Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, November 24, 2024

Chùm ảnh HOA LAN - Chu Vương Miện






 

READ MORE - Chùm ảnh HOA LAN - Chu Vương Miện

BẢN THẢO CHO MÙA ĐÔNG TRỞ VỀ - Thơ Song Phố

 


BẢN THẢO CHO MÙA ĐÔNG TRỞ VỀ

           (Viết tặng anh Nguyễn Đắc Hùng.)


Bỏ mùa chướng non mê mải bên rừng dừa

Đậy chặt mùi hương đồng bằng gửi lại

Khoác lên vai náo nức tôi đi

Miền Trung bắt đầu sửa soạn

Bản thảo cho mùa Đông trở về


Cứ để đam mê nhảy múa kiếm tìm

Trong hồ nghi của dòng cảm xúc

Tôi ngước mắt lên nhìn Trường Sơn hùng vĩ

Dấu ngàn xưa cúi xuống vờn mây


Cầu Đuồi chạm gió hây hây

Chợ Phiên còn nguyên trong tâm thức

Gác mình lên thời gian ngủ ngày


Con sông Hiếu vẫn miệt mài 

Chảy vào lòng Quảng Trị

Chở phù sa ra biển rộng 


Ngồi buộc đêm vào cơn say

Nghe gió ngàn năm kể

Những câu chuyện xảy ra trên mảnh đất này


Có gì vui, gọi nhau về Cam Lộ

Đêm trăng ngồi nghe "hò giã gạo quê miềng"

Ghé xứ Cùa thăm Tân Sở

Nơi Vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương


Uống bát nước chè xanh thấm vị quê hương

Vũ điệu Bazan đầy nắng gió

Tình người thảo thơm như cây cỏ

Gặp nhau ...

Cứ rưng rưng cúi chào!


SONG PHỐ

songpho.0505@gmail.com

READ MORE - BẢN THẢO CHO MÙA ĐÔNG TRỞ VỀ - Thơ Song Phố

Saturday, November 23, 2024

MỖI NGÀY – Thơ Khê Kinh Kha




 
MỖI NGÀY
(Riêng cho DP)
 
mỗi ngày anh tặng em nụ hồng thơm
những nụ hồng mọc trên mảnh vườn tình yêu đời anh
những nụ hồng chứa đầy tình anh nồng nàn
nở đầy hương tình giữa đời em
cho tình mình thêm mặn nồng
cho đời mình mãi mãi ngát hương yêu
nhé em yêu ơi
 
mỗi ngày anh tặng em những lời tình
những lời tình dịu nồng từ đáy tim anh
mà bao năm anh ấp ủ trong lòng
để xóa tan đi bao muộn phiền em cam chịu
xóa dịu đi bao gian nan em gánh mang
những lời tình ươm mầm yêu đương
cho tình mình từ nay và mãi mãi đến ngàn sau
mình chung lối và mình chung đời
hỡi em yêu ơi
 
mỗi ngày anh tặng em những nụ hôn
những nụ hôn nồng cháy của riêng anh
những nụ hôn dài hơn hơi thở
những nụ hôn chan chứa tình lứa đôi
những nụ hôn thoa dịu hồn em trong những tháng ngày mưa gió
những nụ hôn nồng ấm ru đời tình nhân
những nụ hôn chỉ dành riêng cho em thôi
em của anh ơi
 
mỗi ngày anh tặng em vòng tay ôm tình ái
những vòng ôm âu yếm anh trân qúy
cho ấm áp cuộc tình này
chỉ dành riêng cho em thôi
hôm nay và mãi mãi đến ngàn sau
nhé em yêu ơi
 
mỗi ngày anh tặng em những vun sới
những vun sới mặn nồng của tình ta
đã từ lâu anh cặm cụi chăm sóc
vun sới một đời bên nhau
một đời sẻ chia một đời gắn bó
một đời hạnh phúc trong tình thủy chung
dù mai đây trái đất này có vỡ tan thành vạn mảnh
anh vẫn mãi vun sới cho tình mình
cho tình mình vĩnh cửu thiên thu
em của anh ơi
 
mỗi ngày anh nguyện cầu ơn trên
cho tình mình như hoa lá mọc khắp đời ta
cho em mãi yên vui trong khung trời anh
cho anh mãi yên lành trong rừng tóc tình em
cho chúng mình mãi tựa nhau trên từng bước chân đời
vì đời này đâu có nghĩa gì
khi tình đôi ta không ghé bến trăm năm
 
mỗi ngày anh lặng yên nhận lãnh tình em
tình em trao như nắng ấm giữa trời bao la
tình em trao anh trân quý trong tim mình
tình em trao xóa dịu bao gian khó
tình em trao may vá lại đời anh
xin cảm ơn em
xin cảm ơn đời
một đời anh mãi có em
một đời em mãi bên anh
 
mỗi ngày anh thầm gọi tên em
em của anh – em của kha ơi
anh gọi mãi để thấy đời thật vui
anh gọi mãi để thấy tình thật say
để anh thấy mùa xuân trong từng ngày tháng
để anh thấy cuộc đời thật đáng sống
vì đời đã có em trong tình anh
vì đời mãi có chúng mình yêu nhau
em yêu … em yêu ơi
 
mỗi ngày anh xin tạ ơn đời
đời đã mang em đến trong đời anh
từ nay trên khắp đường đời
có tình đôi ta
như sóng biển
vỗ hoài ngàn năm
 
                                  khê kinh kha
READ MORE - MỖI NGÀY – Thơ Khê Kinh Kha

THƠ TRẦN QUANG CHÂU - MỘT GIỌNG THƠ TRỮ TÌNH - Hoàng Thị Bích Hà

 

THƠ TRẦN QUANG CHÂU

 - MỘT GIỌNG THƠ TRỮ TÌNH  

Hoàng Thị Bích Hà

 

    Tôi nhận được những tập thơ của nhà báo, nhà thơ Trần Quang Châu nhân dịp tham dự ra mắt tạp chí Sông Quê số 16 tại quận Phú Nhuận. Ấn tượng về anh là một người cương nghị, ít nói nhưng gương mặt hiền từ và nụ cười ấm áp trong câu chuyện thân tình với bạn hữu thi văn. Thơ của Trần Quang Châu là một giọng thơ trữ tình sâu lắng, giàu chất suy tư về cuộc đời. Thơ anh là thơ “trữ tình tâm tình” và “trữ tình thế sự”. Trong đó thơ trữ tình tâm tình chiếm phần lớn.

    Giới thiệu vài nét về nhà thơ Trần Quang Châu (TQC). Anh sinh năm 1952 tại Quãng Ngãi, sống và làm việc tại Sài Gòn. Năm 1990 đến năm 1994 Trần Quang Châu cùng với Nguyễn Đăng Trình đã thực hiện tập san Thời Văn nội dung rất phong phú với sự tham gia của nhiều cộng tác viên trong và ngoài nước, trong số những cộng tác viên mà tôi được biết có nhà thơ Ngàn Thương đồng hương- sống và viết tại Huế.

     Năm 1996, TQC làm báo nhà nước – tờ báo Yêu Trẻ, trực thuộc UB Dân Số Gia đình và Trẻ em cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2012. Sau khi nghỉ hưu anh cũng muốn sống an phận, tiêu dao giữa cõi đời thơ mộng này. Nhưng chỉ được vài năm, rồi máu đam mê Văn Nghệ và “chất làm báo” vẫn cứ đeo đẳng anh. Chính vì vậy mấy năm gần đây, anh cùng với nhà báo, nhà thơ Phạm Ngọc Dũ thực hiện tạp chí Sông Quê. Tính đến quý 1/2023 Tạp chí Sông Quê đã thực hiện được 17 số và cũng đã được các tác giả và công chúng yêu văn học đón nhận.

    Các tác phẩm đã xuất bản của Trần Quang Châu:

    Thơ: Chân Dung (Nxb Thanh Niên – 2005)

    Thơ: Lắng Nghe (Nxb Thanh Niên tháng 5/ năm 2002)

    Thơ: 100 lẻ I Bài Thơ (Nxb Hội nhà văn tháng 5/ năm 2023)

    Khi xuất bản tập thơ Chân Dung (2005) và tập thơ Lắng Nghe (2002) một số báo ở thành phố Hồ Chí Minh đều có bài giới thiệu.

    Tập thơ Lắng Nghe cũng được nhà thơ có tên tuổi được công chúng yêu mến như Đoàn Vị Thượng viết lời tựa và người bạn tài hoa mà khiêm tốn Nguyễn Huyền Thạch (ở hội VHNT Quãng Ngãi) viết lời bạt cho tập thơ Lắng Nghe. Hai nhà thơ nói trên (R.I.P) đều là gốc Huế và là những người bạn tâm giao hiểu anh, hiểu thơ, đối với nhau bằng tấm chân tình tri kỷ.

    Bạn bè anh hiểu anh ra sao, và anh tự họa chân dung mình như thế nào qua thơ? Chúng ta hãy lần lượt đi vào thế giới nội tâm của Trần Quang Châu qua các tập thơ của TQC. Với cảm xúc bồi hồi tha thiết, nhà thơ giới thiệu về quê hương mình:
    “Tôi lớn lên từ miền quê Quãng Ngãi/ Con đường làng quen thuộc bước chân đi” (Vạn An Quê Tôi- trong tập thơ 100 Lẻ 1 bài thơ)

    Qua những vần thơ chúng ta sẽ thấy hiện ra một TQC phong trần, lãng tử và yêu đời, yêu thơ. Khi viết về bản thân, so với thế thái nhân tình, có thể có sự đối lập, tương phản qua các từ ngữ: Đời- diễn, trò chơi xương máu (khốc liệt quá)  ta-khùng- thơ thẩn trong thơ. Ta lãng mạn, ta bất cần và ta vẫn sống có lẽ nhờ biết cân bằng cảm xúc.
    “Đời thì diễn những trò chơi xương máu/ Ta thì khùng nên thơ thẩn trong thơ” (Mộng Đêm Qua- 100 lẻ 1 bài thơ)

    Trần Quang Châu tự nói về mình với những từ: Khùng, thơ thẩn, khờ khạo,…vâng thưa anh: Có “Khùng”có “khờ khạo” thì thi sĩ mới sáng tạo ra thơ. Còn nếu “khôn ngoan”, biết toan tính hơn thua thì người ta đi làm kinh tế chứ cảm xúc đâu mà làm thơ. Nhưng cứ khờ một chút thì mới thơ thẩn cùng thơ được và gửi tiếng lòng qua câu chữ. Anh để lại cho đời những dòng cảm xúc rất đỗi chân thành như thế! Khờ, Khùng,… Đó là cách nói hài hước, trào lộng (tự trào) của người sáng tạo nghệ thuật. Khờ đấy, “trời đày” đấy (chữ dùng của cố thi sĩ Nguyễn Bính: “Mình tôi giời bắt làm thi sĩ/ Mẹ mất khi chưa kịp bạc đầu”,  còn nữ thi sĩ Lệ Khánh: “Vì thượng đế đày tôi làm thi sĩ/Nên tâm tình trào ngọn bút thành thơ”. Đó là cách nói có chút hờn dỗi của người sáng tạo nghệ thuật. Thực ra nêu đem đổi sự đam mê đó lấy những tố chất khác thực tế với cuộc đời hơn chưa chắc các thi nhân đã chịu đổi.
    “Ta khờ khạo giam mình trong cổ tích/ Bước loanh quanh va chạm vết thương dài/ Từng mảnh vụn ghim vào đời dối trá/ Gởi linh hồn trên tuyệt đỉnh tàn phai”
    (Đêm thao thức-100 lẻ 1 bài thơ)

    Thi nhân từ xưa đến nay ít ai không vất vả, cũng bộn bề cơm áo đấy nhưng tâm hồn vẫn lãng mạn như không. TQC không là ngoại lệ. Thơ tình yêu trong thơ anh mang đầy yếu tố lãng mạn, tha thiết và ngọt ngào.

    “Tôi tay trắng bươn vào đời vất vả/ Gánh hai đầu hình bóng của em xưa” …Hỏi thật nhỏ ngại ngần em giận dỗi/Rất giống người…tôi nhớ tuổi mười ba!” 

    (Nhớ em tuổi mười ba- tập thơ: Lắng nghe)

    TQC viết về mối tình dang dở hoặc đơn phương dĩ nhiên không đơm hoa kết trái như ý nguyện. Phải chăng tình đầu thường là vậy. Mối tình đầu bao giờ cũng vậy, rất ngọt ngào nhưng cũng lắm đắng cay. Những câu thơ lục bát mượt mà diễn tả sự dở dang tiếc nuối, trống vắng của một tâm trạng của chủ thể trữ tình khắc khoải, cô đơn trong những câu thơ lục bát mềm mại uyển chuyển.

    “Mà em như thể cánh diều/ Để tôi đứng mỏi giữa chiều mênh mông/ Mà em như thể mùa đông/ Để tôi cơn gió thổi không bến bờ”

    (Thơ viết cho người-Lắng nghe)

    Mối tình đã qua là một kỷ niệm đẹp để lại nhiều bâng khuâng nuối tiếc trong thơ:
    “Còn đâu đôi bím tóc mềm/Thả bay theo gió em hiền như thơ/ Vụng ngày xưa-dại bây giờ/ Thương hai đưa cứ hững hờ người dưng” (Còn đâu-lắng nghe)

    Trần Quang Châu khi làm báo thì mức độ thực tế và chính xác là điều cần có của một nhà báo nhưng khi làm thơ thì tâm hồn lại có đủ lãng mạn của chất thơ: Vì thế anh có những vần thơ đẹp, quyến rũ người đọc bởi cảm xúc mà thơ tạo nên vừa hư vừa thực, lâng lâng mộng ảo. Thi ý “Trộm của trời đôi chút mộng” rất hay. Đó là một hình ảnh sáng tạo đầy chất thơ.

    “Sáng nay trộm của trời đôi chút mộng/ Nằm gối lưng chim bay dạo núi rừng/ Muốn xuống biển đánh đu cùng sóng/ Rất hồn nhiên như thuở mới yêu người”
    Vâng tình yêu làm cho tâm hồn trẻ trung yêu đời, tuy nhiên không phải mối tình nào cũng trọn vẹn. Vì thế trong thơ Trần Quang Châu có những nghịch cảnh, có chút xót xa hụt hẫng và nuối tiếc.

“Hỡi những hoàng hôn khi sụp xuống/ Qua bên kia có nhớ chuyện mỗi ngày/ Nơi ta ở có vườn bông cúc nhỏ/Và trong phòng trơ trọi chiếc bình không”
    (Chiếc bình không-Lắng nghe)

    Tâm hồn thi nhân dạt dào tình thương mến đầy tình đời, tình người. Ngoài mảng thơ ngọt ngào lãng mạn về tình yêu đôi lứa, Trần Quang Châu có những vần thơ thiết tha ân tình dành cho quê hương, gia đình và bè bạn:  

    “Quãng Ngãi quê mình mùa đông thiếu nắng/Đêm dài hơn nên mộng mị lan man”

 

    Anh có những vần thơ viết về mẹ và quê hương đầy xúc động. Đối với anh thì quê hương thiêng liêng lắm vì quê hương có mẹ và mẹ chính là quê hương. Hình ảnh người mẹ tần tảo, giàu đức hi sinh, chịu thương chịu khó như phẩm chất đặc trưng vốn có của những người mẹ Việt Nam.

    “Tháng sáu tôi về thăm quê cũ/Lòng rộn ràng theo những bánh xe lăn/ Mẹ mòn mỏi trông con chiều tất tả/ Áo vai sờn, gánh lúa vượt đồng xa”

    (Quê nhà-Lắng nghe)

    Tiếp tục với vần thơ về mẹ sau đây là một ý thơ đẹp, hàm súc và giàu hình ảnh.
    “Bên ngoài gió trở giọng khan/ Trong lòng mẹ nhóm bếp than lửa hồng/ Ấp iu con suốt mùa đông/ Mẹ cam lòng chịu bao giông tố đời”

    (Thơ viết trong mùa Vu Lan-100 lẻ 1 bài thơ)

 

    Trên bước đường bôn ba xuôi ngược là thế nhưng mỗi khi có dịp đặt chân trở lại quê nhà, cảm giác nao nao, lâng lâng xúc động với bao kỷ niệm ùa về đầy xao động đã trào lên câu chữ thành thơ:

    “Đã xa xa hút cội nguồn/ Hai bàn châm lấm vết thương hội hè”

    Bây giờ đứng giữa ga quê/Lòng không phên liếp bốn bề nổi trôi

    Vô cùng trời đất quanh tôi/ Đâu là khoảnh khắc tôi hồi hộp xưa”

    (Ngày về-Lắng nghe)

 

    Những vần thơ dành cho người cha đã khuất được viết khi tỉnh dậy sau một giấc chiêm bao:

    “Chiêm bao thấy lờ mờ bên liếp cửa/ Một bóng hình vừa thấp thoáng đi qua”
    Con tỉnh giấc giữ vô cùng nuôi tiếc/ Lẫn lộn vui buồn vừa vụt mất…bên kia”
    (Nhớ cha-100 lẻ 1 bài thơ)

 

    Thơ cho em trai có tình yêu thương có nỗi cảm thông và thấu hiểu:     “Buổi em lớn như dòng sông nước chảy/ Trôi vào đời cùng cực nỗi áo cơm”.

 

    Thơ cho em gái của tấm lòng người anh: 

    “Em quá trẻ để nghĩ điều cơm áo/Không ngại ngần làm mẹ dưỡng đàn con” (Bài thơ viết cho em)

 

    Thơ cho bằng hữu:  

\“Mình viết tiếp vài dòng thương nhớ Phước/ ký ức một thời còn sủi bọt nơi đây/ Ly bia cạn chỗ ngồi sao vắng khách/ Ông mặt trời đi trốn suốt chiều nay” (Nhớ bạn- 100 lẻ 1 bài thơ)

 

    Thơ Trần Quang Châu với cảm hứng trữ tình thế sự là những nỗi trăn trở suy tư về nhân tình thế thái, thoáng chút triết luận nhẹ nhàng: “Sá gì chỗ đứng, chỗ ngồi/ Cầm bằng như thể nước trôi qua cầu” “ Ôi địa ngục, ôi thiên đàng/ Có trăm hố thẳm-có ngàn vực sâu/ …Rong chơi giữa cõi phong trần/ Để suy ngẫm lại những lần hoang mang”. Danh lợi, công danh rồi cũng chỉ phù du, thời gian trôi nhanh như gió thoảng. Đời người trăm năm thoáng qua như chớp mắt mà thôi vì thế tranh giành danh lợi mà chi, đời nhiều cạm bẫy, sa hầm sẩy hố, địa ngục hay thiên đường là điều khó lường trước.

    Chính vì thế trong thơ Trần Quang Châu gieo vào lòng người đọc là một chân dung thơ ngọt ngào lãng mạn dù trải qua phong trần và bộn bề cuộc sống. Điều đọng lại sau cùng vẫn là tình yêu:

    “Đã mười năm bài thơ chưa đoạn kết/ Bởi xa em nên mực cũng phai dần/ Sách vở nhà trường bỏ lại sau lưng/ Bởi roi vọt vút qua đời tươm máu”
    (Nhớ em tuổi 13 -100 lẻ 1 bài thơ)

    Và đi qua những phù trầm dâu bể thơ anh vẫn là những vần thơ tình nhẹ nhàng lãng mạn chiếm ưu thế.

    “Nhẹ tay nhón thử tiếng đàn/Là nghe trong gió dịu dàng tiếng em/ Hình như ngày đã qua đêm/ Hình như kỷ niệm đang bồng bềnh trôi”

    (Đôi khi tôi lạ chính tôi- 100 lẻ 1 bài thơ)

    Đời thơ của Trần Quang Châu không nhiều lắm chỉ vài trăm bài thơ được xuất bản trong ba tập thơ như đã nói ở trên. Nhưng bằng tất cả dòng cảm xúc trữ tình tâm tình anh đã ghi lại những vần thơ tha thiết, ngọt ngào và lãng mạn, dành cho tình yêu, tình cảm dành cho quê hương, người thân và bằng hữu,… phác họa được chân dung mình qua thơ, giàu sắc điệu trữ tình. Về trữ tình thế sự anh có những bài thơ để lại nhưng suy tư trăn trở về nhân tình thế thái, có tính triết luận nhẹ nhàng. Trần Quang Châu sáng tác phong phú với nhiều thể loại: Lục bát truyền thống, thơ năm chữ, thơ 6;7;8 chữ, thơ tự do,… với những câu dài ngắn khác nhau. Cuối tập thơ 100 lẻ 1 còn có chùm thơ 10 bài tứ tuyệt. Ngôn từ dung dị, dễ hiểu, giàu hình ảnh và tính nhạc trong thơ.  Anh bảo đây là tập thơ cuối cùng. Người đọc thì vẫn tiếc khi anh không làm thơ nữa. Nhưng như vậy cũng đủ cho một hồn thơ với đầy đủ những gì anh muốn giải bày. Anh dừng lại thơ khi tuổi đời bước sang tuổi thất thập. Bây giờ có lẽ anh chuyên tâm làm tạp chí. Tâm huyết dành cho một sân chơi là tạp chí Sông Quê cùng với nhà thơ, nhà báo Phạm Ngọc Dũ. Chúc cho anh luôn bình an, sức khỏe, làm việc nhiều năng lượng với niềm đam mê văn nghệ chưa bao giờ vơi cạn.


Tôi cũng có bài thơ vui tặng anh:

Đọc thơ của Trần Quang Châu

Bớt chút Quảng Ngãi cộng vào Thừa Thiên

Là ra câu chữ người hiền

Tình người đầy đặn của miền Trung thương

Thơ anh giọng ngọt mía đường

Gom mây nhặt lá của từng mùa trôi

Đùa anh một chút vui thôi

Tôi đang soi chiếu ngọn nguồn thơ anh!

 

Sài Gòn, ngày 21/3/2024

Hoàng Thị Bích Hà 

 

READ MORE - THƠ TRẦN QUANG CHÂU - MỘT GIỌNG THƠ TRỮ TÌNH - Hoàng Thị Bích Hà

ĐỌNG GIỌT SƯƠNG TRONG – Thơ Le Nguyen Thu

 




 

ĐỌNG GIỌT SƯƠNG TRONG 


Sương rơi đầu mùa đông ngơi 

cây đời tạo dáng vòng đời trầm sinh

người đi vàng rơi đầu ghềnh

cuối bãi cồn lạnh nguyên trinh gợn ghì 

ta nằm nghe lời tồn si

mê hoang khấp khểnh bước đi gập ghềnh* 

thiên thu mưa rơi buồn tênh 

một mai còn tiếc nghê thường chiêm bao

đời còn chi đời hư hao 

nghe trong buốt lạnh lao xao thì thầm 

về đâu đây đêm từng đêm 

giã từ mộng mị môi mềm ngực thơm 

ngu ngây ta ngu ngây em 

mùi tinh thể ấy cởi xiêm y tà 

thương hoài ngày xưa... ngày xưa... 

đêm đi còn đọng sương sa bụi hồng 


*

*Đoạn trường thay lúc phân kỳ!

Vó câu khấp khểnh bóng xe gập ghềnh.

(Kiều, Nguyễn Du)

 

Stanton Nov. 14th, 2024 (9:45 am)

Le Nguyen Thu




READ MORE - ĐỌNG GIỌT SƯƠNG TRONG – Thơ Le Nguyen Thu

Friday, November 22, 2024

TẢN VĂN MIÊN MAN – Trần Mai Ngân



Có những ngày qua đi cùng nắng gió, đôi khi là bão giông em vẫn lặng im ở nơi này - nhớ N đầy tràn nhưng vẫn không gọi, không nói… Và cứ thế thời gian trôi đi, trôi đi từ những tháng năm đó.
 
Mùa Thu đã qua. Những con lũ tràn mênh mông về thành phố nhỏ xíu này cũng đã hết, trả lại những sinh hoạt bình thường, trả lại mặt đường khô ráo lặng câm.
 
Dạo này em không làm thơ được. Có lẽ khi quá mức của buồn thương, của nỗi nhớ thì ngòi bút bất lực không miêu tả được, không thành tứ thơ được.
 
Người ta bảo bình thản được trước bão giông là đã đạt được lẽ sống. Em không mạnh mẽ thế đâu. Em nấp vào tường vách kỉ niệm để trốn bão. Ở đó em thấy phẳng lặng và bình yên.
 
Ở đó có tuổi mới lớn đẹp và tinh khôi như trang giấy mới thơm ngày thần tiên.
Đôi lúc, em ước chi được thay đổi. Và em không như em của bây giờ, cũng không gặp N, đừng phải gặp N… Nhưng đã gọi là điều ước thì mấy khi thành hiện thực.
 
Bây giờ, cuộc sống đang thu ngắn lại sau mỗi ngày thức dậy. Em bỗng muốn viết, viết về N, về em về cuộc đời. Viết và để lại mai sau này như một dấu tích chúng ta đã đến cuộc đời này và đã gặp nhau. Em không viết hay như nhà văn nữ Marguerite Duras trong tác phẩm Người Tình - vì em không dám viết hết sự thật ẩn sâu trong trái tim mình. Em sẽ bị lên án chăng hay sẽ được yêu thương thấu hiểu.
 
Thôi, không cần đâu.
Chỉ cần một vài nét phác họa, một vài câu nói thể hiện trong văn phong tự sự đơn giản này N đọc được và thấu đáo được.
 
Hiểu rằng, N quan trọng biết chừng nào.
N giống như một câu kinh thánh “lúc hạnh phúc hay đau khổ, lúc mạnh khỏe hay lúc ốm đau bệnh tật…”  em đều nghĩ đến N, gọi N. Em là một con chiên ngoan đạo nhưng bị Chúa bỏ quên và không cứu rỗi. Em không oán trách Chúa Phật, cũng không oán trách số phận trớ trêu của mình.
Em bằng lòng và trân quý những khoảnh khắc đã có, rất thật và rất đẹp của chúng ta.
 
Trời đã sáng rồi đó N. Em thức giấc và nghĩ và viết những dòng này như một người đang mộng du.
N nơi đó chắc cũng vừa dậy để chuẩn bị cho một ngày mới đã lâu không có em…
 
Mai mốt em sẽ viết tiếp về biển, về những dấu chân chúng ta đã in sâu trên đó…lâu lắm rồi, sóng làm trôi đi không thể tìm và nhớ chính xác ở đâu.
Khi em kể lại, N hãy cố nhớ và nhắc em nha… Chiều hoàng hôn và sóng!
 
Còn bây giờ, em thức dậy đây. Bắt đầu cho ngày mới với những bổn phận và trách nhiệm phải vuông tròn - không vướng bận và nghĩ về N!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - TẢN VĂN MIÊN MAN – Trần Mai Ngân

TRƯỚC SÂN – Thơ Lê Phước Sinh


 

Người già ngồi phơi nắng
Nắng mới mọc, còn tươi
Sợi vuốt ve an ủi
rồi thủng thẳng lên đồi...
 
            Lê Phước Sinh

READ MORE - TRƯỚC SÂN – Thơ Lê Phước Sinh

Thursday, November 21, 2024

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (Kỳ 10) - Trương Ngọc Bỉnh

 

Giáo sư Lê Quang Thái


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG

Trương Ngọc Bỉnh

Cựu học sinh, Trường Trung học Hải Lăng,

Khóa 5, 1964 - 1968

 

PHẦN 10:

 

Xin được mến mộ gửi gắm mấy dòng cảm nhận về cố giáo sư Lê Quang Thái, một trong những vị giáo sư đã đồng hành cùng trường Trung học Công Lập Hải Lăng từ những năm đầu trường mới hình thành.

    Tôi phải khẳng định chắc nịch rằng “Thầy là một giáo sư đa hệ!”. Ngoài việc giảng dạy bộ môn chính là Việt Văn (gồm 2 phân môn: Cổ văn và Kim văn), Thầy còn “bao lô” các môn khoa học, xã hội và tự nhiên (Lịch sử, Địa lý, Công dân, Toán) ở các lớp đầu cấp. Ở lớp tôi, Thầy cũng đã được phân công dạy mấy giờ “Hán tự nhập môn” đầu năm Đệ thất, nhưng sau đó đã bị loại khỏi chương trình vì không phù hợp với xu thế. Dù học được mấy giờ, nhưng tôi vẫn còn nhớ kỹ phương pháp Thầy hướng dẫn tự viết các nét của Hán tự: nét ngang, nét sổ, nét phải trái, nét chấm, nét mũi mác…

    Thầy sống rất giản dị - phải nói là rất bình dị nhưng không vì thế mà làm giảm đi tác phong, tư cách của một Thầy giáo cả khi lên lớp cũng như lúc sinh hoạt ở nhà trọ. Hiếm khi chúng tôi thấy Thầy mang một đôi giày da tươm tất để lên lớp qua bao mùa mưa nắng như các Thầy trong trường! Sở trường của Thầy là những đôi dép nhựa (sandal) có quai sau, trong suốt như dép Tiền phong (Hải Phòng) sau 1975.

     Rồi mỗi sáng sớm, mỗi giờ học của Thầy, tổ trực nhật phải chuẩn bị một “món quà” trước lớp, đó là bó cành roi dương liễu để hành xử, răn đe các cô cậu nhác, lười soạn bài, không thuộc bài hoặc nghịch ngợm dù khi Thầy ở vị trí giáo sư bộ môn cũng như giáo sư hướng dẫn.

    Những tháng ngày tập tểnh “tân binh” đầu cấp ấy rồi cũng thoáng qua mau… Đến năm lớp Đệ lục, nhân cách dần phát triển, việc tự giác và ý thức học tập được nâng cao, các mối quan hệ Thầy - Trò, bạn bè bắt đầu dè chừng, đi vào chuẩn mực hơn.

    Vốn sinh ra ở vùng quê, lớn lên bước ra trường tỉnh, nên Thầy Lê Quang Thái rất thấu hiểu một cách chân tình cho đám học trò nghèo mà hiếu học của vùng trũng lúa nước của quận Hải Lăng, được đỗ đạt để bước chân vào trường công lập. Với cơm đùm gạo bới, ăn nhờ ở đậu, sáng sớm cuốc bộ hoặc họa hoằn may mắn con nhà hơi khá có xe đạp, đạp từ các làng xã cách xa >15<cây số để mong kiếm con chữ cho cái thân mai sau. Mặc cho mưa rét, nắng gió, bão lũ …, thách thức cũng như cuộc chiến xảy ra ngày càng ác liệt trên quê hương.

    Thầy Lê Quang Thái không chỉ là một tấm gương sáng về phong cách sống: giản dị, thực tế, thẳng thắn, tôn trọng sự thật mà còn là một tấm gương tự học, tự nghiên cứu cho các thế hệ học sinh chúng tôi noi theo.

    Thầy có trí nhớ phải nói là vượt trội như một quyển từ điển sống để nghe lại và “tra cứu” về nhiều nhân vật, biến cố lịch sử; xâu chuỗi có hệ thống lô gích về ngày tháng, niên đại, địa điểm… mà Thầy đã chứng kiến. Những sự kiện này đã cuốn hút tôi vào chuyện kể của Thầy! Tôi nghĩ không còn ai ngoài tầm kiến thức uyên bác như Thầy để mà tranh thủ “tham khảo”!.

    “Thầy như con tằm mãi miết nhả tơ, dệt nên những tấm lụa đẹp và hữu ích cho đời. Thầy luôn tôn trọng sự thật, mang tính nhân văn, không hề có thiên kiến, ác ý với cá nhân nào!” (Điếu văn Ban liên lạc Nguyễn Hoàng - Quảng Trị tại Sài Gòn ngày 28-10-2020, trước lúc gia đình di quan Thầy về với đất Huế.)

    Sau khi lần lượt tốt nghiệp, rời các cấp trường học: Trung học Hải Lăng, Trung học Nguyễn Hoàng (Quảng Trị), tôi lại có duyên gặp lại Thầy cũ: Thầy Lê Quang Thái- là giáo sư được Bộ giáo dục bổ nhiệm giảng dạy bộ môn giáo dục cộng đồng của khóa 2, cuối cấp năm học 1971-1972 của chúng tôi tại trường Sư phạm Huế.

    Chúng tối đã tìm tòi và đọc được lời tựa của Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn, người đã được phép dầy công tập hợp những bài biên khảo, nghiên cứu Thầy Lê Quang Thái để ấn bản tập sách: “Khảo luận về miền Thuận – Hóa”, trong đó có những lời giới thiệu về Thầy: “Từng giảng dạy tại trường Trung học Nguyễn Hoàng (Quảng Trị), Trường PTTH Hai Bà Trưng (Huế)” thì bản thân tôi làm gì có được những cảm xúc và kỷ niệm sâu lắng về Thầy! Sau ngày 30/04/1975 và đất nước đã hòa bình thống nhất, nhưng Thầy trò chúng tôi tan tác lạc đàn như sau cơn bão giông, chồng chất những lo toan và khó khăn trong cuộc sống. Đây cũng là điều hiển nhiên của một đất nước vừa trải qua cuộc chiến ý thức hệ: giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước!

    Bẵng đi một thời gian sau 1975, Thầy không tiếp tục sự nghiệp dạy học phổ thông nữa mà chuyển sang một ngã rẽ mới: viết báo, nghiên cứu lịch sử Việt Nam và Phật giáo. Thầy đã từng cộng tác với các tạp chí Cửa việt, Giác ngộ, Sông Hương, Trung tâm Văn hóa Liễu Quán tại Huế. Ngoài những công việc nêu trên, Thầy được mời thỉnh giảng tại Trường Trung cấp Phật học Thừa Thiên Huế và được Giáo hội Phật giáoThừa Thiên Huế ủy nhiệm việc nghiên cứu về lịch sử và sự phát triển của Phật giáo miền Trung.

    Có ai hiểu thấu tâm trạng những ngày giao thời giữa 2 chế độ mà những vị giáo sư, tiến sĩ, cao học … của chế độ cũ đã ra “đầu phố, cuối chợ” để kiếm sống qua ngày: sửa, vá, bơm xe đạp, đạp xe ôm hoặc bươn chải với chiếc xe đạp cà tàng, thầm lặng đi giao hàng tận hang cùng ngõ hẽm của thành phố. Trong lúc thấp thỏm chờ thanh lọc, học tập đường lối chính sách để ước mong được xét lưu dung, lưu dụng, được hội nhập vào luồng gió mới, góp phần còn lại của năng lực trí tuệ đối với đất nước.

    Hồi còn học với Thầy Lê Quang Thái ở Trung học Hải Lăng, có năm Thầy phụ trách giáo sư hướng dẫn, khi biết Thầy không có giờ dạy, chúng tôi “Top 5 của lớp” thường đến nhà trọ của Thầy - đối diện hơi chếch với UBHC xã Hải Thọ (trước 1968). Khoảng cách giữa Thầy và chúng tôi được rút ngắn, Thầy trò lại thấm hiểu nhau hơn, gắn bó sâu đậu. Những câu nói mộc mạc chơn chất động viên của Thầy từ ngày ấy đã gieo niềm tin vào lứa tuổi học trò của chúng tôi: “Khi đứng trước đám đông thuyết trình thì xem họ ở dưới như đất cày!"

    Tôi còn nhớ vào hồi hình như lớp Đệ lục với Thầy. Thầy đã giao cho tổ 2 của tôi thuyết trình đề tài cổ văn, bài “Tú Uyên và Giáng kiều”. Tôi là thuyết trình viên, bạn Phan Khắc Vỵ - tổ trưởng chủ trì. Cả 2 lên ngồi ở vị trí bàn giáo viên. Thầy Thái ngồi ở dưới lớp làm cố vấn. Cả lớp theo dõi và đặt vấn đề, thuyết trình viên cùng chủ trì giải đáp. Thầy bổ sung, mở rộng và đúc kết bài học. Ngày ấy mà Thầy đã có những sáng tạo về phương pháp, phá rào lối dạy từ chương “Thầy giảng, trò chép”.

    Qua các giờ thuyết trình, lớp học chuẩn bị trước bài học chu đáo, lớp hoạt động sôi nổi, kiến thức được khắc sâu, học sinh mạnh dạn xây đựng bài học.

    Hằng năm, mùa Vu Lan hiếu hạnh lại trở về. Tôi chạnh lòng nhớ đến một bài thơ ca ngợi tình mẹ, tình mẫu tử hơn cả trăm ngàn lần bài học đạo đức, luân lý. Xin được trích đăng mấy khổ trong bài Khói Trắng của nhà thơ Kiên Giang mà Thầy Thái đã gieo vào tâm hồn chúng tôi ngày ấy:

 

    “Hương cau thơm phức ngôi sao mẹ
    Thơm ngát mái nhà, thơm áo cơm
    Con thở trong mùi thơm bát ngát
    Thịt da mái tóc quyện mùi thơm

    Nước mắt chảy xuôi ... tình mẫu tử
    Chảy theo nước mắt cuộn mồ hôi
    Mẹ đem cái chết làm nên sống
    Nước mắt một dòng ... vẫn chảy xuôi

    Ngày xửa ngày xưa thời trẻ dại
    Con đau rên siết mẹ sầu lo
    Bán đôi bông cưới mua thang thuốc
    Mua bánh tai heo, giấy học trò

    Đêm nào con khóc đòi ru ngủ
    Mẹ thức mỏi mòn: nhịp võng đưa
    Thân lạnh nằm khoanh lòng mẹ ấm
    Mẹ ơi ! Con lớn giữa niềm ru

    Nhớ ngày mẹ ốm nằm trong xó
    Chiếu lạnh ủ không ấm vóc gầy
    Đau đớn ... không hề rên siết khẽ
    Sợ con nghe tiếng mà buồn lây

    Nói làm sao hết mẹ hiền ơi !
    Công đức niềm đau lẫn tiếng cười
    Mẹ lấy bụi đời làm phấn sáp
    Che dù trời nắng, đội mưa rơi

    Nhớ mùa cau trổ trong vườn cũ
    Mẹ quét lá vàng ủ lấy phân
    Khói trắng lên trời như tóc bạc
    Con ngỡ khói tóc quyện mây Tần.”

    …………………………………

    Sau 20 năm thuyên chuyển công tác và định cư cuối dãi đất miền Trung, Trung bộ, tôi mới trở về thăm quê (1981 – 2001). Thời gian cũng khá dài, cuộc sống nơi xứ người rất khó khăn. Nỗi nhớ quê, nhớ người thân ... có thể ví bằng nỗi nhớ của các cụ ra đi tập kết sau Hiệp định Genève 1954 và mãi mùa xuân 1975 mới hồi kết vào thăm quê hương. Những cuộc gặp gỡ rồi chia tay giữa người xa quê với bạn bè đã để lại nhiều kỷ niệm khó phai. Đặc biệt là đêm hội ngộ bè bạn Hải Lăng tại nhà bạn Dương Thí (Thi) ở phe Nhất, Diên Sanh. Đêm đó có cả Phước (Đà Nẵng), Thị Mỹ, Ngọc, Thanh, Gái …

    Do xa quê quá lâu, từ lúc chuyển công tác vào Nam (1981), bạn bè chẳng có tin tức về tôi, qua 20 năm mới về quê. Bích Ngọc lại tâm sự: “Tụi tau tưởng mi đã chết nên lập bàn thờ mỗi lần họp mặt!” (để nói về tôi)... Đêm dài nhưng tâm sự tình cảm vẫn không vơi để rồi sáng hôm sau, các bạn thổ địa bố trí xe máy vòng vèo lên thị trấn Hải Lăng ăn cháo vạc giường, rồi trở về Trung Đơn (Hải Thành) để thăm giáo sư Hoàng Thị Chanh. Cô giáo cũ Anh văn, Vạn vật của trường Trung học Hải Lăng.

    Trên đường về Phú Lộc (quê ngoại của các con tôi), ngang qua Huế, tôi đã nhớ như in số nhà 11/9 phố Nguyễn Trường Tộ, Tp.Huế để ghé thăm thầy Lê Quang Thái và cô Lê Thị Tránh. Qua vấn an sức khỏe thầy cô, Thầy bỗng dưng đi lên gác và đem xuống một quyển tạp chí Sông Hương để tặng tôi với mấy dòng chữ ngay đầu bài viết của Thầy: “Bể dâu mà không bể đâu anh!” Bút tích của Thầy và tạp chí vẫn còn đây mà Thầy đã đi xa 4 năm thật rồi” (27/10/2020 – 27/10/2024)

    Thầy ghi: Thân tặng

    Anh chị Trương Ngọc Bỉnh

    Và các cháu – để nhớ mãi chất Quảng Trị

    17/07/01

    (Ký tên)

    (Tạp chí Sông Hương số 149-7-2001), trang 9.)

    Qua bài này, tôi (người viết) đề nghị Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn đính chính lại đề bài như ý của Thầy chứ không phải “Bể dâu mà không dâu bể đâu anh” mà Tiến sĩ đã giới thiệu ở cuối chủ đề 2 “Di tích – Danh nhân”.

    Ngoài ra, đã có một số ngày tháng, niên đại … chưa chính xác do in ấn hoặc những lý do nào khác.

    Công trình nghiên cứu, biên khảo của Thầy Lê Quang Thái được Tiến sĩ Anh Sơn sưu tập đã thắp lên một ngọn đuốc, góp một bông hoa thơm ngát trong dòng chảy văn học - văn học sử của nền văn học Việt Nam thế kỷ 21 và cho lớp lớp hậu thế học hỏi, tham khảo.

 

    Kính cẩn thắp một nén hương lòng dâng lên Thầy Lê Quang Thái đã yên nghĩ nghìn thu trên đất thần kinh.

 

    Ngày tri ân: 20-11-2024.

    Trương Ngọc Bỉnh

READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (Kỳ 10) - Trương Ngọc Bỉnh

Wednesday, November 20, 2024

THÌ THẦM - Nhạc Võ Tá Hân - Thơ Phạm Phan Lang - Hòa âm Nam Vĩnh và Đàm Hà

 
 
Ca khúc:  Thì Thầm
Thơ:  PhamPhanLang
Nhạc:  Võ Tá Hân.
Ca sĩ:  Nhất Chi Mai
Hòa âm:  Nam Vĩnh & Đàm Hà.


Thì thầm

Này anh, hôm nay trời nắng đẹp,
Bên kia đời, anh có thấy bóng em
Thấp thoáng trong ngôi vườn xanh mát
Miệng thầm thì xin anh ngủ thật ngon
 
Này Me, trên con đường làng nhỏ
Dẫn con về nơi chỗ Mẹ nằm,
Nơi ấy con sẽ ngồi nhổ cỏ
Trên mộ hoang và trồng một cành bông
 
Này anh trai, em sẽ về nơi anh ngủ
Đưa anh về nơi chỗ Mẹ chúng ta
Bên dòng sông, góc núi và cạnh nhà
Anh sẽ thấy lòng vui vì gần Mẹ
 
Này tôi, cuộc đời là thế đó,
Đến và đi là lẽ sống bình thường,
Tạ ơn Trời tim đầy ấp yêu thương
Xin nhận lấy những gì trong cuộc sống

PhamPhanLang
READ MORE - THÌ THẦM - Nhạc Võ Tá Hân - Thơ Phạm Phan Lang - Hòa âm Nam Vĩnh và Đàm Hà

GIỮA HUẾ SÁNG MƯA - Thơ Bùi Hoàng Linh

 


GIỮA HUẾ SÁNG MƯA


Về ngồi giữa Huế sáng mưa

Nhìn thành quách ướt rêu xưa tháng ngày

Về ngồi giữa Huế đưa tay

Hứng giọt mưa cũ mới hay đã già


Mái hiên ngóng giọt mưa qua

Khói hương xám nhắc ai xa vắng nhà

Lặng ngồi giữa những phôi pha

Mà thương vàng đá giữ nguyên cựu tình


Vẫn còn góc phố lặng thinh

Người muôn năm cũ giữ tình Huế xưa

Vẫn còn tiếng dạ lời thưa

Còn nhà nếp cũ cất vừa hồn quê


Trầm hương lạc giữa cơn mê

Chiêm bao ai gọi quay về tuổi thơ

Ru tôi sông núi bất ngờ

Chọn tên Hương Ngự cho giờ 25.


Huế, ngày 19/11/2024

Bùi Hoàng Linh



READ MORE - GIỮA HUẾ SÁNG MƯA - Thơ Bùi Hoàng Linh