Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, March 31, 2024

TỪ "THẬP GIỚI CÔ HỒN QUỐC NGỮ VĂN" ĐẾN "VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH" - Lê Quang Thái

Nhà nghiên cứu Lê Quang Thái
 

Từ ‘Thập giới cô hồn quốc ngữ văn’

đến ‘Văn tế thập loại chúng sinh’

LÊ QUANG THÁI    


Sáng tác Văn tế cô hồn hay Văn tế thập loại chúng sinh thể hiện lòng hiếu nghĩa đối với tiên nhân, người thân và kể cả đồng bào, nó dựa vào nguồn cội tri ân sâu thẳm.

 

1. NGUỒN GỐC

Rằm tháng bảy là tết Trung Nguyên, ngày giải thoát vong hồn, còn được gọi là ngày xá tội vong nhân. Nói về nguồn gốc của ngày Tết này, Lê Quý Đôn đã viết:

“Các đạo sĩ có phép tiêu tai giải ách, họ dựa vào thuật số âm dương ngũ hành, suy tính niên vận của người ta, rồi viết ra như cách thức biểu sớ: “Tâu lạy thiên tào, xin ngài giải ách”. Thế gọi là dâng sớ. Đến nửa đêm bày cổ bàn, nem rượu, bánh trái, lễ vật dưới trăng sao mà dâng cúng Thiên Tào Thái nhất (đại đế), Ngũ kinh, Liệt tú; cũng làm bài trạng như cách dâng sớ, gọi là làm lễ Tiếu (lập đàn cầu đảo). Lại lấy gỗ làm ấn, khắc chữ nhật nguyệt tinh thần; rồi hà hơi đóng dấu vào bệnh nhân, cũng có nhiều người khỏi. Đời sau làm trai đàn là bắt nguồn từ đây” (1).

Để làm rõ vì sao tết Trung Nguyên được gọi là lễ Vu Lan, nhà bác học tinh thông Phật học Lê Quý Đôn đã viết rõ về nguồn gốc của lễ này như sau:

“Tết Trung Nguyên, người ta để đồ mã và giấy ngũ sắc vào cái giường ba chân, như cái đèn nồi, gọi là Vu Lan bồn treo áo giấy, rồi lấy đóm đốt”.

Thích Thị Yên Lãm: Tiếng Phạn nói “Vu Lan bồn” như tiếng Hán nói

“Cửu đảo huyền” (cứu người bị treo ngược)” (2).
 

Theo Vu Lan Kinh: Đại đệ tử của Đức Phật là Mục Kiền Liên vì bất nhẫn khi thấy mẹ bị đọa vào đường ngục quỷ, chịu khổ, nên Ngài thưa hỏi Phật cách giải cứu. Phật dạy vào ngày Rằm tháng 7 là ngày chúng Tăng tự tứ hãy dùng thức ăn ngon quý, ngũ quả cúng dường Phật tăng trong 10 phương thì mẹ ông sẽ được thoát li khổ nạn. “Vu Lan” nghĩa là “đảo huyền”.

Nhà thơ Lục Du (1125 - 1210) cho biết thời bấy giờ đã có tục làm cổ chay cúng gia tiên. Mốc thời điểm này tương ứng trong khoảng cuối đời vua Lý Nhân Tông đến đời vua Trần Thái Tông của nước Đại Việt.

Đây là một tập tục lâu đời ở nước ngoài, còn ở nước ta thì sao? Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Mùa thu, tháng 7, năm Giáp Dần, niên hiệu Thiệu Bình thứ 1 (1434); Ngày 15, mở hội Vu Lan, tha tù tội nhẹ 50 người, cho ai sử dụng kinh 220 quan tiền” (3).

Như thế thì ít nhất lễ Vu Lan đã trở thành quốc lễ của nước ta khoảng 580 năm. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên (1908 - 1975), tác giả sách Văn minh Việt Nam bằng Pháp ngữ, xuất bản năm 1944; sách có đoạn viết rõ ràng hơn: “Hội lễ dân gian của Đạo Phật là ngày rằm tháng Bảy âm lịch. Đây là một kiểu ngày lễ của những người chết, trong ngày đó, ở địa phủ, do lòng từ bi của chư Phật, một cuộc xá tội lớn, được thực hiện, các ngục được mở và nhiều vong có tội tỏa đi khắp thế gian. Các gia đình đi chùa cúng và tụng Kinh để giải thoát cho hồn của thân nhân mình4.

Nguyễn Văn Huyên phác thảo lại cảnh tượng Hội lễ dân gian của Phật giáo băng cách miêu tả như là “hiện tượng ngày Rằm tháng Bảy âm lịch”, chớ không đi xa hơn là truy nguyên nguồn gốc để giải thích câu ca “Tháng Bảy ngày Rằm xá tội vong nhân” được lưu truyền trong dân gian vào những năm cuối của thập kỷ 30 thuộc thế kỷ trước.

Kết hợp giữa hai yếu tố truyền thông mang tính cách kinh điển Phật giáo với hiện tượng lễ hội trong xã hội Việt Nam năm 1934; giữa lúc phong trào chấn hưng Phật giáo đang chủ xướng tìm về cái uyên nguyên, tinh anh của Văn hóa Phật giáo đang được cổ xúy canh tân.

Theo dòng chảy lịch sử - văn học nước nhà, ngày rằm xá tội vong nhân đã trở thành quốc lễ Vu Lan, nay đã trở thành VU LAN THẮNG HỘI diễn ra từ làng quê, chùa quê cho đến thành đô khắp nước, thể hiện lòng hiếu thảo đối với tiên nhân và người thân đã mất.

 

Văn tế Cô hồn - Ảnh: internet







2. THẬP GIỚI CÔ HỒN QUỐC NGỮ VĂN

Xem chừng giữa Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (十誡菰魂國語文)với Văn tế thập loại chúng sinh (文祭十類眾生) có nhiều nét tương đồng và khác biệt nhau tuy rằng cả hai danh phẩm này đều bắt nguồn từ Du gia khoa nghi.

Theo Nguyễn Lang, (tác giả bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận), thì Thập giới cô hồn quốc ngữ văn là một áng Văn Nôm cổ gồm có một đoạn mở đầu và mười đoạn nói về mười giới cô hồn: 1- thiền tăng; 2- đạo sĩ; 3- quan liêu; 4- nho sĩ; 5- thiên văn địa lý; 6- lương y; 7- tướng quân; 8- hoa nương; 9- thương cô; 10- đãng tử.(5)

Học giả Trần Văn Giáp cho biết 2 điều đáng lưu ý qua sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập I tại 2 trang 218 và 219 như sau:

Chi tiết 1: “Hiện nay thư viện khoa học Trung ương còn lưu tàng được một số sách” gọi là Thiên Nam dư hạ tập (ký hiệu A.334), gồm nhiều quyển, đóng 10 tập, từ tập sớ IX chép trên giấy hẹp (khổ 10 x 28) tờ 2 trang, trang 8 dòng, dòng 22 chữ, chữ viết đá thảo có vẻ xưa, còn thì toàn là sách mới chép lại bằng giấy kinh (khổ 22 x 31) tờ 2 trang, trang 9 dòng, dòng 22 chữ viết chân phương, không ghi rõ chép lại từ đâu và nguyên bản mượn của người nào”(6).

Chi tiết 2: “Tập VI, 122 tờ..., tờ 46 - 55: Thập giới cô hồn quốc ngữ văn (Lê triều Thánh Tông ngự soạn) (十誡菰魂國語文梨朝圣涼御撰) (?), không thêm Nguyễn Trực phụng bình như các bài khác.

Mười điều dạy bảo các cô hồn ấy như sau: 1- Thứ nhất thiên tăng rằng; 2- Thứ hai giới đạo sĩ rằng; 3- Thứ ba giới quan liêu rằng; 4- Thứ tư giới nho sĩ rằng; 5- Thứ năm giới thiên văn địa lý rằng; 6- Thứ sáu giới lương y rằng; 7- Thứ bảy giới tướng quân rằng; 8- Giới hoa nương rằng; 9- Thứ chín giới thương cổ rằng; 10- Thử mười giới đãng tử...”.(7)

Trần Văn Giáp không đồng tình Thập giới cô hồn quốc ngữ văn do chính vua Lê Thánh Tông viết. Nhà vua chỉ đề thơ lên bản thảo bài tựa sách Thiên Nam dư hạ tập (trong đó có áng văn Thập giới cô hồn quốc ngữ văn) đã soạn sẵn. Nguyên văn bài thơ tựa ấy bằng chữ Hán mà sách Đại Việt sử ký toàn thư đã phiên âm:

Hỏa thử thiên đoan bố;
Băng tâm ngũ sắc ty,
Cánh cầu vô địch thủ
Tài tác cổn long y.(8)


Trần Văn Giáp đã dịch:

Ngàn mảnh vải bông con chuột lửa,
Năm màu tơ nõn cái tằm băng
Lại tìm thợ khéo tay vô địch
May bộ áo rồng chi đẹp bằng.

Quan điểm của tác giả bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận phản biện về nhận thức của Trần Văn Giáp rất rõ ràng:

“Không chắc quan điểm của Trần Văn Giáp là đúng. Trong Thiên Nam dư hạ tập ta thấy có chép thơ văn của hội Tao Đàn, trong đó có Quỳnh Uyển Cửu Ca, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn là một tác phẩm Nôm quan trọng, sao lại không thể đưa vào Thiên Nam dư hạ tập, nhất là khi tác phẩm này do Tao Đàn Nguyên Soái sáng tác?” (9)

Mở đầu áng văn Nôm cổ Thập giới cô hồn quốc ngữ văn có những câu viết:

“... Cổ tới nhẫn kim; sinh thời có hóa. Ấy vậy, hồn là thần, phách là quỷ, no nên bụt, đói nên ma... Có quân tử, có tiểu nhân, chẳng cùng một đấng; trong phong quang, trong nghệ nghiệp, tới trót 10 loài. Ai ai cải lấy lòng phàm; khăn khắn cùng thời nghe giới.”

- Về giới thiền tăng, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn viết như lời răn:

“Chịu giáo Thích Già, thì lòng giữ giới...”. Có bài kệ than rằng, rõ nét lời than ở 2 câu kết:

Nói những thiên đường cùng địa ngục
Pháp sao chẳng độ được mình ta,,(10)


- Về giới nho sĩ nhận những lời răn: Hỡi ơi! Sống bởi chưng bàn bạc sự người; thác cho phải phiêu lưu đòi chốn. Vài bài kệ có lời than trách; tiêu biểu là 2 câu kết:

Bút mực chẳng quên bề chi lũ
Lộc cao sao khéo lỡ người ta.(11)


Như vậy chữ giới (誡r) trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn khác nghĩa hẳn với chữ “loại” trong Văn tế thập loại chúng sinh, về thể tài văn học thì Thập giới cô hồn quốc ngữ văn được viết theo lối tản văn nghiêng hẳn về chính luận. Thơ kệ chỉ thâu tóm lời răn để minh chứng, minh họa mà khai thị cho người được nghe, kể cả cô hồn được nghe như nghe kinh vậy.
 

3. VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH

Loại (類) có nghĩa là loài giống như tứ tự thành ngữ “phân môn biệt loại”. Mười loài khác nghĩa với mười giới. Chúng (眾) có nghĩa là đông, nhiều. 眾生 là “các loài có sống, có chết, có cảm giác”. Chúng sinh ở trong tác phẩm Văn tế thập loại chúng sinh có nghĩa là “người”, “mọi người”. Chữ (十): thập là pháp số, vay mượn để chỉ số nhiều. Bổ sung cho việc chỉ “người”, trong dân gian có từ “kẻ”. “Kẻ” và “người” đồng nghĩa, đồng thuyền, đồng hội.

Về thể tài văn học của áng thơ nôm bất hủ đã trở thành kinh với 4 tên gọi: 1- Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh; 2- Chiều Hồn Văn; 3- Thỉnh Âm Hồn Văn; 4- Ca Tế Chúng Sinh.

Qua tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du (1766 - 1820) đã viết hai câu 2967 - 2968 như để giải thích về ý nghĩa của việc Chiêu hồn:

Chiêu hồn thiết vị lễ thường
Giải oan lập một đàn tràng bên sông.


Đừng xem thường, danh từ “lễ thường” có nghĩa là quan trọng thứ yếu sau các lễ tế Giao, lễ tế Xã Tắc... Rút ruột từ cổ thư Lê Quý Đôn tìm ra chữ gọi của “lễ thường” có tên gọi là “tục tiết”.

Thỉnh âm hồn văn được sáng tác theo thể ngâm khúc gồm hơn 45 khổ, gọi là hơn bởi lẽ bài thỉnh cô hồn này được kết thúc bằng hai câu song thất “Phật hữu tình”:

Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không…


Sau cùng, một nét đặc sắc khác của Văn tế thập loại chúng sinh được gọi là sám hoặc sám văn trong cúng tế, chiêu hồn, gọi hồn từng loại chúng sinh.

Trong suốt toàn áng văn gồm 182 câu thơ song thất lục bát được dựng theo thể ngâm một cách truyền cảm giao hưởng giữa hai cõi âm - dương, thế mà chỉ có lời gợi đến cô hồn, Nguyễn Du chỉ nhắc 10 loại liên quan chỉ có một lần nhắc chung tại câu 11: “Thương thay thập loại chúng sinh”.

Pháp số 10 hàm chỉ số nhiều, những trên 10 trở lên. Chúng sinh ám chỉ mọi người - Nguyễn Du đã dùng các danh từ “người” hoặc “kẻ” đến 19 lần qua những đến 15 lần “triệu hồn, được trích chọn từ câu 21 cho đến câu 136. Chọn đếm ra thì có tới 30 câu/182 câu”.

Không thể kể hết, tiêu biểu nhắc đến một số câu thơ minh họa:

- Câu 21, 22:

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,
Chỉ những lăm cất gánh non sông.


- Câu 45, 46:

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son sống thác ở tay.

- Câu 93, 94:

Cũng có kẻ vào sông ra biển.
Cánh buồm mây chạy xế gió đông


- Câu 121, 122:

Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc
Gởi mình vào chiếu rách một manh.

- Câu 129, 130:

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,
Cũng có người xẩy cỗi xa cây.


- Câu 131, 132:

Có người leo giếng đứt dây,
Người trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành


- Câu 135, 136:

Có người hay đẻ không nuôi,
Có người sa sẩy, có người khôn thương.


Nói 9 phương trời, 10 phương Phật thì đích thị là chuẩn mực. Viết thập loại thì có thể hiểu theo cách ước lệ. Phải hiểu là trên 10 như 12, 14... cũng đúng theo tư duy tổng quan của người Việt về số lớn. Nói 100 họ (bách tính) nhưng thực tế kê ra lại hơn 100 dòng tộc. Thói tục trong bán buôn mua 10 lại chầu thêm 2, 3 hoặc 4 là bằng chứng.

Cái khôn khéo của tác giả Nguyễn Du là đã dùng 10 loài chúng sanh lan tỏa qua phần triệu hồn (gọi hồn). Với “Cô hồn các đẳng”, dân gian thường nói thì họ chết đủ thứ nghiệp theo lỗi “sinh nghề tử nghiệp”. Đó là chưa kể chết non, chết già. Trên 10 loài chúng sinh như sĩ, nông, công, thương, binh, còn phải kể các loại chúng sinh khác như ngư, tiều, canh, mục hoặc cầm, kỳ, thi, họa chẳng hạn.

Đó là nét khác biệt và tiến bộ của Nguyễn Du so với các tác giả thuộc triều thần đời vua Lê Thánh Tông đã biên soạn Văn tế thập giới cô hồn quốc ngữ văn.

Trong toàn bài, tuyệt nhiên không tìm thấy câu nào nhắc đến giới tăng lữ như Thập giới cô hồn quốc ngữ văn do triều thần đời Lê Thánh Tông biên soạn mà chính nhà vua đề lời tựa của bộ sách Thiên Nam dư hạ tập ra đời vào thời Hồng Đức thứ 14, tức năm Quý Mão, 1483. Đời sau và đời nay đã phản biện tranh cãi: Ai là tác giả? Người bảo của Thân Nhân Trung, kẻ nói của vua Lê Thánh Tông. Và hiện nay chưa tìm ra lời giải mã đủ sức thuyết phục. Thiết nghĩ đó là khuyết nghi của lịch sử văn học để lại cho người đời sau. Chưa biết ai sẽ vén bức màn những bí ẩn này để làm sáng rõ vừa Quốc sử lẫn Phật sử nước nhà.

Riêng, Văn tế thập loại chúng sinh thì có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Nguyễn Du đã từng nhen nhóm nguồn cơn: “Nhờ phép Phật siêu sinh Tịnh độ/ Phóng hào quang cứu khổ độ u”.

Năm 1973, giáo sư Thạch Trung Giả cho ra mắt bạn đọc bộ sách Văn học phân tích toàn thư đã viết:

“... Kinh Chiêu Hồn tả thế giới của người chết, nhưng nó chỉ là phần phản ánh thế giới của người sống, đó là hình ảnh thời Lê Mạt, mà cũng vì thế nên mặc dầu thê thảm ghê rợn nhưng Kinh Chiêu Hồn vẫn không quái đản như những tác phẩm Edgar Po, nó còn NHÂN LOẠI TÍNH (người viết tôn hoa lên) vì nó tả hình ảnh nhân loại qua những bóng ma, nó cảm lòng ta chứ nó không muốn cho thần kinh thác loạn” (12).

Tự thân Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh tự nhiên đã đẩy đưa Tố Như Nguyễn Du lên văn đàn thế giới và trở thành Đại thi hào dân tộc kể từ năm 1965.

Vinh danh lớn không những dành cho người Việt Nam mà còn cho hàng nho sĩ không thấy trở ngại gì khi mình đồng thời cũng là Phật tử nữa. Đó là nội dung lời bình về Nguyễn Du của tác giả sách Việt Nam văn hóa sử luận13.

Thiết nghĩ, đó là “cái dũng” của người cầm bút tung lên hay nói cách khác là khí tiết của nhà nho Nguyễn Du, Đại thi hào của thế giới.

L.Q.T  
(TCSH343/09-2017)

-------------------
1. Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn, Phạm Vũ và Lê Hiền dịch và chú giải, Nxb. Miền Nam, Sài  Gòn, 1973, tr.187; 195.

2. Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn, Phạm Vũ và Lê Hiền dịch và chú giải, Nxb: Miền Nam, Sài  Gòn, 1973, tr. 187; 195. Tiếng Phạn: Ullambana = Vu Lan bồn hội.

3. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Cao Huy Bin và Đào Duy Anh dịch, Nxb. Văn hóa - Thông  tin, Hà Nội, 2004, tr. 129.

4. Văn minh Việt Nam, Nguyễn Văn Huyên, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005, tr.361.

5. Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000, tr.493.

6. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Tập I, Trần Văn Giáp, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1984, tr.218.

7. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, Tập I, Trần Văn Giáp, Sđd, tr.219.

8. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Sđd, tr.386.

9. Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang, Sđd, tr.492

10. Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang, Sđd, tr.494

11. Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang, Sđd, tr.495.  

12. Văn học phân tích toàn thư, Thạch Trung Giả, Nxb. Lá Bối, Sài Gòn, 1973, tr.33.  

13. Xem Việt Nam văn hóa sử luận, Nguyên Long , Sđd, tr.675-676.

 

READ MORE - TỪ "THẬP GIỚI CÔ HỒN QUỐC NGỮ VĂN" ĐẾN "VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH" - Lê Quang Thái

NGÀY CÁ THÁNG TƯ - Thơ vui của La Thụy




 
NGÀY CÁ THÁNG TƯ
 
Anh rất yêu em
Mong rằng biển cứ vẫn xanh
Và CÁ mãi tươi
Trong THÁNG TƯ, NGÀY MỒNG MỘT
Để chúng ta được nói dối ngọt ngào
Không ai phải hờn ghen giận dỗi
Dù là chồng em hay vợ anh - cũng rứa
Dù thật sự
Có những phút ngoại vợ ngoại chồng
Mà hình như ai cũng có
Ngay nhà thơ Thuận Hữu
Chắc cũng đắn đo
Khi viết ra điều đó!
 
Anh lại nói to cùng hoàng hôn
Anh yêu em hơn kia nhé!
Dù gió có chuyển lời tình tự
Hay mây mang lời giận dỗi
Dù mưa nắng thất thường
Như tính tình em
Yêu giận ghen hờn
Đổi thay từng buổi
 
Anh xót lòng vì hôm nay
"Em buồn như con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Để anh giận
Sao chẳng là nước biển" *
Như thơ NGUYÊN SA anh thuộc
 
May rằng CÁ không ươn
Vì NGÀY MỘT THÁNG TƯ
Không đòi lỗi chuộc
Khi mọi người thi nhau nói dối
 
                                    La Thụy
                                  
* Thơ Nguyên Sa

(Chúc mọi người ngày CÁ THÁNG TƯ nói dối thật hay và vui nhé !)
 
READ MORE - NGÀY CÁ THÁNG TƯ - Thơ vui của La Thụy

TRĂNG HẠ HUYỀN THEO EM ĐƯỜNG XA – Trần Vấn Lệ




Trăng hạ huyền đêm em thượng lộ. Một nửa trăng, em nhìn thấy sao?  Trăng có nói với em một lời chào?  Trăng có hẹn khi em về trăng lại tròn như Nguyệt?
 
Có thể bây giờ, em đang Phan Thiết.  Con đường dài, mở rộng, êm ru... Phan Thiết ít khi có sương mù, anh tin rằng con trăng luôn tỏ để em vào thành phố thấy con sông...
 
Con sông Cà Ty nước chảy một dòng.  Khi nước triều cao lên, nó ngược lên một khoảng.  Nó đầy vun và tỏa ra ánh sáng... những đêm trăng lấp lánh nghĩa tình.
 
Anh chắc em làm thinh để xe lăn trên lưng của nước.  Anh chắc em tóc bồng bay ngược, thơm vô cùng đêm Phú Hội, Xuân Phong.  Anh nhớ em nha, nói thật tự lòng:  "Sao em đẹp như Vườn Bông Phan Thiết"?
 
*
Xe em qua Bình Tuy, xe em chạy miết.  Sắp tới kìa Xuân Lộc, Túc Trưng... Xe xuyên lòng Sài Gòn, xe tới Phú Mỹ Hưng... Trăng đậu trên nóc nhà cao ngất, hai con chim bồ câu đậu sẵn chờ người...
 
Tưởng tượng em cười.  Hai cái chân có tê tê một chút.  Em xoa xoa giùm anh ngón út... Con đường dài còn phớt gió trăng!  
 
Anh không ghé thăm thành phố mới.  Em có buồn không sau niềm mong đợi thấy cảnh bình yên của đêm tối Sài Gòn?  Nhưng khi em mở bàn tay em sẽ thấy nụ hôn... của anh dành cho em như nụ tường vi mới nở. 
 
Những nụ tường vi nở quanh nhà em... Anh không nói thêm bởi vì em vô cùng diễm lệ!  Chưa bao giờ mà em đẹp thế, Vườn Bông Phan Thiết trăng lung linh long lanh...
 
Trần Vấn Lệ

READ MORE - TRĂNG HẠ HUYỀN THEO EM ĐƯỜNG XA – Trần Vấn Lệ

Saturday, March 30, 2024

TẾT ẤY TÔI VỀ - Lưu Lãng Khách

 


TẾT ẤY TÔI VỀ

Lưu Lãng Khách

 

Tôi trở về quê sau cuộc hành trình dài mười năm bôn ba nơi phồn hoa đô hội. 

Bước xuống sân bay Chu Lai, lòng ngổn ngang bao nỗi niềm khó tả, như tủi như mừng, như uất nghẹn, như sung sướng hân hoan, trước giờ phút đặt chân lên mảnh đất quê hương xứ sở, bên hữu ngạn sông Trà thơ mộng. Xe trung chuyển vừa ngang qua cây da đại thụ ngày nao, không kịp nhìn khách sạn Mỹ Trà, cầu Trà Khúc 2 đã hiện ra hoành tráng uy nghi trước mắt. Nỗi niềm yêu thương quê hương khát khao cháy bỏng bao năm, trào dâng lên đan xen với những cảm giác là lạ, khiến tôi như ngạt thở. Môi tôi run run vén nụ cười, tim đập liên hồi như có gì hồi hộp, lâng lâng nhìn hai bờ đê bao Nam Bắc sông Trà, tiếp liền là công viên Ba Tơ đã hoàn mỹ, đang khoe dáng, trông trời đất quê hương thơ đẹp và lạ lẫm vô cùng. Sau này tôi mới biết, đường đê bao hai bên bờ Trà Giang, trải dài từ quốc lộ cho tới biển, với nhiều cảnh nên thơ, dễ động lòng thi sĩ, có tên gọi là Trường Sa và Hoàng Sa. Nhà xe mời bước xuống, tôi chẳng định vị được, mình đang ở điểm nào, giữa lòng thành phố yêu thương, đã mười năm cách biệt, với lắm đường mới cũ lạ quen lẫn lộn, với lắm người hương quán mà lạ xa. Quê hương giờ đổi mới, trông trẻ đẹp ra và khác  quá đi thôi! Đồng lúa dọc theo đường cao tốc ngày xưa, chạy dài tới trong núi Bút bát ngát mênh mông, bấy giờ đã thành bến xe và cửa nhà san sát dọc hai bên, ép đồng lúa bao la, chỉ còn trong kỷ niệm, để lại bơ vơ mấy thửa ruộng con con, trông lạ mắt làm sao.

Xách vali lên, mới đi vài bước định đến cây tắc xi đợi sẵn, chợt nghe có tiếng gọi : “Anh Hoàn! Có phải anh Hoàn con bác Mười không? Anh về quê ăn Tết à? Lâu quá, trên 20 năm rồi không gặp! Em là thằng Đạt con của ba Phát đây anh nề!”

Ôi! Thằng Đạt đẹp trai hát hay ngày nào đó sao? Lẽ nào mưa nắng gió sương nơi quê nhà, khắc nghiệt đến độ, đã hằn lên da thịt những người dân lặn lội tảo tần, dãi nắng dầm sương, kiếm miếng cơm manh áo, lam lủ làm ăn bên sông Trà, những dấu ấn khủng khiếp đến vậy? Nó chẳng còn một chút gì dáng dấp điển trai xưa, khi mới ngoại ngũ tuần. Cái lưng dài khòm riết đến thương, làn da rám nắng quá độ, hàm râu hoắc hoe vàng lên thống khổ, chiếc cằm nhọn vểnh lên, như thách thức cuộc đời. Nó chưa nói, tôi đã đưa vali cho, bước lên ngồi sau xe, vẫy tay chào tạm biệt anh tắc xi, mong rằng anh thông cảm, bằng nụ cười ấm áp chân tình .

Ngang qua nhà, nó vội nói: “Ghé nhà một tí, em cho bò ăn cỏ, vợ em làm xa, sợ giờ này chưa về. Mấy năm nay, nhờ vay của nông hội và phụ nữ, em mới phát triển chăn nuôi heo bò. Cứ một con em nuôi khoảng tám đến mười tháng, kiếm được dăm bảy triệu, lại mua nuôi con khác. Còn đàn heo thì mỗi năm kiếm cũng được mười mấy triệu anh ạ! Nhưng chăm heo vất vả, bò thì khỏe hơn nhiều.”  

Tôi mỉm cười chua chát: “Mười mấy triệu, nếu phải mua rau cám thì còn chi lời lãi! Em còn nguồn thu nhập nào khác không?”  

Nó dừng xe lại trước sân,  cười móm xọm: “Dạ vợ em làm sào ruộng, sào rau và sào bông lay ơn nữa anh ạ! Có năm trúng bông được vài ba chục triệu, có năm bị trổ sớm thì huề vốn là may. Ủa! Bả về rồi anh ơi!”  

Tôi bước theo hỏi nhỏ: “Vậy mỗi năm dư được bao nhiêu em?”

Nó lắc đầu: “Chẳng được bao nhiêu đâu anh! Khoảng 30 triệu là cùng. Vì thu mùa trước phải bỏ xuống cho mùa sau, với lại con cái lớn lên học hành tốn kém. Ồ! Vợ em dưới chuồng heo đó anh!”

Tôi nhìn theo, và không thể nào tưởng tượng: “Có phải Mai hát hay nhất xóm, ngày xưa anh đàn em hát đó không em?”

Mai nhìn tôi, lau vội đôi tay, cười như mếu: “Dạ, em đây anh! Gần 30 năm rồi còn gì. Nghe nói anh bây giờ khá lắm phải không? Làm ăn chi mà đi biền biệt, bao năm chẳng về quê ăn Tết. Vào nhà đi anh!”

 Tôi nhìn Mai : “Chẳng khá gì lắm đâu em! Vì công việc của anh, chủ yếu ba ngày Tết. Năm nay cố gắng lắm, anh mới về được một mình. Thật không ngờ, em lại là vợ của Đạt!”

Đạt cười toét miệng: “Còn nhiều cái không ngờ lắm anh ơi! Vào chơi chút đã!”

Tôi lắc đầu, và rút ra hai tờ bạc đưa cho Mai: “Em thay anh nói lời mừng tuổi với hai đứa nhỏ nha! Anh phải về kẻo ba mẹ trông! Hơn mười năm rồi còn gì!”

Mai cười méo xệch! Tôi phất tay bước ra ngoài, chợt thấy người phụ nữ vẻ khá giả: “Ai như Thúy phải không ta?”

Mai nhìn ra: “Chị Thúy đó anh! Cả nhà buôn rau xanh, mua tận gốc bán tận ngọn, mà không giàu sao được. Ông Đạt nhà em mà không nhậu, thì cũng đâu đến nỗi nào. Tết này vô sào bông, là em trả hết nợ nhà nước, làm mãi chẳng thấy dư”.

Tôi cười vẫy tay: “Tạm biệt em!”

Chẳng biết có ai báo tin không, mà ba tôi ra ngõ đợi, má ngồi trước thềm ngó ra, trông thấy thương làm sao. Tôi ôm ba rồi ôm má, mà nghe nước mắt tủi mừng mặn điếng ở đầu môi. Ngồi bên bình trà, ba tôi bắt đầu kể ai còn ai mất, ai được ai thất, trong chục năm qua tôi chưa hề hay biết, tôi ngồi nghe thật là xúc động. Ôi! Đốt nén trầm hương trên bàn thờ ông bà tiên tổ, mà tôi nghe ba mình cũng khấn vái, mong ông bà phù hộ, cho đứa con xa đã biết tìm về. Không đợi đến đầu năm, hai cha con cùng lên nghĩa trang gia đình, viếng mộ từ ông cố trở xuống, còn ông cao trên gò ông Bường, đầu năm hãy viếng luôn.

Tin tôi về quê lan nhanh dễ sợ! Hai cha con vừa về nhà, thì nào chú Hai, chú Ba, bác Tư, chú Năm, chú Sáu, chú Bảy, chú Tám cùng bác Chín, toàn bà con hàng xóm, đứng chật sân mừng đón tôi trở về.

Thế rồi, những ngày cuối năm bộn bề, nhà ai nấy lo công việc ngày hết Tết tới. Tôi cùng em tôi tranh thủ quét màu, cho cửa nhà sáng sủa. Sáng ba mươi, tôi đem bộ lư ra, tự ngồi đánh bóng, mà nhớ những ngày này, của thuở ấy xa xưa. Chiều ba mươi Tết, cúng ông bà xong, mâm cơm gia đình đoàn tụ thật đông vui, với tất cả anh chị em, và con cháu lớn nhỏ, mấy mươi người cùng về dự, ăn uống rôm rả, cười nói tưng bừng. Thế là chiều cuối năm, đã thấy bóng dáng xuân về ngự trị, đã nghe lòng lòng khấp khởi, chào đón sớm, một mùa xuân vui tươi, trong non nước thanh bình, trong không khí đoàn viên, dưới mái nhà ấm áp  đủ đầy con cháu, chừng đông vui nhất xóm của ba tôi.

Khi anh chị em đã ai về nhà nấy, anh em tôi cùng ba má, ngồi quây quần quanh bếp lửa. Bên nồi bánh tét bánh chưng sôi sùng sục, nghe mẹ tôi kể chuyện xưa, thời ông ngoại là chủ lái thuyền buôn chuyến. Ba tôi không chịu lép, cũng kể chuyện ông nội của người, từng là nhất đẳng ngự tiền thị vệ thời Tự Đức, từng được vua ban sắc viết, treo trang trọng giữa nhà, bị chiến tranh làm cháy mất.

Thấy tôi ngồi im lặng, ba đặt nhẹ tay lên vai tôi: “Hơn mười năm mới về quê ăn Tết, con có cảm nghĩ thế nào?”

Tôi ngồi thẳng người: “Dạ thưa ba má! Lâu ngày, được về quê ăn Tết cùng gia đình, con rất vui, và nghe lòng ngập tràn yêu thương, đến độ con quên biết bực bội là gì, nếu có điều đáng bực. Con ước gì không khí gia đình mình, mãi mặn nồng ấm cúng, như chiều nay đêm nay. Có điều con thấy lạ là, bà con bây giờ không chịu khó trồng mai, hồng, vạn thọ, cúc, mồng gà, móng tay...như thời trước, để chưng ba ngày Tết. Mà nhà nào cũng mua vài chậu thược dược, quất, mai bonsai, hoặc một nhành mai lớn, nhành đào lớn. Nhà nào cũng có hoa layơn, hoa cúc cắm bình. Và những ngày giáp Tết, con không còn được nghe, tiếng chìa vồ dệnh bánh nổ cây, đóng bánh nổ miếng, âm vang khắp làng trên xóm dưới. Con không còn được ngửi mùi thơm đến rỏ dãi, của bánh thuẩn, bánh mì xốp, bánh in đậu xanh, mức kẹo... thơm nức mũi khắp làng, đang mang mùa xuân đến. Đêm con không được nghe, bản hợp xướng của loài lưỡng cư, chủ yếu là ếch nhái, kêu dậy đồng dậy xóm, như điệp khúc tạm biệt mùa đông, báo hiệu mùa xuân rất đồng quê, cùng những tiếng kêu não nuột, của loài ễnh ương, mà ở phương xa, những đêm mưa nghe, con rất nhớ nhà. Cả tiếng côn trùng nỉ non chốn làng quê, giờ cũng nghe thưa vắng quá, khiến con thường nằm buồn ôn chuyện ngày xưa. Có điều con rất vui, là gia đình đoàn viên, quây quần bên nồi bánh chưng bánh tét, cùng đón giao thừa chào năm mới, cảm giác thật ấm lòng.”

Sáng mùng một, tôi cùng ba đi thắp hương, hết tất cả mộ phần trong Nguyễn gia. Xong hai cha con mang ít bánh trái về nhà thờ, uống chén rượu đầu xuân cùng anh em trong tộc, không quên đi mừng tuổi lì xì. Sáng mùng hai, anh em tôi thay ba mẹ, về thắp hương cho ngoại, cụng ly năm mới tưng bừng, cùng anh em con cậu con dì. Mùng ba tôi thủ trại! Biết tôi về quê ăn Tết, anh em bạn bè kéo đến, chật cứng không còn chỗ ngồi. Tôi xin phép ba, được kê ba bàn nhập một. Thế là chúng tôi vui say một bữa ra trò, để nhớ mãi không quên. Có mấy chiến hữu từ sáng đến chiều, còn nán lại đến khuya, vui tiễn ba ngày Tết qua luôn.

Thế rồi ba tôi mất! Mùa xuân đầu tiên không cha, tôi ngơ ngác như đứa trẻ thơ mất mẹ. Mùa xuân thứ hai đồng hành cùng COVID, cả gia đình tôi đành bỏ vé không về. Và xuân này biết có về được không, khi đại dịch vẫn hoành hành khắp chốn. Ở phương xa, tôi vẫn dường nghe văng vẳng, lời của ba thuở ấy: “Đến đâu con cũng nhớ lì xì, cho mấy đứa nhỏ nó vui nghen!” Sao mà thương quá đi thôi!

                                                           Sài Gòn cuối đông 2021

                                                               Lưu Lãng Khách

 

 Từ: Nguyễn Duy Toàn <luulangkhach@gmail.com>

 

Mời đọc:

SẮC MÀU THỜI GIAN, website của LƯU LÃNG KHÁCH
READ MORE - TẾT ẤY TÔI VỀ - Lưu Lãng Khách

Chùm ảnh HOA LAN ĐẤT MẦU TÍM - Chu Vương Miện

 Bấm chuột vào hình để phóng to.







READ MORE - Chùm ảnh HOA LAN ĐẤT MẦU TÍM - Chu Vương Miện