Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, February 16, 2021

MỘ GIÓ - Truyện ngắn Nguyễn Đặng Mừng

Nhà văn Nguyễn Đặng Mừng


Mộ Gió

Truyện ngắn                 

Nguyễn Đặng Mừng

   

Nhài ở với bà ngoại. Ba Nhài tập kết ra Bắc, mẹ Nhài đi lấy chồng. Tôi lại mồ côi mẹ từ năm hai tuổi. Có khi ba tôi đi làm cả tuần không về, gửi tôi cho ngoại Nhài. Ban ngày tôi và Nhài chơi đồ hàng, đóng vai chồng vợ, nằm ôm nhau đợi trời sáng. Nhài giả tiếng gà gáy oo...o o..., bỏ cát vào miễng sành làm cơm, hai đứa chu miệng vờ ăn chót chét, cười khúc khích. Có khi Nhài  đóng vai làm mẹ, tôi làm con. Nhài còn trật áo ra giả đò cho bú, tôi xấu hổ bỏ chạy. Tôi năm tuổi, nhỏ hơn Nhài một tuổi. Thấy Nhài đi học, tôi khóc. Ba tôi phải để tôi theo Nhài cho có bạn, còn dặn: “Từ nay con phải gọi chị Nhài. Chị Nhài nhớ chăm sóc em, học giỏi sẽ có thưởng.”   

Từ làng tôi đến làng Hội phải qua làng Đông, có ba đường đi song song. Tùy theo mùa, nam nắng người ta thường đi đường hạ bạn cho mát. Mùa rét đi đường thượng bạn cho ấm. Mùa lụt lội lại phải đi đường rú, sợ nhất là ngang qua miếu ông Dờn. Ngôi miếu cổ nằm khuất sau lùm cây, tôi chưa một lần nhìn rõ. Mỗi lần ngang qua đó tụi nhỏ cắm đầu chạy không dám nhìn vào miếu.  Người ta đồn rằng đứa nào nhìn vào miếu là bị lác mắt.       

Mùa hè, ngày đầu tôi theo Nhài đi học lớp mẫu giáo theo đường hạ bạn. Gió nam Lào thổi qua cánh đồng từ phía sau như đẩy chúng tôi tới. Nhài  bỏ tôi chạy  lúc lội qua khe, lên bờ bên kia núp vào bụi rậm, chờ đến lúc tôi mếu máo mới từ trong bụi nhảy ra hù một cái. Nhài cười vang nhe răng sún, tôi cười gượng. 

 Trường là căn nhà xây cũ lợp ngói âm dương, gọi là nhà tăng, là nơi để dọn cổ những khi cúng làng đông người, trong đình không đủ chỗ. Ba tôi nhận thầu sửa lại đình làng Hội sau mấy năm hòa bình.     

Thầy Nga có tật gù lưng, trước đây là giáo viên bình dân học vụ trong thời kháng chiến chống Pháp. Trình độ thầy cũng chỉ mới tương đương bằng tiểu học thời đó. Học trò cả mấy làng gom lại được hơn chục em. Học trò chưa ai biết chữ, tuổi tác cũng chênh lệch. Trò lớn nhất hơn mười tuổi, nhỏ nhất là tôi.    

Ngày đầu đến lớp chẳng có sách vở gì, trò nào cũng thế. Mỗi đứa có một tấm bảng đen lớn hơn tập vở một chút. Cha tôi lấy cho tôi một viên ngói liệt và xin thầy cục phấn, xong ông đi làm việc với thợ thuyền. Tôi ngồi bên Nhài không viết được chữ o, Nhài bắt tay tôi khoanh thật chậm, thành một chữ o méo mó trên tấm ngói, trong lúc chữ o tự Nhài viết trên bảng của mình tròn như quả trứng gà. Giờ ra chơi, Nhài bắt tôi ngồi trong lớp viết lại nhiều lần chữ o mà vẫn méo, Nhài cóc đầu, tôi nổi cáu ném vỡ tan viên ngói, bỏ chạy về nhà. 

Hôm sau cha tôi mua về một tấm bảng mới rất đẹp. Cha gọi tôi vào bảo: 

- Sang năm con lên năm (lớp một) rồi, rán học một năm để vào lớp năm, phải biết đọc biết viết. Kể từ hôm nay, con bỏ học một buổi là ba đánh năm roi, nghe chưa.            

Ba đèo tôi trên xe đạp đến lớp. Ba nói nhỏ to gì với thầy rồi lại xếp tôi ngồi gần Nhài. Nhài không thèm nhìn tôi, cắm cúi viết chữ a thật đẹp.Thầy đến gần tôi bảo: “Coi con gái viết chữ đẹp chưa, con trai mà thua con gái là xấu hổ lắm.” Tôi bặm môi, nghe mặt mình nóng lên. Tay phải ghì cục phấn chạy chậm từ từ trên bảng theo lời động viên của thầy. Sự tự ái và lời động viên cho tôi một chữ a đẹp không kém chữ của Nhài. Thầy nói lớn:             

-Hôm nay trò Hoan viết chữ đẹp nhất lớp, thầy thưởng hai viên phấn.             

Cả lớp nhìn về phía tôi vỗ tay, riêng Nhài ngồi im nhìn xuống chữ a của mình. Tôi xấu hổ vì chữ a của Nhài đẹp hơn.            

Trên đường về, tôi làm lành với Nhài:            

-Chữ Nhài đẹp nhất lớp.            

-Người ta có Ba, chữ mới đẹp, Nhài không có Ba, chữ đẹp cũng thành xấu.            

Cả tuần Nhài không cười đùa với tôi như trước.   

           

Qua hết mùa hè, chúng tôi đã viết được hai mươi bốn chữ cái và ghép vần, chữ đứa nào cũng đẹp. Thầy cũng không còn khen chữ ai đẹp hơn ai, tôi và Nhài cũng không khi nào so sánh.          

Nước lụt ngập hết đường bạn, chúng tôi phải đi học đường rú. Trước khi qua miếu ông Dờn, Nhài bảo: “Đưa bảng đây chị cầm cho, chị hô một.. hai… ba là chạy nghe chưa. Không được nhìn vào miếu, đui mắt ráng chịu.”  Vậy là Nhài hô một…hai…ba, chúng tôi chạy thật nhanh. Nhài chạy trước, tôi chạy sau. Nhài vấp chân té ngã trên cát, hai cái bảng văng khỏi tay. Tôi sợ quá, chạy luôn không quay lại. Mệt và sợ, tôi ngồi xuống bên bờ cỏ. Khuất sau lùm cây nghe tiếng kêu thất thanh của Nhài: “Hoan ơi, chờ với, chị chết mất.” Nghe tiếng kêu thống thiết của Nhài,  tự nhiên tôi can đảm lên, đi ngược về hướng miếu. Nhài vừa đi liêu xiêu vừa khóc. Tôi bảo: “Chị đứng đó, em chạy lui lấy bảng cho.” Tôi trở lại lấy hai tấm bảng mà không hề nghe sợ sệt. Hai đứa theo đường rú đến trường. Những ngày sau tôi nói với Nhài: “Từ nay mình đừng chạy nữa, cứ đi bình thường, hai tay nắm lại là không sợ.” Từ đó chúng tôi cứ nhìn vào miếu mà không sợ lác mắt. Rồi đến một ngày hai đứa tôi tò mò vào xem miếu thế nào: Đó là ngôi miếu rong rêu nằm khuất dưới một bụi trâm bù, cũng bình thường như những ngôi miếu cổ trong làng. Chúng tôi thường bẻ hoa sim vào cắm trên bệ thờ. Nhài lấy một bông sim kẹp lên tóc, nghiêng ngiêng đầu  hỏi  “đẹp không”, tôi bảo đẹp. Có hôm ngồi hằng giờ sau miếu ăn trái sim hoặc trái trâm bù,  lại cười vang vì miệng đứa nào cũng tím màu sim.              

Một năm học không biết bao chuyện vui buồn, khi nắng rát lúc mưa dầm, những ngày lạnh thấu xương, Nhài và tôi đi học không bỏ buổi nào.              

Vào lớp năm trường làng, chúng tôi lại học chung lớp.Tháng nào Nhài cũng đứng nhất lớp, tôi lại lẹt đẹt hạng mười là cao. Chúng tôi cứ cặp kè, ra chơi vô học khi nào cũng gần nhau. Tụi bạn hay hát trêu: “Hai cấy dôn (vợ chồng) cốn dây, mua bánh dầy cho chắc (nhau) ăn…” hoặc: “Vợ khôn chồng dại như bông hoa nhài cắm bãi phân trâu.” 

         

Ngày tết năm đó, một ngày tết thật buồn. Nhài qua nhà tôi chào ba và tôi để đi theo một người bà con lên vùng Cam Lộ. Nhài bảo ngoại không đủ sức nuôi Nhài nữa, Nhài phải giúp việc cho người ta, người ta hứa là sẽ cho Nhài đi học. Tôi và ngoại tiễn Nhài ra đến đầu cầu, hai bà cháu cùng gạt nước mắt nhìn theo cái bóng nhỏ nhắn mặc bộ đồ màu đà,  chiếc nón lá quàng sau lưng khuất vào rặng tre cuối làng Đông.      

Một năm rồi hai năm Nhài không về thăm. Ngoại Nhài khăn gói đi tìm cháu về kể trong nước mắt: Nhài trốn đi đâu cả năm rồi. Lại có người đồn rằng Nhài bị người bà con đánh lỡ tay chết rồi đem chôn phi tang. Tôi khóc mấy ngày rồi thú tội với ngoại Nhài là đã từng vào miếu ông Dờn. Ngoại Nhài làm một mâm xôi gà đội lên miếu ông  Dờn cúng. Tôi theo bà lên miếu. Bà đặt mâm cổ lên bệ thờ, thắp nhang khấn vái. Bà bảo tôi lạy bốn lạy và xin ngài cho Nhài tai qua nạn khỏi.         

Năm tôi học lớp ba, Ngoại Nhài mời thầy pháp về làm lễ Chiêu hồn nhập mộ cho Nhài. Người ta  đào một huyệt nhỏ, nhỏ như tuổi Nhài ngày ra đi.  Sau khi bỏ rễ cây dâu làm xương, chỉ ngũ sắc làm gân, đất sét làm thịt, hình hài của Nhài được chú Dằng nắn như con búp bê nhỏ xíu rồi cho vào tiểu sành. Ông thầy cúng đọc thần chú để gọi hồn Nhài về. Chú Dằng, người cầm vía đầu quấn chiếc khăn điều, nốc một ly rượu, mặt chú đỏ lên, đầu chú ngắc ngư lắc theo cây vía trong tay. Đột nhiên chú đứng dậy chỉ ngay tôi rồi cầm tay kéo tôi chạy.  Tôi chạy theo chú, băng qua những ngôi mộ, vượt qua những bụi trâm bù. Chân tôi đau điếng rớm máu vì vướng phải chồi cây. Đến gần miếu ông Dờn chú đi chậm lại, rẽ bụi cây bước đến chính diện. Chú vái bốn vái rồi ra hiệu cho tôi lạy bốn lạy. Chú không nói gì nhưng qua cử chỉ tôi biết chú bảo tôi phải tạ tội trước ông Dờn. Xong chú lại cầm tay tôi chạy băng băng về lại huyệt mộ. Ông thầy cúng vẫn ê a bài cúng chiêu hồn. Chú Dằng chỉ tôi quỳ xuống bên ông thầy, hai tay chắp trước ngực. Xong chú nói giọng lơ lớ kiểu người cõi âm: “Hoan ơi, chị nhớ em lắm. Hoan đốt cho chị một cuốn vở mới, một cây viết rồi rưới lên cho chị lọ mực tím, chị thích màu tím. Bữa nay chị học lớp ba rồi. Chị tìm ra cha chị rồi. Chị có cha rồi, không ai bắt nạt chị nữa, không ai chê chị viết chữ xấu nữa.” Tôi khóc òa lên, không còn sợ vong linh Nhài nữa. Tôi tin Nhài đang nói với tôi qua lời chú Dằng.       

Đêm đó tôi mộng thấy Nhài mặc chiếc áo trắng tinh, tay cầm cánh hoa nhài trắng muốt, thơm phức.  Đầu Nhài có đính chiếc hoa sim nhìn tôi cười nhe răng sún. Từ đó tôi hết bị ám ảnh về tội lỗi của mình. Miếu ông Dờn không đáng sợ nữa mà gần gủi thân thiện với tuổi thơ tôi và Nhài.         

Ba tôi kể: “Miếu ông Dờn hồi chống Pháp, cạnh miếu là hầm bí mật của cán bộ. Mẹ con hay bới cơm cho cậu và cha Nhài là du kích  nên mẹ biết. Họ phao tin như thế để khỏi lộ bí mật”. Nghe ba nói tôi lại tin rằng Nhài còn sống, không bị ông Dờn bắt.          

Tôi theo gia đình lên tỉnh học bậc trung học. Mỗi lần về làng thế nào tôi cũng đi thắp nhang ở mộ Nhài. Ngoại Nhài đã qua đời. Mộ hai bà cháu nằm gần nhau. Ít ai nhắc về chuyện của Nhài, riêng tôi thì không sao quên được những ngày....          

Những năm đầu bảy mươi, có lần tôi nghe bà con bàn tán là Nhài không chết, Nhài được người cha tập kết  trở về mang con theo ra Bắc, Nhài học giỏi và được đi du học. Có người lại bảo Nhài chết trên đường vượt Trường Sơn vào Nam. Năm mươi năm qua, có dịp về làng tôi lại đến bên mộ gió của Nhài thắp nhang, lòng vẫn mong Nhài vẫn sống đâu đó, ở trần gian này.                                                                               

23 tháng 5 năm 2008.

N.Đ.M.


READ MORE - MỘ GIÓ - Truyện ngắn Nguyễn Đặng Mừng

TRĂNG MÙNG BA – Thơ Trần Mai Ngân

 

 


TRĂNG MÙNG BA
 
Trăng non đêm mùng ba
Treo ngậm ngùi xuân xanh
Vương khúc tình mong manh
Hương hoa mai quyện mãi...
 
Man mác sương khói bay
Mơ hồ thoáng dáng ai
Ôm đàn gieo thương nhớ
Ôi... thiết tha cung sầu
 
Xuân đi bởi vì đâu
Lưu luyến không hỡi người
Tri âm trao nụ cười
Tuổi buồn tan trôi theo
 
Tương tư ôm nguyệt cầm
Gọi người tiếng trăm năm !
 
Trần Mai Ngân
Đêm mùng 3 tết Tân Sửu!

READ MORE - TRĂNG MÙNG BA – Thơ Trần Mai Ngân

Monday, February 15, 2021

DUYÊN QUÊ – Thơ Huỳnh Tâm Hoài, nhạc Nguyễn Hữu Tân


                          Nhà thơ Huỳnh Tâm Hoài


DUYÊN QUÊ
 
Con cá lia thia bơi hoài trong chậu
Con cá bãi trầu (nó) ngoe ngoảy bờ mương
Thấy em đẹp lại dễ thương
Bởi cái nghèo (nó) dính hết đường em ơi
Sông dài chèo muốn hụt hơi
Bởi em đứng đó… anh bỏ lời bâng quơ
Em biết… mà cứ (lại) giả vờ
Hất chi lọn tóc để hờ bờ vai
Cười duyên con mắt nguýt dài
Anh thời chết điếng ngó hoài trân trân
Phải chi mà đến được gần
Nói lên một tiếng… trăm lần yêu em
Nếu mà em chịu ừ nghen
Anh dìa xin (với) má kết duyên hai (đứa) mình
Trăng treo sáng rực mái đình
Anh thề anh sẽ chung tình cùng em
Thế thì zdậy zdậy nghe em
Thế thì zdậy zdậy nghe em
 
                                               Huỳnh Tâm Hoài



Thơ: Huỳnh Tâm Hoài.
Nhạc: Nguyễn Hữu Tân.
Hoà âm: Đỗ Hải.
Trình bày: Minh Đạt.
 
READ MORE - DUYÊN QUÊ – Thơ Huỳnh Tâm Hoài, nhạc Nguyễn Hữu Tân

CHÙM THƠ XUÂN CỦA VĂN THIÊN TÙNG


 


DU XUÂN TÂN SỬU
 
Du xuân mồng một ghé thăm vườn
Lộc ắp ăm đầy mẩy nụ mơn
Bà cháu quơ huơ sương loáng ánh
Gió mây quần bỡn nắng hanh vờn
Xanh mơ một vạt mùi ngò lựng
Vàng sánh dăm hàng sắc cải mơn
Tiếc rằng Côvid đang gieo họa
Phát tán nhiễm nhanh Tết phải chờn.

                  Sáng mồng một Tân Sửu.
 
 
LỆNH KHẨN...
 
Giao thừa điểm khắc Sửu tân ngôi
Rủng rỉnh trâu vàng chễm chệ ngồi
Hạ giới lâm nguy trùng Vũ Hán
Ngọc Hoàng bối rối phái Thiên Lôi
Năm qua dịch nhiễm tai ương giáng
Niên chớm Sác -cô mới tiếp bồi
Nhà ngươi nhắc nhở cùng tam táo
Chặn diệt tức thời báo cáo Tôi!
Quảng Trị, thời khắc giao thừa điểm
 
 
MÂM CỔ CUỐI NĂM
 
Mâm cổ tất niên vừa thiết xong
Hương chong đèn rạng thỏa trong lòng
Tam tuần hiến tửu lâm râm gióng
Bát bái điểm trà lóng ngóng mong
Khấn tạ âm linh hằng đoái vọng
Nguyện cầu gia đạo đặng thong dong
Đầu xuân Cô vít lan nhanh chóng
Nên tiệc chỉ vầy thấy trống không!!!.
 
 
NỖI NIỀM XUÂN!
 
Xuân nhé! Chẳng buồn chớ trách than
Đúng là Canh Tý họa cơ ngàn
Niên khai đại dịch trên đà tán
Thu đáo thiên tai tới tấp lan
Lũ nhấn mưa quần luân bấy bận
Đất trầm đập xả quét bao lần
Miền Trung tan tác nhìn ngao ngán
Tân Sửu Tết kề những bất an!!!
 
Tân Sửu Tết kề những bất an!!!
Dịch trùng Cô vít tấn liên lần
Hải Dương tâm điểm nguồn lây tán
Lắm tỉnh thị thành thứ phát lan
Cả nước dốc lòng nào chán ngán
Khắp nơi dồn sức chẳng hề than
Khoanh vùng truy vét dăm ba bận
Quét sạch kẻo không nhiễm ngút ngàn!
 
                      Quảng Trị, 08/02/2021.
                            Văn Thiên Tùng

READ MORE - CHÙM THƠ XUÂN CỦA VĂN THIÊN TÙNG

LỘC XUÂN, TRÀ XUÂN - Thơ Tịnh Bình

 


LỘC XUÂN
 
Ghim vào nắng xuân
Tươi nhành lộc biếc
Trêu tà gió mới
Áo lụa vờn bay
 
Vút lên trời xanh
Chiếp chiu bầy sẻ
Ùa vào phố xá
Rực rỡ màu hoa
 
Hơi xuân nô nức
Hương Tết chật lòng
Ngỡ mình trẻ nhỏ
Rộn lòng ngóng trông
 
Giấc xuân thiêm thiếp
Đất trời reo ca
Ta nghe chầm chậm
Giao thừa pháo hoa...
 
 
TRÀ XUÂN
 
Xuân nở rồi xuân lại rụng
Mùa đương mơn mởn xuân thì
Tiếng chim nấp vào lá nõn
Lời xuân ngọt lịm nhu mì...
 
Khẽ vin cành xuân nắng biếc
Hít vào hoa trái thanh tân
Nhấp ngụm trà xuân ban sớm
Ung dung ngồi ngắm trong ngần...
 
                              TỊNH BÌNH
                               (Tây Ninh)

READ MORE - LỘC XUÂN, TRÀ XUÂN - Thơ Tịnh Bình

Friday, February 12, 2021

CUNG CHÚC TÂN XUÂN - Chu Vương Miện



Kính chúc quý VĂN THI SĨ CỘNG TÁC VIÊN, 

toàn thể BẠN ĐỌC 

và NHÓM QUẢN TRỊ trang VNQT

NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG

Chu Vương Miện


READ MORE - CUNG CHÚC TÂN XUÂN - Chu Vương Miện

CHÚC MỪNG NĂM MỚI TÂN SỬU

 


READ MORE - CHÚC MỪNG NĂM MỚI TÂN SỬU

Thursday, February 11, 2021

TÀN XUÂN | HÁI - Thơ Chu Vương Miện



TÀN XUÂN

 

Thơ chu vương miện

 

Nàng xuân lúc nào cũng ở tuổi 16-17 

Mà kỹ nữ  “chị em ta“ lầu xanh  

lúc nào cũng tóc điểm màu sương 

ôi chuyện trần gian khăn áo chiếu giường 

mà kẻ tóc hoa râm người tóc bạc 

đông tàn xuân về vườn cây hốc hác 

bướm với ong cũng ngại nhởn nhơ 

dăm kẻ dởm đời lảm nhảm vần thơ 

hết mai tới đào tới kép 

hết nhai cơm đen nằm nơi gác xép 

thêm thuốc lá thổi khói mù khơi 

thế thì "cuột" đời cứ đẹp như dơi 

bay với lượn tha hồ rộng rãi 

khi hết địa túi tiền cạn lại

thì thơ vdăng lúc này chán bỏ xừ 

bao nhiêu là đường? chỉ chọn đường tu 

đủ thứ đồ nhai  “chuối xôi + oản“ 

mãi còn xuân? chả có chi mà nản?


 

HÁI

 

Hết cô hái mơ đến cô hái mận 

Hết cô hái trà đến ả hái hoa 

Cô nào cũng xinh non cũng ả nhà quê 

Mà nhòm thì cô nào cũng trẻ 

Chả có ghệ nào 

Xấu xí & già 

Nếu như nhan sắc toàn là Chung Vô Diệm 

Thì thi & nhạc sĩ bỏ chạy từ đàng xa? 

O nhạc nhoẽ thơ văn gì sứt cả? 

 

Cvm


READ MORE - TÀN XUÂN | HÁI - Thơ Chu Vương Miện

ĐÂU CŨNG LÀ MÙA XUÂN - Thơ Mặc Phương Tử

 




Khai bút đầu xuân


ĐÂU CŨNG LÀ MÙA XUÂN



Khi cuộc sống vẫn còn nhiều phía trước

Dù trải bao nhiêu ngày tháng phong trần.

Với ý thức - những nụ mầm nguyện ước...

Thông điệp tình người mang cả mùa xuân!


Cây cỏ yêu nhau từ nơi cuộc sống

Trời đất yên bình, nhịp bước thanh tân.

Hơi thở đời cho con người cao rộng,

Khắp cả bốn mùa đâu cũng là xuân!


                          South Dakota, đầu xuân 2021.

                          MẶC PHUONG TỬ





READ MORE - ĐÂU CŨNG LÀ MÙA XUÂN - Thơ Mặc Phương Tử

Wednesday, February 10, 2021

PHỐ XUÂN – Thơ Hồng Thúy, nhạc Nguyễn Tuấn

 

 
MÙA PHỐ XƯA
 
Mai về em nhé phố thân xưa
Lấp lánh đường hoa nắng giao mùa
Hàng cây lá thắp xôn xao bóng
Mây sợi giăng ngang nhẹ gió đưa
 
Mai về gót thả phố xuân thương
Lộc biếc chồi xanh nõn nà hương
Lụa hoa cánh bướm tà tha thướt
Chiếc nón che nghiêng nụ cười vương
 
Em về guốc nhịp phố hạ sang
Tiếng ve rạo rực rền thênh thang
Vòm trời điểm sắc bông mây biếc
Rực rỡ đan hàng phượng chứa chan
 
Em về thăm lại phố thu phong
Se sắt heo may chớm lạnh lòng
Sương mù bàng bạc tương tư khói
Loang cả chiều hoang tím nhớ mong
 
Em về ghé đến phố tuyết đông
Lung linh thảm tuyết trắng mênh mông
Vút cao chuông đổ lời tha thiết
Ước nguyện ngày nào có nhớ không?
 
Em nhé về đây phố tình đầy....
Ngọt ngào ăm ắp mộng đắp xây
Cỏ thề vẫn dấu chân hạnh phúc
Đợi nắng hẹn hò mưa ấm tay
 
…………………….
Mai nhé hẹn em phố mùa say!…
 
                            Hồng Thúy


      

PHỐ XUÂN.
Thơ: Hồng Thúy.
Nhạc: Nguyễn Tuấn.
Giọng ca: Vọng Cố Hương.
Hòa Âm: Lâm Dung.

READ MORE - PHỐ XUÂN – Thơ Hồng Thúy, nhạc Nguyễn Tuấn

HẸN VỚI XUÂN QUÊ – Thơ Tịnh Bình




HẸN VỚI XUÂN QUÊ
 
Về thôi... Hẹn với mùa xuân
Góc trời quê cũ trong ngần sớm mai
Cánh đồng mùa khói hoen cay
Mầm xuân cựa giấc gọi ngày nắng thơm
 
Về thôi hẹn với rạ rơm
Nếp xôi bình dị bữa cơm quê nhà
Cành sương trĩu hạt la đà
Tiếng gà trưa vọng thật thà âm quê
 
Về thôi... Xuân đã cận kề
Bâng khuâng hương Tết bùa mê vào lòng
Một đàn én lượn thong dong
Gió mây rẽ lối nắng hồng trao xuân...
 
                                    TỊNH BÌNH
                                      (Tây Ninh)

READ MORE - HẸN VỚI XUÂN QUÊ – Thơ Tịnh Bình

XUÂN BUỒN – Thơ Nhật Quang


 


XUÂN BUỒN

 
Mẹ ngồi mắt lệ rưng sầu
Nhìn đàn én lượn về đâu phương nào?
Xuân nay ủ rũ mai, đào
Khắp nơi Cô-vít, lòng nào đón xuân
 
Mẹ ngồi tựa cửa bâng khuâng
Đàn gà tíu tít vàng sân nắng hồng
Mắt buồn, lòng vẫn ngóng trông
Ngày xuân đoàn tụ, ước mong con về
 
Rưng rưng lòng mẹ não nề
Ngày xuân đơn độc ủ ê…nỗi buồn
Ngoài trời giăng hạt mưa tuôn
Con nơi viễn xứ ngập hồn nhớ thương
 
Xuân nay cúc chẳng tỏa hương
Lòng người héo hắt, lệ vương đẫm sầu
Cầu mong dịch bệnh qua mau
Con về bên mẹ thắm màu xuân quê.
 
                  TP. HCM, sáng 29 Tết
                          Nhật Quang

READ MORE - XUÂN BUỒN – Thơ Nhật Quang

HOA ĐÀO NHẬT TÂN - Chu Vương Miện

 















READ MORE - HOA ĐÀO NHẬT TÂN - Chu Vương Miện

CHỢ PHIÊN CAM LỘ - Lê Văn Trạch

 


CHỢ PHIÊN CAM LỘ

Lê Văn Trạch                                                                                         

          Tháng 10 năm 1558 (Mậu Ngọ), Thái Úy Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng xuôi nam trấn nhậm vùng Thuận Hóa, đặt dinh trấn tại Ái Tử. Sau khi hoàn thành việc tổ chức hành chánh, tạo thế vững chắc về  an ninh, quân sự, nhà Chúa nghĩ ngay đến việc phát triển kinh tế.                   

         Do điều kiện địa lý đặc biệt, khí hậu khắc nghiệt, ít đồng bằng, lắm rừng núi, nông nghiệp không có thế mạnh như Đàng Ngoài, cho nên việc trao đổi hàng hóa là phương tiện quan trọng để vươn lên... Chính quyền và cư dân đã biết tận thu các nguồn hàng từ vùng cao đổ về đồng bằng, khi nội địa được phân phối nhịp nhàng thì cũng là lúc những mặt hàng giá trị được tập trung lại nhiều hơn để phục vụ xuất khẩu. Mạng lưới thu mua đường sông ra biển là dịp thương nhân ngoại quốc biết được các mặt hàng tốt, quý, hiếm xuất phát từ núi rừng... Thời điểm này, người Tây phương cũng đang tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm kỹ nghệ, đồng thời thu mua tơ sợi và hương liệu cho châu Âu. Nói tóm lại, thương nghiệp chủ yếu là ngoại thương đã trở thành yếu tố phát triến ở Đàng Trong giúp nhà Nguyễn xây dựng một cách nhanh chóng vùng đất ít nhân lực, không được thiên nhiên ưu đãi để có thể đương đầu với một vùng đất có tiềm lực gấp nhiều lần ở Đàng Ngoài.

          Lẽ dĩ nhiên, trước khi đến với các thương nhân nước ngoài, các sản phẩm từ miền núi này phải qua tay người Kinh. Nói cách khác, song song với hệ thống thương cảng sôi động, hoạt động mua bán trong nội địa giữa người Kinh và người Thượng cũng không kém phần nhộn nhịp, mà hệ thống chợ phiên chính là những trạm trung chuyển nguồn hàng từ miệt rừng xuống, từ miền biển lên.
          Có rất nhiều nguyên nhân cho sự xuất hiện của loại hình chợ khá đặc thù: Chợ Phiên, tuy nhiên, những lý do phổ biến thường được đề cập: xuất phát từ những khó khăn trong điều kiện giao thông buổi đầu, hàng hóa khan hiếm, cần có thời gian để tích lũy và vận chuyển nguồn hàng. Trong quá trình trao đổi, buôn bán, đội ngũ thương nhân thường ngầm quy định với nhau về thời điểm gặp gỡ, lịch họp chợ về sau … Đây cũng chính là khoảng thời gian cần thiết để vận chuyển và tập trung hàng đối lưu. Không xuất hiện các hiệu buôn lớn như phố thị, hình ảnh chợ phiên thường chỉ là những lều quán tạm bợ, nhóm họp ở một số vị trí thuận lợi cho cả kẻ bán lẫn người mua, mà địa điểm của trung tâm hành chính, khu vực đông dân cư, hoặc điểm giao nhau trong mạng lưới giao thông thủy, bộ luôn là những chọn lựa mang tính điển hình.
                                                

          Trong bối cảnh như thế, Chợ  Phiên Cam Lộ được hình thành: Chợ nằm cuối làng, cách sông Hiếu (Cầu Đuồi) khoảng 400 m. Nguyên xưa, chợ được nhóm ở cạnh bờ sông xóm Đông Định (Khu Bến Bàng - Tằm Tang), do bị hỏa hoạn và ngập lụt nên chợ chuyển về trước mặt Đình Làng và tồn tại đến ngày nay. Vào thập niên 30, có những thế lực cường hào trong làng muốn dời chợ lên Trào Ba (cách chợ cũ khoảng 400m về hướng Tây Nam đường 71 trước xóm Đông Định). Triều đình phải cử các quan ra phân xử, quyết định để lại vị trí cũ.

         Giang sơn thổ võ cũng linh

         Bô tư ra tỉnh: Chợ Đình như xưa

        Trong thời Pháp thuộc, đã có lần chợ phải dời lên làng Tân Tường, xã Cam Tuyền, nhưng sau đó cũng trở lại chỗ cũ.

        Lúc đầu chỉ là chợ địa phương, nhưng do ngày càng phát triển và để thuận tiện cho khách thương từ các tỉnh Bắc - Nam đến mua bán nên được quy định nhóm vào các ngày mồng ba, mồng tám, mười ba, mười tám, hăm ba, hăm tám âm lịch. Chợ nằm ngay trước đình làng với những tán cây sanh, bàng, nhãn, ngô đồng che mát, tạo nên một cảnh quan rất thông thoáng. Ba phía khác là dãy phố khang trang bán vải vóc, tạp hóa, đường 71 đi ngang phía trước chợ.

           Theo sử liệu thì từ rất sớm các chúa Nguyễn đã có một tầm nhìn chiến lược về kinh tế, thương nghiệp. Nhà Chúa đã cho mở một loạt chợ như chợ Kênh, chợ Cạn, chợ Ngô Xá, chợ Sải, chợ Sòng, chợ Cầu, chợ Huyện, chợ Phiên Cam Lộ.

          Thời kỳ này, Cửa Việt trở thành cảng biển của Đàng Trong, tàu buôn các nước Trung Quốc, Nhật, Bồ Đào Nha tấp nập ra vào biến thành một nơi đô hội lớn. Tàu nước ngoài bán các loại gươm, giáo, áo giáp, diêm sinh, đồ sắt, đồ đồng, vải v.v... và mua trầm hương, ngà voi, sừng tê giác, quế, hồ tiêu, tơ, dứa, mít, gỗ quý, chai phà, cánh kiến... Vì thế, chuyện trao đổi mua bán thu hút đông đảo người Kinh, người Thượng, người Lào trên lối mòn qua núi, trên sông Hiếu, đến chợ Phiên Cam Lộ.

          Các Chúa Nguyễn  cũng có thái độ rất cởi mở đối với việc buôn bán qua Lào. Trong  sách Phủ Biên tạp lục, Lê Quý Đôn chép: “Họ Nguyễn trước thường sai người đem cho nước Lạc Hoàn và nước Vạn Tượng các đồ dùng. Họ vui lòng đổi chác, tùy thời dâng đồ cống, thông mua bán, công tư được đầy đủ. Người buôn ở các xã thường mang muối, mắm, cá khô, đồ sắt, đồ đồng, hoa xuyến, thoi bạc và các đồ lặt vặt đến người Man (Lào) đổi lấy các hàng hóa như thóc, gạo, gà, trâu, gai, sáp, mây, dó,vải Man (thổ cẩm). Cũng có một phiên chợ Cam Lộ, (người Lào) lùa tới 300 con trâu đến bán, giá một con trâu không quá 10 quan tiền, giá một con voi chỉ hai hốt bạc và một khẩu súng nhỏ (2 hốt bạc = 50 quan tiền). Ngay cả những vùng ở Trung Lào như Trấn Minh, Qui Hợp cũng vào.”

          Phần lớn khách buôn đi bộ, gùi, cõng, gánh, hoặc lùa (đối với trâu). Người Lào cưỡi voi chở hàng vượt núi về Chợ Phiên. Một con voi chở được 30 gánh, mỗi gánh 20 bát. Nói chung, voi vừa là phương tiện đi lại, vừa là mặt hàng mà nhà Nguyễn rất cần.

          Đây cũng là nơi quy tụ hàng hóa, nhu yếu phẩm: Hàng từ Huế ra theo đường ven biển, ngược sông Hiếu lên chợ Phiên Cam Lộ thường mang theo nón bài thơ, đường phèn, đường phổi, thuốc bắc, gia vị... Hàng từ Quảng Bình vào có trứng vịt, đồ gốm, hàng đan lát.

         Nói chung, chợ Phiên Cam Lộ là một thị trường đa dạng.

         Hàng hóa miền ngược: Ngà voi, lông đuôi trĩ, trầm hương, hương nén, da trâu, sáp ong, mật ong, sừng trâu, sừng tê, nhựa thông, da hươu, nhung hươu, lông đuôi công, tộc hương, hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, mây, song, ngựa, trâu, vải hoa làm màn, bạch mộc hương, gai, da thú, cùng các thứ thổ cẩm hoa trắng, vải bông trắng, vải bông xanh, lá nón, bí xanh, nếp, thóc đen mây, song tre, mai rùa, nhung nai, gạc nai, thuốc lá, bạc, heo, gà. 
          Hàng hóa miền xuôi: mắm, muối, cá khô, nước mắm, nồi đồng, chiêng, ché, gốm, mã não, bạc, thoa, xuyến, rìu, rựa, dao, cuốc, áo quần, trang sức, chén bát, soong nồi nhôm, rượu, bật lửa, giày đen, xà phòng, dầu hỏa, nón, mũ, các loại thực phẩm, hải sản, bún bánh... Dân địa phương thì có rau quả, nông sản... Chợ Phiên được xem như ngày hội của dân trong vùng. Ngoài các nơi xa đến bằng đò xe, cư dân trong vòng bán kính 7- 10 cây số thường gánh gồng đi bộ. Dân địa phương hầu như nhà nào cũng đi, đôi lúc chỉ vào xấp lá chuối, mụt măng.

          Đặc biệt, các thương lái người Kinh đã thấy được muối là nhu cầu thiết thân của người Thượng nên họ đã chọn muối là một trong những mặt hàng chiến lược để giao thương với người miền Ngược. Thực tế, muối đã đem lại cho họ những khoản lợi nhuận bằng hiện vật hết sức khổng lồ.
          Muối ăn, đối với đa số người Thượng là hết sức quý hiếm. Họ phải đổi với giá rất đắt: một con gà trống to chỉ đổi được một chén uống nước muối, một con trâu to cũng chỉ đổi được bốn gùi muối (khoảng 40 kg). Nhà nghèo, cả năm rất ít khi được ăn muối biển.

          Trong một cách hiểu nào đó, muối là một thứ “tiền trắng” có giá trị cao của người Kinh. Giá trị ấy có được không chỉ bởi sự thiếu thốn hạt muối biển của các cộng đồng miền ngược, mà còn bởi những tộc người này có thể dễ dàng khai thác nguồn lâm thổ sản có sẵn của núi rừng.

           Cầu Đuồi 

          Có một vị trí nhỏ ít ai nhắc đến nằm trong hệ thống với chợ Phiên là chợ Bến Đuồi, sát bờ sông bên cạnh Cầu Đuồi, cách Chợ Phiên khoảng 300m được nhóm trước Chợ Phiên một ngày: Ở đây chủ yếu bán gia súc, gia cầm, vật liệu xây dựng, nông cụ, than củi... Những hàng này sau khi mua được sắp xếp gọn vào thuyền bè trong đêm, đến sáng thương nhân mới lên chợ Phiên để mua bán những mặt hàng gọn nhẹ.

          Thông qua việc trao đổi buôn bán giữa các vùng miền trong nước và quốc tế, Chợ Phiên Cam Lộ đã trở thành một trung tâm buôn bán tấp nập nhờ có ưu thế giao thông thủy bộ... trên bến dưới thuyền với nhiều cửa hiệu sầm uất. Luồng thương nghiệp mạnh mẽ này đã tạo điều kiện để hình thành “con đường hương liệu", cũng có nhà nghiên cứu nói đến "con đường hồ tiêu", "con đường muối"  khai mở cho một hành lang kinh tế năng động trên Quốc lộ 9 sau này.

           Luồng buôn bán mạnh mẽ hai miền xuôi ngược qua Chợ Phiên đã tạo nên sự giao lưu văn hóa, tiếp nhận sớm những văn minh tiến bộ từ các phố thị, đồng thời tạo nên sự đồng cảm dân sinh giữa người Việt, các dân tộc thiểu số và các bộ lạc Lào. Sự phồn thịnh của Chợ Phiên đã kéo theo những phát triển hài hòa các mặt khác, tạo cho Cam Lộ có một khuôn dáng rất đặc biệt so với các vùng quê Quảng Trị, bởi thế, trong thập niên 30, nhà thơ dân gian Lê Cặn  đã mạnh miệng bảo rằng:

          Cam Lộ là tiểu Trường An

          Thượng thành, hạ thị, thương gia, học đường

          Ngày nay, trong điều kiện kinh tế toàn cầu hóa, một số nhu yếu phẩm đã được thương nhân đưa đến tận các bản làng xa xôi, chợ Phiên lại nằm sát xa lộ Xuyên Á và xa lộ Trường Sơn, nhưng dân chúng địa phương vẫn giữ truyền thống tốt đẹp tổ tiên đã kiến tạo.

          Chợ Phiên đã thấm sâu vào máu thịt quần chúng. Với người dân làng Cam Lộ, nhắc tới chợ Phiên, ai ai cũng tự hào, lòng dâng lên nỗi bâng khuâng, xao xuyến vì đây là một di sản văn hóa huyết thống có tính đặc thù đã đi vào sử sách.

Lê Văn Trạch


 

 

                                                                                                                      

 

READ MORE - CHỢ PHIÊN CAM LỘ - Lê Văn Trạch

Tuesday, February 9, 2021

NÉT HUẾ - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Phạm Bá Nhơn - Ca sĩ: Vân Khánh

READ MORE - NÉT HUẾ - Nhạc: Mai Hoài Thu - Thơ: Phạm Bá Nhơn - Ca sĩ: Vân Khánh

LỤC BÁT CHÀO XUÂN - Thơ Nhật Quang

 


Nhật Quang

LỤC BÁT CHÀO XUÂN


Bên hiên gió nhẹ sang mùa

Ngoài kia nắng ấm khẽ lùa đông qua

Triền đê trải ngát hương hoa

Đàn trâu gặm cỏ nhẩn nha trên đồng


Én theo mây lượn chao vòng

Khói bay luẩn quẩn bếp hồng bánh chưng

Tung tăng đám trẻ cười mừng

Chợ xa mẹ gánh thơm lừng quà xuân


Cha ngồi tựa cửa trước sân

Nhìn gốc mai đã tần ngần nụ đơm

Bên vườn hoa cúc vàng thơm 

Đàn gà bươi rác đống rơm tìm mồi


Vườn xuân lộc biếc đâm chồi

Líu lo chim sáo, vang lời yến, oanh

Sẻ nâu quẹt mỏ trên cành

No mùa thóc mới - ấm lành mùa sang


Giàn xanh mướp trổ hoa vàng

Nhởn nhơ ong, bướm từng đàn rong chơi

Ngõ xuân chú Cún vẫy đuôi

Người qua, kẻ lại ngược xuôi chợ chiều


Nam thanh, nữ tú dập diù

Hẹn chờ vai sánh - lời yêu ngọt ngào

Nụ hôn e ấp…vội trao

Vòng tay xuân ấm phút giao thừa về.


                                       Nhật Quang







READ MORE - LỤC BÁT CHÀO XUÂN - Thơ Nhật Quang