giường. Tôi lúng túng kéo tay từ dưới lên trên, qua đùi và háng nhầy nhụa, qua bụng qua ngực rồi đến cằm miệng. Một nùi giẻ có dây, hình như là áo ngực của Hoài nhét chặt miệng. Tôi dật mạnh nùi giẻ, Hoài nấc lên: “Anh Thương…”. Tay tôi run rẫy mở từng nút lạt, tay trái tay phải và hai chân của Hoài. Hoài ngồi bật dậy co rúm úp mặt lên đầu gối. Tôi mò được cái áo phủ lên vai Hoài, đôi vai rung lên từng nhịp tiếng khóc tức tưởi. Tôi châm ngọn đèn dầu, dưới ánh sáng vàng vọt chao đảo, Hoài ngước lên, đôi mắt thất thần dàn dụa đưa tay ra trước mặt tôi. Bàn tay trắng xanh, bầy nhầy những vệt máu.
Tôi chạy ra sân, đưa tay làm loa kêu lớn về phía bến tắm “Anh Nợ ơi, ơi…ơi…” Tiếng kêu lẫn trong tiếng ào ào của gió Nam Lào thổi ngược.
Ảnh từ trang my.opera.com/tranquangloc
TRẦN BÌNH - THAO THIẾT MỘT HỒN QUÊ
Hẳn nhiều người còn nhớ câu hát trong một ca khúc nổi tiếng thời chống Mỹ trên đất Quảng Trị "Tiếng trống trận từ Gio An vọng tới.." Gio An, một mảnh làng nhỏ âm thầm của miền tây Gio Linh-Quảng Trị, nơi có hệ thống giếng cổ là di tích văn hoá rất đặc sắc ghi dấu một thời phồn thịnh của người Chăm ở đất này. Trong lòng đồi đất đỏ ba-zan, những mạch nước ngầm trong ngần và trường cửu cứ lặng lẽ chảy ra, người dân địa phương gọi là nước mội. Nhiều thế kỷ trước, người Chăm đã biết xếp đá khoanh lại thành giếng quanh mội để lấy nước sinh hoạt và cấy lúa. Các nhà khảo cổ học gọi đó là những công trình thuỷ lợi "dẫn thuỷ nhập điền". Ở những mội nước đó có một loại rau cũng rất đặc biệt, nó chỉ sống được với khe nước trong veo chảy ra, chỉ cần vẩy chút bùn lên là rau sẽ chết. Đúng là rau sạch tuyệt đối. Rau ấy có tên là rau Liệt, hay còn gọi là xa-lách-xông...Trần Bình, tác giả tập thơ nhỏ này sinh ra, lớn lên và hiện vẫn đang sống lặng lẽ trong lòng mảnh làng ấy.
Sở dĩ tôi nói lan man về giếng nước mội và giống cây rau Liệt trước khi bàn đến tập thơ bạn có trong tay, bởi nếu ai đó quen biết Trần Bình rồi. đọc thơ anh hẳn sẽ có cùng nhận xét với tôi, anh là hiện thân của cọng rau thuần khiết đó, tâm hồn anh được nuôi dưỡng bằng chính dòng nước trong veo và cũng rất thuần khiết của đất Gio An. Con người sống trên đời và sống trong thơ, ai cũng có nỗi buồn, niềm vui, ai cũng không thể thoát ra khỏi vòng thế tục, cũng nhớ nhung, dằn vật, trở trăn, thậm chí cả giận hờn uất ức...Nhưng tất cả các cung bậc cảm xúc đó đối vơí Trần Bình đều rất tinh khiết và chân chất.
Nơi chốn người đi qua nhớ nhung
Ta đau tình ấy những mùa trăng
Ngọt trong nguồn cội dòng tinh khiết
Ta tắm lời yêu nguyện đá vàng..
(Ta về giếng cổ thăm người cũ)
Bình làm thơ cũng đã lâu nhưng rất ít khi gửi thơ đăng báo nên ít người biết được anh đã có đến hàng trăm bài thơ. Cũng như hầu hết những người làm thơ khác, cảm xúc đầu tiên, cảm xúc sâu nặng nhất là tình yếu ngỡ như vô hạn đối với mảnh đất đã nuôi dưỡng nên mình. Vùng đất đỏ Gio An của Trần Bình không chỉ âm thầm trong vắt mạch nước hàng trăm năm chắt ra các giếng cổ, mà đã từng có một thời đất rung, cây đổ, vòm trời mù mịt khói bom, và máu đổ đầm đìa nhuộm sẫm thêm màu đất đỏ. Tuổi thơ Trần Bình lớn lên giữa những năm tháng bi hùng đó. Bởi vậy mà bạn đọc sẽ chẳng hề ngạc nhiên khi những dòng thơ viết về quê hương, không có nhiều cái chất hương đồng cỏ nội, cây đa bến nước nên thơ như rất nhiều trang viết ban đầu của các thi nhân khác. Đổi lại, quê hương trên trang thơ anh thật da diết, thật nặng sâu, nhiều lúc còn thao thiết đến nghẹn lòng.Mẹ sinh tôi ra giữa làng.
Năm bom đạn
Quê tôi thành làng trắng
Ngày khói lửa theo mẹ đi sơ tán
Tuổi thơ lưu lạc, xa nhà..
(Làng ơi )
Cũng có cánh cò trên rẻo làng quê, nhưng cánh cò trong thơ Trần Bình nhoi nhói một nỗi đau của tấm lòng đứa con đất nghèo tự thấy nặng tội với mẹ vì chưa làm nên được gì để tròn đạo hiếu.
Để rồi khi con bĩu môi thả một ánh nhìn lạ lẫm
Vào cái mặt trăng nhăn nheo đồng quê
Vào câu hát ru, mẹ à ơi bến bãi
Cánh cò, cánh vạc chao chiều
Buốt lòng trái đắng cò ơi..
(Cò ơi thao thiết)
Cũng có cây đa, nhưng cây đa trên quê của Bình là chứng nhân của máu và hương hồn người liệt sĩ bị kẻ thù găm đạn đến nát thịt xương. Người liệt sĩ ấy đã trở thành Thành Hoàng của làng Gio Bình. Cây đa ấy cũng là liệt sĩ, cũng vảng vất hồn vía nơi đây để chứng tích cho một thời bom lửa:
Hết chiến tranh chúng tôi tìm về
Cây đa chứng tích giờ thành thiên cổ
Trồng lại một cây đa lá đỏ
Đồng đội ơi, thương nhớ tháng năm dài..
(Cây đa và đồng đội)
Cũng có giếng nước, có mái đình, có cả ánh nắng chiều, đêm trăng thanh và bãi cỏ mịn...Tóm lại, trong thơ Trần Bình có tất thảy những gì được gọi là hồn quê. Nhưng tất cả đều day dứt, nặng trĩu và thao thiết. Ngay cả những bài thơ chỉ mang tính thù tạc, chạm chén rượu với bạn bè nơi đất khách quê người thì cái men nồng vẫn không đủ nguôi ngoai nỗi trở trăn hồn quê, đôi lúc còn xen cả sự mặc cảm, hay chút giỗi hờn của một tâm hồn đầy mặc cảm:
Vô tư đi. Cứ vào nam mà sống...
Chả nhẽ rời quê- muôn kiếp mặn mòi
Chả nhẽ vì mẹ cha nghèo cực
Mà ta mơ thành kẻ mồ côi?
( Đồng hương)
Là nói vậy, nhưng cũng không hoàn toàn chỉ có vậy. Hồn quê trong thơ Trần Bình không phải chỉ có sự dằn vật, ưu tư. Cuộc sống của chàng thi sĩ chân quê này không chỉ có những đêm thao thức.Vẫn còn đó những mùa trăng rời rợi sắc tình, vẫn có đêm đi hội Sim ngất ngây khúc hát ghẹo, vẫn có nhịp trống rộn ràng lễ hội Khe Me và tiếng đàn Ta-Lư réo rắt len lỏi vào trong từng giấc ngủ. Bởi lẽ giản đơn là, dài hơn những năm tháng máu lửa quặn đau là những mạch nước ngọt ngào trường cửu, sâu hơn nỗi ưu tư trăn trở vì cuộc sống mưu sinh và sự thiệt thòi bản thân một con người cụ thể là lòng đất đỏ quê hương ấm áp nghĩa tình. Và trên tất cả cõi riêng của một đời người cụ thể là khí chất của con người Quảng Trị gan góc,lạc quan. Vì vậy mọi cay đắng rồi sẽ qua, men đời cứ say trong từng câu hát. Cái chất ấy làm nên màu xanh của khung trời Quảng Trị, màu xanh thuần khiết của cọng rau liệt quê anh. Tôi thích bài lục bát này bởi nó rất Trần Bình, rất là trai Quảng Trị:
KHÚC TƠ TÌNH HỘI SIM
Rủ nhau lên bản mà chơi
Mà nghiêng câu hát lý lơi đêm tình
Sơn nữ ơi! Ta đi tìm
Đằm trong mắt suối cái nhìn lúng la
Bập bùng ngọn lửa kiêu sa
Ngực trần phô với núng na nói cười
Từng đôi,bên suối từng đôi...
chén yêu say khướt nghiêng trời tình nhân
Phập phồng đồi núi trăng ngân
Chung chiêng trắng một đêm xanh
hội tàn
Cuộc sống đang từng ngày đổi thay trên đất Gio An cũng như trên tất cả những mảnh làng khác của đất nước. Thơ Trần Bình cũng vậy. Tập thơ mỏng đầu tay này chỉ mới như là những lô đất vừa vỡ hoang. Chúng ta rất tin và có đầy đủ cơ sở để tin vào một hồn thơ đang lặng lẽ làm mùa trên vùng đất âm thầm mà sâu nặng, bên những mạch nước ngàn đời trong vắt đã nuôi những cánh rau thuần khiết nên xanh
Trúc Sơn Trang, Đông Hà, 9/12/2009
Xuân Đức
Nguồn: tiengdantalu.vnweblogs.com

Bút ký
Ai chưa đến đó như chưa rõ mình."
Câu thơ của nhà thơ Tố Hữu viết thời chiến tranh mà bây giờ đọc lại vẫn thấy xốn xang kỳ lạ. Với Trường Sơn, chúng tôi cứ đi đi, về về với các bản làng đồng bào dân tộc
Chắc có lẽ nhiều người chưa quên chuyện ông Kbo, nhà dân tộc học người Hunggari hồi những năm tám mươi của thế kỷ hai mươi đã đến với vùng đồng bào dân tộc miền tây Quảng Trị. Quá say mê với phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Cô Hướng Hóa nên ông quyết định làm nhà sàn ở lại nghiên cứu dân tộc học, để rồi vợ ông phải thân chinh qua Việt Nam nhờ Đại sứ quán tìm tung tích.
Ngày trở về, chia tay với bản làng và những người dân miền tây hào hiệp, mến khách, khi được các lãnh đạo huyện hỏi: "Qua thời gian thâm nhập thực tế dài như thế, theo ông làm thế nào để miền núi tiến kịp miền xuôi?", ông Kbo nói rằng: "Tôi không phải là kinh tế gia, cũng không phải là chính trị gia mà chỉ là một nhà dân tộc học, nhưng nếu được phép nói thì theo tôi phải có một con đường". Con đường mà ông đề cập ở đây là yếu tố để chuyển tải nền văn minh, có con đường là có tất cả.
Lời ông Kbo nói vậy ai cũng thấy được bởi có sống với miền tây hồi ấy mới thấy việc dịch chuyển đi lại ở miền núi khó khăn đến mức nào. Chuyện cũ có thật, có lần huyện gửi công văn mời cán bộ xã ra huyện họp, công văn gửi đi mười ngày sau mới đến đến được xã thì cuộc họp đã diễn ra cách đó lâu lắm rồi. Mà có nhận được sớm hơn thì ở vùng sâu Hướng Hóa, Đakrông phải cơm đùm, cơm vắt lội bộ bao nhiêu dặm đường rừng ra đến huyện mất hơn ba ngày đường, cả đi lẫn về mất một tuần chỉ để họp có một ngày.
Còn sản phẩm hàng hóa của dân làm ra thì khỏi phải nói, một quả dứa nặng một ký ở Abung, Ango, Đakrông bán 500 đồng cũng chẳng ai mua bởi không ai có thể gánh gồng trèo đèo, lội suối ra được đến chợ thị trấn để bán. Có khi đến mùa thu hoạch bà con phải bỏ đi sản phẩm mà biết bao công sức của mình đã đổ ra.
Nhắc lại một vài chuyện cũ như thế để thấy rằng đầu thế kỷ hai mươi mốt khi nhà nước mở con đường Trường Sơn thời công nghiệp hóa đã mở ra "con đường tương lai giàu có của Tổ quốc ta". Một thuận lợi là đường Trường Sơn từ miền tây Quảng Bình qua Quảng Trị có hai nhánh đi song song theo Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây với điểm gặp gỡ là cầu Đakrông theo đường 14 chạy dài vào Thừa Thiên- Huế có tổng chiều dài 180 km. Và, như thế những vùng núi đồi hàng ngàn năm u tịch ở miền tây của các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Đakrông và Hướng Hóa được đánh thức.
Cách đây mươi năm về trước, để đến được Sen Bụt, Cù Bai, chúng tôi phải đi xe ba cầu băng qua hàng chục cây số đường rừng hiểm trở, quanh năm vắng bóng con người, còn bây giờ dọc đường vào đã thấy thấp thoáng những điểm dịch vụ của dân từ Khe Sanh, Lao Bảo vào bán hàng nhan nhản khắp bản làng. Con đường khai mở đến đâu là có sự giao thương đến đó. Dọc đường lên Cù Bai chúng tôi phóng xe chạy băng băng trên con đường thảm nhựa, tha hồ ngắm nhìn những cánh rừng nguyên sinh miên man với đủ loại cây đẹp đến mê hồn.
Đã nhiều lần lên với Trường Sơn nhưng lần này tôi mới có dịp cảm nhận đầy đủ hơn vẻ đẹp của những cánh rừng. Khi nắng xuân lan tỏa xua tan màn sương mỏng buổi sớm mai, cũng là lúc tiếng chim hót líu lo chào buổi sáng vang động tạo nên một bản đại hợp xướng của rừng. Thi thoảng trên đường bắt gặp những chú sóc nhảy ngang qua đường. Thú vị hơn cả là khi đoàn chúng tôi bắt gặp đôi gà lôi lam mào trắng trên đường đi Cù Bai với bộ lông thật sặc sỡ, loài gà được ghi trong sách đỏ và còn rất ít ở Việt Nam.
Một thành viên đi trong đoàn chúng tôi tỏ ý lo ngại cho những cánh rừng nguyên sinh quý giá này liệu có được gìn giữ, bảo tồn nếu không có kế hoạch bảo vệ ngay từ bây giờ. Đường Trường Sơn đâu chỉ là con đường chiến lược phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng mà còn là con đường của du lịch sinh thái rất hấp dẫn.
Anh bạn ở Văn phòng Huyện ủy Hướng Hóa cùng đi nói với tôi rằng hãy chờ đêm xuống ở nơi này mới thấy hết cảnh đẹp của miền tây. Quả thật ở tây Trường Sơn đêm xuống trời se lạnh, sương giăng giăng cả triền núi. Mùa này cà phê bắt đầu nở hoa trắng cả những quả đồi bạt ngàn. Có thể nói nếu như đất Hướng Hóa rất phù hợp cho việc phát triển trồng cà phê thì Hướng Phùng là nơi có tập trung với diện tích cà phê khá lớn với hơn 1500 ha. Nguồn lợi từ trang trại, nương rẫy cà phê mang lại không chỉ cuốn hút người dân miền xuôi lên đây lập nghiệp mà còn làm cho bà con dân tộc Vân Kiều bấy lâu nay chỉ quen với tập quán canh tác lạc hậu: phát, đốt, cốt, trỉa cũng chuyển sang làm cà phê với kỹ thuật canh tác mới. Đã có 80% hộ đồng bào dân tộc Vân Kiều ở Hướng Phùng có vườn cà phê chè từ 2-3 ha.
Trong khi nhiều người trồng cà phê trong cả nước phải lao đao thì cà phê chè ở Hướng Hóa vẫn được giá. Sản phẩm chế biến của Công ty cà phê- dịch vụ đường 9, Công ty hồ tiêu Tân Lâm, Công ty chế biến cà phê Thái Hoà vẫn có thị trường tiêu thụ tốt không chỉ ở Tây Âu mà còn xuất sang cả Mỹ. Chỉ có điều còn phân vân của bà con nông dân hôm chúng tôi dừng lại ở Hướng Phùng là cách tổ chức thu mua của các công ty chế biến chưa tốt, nên gây ra cảnh nông dân bị ép giá. Giá sụt một tí là người trồng cà phê chết đứng bởi công chí phí đầu tư chăm sóc cho cây cà phê rất lớn.
Mà thôi, chuyện cây cà phê thì nói bao nhiêu cho hết, trong khi chuyện đồng bào các dân tộc miền tây sống trên đất đai màu mở, bạt ngàn mà phải chịu cảnh đói nghèo là chuyện đáng bàn. Cũng cần phải nói rằng Nhà nước đã đầu tư nhiều cơ sở vất chất hạ tầng để cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc, nhưng nhìn chung cuộc sống của bà con vẫn chưa khá lên được. Những năm trước đây hầu như năm nào cũng vậy, cứ vào cử này lên miền tây là nghe chuyện đồng bào dân tộc thiếu đói. Cái đói của đồng bào dân tộc được hiểu là thiếu gạo ăn, phải ăn ngô, ăn sắn thay cơm. Đó là cái đói triền miên chưa dứt được bởi tập tục canh tác lạc hậu: phát, đốt, cốt, trỉa; là diện tích lúa rẫy, ruộng nước còn quá ít, chưa được tích cực khai hoang để canh tác; là cái sự thiếu căn cơ tự thân của đồng bào khi làm được chừng nào lương thực đều dốc vào ghè rượu uống suốt mùa ăn mừng lúa mới.
May mà mấy năm trở lại đây có nhà máy chế biến tinh bột sắn ra đời, người dân trồng sắn bán được giá nên đời sống có nhiều cải thiện. Tôi đã gặp trên dọc hành trình Trường Sơn những nhân tố điển hình. Đó là những ông chủ trang trại đã làm chủ được cái nương, cái rẫy của mình, như Hồ Cài ở bản Trằm, xã Hướng Tân, Hướng Hóa có trang trại cà phê với diện tích 5 ha, mỗi năm thu hơn 70 tấn cà phê, cùng với cơ sở chế biến và các nghề phụ khác mỗi năm thu nhập lên đến hàng trăm triệu đồng. Tôi đã gặp Pảtahơn ở xã Thanh, người du kích gan dạ năm xưa trở thành ông chủ giàu có nhờ rẫy sắn, vườn ươm cà phê thu nhập hàng năm lên đến hàng chục triệu đồng, là hình mẫu cho nhiều người làm theo...
Nhưng với miền tây hiện nay, trước hết dân trí là một nhân tố hết sức quan trọng. Đã qua rồi cái thời nhận thức lạc hậu của bà con dân bản rằng con cái chỉ cần biết cái nương, cái rẫy. Hôm chúng tôi rẻ lại Abung, Ango, hai xã biên giới vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Đakrông, kiến nghị đầu tiên của Hồ Liên, chủ tịch xã Ango và Ađeng Thiếu, chủ tịch xã Abung là mong muốn tỉnh, huyện quan tâm mở thêm trường lớp cho con em học lên bậc học cao hơn tại cụm Tà Rụt, vì hiện nay ở địa phương mới chỉ có mới có lớp nhô. Còn Hồ Thị Lý, Chủ tịch Hội phụ nữ xã Hướng Phùng, Hướng Hóa thì nói với tôi rằng chị muốn được học lên thêm nữa mặc dù chị đã từng được đào tạo để làm cô giáo, bởi theo chị không có tri thức thì không làm được cán bộ tốt.
Khát vọng đó càng được nhân lên khi Hồ Thị Ân, ở bản Saly, Hướng Lập thổ lộ cùng tôi: "Mình lấy chồng sớm nên thấy tiếc cái thời trẻ không chịu học, bây giờ muốn học lên thì không có điều kiện". Tôi chia sẻ với suy nghĩ của Ân, bởi mới 28 tuổi đầu Ân đã có ba con nhỏ. Ân cho biết đã kiên quyết kế hoạch hóa để có điều kiện chăm sóc con cái và sắp tới có điều kiện đi học thêm cho có tri thức để về xã làm việc tốt hơn.
Khi con đường nối hai phía Trường Sơn, dự phóng về miền tây phát triển đang hiển hiện từng ngày. Và hôm nay dọc theo con đường Trường Sơn huyền thoại, khi lên thăm cột mốc biên giới R16 ở cửa khẩu quốc gia La Lay trong một buổi trưa mây trắng bay lãng đãng qua dọc triền núi, đứng ở cột mốc, nơi có độ cao hơn 500 m so với mặt biển, cảm giác sóng mũi cứ cay cay. Bất chợt tôi lại nghĩ đến lòng dân miền tây, nghĩ đến những người lính biên phòng, những thầy cô giáo đang cắm bản dọc khắp nẻo Trường Sơn mà tôi từng gặp. Có các anh các chị, có lòng dân miền tây, biên giới luôn trường tồn, cho những áng mây trắng như buổi trưa này cứ mãi bình thản bay qua trên đỉnh Trường Sơn hùng vĩ nắng lắm mưa nhiều.
Minh Tứ
Nguồn: vn.360plus.yahoo.com/minhtuqtri