Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, November 6, 2025

RỒI NẮNG QUA ĐÈO - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

 


Huỳnh Liễu Ngạn

RỒI NẮNG QUA ĐÈO

 

tôi đi phố vắng đêm hè

tay che thời tiết nặng đè lên vai

cố quên đi tiếng thở dài

cho đời nhẹ lại hình hài của tôi

 

tôi đi nhung nhớ bồi hồi

năm châu bốn biển một thời héo hon

trăng rằm hiu hắt đầu thôn

tôi đi lạc mất linh hồn nơi đâu

 

qua ngày tháng giữa bể dâu

mà nghe thiên cổ vùi sâu hướng nào

con sông thuở nhỏ cây cầu

mười phương tám hướng nỗi sầu đuổi đeo

 

bỏ quên rồi nắng qua đèo

tôi đi mang nặng quê nghèo trên vai

đời chôn hết cả đời trai

nhưng sao tôi vẫn miệt mài tâm tư

 

bao nhiêu mộng ước hư phù

lá rơi vàng cả mịt mù lối xưa

tôi đi sớm nắng chiều mưa

mà thương nhớ lại ngày chưa phai mờ

 

tôi đi ngàn kiếp bụi bờ

cho trăng nhỏ máu vì chờ đợi tôi

bởi vì tôi rất đơn côi

nên không cần biết luân hồi làm chi

 

tôi đi em nhắn gởi gì

hay là em có thầm thì với tôi

đành thôi lời ở đầu môi

để cho gió thổi pha phôi lên trời.

 

14.9.2025 

HUỲNH LIỄU NGẠN

hiephuynh479@gmail.com

Tramh minh hoạ do tác giả cung cấp.

 

READ MORE - RỒI NẮNG QUA ĐÈO - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

LỤT MIỀN TRUNG – Thơ Lê Phước Sinh


 

Thụt lên Thụt xuống
chưa đã mà sao ?!
lấp ló Sân trước
lại tràn Nhà sau...
 
Chơi chi mà bẩn
làm điên cái đầu
vừa dọn vừa bỏ
chưa đâu vào đâu...
 
Trên Nguồn ục xuống
như kiểu Băng trôi
thật chán ông Trời
hôm Lờ mai... Lút !
 
     Lê Phước Sinh

READ MORE - LỤT MIỀN TRUNG – Thơ Lê Phước Sinh

Tuesday, November 4, 2025

VẦN THƠ DÂNG MẸ / CÔNG ƠN CHA MẸ / XUÂN NÀY THIẾU BÓNG MẸ YÊU / MỘ YÊN THỜ RẠNG / VƯỜN RAU - Thơ Văn Đoàn (Nguyễn Văn Doà)

 

Nhà thơ Văn Đoàn 

VẦN THƠ DÂNG MẸ


Mẹ hiền ơi chiều đông buồn thảm

Mây bay bay u ám bầu trời

Mẹ đi dặn lại bao lời

Để thương để nhớ cho người thân quen.

 

Mẹ Hiền ơi thuốc thang chưa hết

Sao Mẹ đành từ biệt quê hương

Câu Hà  quê Mẹ thân thương

In hình dáng cũ con đường sớm trưa...

 

Mẹ Hiền ơi cha vừa đi trước

Mà giờ đây mẹ bước theo sau

Còn đâu tiếng mẹ đêm thâu

Con ơi, Cháu hởi mẹ đau trong lòng.

 

Thương mẹ sống trăm năm gian khó

Mẹ đi xa bỏ ngõ quạnh hiu

Tình sâu mẹ để lại nhiều

Nghĩa ân chan chứa sớm chiều không phai.

 

Cha lao lý mẹ gầy thân yếu

Con thơ khờ mẹ chịu đắng cay

Nhọc nhằn ngày nối tháng dài

Vẫn nuôi hy vọng tương lai vững bền.

 

Chồng mất trước, tiễn con đi nữa

Nước mắt chan mẹ hứa vững lòng

Tựa như tùng bách giữa đồng

Một đời bền bỉ, thắm nồng yêu thương. &

 

Quảng Trị ơi quê mình thương  lắm

Cả xóm làng thầm nhắc nghĩa ân

Chan hòa sống trọn tình thân

Hết lòng con cháu bao lần sẻ chia.

 

Giờ mẹ về cõi tiên thanh thản

Nhẹ gánh đời, hết nợ trần gian

Cùng con cháu nguyện kết đoàn

Nghĩa tình giữ vẹn, đáp đền công ơn.

 

Xóm Cang nhớ bóng hình xưa ấy

Hải Phong buồn tiếc mãi người thương

Trăm năm dẫu hết con đường

Nghĩa nhân mẹ để quê hương sáng ngời.

 

Xin tiễn biệt mẹ người yêu dấu

Về cõi trời thanh thản nghỉ ngơi

Cháu con nguyện mãi khắc lời

Dẫu đời vạn biến không rời mẹ đâu...

 

Vĩnh biệt Mẹ, con cháu nguyện cầu

HƯƠNG LINH MẸ VÃNG SANH CỰC LẠC!

15/1/2025

 

 

CÔNG ƠN CHA MẸ

 

Hôm nay xuân đến khắp miền

Con về thăm lại mái hiên quê nhà.

Khói hương nghi ngút tỏa ra,

Nhớ thời thơ ấu chan hòa niềm vui.

 

Mẹ Cha một thuở ngậm ngùi,

Năm con sinh dưỡng chẳng rời bàn tay.

Gian lao vất vả tháng ngày,

Lo cho ăn học dựng xây nghiệp lành.

 

Dạy con nhân nghĩa, chí thành,

Tự lập, kiên định, ngọn ngành trước sau.

Đất vườn mua sắm từ lâu,

Để nay con cháu bắc cầu tương lai.

 

Nhà thờ họ Nguyễn trang đài,

Nghiêm trang tọa lạc, hình hài tổ tiên.

Mẹ Cha trọng nghĩa vẹn tình

Xóm làng yêu quý, ấm niềm tình thân.

 

Bao năm chiến loạn gian truân,

Một lòng con cháu bản thân không màng.

Ra đi thương tiếc họ hàng

Bà con nội ngoại chứa chan trong lòng.

 

Giờ đây cháu chắt vui đông

Khỏe ngoan học giỏi rạng hồng tương lai.

Ra đời lập nghiệp mỗi ngày,

Trí tài vững bước, hình hài tổ tông.

 

Công ơn Cha Mẹ mênh mông,

Như trời như biển, khôn cùng kể ra.

Chữ hiếu chưa trọn xót xa

Chưa lo phụng dưỡng mẹ cha vẹn toàn.

 

Chỉ mong con cháu sắt son,

Yêu thương đoàn kết, vuông tròn nghĩa nhân.

Dìu nhau tiến bộ xa gần,

Dạy con đạo đức, chuyên cần làm gương.

 

Giờ đây lăng mộ khói hương,

Xin Cha Mẹ hãy an yên giấc nồng.

Về nơi tiên cảnh mênh mông,

Vãng sanh cực lạc vui cùng Tổ tiên.

 

Nguyện cầu cha mẹ linh thiêng

Độ trì con cháu vững bền tương lai.

Sống vui, sống khỏe, luyện tài,

Làm người hữu ích chẳng sai đạo đời.

11 tháng giêng Ất Tỵ.

CÁC CON

 

 

XUÂN NÀY THIẾU BÓNG MẸ YÊU


Xuân này thiếu bóng Mẹ yêu

Cửa nhà lặng lẽ, quạnh hiu bốn bề.

Con về quê cũ não nề,

Nhìn bàn thờ mẹ, hồn tê tái lòng.

 

Ngày xưa ấy tết về thư thái

Bánh chưng xanh áo mới trắng hồng

Mẹ trao tất cả tấm lòng,

Giờ đây xa cách, nhớ mong nghẹn ngào.

 

Mong được hôn mái tóc bạc trắng

Nắm bàn tay rám nắng yêu thương.

Ước xưa tan giữa vô thường,

Chữ hiếu con nợ, đêm trường lệ rơi.

 

Cầu mẹ yên cõi trời an lạc

Khói trầm bay thơm ngát tỏa xa.

Xuân về thiếu mẹ thiết tha,

Con dâng nguyện ước, chan hòa nhớ thương.

 

MỘ YÊN THỜ RẠNG

 

Mẹ trăm tuổi an nhiên mây trắng,

Mộ thảnh thơi thơm nắng hoa vàng.

Thờ trang nghiêm, khói quyện dịu dàng,

Ơn nghĩa lớn muôn vàn ghi khắc.

 

Công việc trọn, lòng người thỏa ước,

Tấm chân tình sâu trước, bền sau.

Xuân Ất Tỵ pháo đỏ rực màu,

Bình an khắp mái đầu sương tuyết.

 

Hạnh phúc mãi sum vầy quyến luyến,

Đạo hiếu tròn, hương quyện lòng son.

Mẹ yêu ơi, phúc thọ mãi còn,

Trời đất chứng lòng con hiếu thảo.

 

 

VƯỜN RAU


1. MẸ TRÔNG CON

Mẹ già chăm chút vườn rau,

Nuôi con khôn lớn mai sau nên người.

Con đi khắp bốn phương trời,

Có còn nhớ đến những lời mẹ ru...

 

Con đi đã mấy mùa thu,

Trông về quê mẹ mịt mù khói sương.

Mây ơi cho gửi yêu thương,

Về nơi chốn cũ vấn vương tâm hồn.


Vườn rau ngày một xanh hơn ,

Tóc mẹ bạc trắng , áo buồn sờn vai.

Vườn rau tươi tốt sớm mai,

Lưng mẹ còng xuống miệt mài chờ con!

 

2. CON NHỚ MẸ

Mẹ đi để lại nỗi buồn,

Vườn rau xanh ngát, lệ tuôn đêm dài.

Con về lòng nặng u hoài,

Nhớ bàn tay mẹ sớm mai vun trồng.

 

Vườn xưa giờ vẫn mênh mông,

Nhưng đâu còn bóng lưng cong mẹ hiền.

Tháng năm mưa nắng triền miên,

Mẹ dành khó nhọc, chỉ riêng phần mình.

 

Con ngồi trước gió lặng thinh,

Nghe như tiếng mẹ bên đình gọi con.

Mẹ ơi, giờ mẹ chẳng còn,

Trần gian con mãi mỏi mòn ngóng trông.

 

Bóng chiều phủ khắp cánh đồng,

Vườn rau xanh vẫn ấm nồng nắng thu

Lời yêu thương, tiếng Mẹ ru

Thấm vào lòng đất ngàn thu chẳng mờ.

 

Mẹ đi, rau vẫn nên thơ,

Như từng hơi thở mẹ chờ con xa.

Mẹ ơi, tóc bạc, làn da,

Một đời khó nhọc, hóa ra thiên đàng.

 

Con nguyện sống mãi đàng hoàng,

Để không phụ nghĩa mẹ mang một đời.

Cảm ơn Mẹ, ánh sáng ngời,

Dẫn con qua những cảnh đời gió sương.

 

Dẫu cho vạn dặm tha phương,

Vườn rau vẫn mãi quê hương mẹ già.

Con về, thắp nén nhang nhòa,

Gửi lời thương nhớ, lệ hòa nước mưa…


VĂN ĐOÀN

(Nguyễn Văn Doà)

READ MORE - VẦN THƠ DÂNG MẸ / CÔNG ƠN CHA MẸ / XUÂN NÀY THIẾU BÓNG MẸ YÊU / MỘ YÊN THỜ RẠNG / VƯỜN RAU - Thơ Văn Đoàn (Nguyễn Văn Doà)

KỂ LẠI MỘT GIẤC MƠ CŨ - Đặng Xuân Xuyến

 

Tác giả Đặng Xuân Xuyến

KỂ LẠI MỘT GIẤC MƠ CŨ

 

Đêm 7 tháng 8 năm 2013, vừa đặt mình nằm đã mơ mơ màng màng, thấy lạc vào giữa đám đông, tiếng cười nói xôn xao và những ánh mắt nhìn nhau đầy ẩn ý. Tâm trạng tôi cũng rất lạ, nửa nôn nao muốn nán lại để hòa vào cái không khí náo nhiệt ấy như nỗi niềm của kẻ lâu ngày chợt tìm thấy chốn muốn thuộc về, nửa thì lại muốn rời đi thật nhanh để tránh xa những thị phi, những lời đàm tiếu có thể chờ sẵn sau mỗi tiếng nói, nụ cười từ đám đông kia.

Cứ dùng dằng như thế, chừng một lúc, cỡ dập bã trầu, bỗng thấy anh Tiễu (anh là con trai trưởng bác trưởng tôi) xuất hiện. Vẫn dáng vẻ như ngày anh còn sống nhưng đôi mắt anh hằn lên vẻ giận dữ, mắng tôi như chan canh đổ mẻ: - “Mẹ mày chứ! Mồm ăn thì có mồm nói thì không! Chúng nó vu oan cho mày như thế mà mày cứ lặng im là thế nào? Tưởng mày có ăn có học thì phải biết ăn nói để bảo vệ mình chứ, sao lại ngu ngốc như thế!”

Lúc còn sống, chưa bao giờ anh chửi tôi cả. Lúc nào anh cũng hết lòng bao bọc, chở che tôi. Bị chửi, ức quá tôi cãi lại: - “Anh cũng vừa vừa thôi. Chửi em mà như chửi kẻ thù là sao?”. Anh trợn mắt: - “Mẹ thằng này mày muốn tao đánh chết mày à? Mồm năm miệng mười với tao còn với chúng nó thì mày lại lặng im là thế nào?”. Tôi hiểu cơn giận của anh là cơn giận của người anh đã khuất, nhìn thấy thằng em mà anh hết mực thương yêu cứ khù khờ, nhu nhược với thiên hạ để gánh lấy thiệt thòi, bị vu oan, bị bôi nhọ mà cứ thản nhiên như không có chuyện gì nên anh mới điên lên mà mắng mỏ. Biết là vậy nhưng tôi vẫn định cãi thì anh vơ lấy cái điếu cày, nhằm vào tôi định đánh thì một giọng nói ấm áp, một giọng nói quen thuộc tôi đã gặp trong nhiều giấc mơ, chậm rãi cất lên: “Bảo ban em chứ không được đụng chân đụng tay với em như thế!”. Giọng nói ấy thật ấm áp như luồng gió lành xoa dịu cơn giận dữ, xoa dịu nỗi ấm ức, như nhắc nhở anh em tôi về những đạo lí, lẽ phải của đời. Giọng nói ấy khiến tôi giật mình, tỉnh giấc.

Giấc mơ đêm 7 tháng 8 năm 2013 ấy, theo quan niệm của dân gian thì đấy không chỉ là sản phẩm của tiềm thức mà còn là tiếng vọng từ thế giới tâm linh. Người xưa tin rằng, người đã chết có thể gửi gắm thông điệp qua giấc mơ để động viên hoặc nhắc nhở người còn sống. Anh Tiễu, người anh đã khuất của tôi, xuất hiện trong giấc mơ, mắng mỏ tôi để cảnh tỉnh tôi, để tôi nhìn thấy những sai lầm của bản thân mà sửa mình. Anh mắng tôi “mồm ăn thì có, mồm nói thì không” chính là sự trách móc của linh hồn người thân về sự nhu nhược, hèn nhát khi tôi chấp nhận im lặng trước những điều bất công thiên hạ đổ vào mình. Giấc mơ ấy, có lẽ là tiếng lòng, là tiếng nói của lương tri, của những gì đã ngủ sâu trong tiềm thức, nay trỗi dậy, nhắc nhở tôi về lẽ phải, về sự im lặng đáng sợ giữa cõi đời lắm thị phi, nhiều nhiễu nhương này.

Và giọng nói ấm áp ấy, giọng nói tôi đã nghe nhiều lần trong những giấc mơ khiến tôi suy ngẫm, đó có thể là tiếng nói của lương tri, của sự bao dung, hay cao hơn là sự chỉ bảo của một bậc bề trên, của một vị thánh nhân nào đó đang dõi theo và dẫn lối cho tôi? Giọng nói ấy không chỉ can ngăn cơn giận dữ của anh Tiễu, mà còn trấn an tôi, để tôi nhận ra rằng tôi đã quá hèn nhát, quá nhu nhược khi chọn cách im lặng để thỏa hiệp trước những điều bất công, những điều vô lí đến với chính bản thân mình! Giấc mơ ấy, có lẽ là một tiếng chuông cảnh tỉnh, một lời nhắc nhở về trách nhiệm của một con người, không chỉ sống cho riêng mình, mà còn phải sống cho lẽ phải, cho sự công bằng?!

Vâng! Phải hơn mười hai năm, hôm nay tôi mới ngộ ra được tiếng chuông cảnh tỉnh của giấc mơ này!

*.

Hà Nội, chiều 28 tháng 10-2025

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 .

 

READ MORE - KỂ LẠI MỘT GIẤC MƠ CŨ - Đặng Xuân Xuyến

Monday, November 3, 2025

▶ HOÀI MONG - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Lời: Vĩnh Phúc - Trình bày: Ẩn Lan - YouTube





READ MORE - ▶ HOÀI MONG - Nhạc: Phạm Anh Dũng - Lời: Vĩnh Phúc - Trình bày: Ẩn Lan - YouTube

GIAO MÙA - Thơ Nguyễn Huy Vụ

 

Tác giả Nguyễn Huy Vụ

GIAO MÙA

 

Chiều nay cúc đã võ vàng

Heo may lành lạnh nhẹ mang đông về

Trải bao bến hoặc bờ mê

Mỗi năm mỗi thấy đường về càng xa

Nẻo trần bóng lẻ mình ta

Kiếp người như một sát na thoảng vèo

Nợ đồng lần vẫn còn đeo

Hỏi khi về đất mang theo được gì

Vậy mà chửa hết sân si

Vậy mà vẫn cứ hồ nghi tỵ hiềm

Ta về vá lại màn đêm

Còn thương một dải mây mềm tóc xưa

Heo may gọi phút giao mùa

Đường bên vọng tiếng chuông chùa sắc không

Quê người nỗi nhớ mênh mông

Có ai tìm lại tiếng đồng dao xưa

Thu còn nuối những hạt mưa

Bao năm chìm nổi đã thừa biết đau

Soi gương thấy trắng mái đầu

Sao thơ vẫn chửa hết sầu nhân gian

Trông về cuối nẻo quan san

Thầm thương bóng mẹ đã man mác rồi

Tôi ngồi đối ẩm bóng tôi

Dòng sông đời mãi lở bồi ngàn năm…

    HV 04/11/2025

 

READ MORE - GIAO MÙA - Thơ Nguyễn Huy Vụ

TRẦM HƯƠNG – Thơ Lê Kim Thượng

 
 
 
Trầm Hương
 
1.
Đò ngang chở nắng sông dài
Bến quê vẫn đợi, vẫn hoài yêu thương
Chở người trở lại quê hương
Chuyến đò thưở nhỏ đưa đường khách xa
Nhớ sân đình, nhớ bóng đa
Làng quê, xóm cũ, hiền hòa mái tranh
Dòng sông ôm ấp đồng xanh
Phù sa nuôi lúa ngọt lành thân thương
Nhớ hoa xoan tím ven đường
Lao xao trong gió, mùi hương đậm đà
Nhớ trưa bóng nắng nhạt nhòa
Tiếng ve vang động, vỡ òa cuối thu
Chao nghiêng cánh võng, lời ru
“Bướm vàng đậu đọt mù u…” chòng chành
Ru con giấc ngủ ngon lành
Cái tôm, cái tép…  hóa thành lời ca…   
 
2.
Người đi biền biệt phương xa
Vẫn mong tìm được câu ca một thời
Mình là… Mình vẫn… Mình thôi…
Vẫn con diều nhỏ trên trời bay xuôi
Nhớ hoài, nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng Mẹ xa xôi…Bóng Già…
Dáng nghiêng nghiêng áo bà ba
Áo hòa màu đất, tóc hòa màu mây
Con buồn đứng lặng nơi đây
Mặn chua nước mắt, rót đầy đôi môi
Một mình thân phận mồ côi
Nén nhang con thắp, nghẹn lời yêu thương
Lòng thành con gửi trầm hương
Cầu xin Chư Phật, Mười phương độ trì
Hỏi ai hạnh phúc là gì?
Mẹ không còn nữa… con thì tha phương…
      
Nha Trang, tháng 10. 2025
Lê Kim Thượng

READ MORE - TRẦM HƯƠNG – Thơ Lê Kim Thượng

LỤT – Thơ Lê Phước Sinh




Ông Trời khóc ngày đêm đến húp cả mắt
Âm u làm bục Nước Bạc tràn về
Cái Gió vùng vằng rít lạnh từng cơn
Thủy Tinh kéo quân phá tanh bành xóm trên làng dưới... 
                                                     Lê Phước Sinh

READ MORE - LỤT – Thơ Lê Phước Sinh

Sunday, November 2, 2025

Ngọn Lửa và Ánh Trăng: Di sản tinh thần Thích Tuệ Sỹ giữa khổ đau và giải thoát - Trần Kiêm Đoàn

 


 “Đường xưa vẫn gió, trăng chưa từng tắt,

Người đi rồi, mà nắng vẫn trong veo.”

 TUỆ SỸ

 

 

Tháng 11 - 2025, đại tường Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Lễ đại tường là ngày giỗ năm thứ hai hai sau khi một người qua đời. Đại tường không chỉ là một nghi thức tang lễ nối dài mà là một triết luận sinh diệt siêu vượt những tín lý từng được cho là siêu việt của văn hóa và tôn giáo Á Đông, đặc biệt trong Phật giáo; nhất là khi nói đến một bậc danh tăng như Thầy Tuệ Sỹ lại càng mang nhiều ý nghĩa:

 

Trước hết là ý nghĩa nhân sinh: Là sự tiếp nối của tình người và đạo nghĩa. Đây là cột mốc chuyển hóa nỗi đau thành tri ân. Sau hai năm, tang thân (có cả tăng thân) và đồ chúng đã lắng dịu tiếc thương, thay vào đó là niềm biết ơn, kính trọng cũng như khát vọng tiếp nối đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Người ra đi không mất, mà hiện hữu trong tâm tưởng tu, trong hành động thiện, trong hạnh nguyện lành của người ở lại.

 

Đặc biệt là theo tinh thần triết học Phật giáo mà Thầy Tuệ Sỹ đã suốt đời hoằng hóa, Đại Tường là biểu tượng của vô thường và duyên sinh. Chết không phải là hết, mà là một chuyển động trong chuỗi tương tục của nhân duyên: “Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”, khi mọi sinh diệt đều tắt, thì tịch diệt (Niết bàn) mới là an lạc đích thực. Cái chấm dứt hình tướng của bậc trí tuệ là sự trở về thể tánh, không còn bị ràng buộc bởi thân xác hay danh vọng mà chỉ còn lại ánh sáng của trí tuệ - tâm từ.

 


Với đạo Phật, Đại Tường là dịp thực hành hồi hướng công đức cho bậc chân nhân đã viên tịch, giúp hương linh (và chính mình) tiến gần hơn tới giải thoát. Đồng thời, giúp thức tỉnh tâm người sống để biết rằng mọi pháp hữu vi đều vô thường và con đường tu tập là cách duy nhất vượt thoát sinh tử. Sự tịch diệt của một bậc chân tu không phải là mất mát, mà là sự trở về với pháp giới. Do vậy, đối với một nhân vật như Thầy Tuệ Sỹ, lễ Đại Tường không chỉ là lễ tưởng niệm, mà là một tuyên ngôn của trí huệ cũng như trí tuệ và đạo đức Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới: Biết buông bỏ vô minh, sống an nhiên giữa vô thường và tiếp nối ánh sáng lương tri bằng chính đời sống tỉnh thức của mình.

 

Ánh lửa Đại Tường trong tâm ảnh người đi

 

Một sớm mai có nắng mùa Đông ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội; Paris hay California... khói nhang trầm quyện vào tiếng chuông chùa trầm lắng, người mường tượng từ tâm ảnh và hiện ảnh về lễ đại tường tưởng nhớ Thầy Tuệ Sỹ tỏa lên như ngọn lửa và ánh trăng nhắc về một kiếp người tròn đầy trong vô thường.

 

Giữa không gian ấy, ta không chỉ tưởng niệm một vị cao tăng, mà còn tưởng niệm một ngọn lửa đã cháy trọn trong đêm dài của dân tộc và đạo pháp: một ngọn lửa từng soi đường cho bao thế hệ học Phật, viết Phật và sống Phật. Kỳ lạ thay, ngọn lửa ấy không thiêu đốt mà lại tỏa sáng bằng ánh trăng – ánh trăng rằm miên du của Tuệ giác. Ánh sáng lung linh ấy không chỉ chiếu soi một tấm thân đã hóa cát bụi, mà còn tiếp tục soi đường cho bao tâm thức đang đi trong đêm dài của thời đại.

 

Biểu tượng Thích Tuệ Sỹ là dòng sống giữa hai cõi: hiện sinh và siêu việt.

 

Một cuộc đời biểu hiện của hiện sinh khổ đau: tù ngục, khốn khó, bệnh tật, hoàn cảnh đầy thách thức... Nhưng trong cái khổ ấy lại là một tâm thức siêu việt an nhiên: “Tự do không phải là trạng thái, mà là tâm thái.”

 

Ở đây, triết học Phật giáo gặp gỡ triết học hiện sinh, tuy cùng đại lộ mà trên hai nẻo phân tâm – Sartre và Kierkegaard tìm tự do trong phi lý – Thích Tuệ Sỹ tìm tự do trong chân lý vô ngã. Lộ trình Tuệ Sỹ không chống lại khổ đau, mà xuyên thông qua nó; không phủ nhận đời, mà sống giữa đời như một bài Tâm Kinh vô tự để từ đó đi vào “Tam Tâm Pháp Ấn”: Từ bi - Trí tuệ - Tự do.

 

Từ bi trong hành động: dấn thân vì tỉnh thức, vì con người, vì lý tưởng giác ngộ để hoằng dương chánh pháp. Từ bi, không chỉ là lòng thương mà là dấn thân. Thầy không rút lui vào cõi thiền am tĩnh mịch, mà bước ra giảng dạy, viết, dịch, tranh luận, hoằng pháp – để ngọn đèn Phật học Việt Nam không tắt giữa thế kỷ đầy biến động.

 

Trí tuệ trong ngôn ngữ: triết luận hàn lâm mà gần gũi, dịch thuật uyên bác mà tỏa sáng, thi ca bay nhẹ vào đời như mây trắng chân không. Trí tuệ, là cốt tủy trong từng trang kinh, từng luận thuyết. Từ Triết học về Tánh Không đến Đạo Phật và Con Người hiện đại, Thầy luôn đi tìm một lối vào Phật pháp bằng con đường khai phóng, nơi tri thức không đối nghịch với đức tin, mà nâng đỡ đức tin.

 

Tự do trong tâm thức: vượt mọi áp bức, không vướng vào danh lợi, hình tướng hay quyền uy. Tự do, là hơi thở cuối cùng của một đời người tu. Không tự do, thì đạo chỉ là khuôn phép; có tự do, mới có giác ngộ. Thầy từng nói:

 

 “Không ai có thể hoằng pháp nếu chưa từng giải thoát khỏi chính mình.”

 

Câu ấy, giờ đọc lại, như một lời gửi cho tất cả những người đi sau; những ai đang hoằng pháp trong kỷ nguyên hỗn mang của thông tin và ảo tưởng; rằng, điều quan trọng nhất không phải là nói về đạo, mà là sống được trong đạo.

 

Trong tác phẩm Triết học về Tánh Không, Thầy Tuệ Sỹ viết: “Không có cái Ta nào bị giam cầm, chỉ có vô minh tưởng rằng mình bị giam.” Tư tưởng này vẫn được xem là “dấu ấn triết học” của Phật học Việt Nam thời hiện đại: tự do như là tự tri; an trú trong chánh niệm. Bởi vậy, ánh trăng thiền vị trong thơ Tuệ Sỹ đã là một trời thơ. Đẹp quá!

 

Tuệ Sỹ không là một thi sĩ làm ra thơ mà thơ đã chính là tâm hồn thi sĩ nên thơ Thầy là một thiền khúc tâm ca vượt lối mòn và ước lệ thời đại.

 

 “Một ngày nào đó / Trên vết chân người / Cỏ sẽ mọc xanh / Và mưa sẽ rơi.”

Đó là lời của một người không tuyệt vọng, dù thân bị giam trong trần lao, tâm vẫn hòa vào hư không, như trăng soi qua song sắt.

 

Thơ Tuệ Sỹ là “thiền ca hiện sinh”; không nói vô ngã bằng triết, mà bằng hơi thở, bằng chữ nghĩa mềm mại, thong dong siêu vượt như hương khói nhang trầm.

 

Và ánh trăng vằng vặc trong tâm thức người ở lại

 

Đại Tường không phải là khép lại một kiếp người, mà là mở ra một kiếp sáng. Cuộc đời Thầy Tuệ Sỹ là minh chứng hùng hồn cho chân lý ấy. Thầy đã sống giữa hai cõi hiện sinh và siêu việt:

 

Ở cõi hiện sinh, Thầy từng chịu giam cầm, thiếu ăn, bệnh tật và cô đơn. Thân phận ấy, nếu nhìn bằng con mắt thế gian, là một bi kịch. Nhưng ở cõi siêu việt, chính trong khổ đau, Thầy tìm thấy con đường giải thoát như Thầy từng viết:

 

 “Không có cái Ta nào bị giam cầm, chỉ có vô minh tưởng rằng mình bị giam.”

 

Đó không chỉ là một phát biểu triết học, mà là một tuyên ngôn của tự do nội tâm – thứ tự do không thể bị còng trói bởi quyền lực hay xiềng xích.

 

Nếu Sartre nói: “Con người bị kết án phải tự do,” thì Thích Tuệ Sỹ lại cho rằng: “Con người giải thoát khi thấy rõ không có cái Ta nào để bị kết án.”

 

Thầy đã đi xa, nhưng Tuệ vẫn còn ở lại. Ở lại trong từng hơi thở của người học đạo, trong từng dòng chữ của thiền lâm Phật học, nơi Thầy đã góp phần gieo hạt giống tư tưởng, đối thoại và tự do. Ở lại trong những ai từng tin rằng Phật pháp không chỉ là giáo lý để tụng niệm, mà là ánh sáng soi đường trong những khúc quanh tối nhất của đời người.

 

Ngọn lửa Tuệ Sỹ đã cháy trọn một đời và chính vì cháy trọn, nên đã hóa thành ánh trăng. Ánh trăng ấy không bốc cháy dữ dội, mà soi đường cho từng bước chân hậu học trên con đường dài của Phật pháp và nhân sinh.

 

Những người ở lại, dù không đủ để nối gót, vẫn có thể giữ được ánh sáng khi vẫn khiêm cung lắng lòng trầm tư trong tịch lặng để chắt lọc pháp ngôn, xiển dương pháp thoại, sáng tác pháp tuệ, cung dưỡng pháp hành... trong tương quan nghệ thuật với nhân sinh cho Đạo và cho Đời.

  “Ta về trong bóng nguyệt xưa,

Nghe hoa vẫn nở như chưa hề tàn.”

 

                                       (Hồi quang)

 


Thầy ơi!

Ánh trăng vẫn đó.

Và trong mỗi người còn lại, ngọn lửa của Thầy chưa bao giờ tắt.

 

Sacramento, thủ phủ Cali. Quý Thu 2025

 

       Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn

 

 

READ MORE - Ngọn Lửa và Ánh Trăng: Di sản tinh thần Thích Tuệ Sỹ giữa khổ đau và giải thoát - Trần Kiêm Đoàn