Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, December 27, 2020

CHIỀU RƠI TIẾNG CHIM CÚT LẠC BẦY| BƯỚC QUA | CỎ XUÂN THÌ | NĂM THÁNG CŨ CHẤT CHỒNG NỖI NHỚ - Thơ Lê Thanh Hùng

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

Chiều rơi

tiếng chim cút lạc bầy

Ẩn mình trong thảm cỏ tơ non

Con cút lạc bầy kêu hối hả

Nắng cuối ngày, treo trên cành lá

Ngập ngời xa, khuất lấp lối mòn

                  *

Cuối trời một vạt mây lẽ loi

Không vội vã, cứ trôi hờ hững

Chỉ vạt cỏ, thản nhiên chịu đựng

Tiếng cút kêu, khắc khoải lạc loài

                   *

Trôi an bình, một buổi chiều quê

Tiếng chim cũng lặng im trong cỏ

Lặng lẽ chiều, chỉ còn ngọn gió

Lang thang theo từng bước chân về

                   *

Một chút chiều đọng lại dư ba

Trong vệt nắng loang mờ khập khễnh

Người đã đi, xa bờ khuất bến

Nỗi hoài hương trong suốt: quê nhà

                    *

Gió đong chiều sao rối lòng ta

Trong tiếng cút lạc bầy, khắc khoải

Con đường nhỏ, thẩn thờ không nói

Khoảng trắng mờ, nhơ nhẩn trượt qua ...

Lê Thanh Hùng

 

Bước qua

Có 

Một khoảng lặng dài 

Bên bờ dốc

Đứng suy tư 

Huyễn mộng 

Phía chân đồi

Đời trăm ngã 

Đường rẽ ngang rẽ dọc

Không 

Nuối tiếc gì 

Cố bước qua 

Thôi

Lê Thanh Hùng

 

 

Cỏ xuân thì

Em gấp vội 

Tiếng yêu 

Đêm 

Mắc cỡ

Chợt xoay ngang 

Như cơi nới 

Chổ nằm

Hoa trái 

Đăng đăng 

Nõn nà 

Sớ rớ

Cỏ xuân thì 

Đang

Hát khúc trăm năm

Lê Thanh Hùng


Năm tháng cũ

chất chồng nỗi nhớ


Và em

Dẫu biết mình không duyên nợ


Sao vẫn âm thầm

Trăn trở

Cõi xa xăm ...

Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Bình Thuận

thanhhungmtbb@yahoo.com.vn


READ MORE - CHIỀU RƠI TIẾNG CHIM CÚT LẠC BẦY| BƯỚC QUA | CỎ XUÂN THÌ | NĂM THÁNG CŨ CHẤT CHỒNG NỖI NHỚ - Thơ Lê Thanh Hùng

Saturday, December 26, 2020

THÁNG MƯỜI HAI – Thơ Lê Phước Sinh

 

                     Nhà thơ Lê Phước Sinh


THÁNG MƯỜI HAI
 
Năm rót cạn, cận kề ngày cuối
Nhà Vườn chen, săn đón nụ  đầu Hoa
Lành lạnh trời, man mác Khách phương xa
Người xuôi ngược xôn xao chờ vị Tết...
 
                                     Lê Phước Sinh

READ MORE - THÁNG MƯỜI HAI – Thơ Lê Phước Sinh

Thursday, December 24, 2020

CHÙM THƠ “CON ĐƯỜNG...” CỦA LÊ VĂN TRUNG

 



CON ĐƯỜNG
 
Đường xa, không phải tại đường
Xa vì tình đã dặm trường mù khơi
Từ em ướt lệ vai người
Con đường hun hút đất trời quạnh hiu
 
 
CON ĐƯỜNG DÀI NHẤT
 
Không có con đường nào dài hơn con đường ta tìm kiếm chính mình
Và cũng không có con đường nào dài hơn con đường đến với trái tim
 
Khi băng qua sa mạc đời tôi
Không một người dừng lại
Ảo ảnh về một giọt nước ở phía chân trời.
 
Khi băng qua cõi hoang vu đời tôi
Em vẫn hoài nghe phía vô cùng réo gọi
Những ước mơ hồng những khát vọng xanh
 
Và con đường ta qua cũng rất đổi mông mênh
Ta lầm lủi đi không hề định hướng
Ta lầm lủi đi về phương trời ảo mộng.
 
Cho dẫu đôi khi
Cùng trên một chuyến tàu
Mà không hề gặp mặt
Bỡi mỗi người là một toa tàu khác.
 
Đôi khi ta cùng bơi trên một dòng sông
Mà vẫn hoài lạc bến.
 
Con đường ta tìm kiếm chính mình
Con đường tìm nhau
Ngàn năm là con đường dài nhất
 
Và ta lạc mất ta
Ta lạc mất người
Ta lạc nhau từ những nỗi đau
Lạc nhau từ những hạnh phúc nhiệm mầu
Đã bất chợt chảy qua đời ta chìm nổi.
                              
 
CON ĐƯỜNG NGÀY CUỐI NĂM
 
Anh đã nuôi thật nhiều ước mơ
Khi cầm điếu thuốc trên tay
Đi dưới trời tháng chạp
Trên những con đường không có kẽm gai
Và bầu trời trong như cẩm thạch
Anh thấy lòng anh cũng rộng mênh mông
 
Là khi em đứng bên hàng dậu thấp
Ngắt cánh hoa vừa nở sáng nay
Ôi cánh hoa chỉ một lần
Nở trắng lòng em như mây trắng
Là khi anh uống cốc cà phê
Trong quán xép bên gần ga
Ngoài bến xe
Bên cửa chợ
Là khi mẹ anh cuối xuống bên luống cải vàng
Lòng bỗng nôn nao những niềm vui lạ
 
Anh đã nuôi thật nhiều ước mơ
Khi đi dưới trời tháng chạp
Qua những con đường không có kẽm gai
Thong dong như một người nhàn tản
Là khi anh qua những cây cầu
Nối tình trên xóm dưới
 
Nước vẫn xanh chùm bông súng tím vàng
Là khi anh qua những cánh đồng
Lúa vàng thơm bông cỏ dại
Có tiếng cười vui của giọt nắng trong
Trên tà áo mới
Là khi anh về chuyến tàu thứ nhất
Với tấm lòng xanh như lá cây xanh
 
                            Lê Văn Trung
                       (Quảng Ngãi 12.89)
Tạp chí Bách khoa, số 313, 314, Xuân Canh Tuất, ngày 15-1 và 12-1970
 
 
CON ĐƯỜNG VỀ CÕI VÔ BIÊN
 
1.
Chiều tôi gom chiếc lá vàng
Buồn tôi đốt lửa vừa tàn cơn mơ
Nghe trong sâu thẳm xa mù
Hình như có tiếng mùa thu vọng về
 
2.
Khói tàn theo gió lên mây
Tro tàn còn với bóng ngày đời tôi
Tôi về theo bóng chiều trôi
Chút tàn tro ấy là lời trùng lai
Không nhân ảnh, chẳng hình hài
Câu kinh vô tự đã đầy nỗi đau.
 
3.
Chiều tôi gom lá tình sầu
Chưa vàng ân ái đã nhàu câu thơ
Em từ vô lượng nguyên sơ
Còn nguyên một đóa quỳnh vừa ngát hương
 
4.
Không đành cạn chén quỳnh tương
Mà nghe máu chảy loạn cuồng chiêm bao
Bàn tay cầm lá tình sầu
Chừng nghe lửa cháy từng câu thơ buồn
 
5.
Xưa người là một dòng sông
Tôi bèo bọt giữa bềnh bồng ngược xuôi
Tóc người chưa rẽ đường ngôi
Mắt người chưa nhuộm một màu vàng thu
Tóc người rối cả cơn mơ
Đóa quỳnh hoa đã sững sờ! Quỳnh hoa!
 
6.
Rồi một hôm, giọt lệ nhòa
Câu thơ còn đọng trên tà áo xưa
Tôi về mơ tiếp cơn mơ
Người về nở một nụ hoa diệu kỳ
Lá vàng thu vẫn còn bay
Rượu trùng lai vẫn còn say tương phùng
 
7.
Hỏi người còn nhớ hay không
Lòng tôi là một dòng sông giang hồ
Chảy hoài theo những cơn mơ
Chảy từ vô thủy cuối bờ vô chung
Sá gì đâu cuộc trăm năm
Sá gì đâu cõi ngàn trùng thiên thu
 
8.
Xin đừng hỏi: Ta về đâu?
Hư vô là dặm trắng màu phù vân
Xin đừng hỏi: Có hay không!
Vô biên là bụi sương hồng mông mênh
Xin đừng hỏi: Tuổi cùng tên!
Chìm trong nỗi nhớ niềm quên xa mù
Còn nhau vạn cõi đời sau
Tay cầm giọt lệ nguyên màu tình xanh.
 
9.
Con đường dẫn đến vô biên
Là con đường của chuyện tình nhân gian
Là con đường tôi- và- em
Tình tôi là những gập ghềnh đời thơ
 
10.
Con đường dẫn đến hư vô
Là con đường của giấc mơ nhiệm mầu
Con đường dẫn đến nghìn sau
Hồn tôi là vạn nhịp cầu em qua
 
11.
Ôi con- đường- cõi- người- ta
Đi là trở lại quê nhà cố hương
 
12.
Xòe bàn tay: những con đường
Quanh co sinh tử, vô thường tử sinh
Ôi con đường của vô biên
Dẫn về vô cực tận miền hoang vu
Mai sau tìm lại đời nhau
Thấy trăng thiên cổ vẫn màu cổ kim
Đường về đâu? Cõi - Lãng - Quên
Ngàn năm tôi mãi đi tìm ngàn năm.
 
12 bis.
Đường - Về! Ôi quá xa xăm
Chốn - Về! Ôi một chỗ nằm bụi tro
Tay cầm chiếc lá vàng phai
Đã nghe sợi khói bay ngoài vô biên
 
                                  Lê Văn Trung

READ MORE - CHÙM THƠ “CON ĐƯỜNG...” CỦA LÊ VĂN TRUNG

KHÚC THÁNH CA BUỒN – Thơ Tịnh Bình

 
               Nhà thơ Tịnh Bình

 

KHÚC THÁNH CA BUỒN
 
Những con đường huyễn hoặc trắng tinh khôi
Ta dỗ mình lạc vào đông mộng mị
Ngôi nhà gỗ giấu bao điều ấm áp
Quả chuông tròn giăng mắc dưới thông xanh
 
Ta giữ riêng mình lấp lánh khúc đông ca
Thuở bên người đêm giáng sinh nồng ấm
Tay trong tay giữa phố phường buốt lạnh
Ngỡ trong tim thiên sứ đã quay về
 
Thôi dỗ mình lạc vào giấc miên du
Đông rất thật, đêm trở mình khe khẽ
Chuông giáo đường vọng âm xa lặng lẽ
Nhớ riêng ai.... Khúc hát thánh ca buồn...
 
                                         TỊNH BÌNH
                                          (Tây Ninh)

READ MORE - KHÚC THÁNH CA BUỒN – Thơ Tịnh Bình

SOI GƯƠNG UỐNG RƯỢU – Thơ Hoàng Hương Trang

 


Hồi tiền chiến lắm văn nghệ sĩ thích khoe say. (Có người không uống được rượu cũng khoe say.) Vũ Hoàng Chương “nhịp gõ hàm ca”, Nguyễn Vỹ say và lẫn lộn người với chó, Lưu Trọng Lư say với ca nhi, Tản Đà say với tri âm v,v... Nhưng hồi ấy tửu đồ toàn thị là nam tử, tôi chưa bắt gặp được người đẹp nào say sưa trong thi ca cổ điển và tiền chiến.

Sau 1954, Hoàng Hương Trang là một người đẹp, và là một người say dữ dội. Nói say dữ không phải nói ngoa, vì quả chưa thấy ai trong đám nam tử kể trên say mà hung tợn như Hoàng nữ sĩ. Nửa đêm trằn trọc, bà đào đất lấy ra hũ rượu nếp than, mang uống một mình, uống ngay trong đêm tối, không đèn không lửa, bà uống rượu say và chửi bới inh ỏi, chửi đời chửi người, rồi say vùi trượt ngã.

Hôm nay còn có ông Phạm Thiên Thư chẳng hạn. Gặp khó khăn trong tình yêu, ông rỉ rả, ông thẩn thờ, ông khe khẽ thốt ra những lời than nhẹ phới. Như thế nam phái vốn dịu dàng an phận hơn nữ phái chăng?! Ôi rắc rối

Hoàng Hương Trang có cả một tập thơ về chuyện say sưa: “Túy ca”. Khi thì “soi gương uống rượu”, khi thì “uống rượu trong mưa”, khi thì nhớ cố nhân mà uống rượu, khi thì mất ngủ mà uống rượu v..., uống đến say khướt.

Những trận say như thế nói chung là vì tình cả. Trước bà, dù tình duyên trắc trở đau khổ đến đầu người ta cũng chỉ than thở, có thể than thở rất mực não nuột như Tượng Phố, như Đông Hồ v.v..., nhưng bất khuất táo tợn thì không.

Tuy vậy muốn đem nguyên cái tâm lý thời đại, đem nét đặc điểm “hôm nay” ra mà cắt nghĩa thái độ của bà, e cũng không ổn đâu. Nhưng lao đầu làm chi vào những cái hóc búa ấy? cố gắng cắt nghĩa làm chi cho khốn khổ? Hãy lặng yên ghi nhận thêm một khía cạnh tâm hồn, lặng yên như người ta vẫn lặng yên trước một cảnh tượng thương tâm.

                                                                  10/1986
                                                                Võ Phiến
(Nguồn: 
Văn Học Miền Nam, Thơ / Nxb Văn Nghệ 1999)

*
Áng thơ kiệt tác “Soi Gương Uống Rượu” của nữ sĩ Hoàng Hương Trang, trong tập thơ “Túy Ca”. Thi phẩm này hẳn là bài mà cô Trang đắc ý nhất trong tập thơ “Túy Ca”, nên đã chọn ngâm bài thơ này khi lần đầu tham dự hội thơ Quỳnh Dao với sự góp mặt của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Bùi Khánh Đản, Đan Quế, Trùng Quang, v.v. . Vương Thanh cũng có dịch bài thơ này qua tiếng Anh trong tập thơ song ngữ “A Vietnamese Garden of Lyrics & Verse, Volume 1”.
Bài này tuy ngâm hơi nhanh, nhưng có lẽ vì cảm khái, nhưng do chính tác giả ngâm, không còn ai có tư cách ngâm hay hơn nữa.
Và sau đó thì cô Trang trong bữa tiệc này được những nhà thơ mời ngâm giùm tới tấp!
 
(Tưởng nhớ tiếng hát, giọng ngâm, và thơ của nữ sĩ Hoàng Hương Trang)
                                                          Vương Thanh

READ MORE - SOI GƯƠNG UỐNG RƯỢU – Thơ Hoàng Hương Trang

Wednesday, December 23, 2020

TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM - Đặng Xuân Xuyến

Tam tòa Thánh Mẫu- ba vị Thánh tối linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.
Hình từ Báo Bắc Giang Điện Tử - baobacgiang.com.vn


TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM

 

Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ tôn vinh và thờ phụng những vị nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ được dân gian cho là có chức năng sáng tạo, bảo trợ và chở che cho sự sống của con người (như trời, đất, sông, nước, núi rừng…); hoặc thờ phụng các vị thái hậu, hoàng hậu, công chúa là những người khi sống tài giỏi, có công với dân với nước, khi mất hiển linh phù trợ cho người an vật thịnh. Các vị nữ thần này được tôn vinh với các chức vị: Thánh Mẫu (Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Chúa xứ Thánh Mẫu, Linh Sơn Thánh Mẫu), Quốc Mẫu (Quốc Mẫu Âu Cơ), Vương Mẫu....

 

Tục thờ Mẫu ra đời trên cơ sở tục thờ nữ thần. Các Thánh Mẫu đều là nữ thần, được thờ trong đền, chùa, miếu, điện, phủ. Do ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc, tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta đã phát triển và hình thành tín ngưỡng Tam Phủ (Thiên Phủ - miền Trời có Mẫu Cửu Trùng cai quản; Sơn Phủ - miền núi rừng có Mẫu Thượng Ngàn cai quản; Thủy Phủ - miền sông nước có Mẫu Thoải cai quản), Tứ phủ gồm ba phủ trên (tức Tam phủ) và Phủ trần gian, có Mẫu Liễu Hạnh cai quản.

 

Đến thế kỷ XVI, trên cơ sở tín ngưỡng Tam Phủ, Tứ Phủ, với sự ra đời của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một tôn giáo bản địa sơ khai được hình thành, đó là đạo Mẫu (còn gọi là đạo Nội).

 

So với tín ngưỡng thờ nữ thần, thờ Mẫu, đạo Mẫu đã có bước phát triển, bước đầu hình thành một hệ thống tương đối nhất quán về điện thần với các phủ, các hàng Điện Thần của Đạo Mẫu có hàng chục vị thần linh nhưng đều quy tụ dưới sự điều chỉnh của Tam Tòa Thánh Mẫu. Trong đó có một vị thần Mẫu cao nhất, mang tư cách là một vị giáo chủ - Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được xem như là hoá thân của Mẫu Thượng Thiên. Những nghi lễ của Đạo Mẫu đã bước đầu được chuẩn hoá, trong đó nghi lễ hầu bóng là một điển hình.

 

Điện thờ Mẫu có ở khắp mọi nơi, từ đồng bằng lên miền núi và cả ở trong khu cư trú của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Ở một số nơi, ban thờ Mẫu chỉ là một ban thờ nhỏ khiêm tốn đặt tại một góc trong ngôi chùa,  hoặc một điện thờ nhỏ trong gia đình, nhưng có nơi lại tồn tại như một điện phủ nguy nga. Cho nên, người ta chỉ nhận diện trong từng kiến trúc tổng thể của điện (ban) thờ, nhất là ở sự bày bố điện (ban) thờ và nghi lễ thờ cúng, chứ không căn cứ vào chi tiết cụ thể của tín ngưỡng thờ Mẫu. Chính những nét riêng ấy đã làm nên những đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu khiến cho tín ngưỡng này là một hình thức tín ngưỡng thuần phát đặc biệt của người Việt Nam.

 

Cấu trúc nơi thờ Mẫu:

 

Trong tâm thức dân gian của cư dân nông nghiệp: Dòng sông, con suối, hồ nước... là những nơi có nước mang tính nữ (Âm). Vì vậy hầu hết các điện mẫu thường được xây dựng cạnh sông, suối, hồ, biển (cửa biển)... Và các cửa điện (ban thờ) Mẫu bao giờ cũng được đặt quay về phía nguồn nước - những nơi tụ thuỷ, tụ phúc, hàm chứa những mong ước làm ăn phát đạt. Vì vậy, nếu như không chọn được thế đất lành tự nhiên có sông, hồ ôm bọc thì bao giờ trong khuôn viên dựng điện Mẫu người ta cũng làm hồ, ao, giếng... để dựng lại một không gian cần phải có, ứng với thuật phong thuỷ của người xưa.

 

Cũng để tạo tính âm, nhiều điện mẫu ở vùng cao thường được dựng trong các hang động hoặc xây dựng theo các hòn non bộ với những ngọn đá mọc lên từ đất hoặc dầm chân trong nước.

 

Cấu trúc không gian trong điện thờ Mẫu:

 

Vị trí chư vị Thánh được sắp xếp theo 3 tầng: Tầng trên không, tầng ngành trên ban, bệ thờ và tầng trệt.

 

Ở tầng không là sự hiện diện của đôi mãng xà (còn gọi là ông Lốt), tượng trưng cho quan lớn Tuần Tranh. Một con màu trắng, một con màu sẫm quấn trên sà ngang phía trái bên trên bàn thờ.

 

Ở tầng ngang bên trên ban (bệ) thờ có khi chỉ có một bàn, có khi là một dãy bàn từ ngoài vào cao dần (tùy từng nơi), là nơi ngự của các thánh Mẫu (cũng có khi chỉ là một tượng Mẫu) và các chư vị Thánh.

 

Ở hạ ban (tầng trệt) bao giờ cũng thờ ông Năm Dinh hay Ngũ Hổ tướng quân, với biểu trưng là tượng hoặc bức tranh hổ; phía trước tượng hoặc tranh, đặt một bát hương.

 

Trước ban thờ Mẫu bao giờ cũng treo tầng lớp những đồ vàng mã, nhưng phổ biến và không thể thiếu là nón, hài, thuyền rồng, đèn lồng đủ màu, với nhiều kích cỡ khác nhau. Sở dĩ có treo những đồ vật ấy vì trong đạo thờ Mẫu, từ Thánh Mẫu tới hàng quan, hàng chầu, ông Hoàng, các Cô, các Cậu đều gồm các vị thần linh có gốc gác từ chốn rừng núi cao, nơi ven biển xa xôi, ở mọi miền của đất nước.

 

Tam Tòa Thanh Mẫu:

 

Trong các điện thờ, người ta thờ cúng rất nhiều thần linh, nhưng đều quy tụ dưới sự điều chỉnh của Tam Toà thánh Mẫu. Vì vậy, nơi điện thờ chính thường có ba pho tượng thờ, mà tín ngưỡng gọi tôn kính là Tam Tòa Thánh Mẫu.

 

- Tượng Mẫu Đệ Nhất, mặc áo đỏ, trùm khăn đỏ tức Thánh Mẫu Liễu Hạnh được đặt ở giữa.

 

- Bên trái là mẫu Đệ Nhị (mẫu Thượng Ngàn), bà chúa của Sơn Lâm, mặc áo xanh, khăn xanh.

 

- Bên phải là mẫu Đệ Tam, tức mẫu Thoải, mặc áo trắng, trùm khăn trắng.

 

Văn khấn lễ Tam Tòa Thánh Mẫu:

 

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)

 

- Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền cung cao Thượng đế.

 

- Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

 

- Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

 

- Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mấu.

 

- Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

 

- Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm tòa quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

 

Hôm nay là ngày:   tháng:   năm:  Đệ tử con là:  Ngụ tại:

 

Đến nơi Điện (Phủ, Đền) ......... chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia chung chúng con sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, đắc tài, đắc lộc, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

 

Đệ tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

 

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)

 Đặng Xuân Xuyến

baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn

(Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT,

Đặng Xuân Xuyến; Văn Hóa Thông Tin; 2006)

 




READ MORE - TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM - Đặng Xuân Xuyến

NGUYỄN HOÀNG ĐỨC QUA MẤY BÀI VIẾT TÔI ĐÃ ĐỌC - Đặng Xuân Xuyến

 


NGUYỄN HOÀNG ĐỨC 

QUA MẤY BÀI VIẾT TÔI ĐÃ ĐỌC

 

1. 

Trên blog Trang Đặng Xuân Xuyến giới thiệu 2 bài viết về "chân dung": nhà Thơ, nhà Văn, nhà Triết học "số 1 châu Á",... Nguyễn Hoàng Đức. Đó là bài "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" của nhà văn Sương Nguyệt Minh và bài "Anh hề triết học, chàng Đông Ki Sốt văn chương" của đạo diễn Đỗ Minh Tuấn. Có lẽ, trong nhìn nhận của Đỗ Minh Tuấn và Sương Nguyệt Minh thì Nguyễn Hoàng Đức chỉ là một "cậu bé" to xác nhưng rất "ngây thơ", rất "đáng yêu" và cũng rất “tội nghiệp” nên 2 nhà văn đều chọn cách viết hài hước để kẻ vẽ diện mạo, bồi đắp chân dung cho thật rõ nhân diện "nhà Triết học (tự xưng) số 1 châu Á" Nguyễn Hoàng Đức.

 

Đọc "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" thấy sự lém lỉnh pha chút khinh khỉnh của Sương Nguyệt Minh sau những nụ cười thân mến thân với "chàng" triết gia tự phong là số 1 châu Á.

 

Đọc "Anh hề triết học, chàng Đông Ki Sốt văn chương" thấy nụ cười mỉm của Đỗ Minh Tuấn trong những trang viết dí dỏm, hài hước nhưng vẫn đậm chất văn chương và tính triết luận của nhà đạo diễn tài hoa về những bi kịch cuộc đời của Paul Nguyễn Hoàng Đức căn nguyên từ ý thức tự tôn giáo hóa bản thân: Bi kịch về số phận, bi kịch về đam mê, bi kịch về nhận thức... thì ít hay nhiều, vẫn ấm cái tình người, cái chân, cái thiện của Đỗ Minh Tuấn trong bài viết.

 

Tôi có đọc Nguyễn Hoàng Đức nhưng chỉ đọc lướt ít bài vì thế không để lại chút ấn tượng nào về văn chương của ông cả. Nhưng thật oái oăm, những bài viết về Nguyễn Hoàng Đức thì tôi lại nhớ rất lâu, có lẽ vì cách viết của các tác giả, vì chân dung của ông được các tác giả tạc khéo quá, ấn tượng quá. Ví như nhà văn Sương Nguyệt Minh viết về ông cứ như vừa xoa tai búng mũi Nguyễn Hoàng Đức, vừa bông đùa trêu chọc Nguyễn Hoàng Đức nhưng nhà văn vẫn rất ngạo nghễ ý thức buông giọng ngôi trên. Đọc "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" tôi cứ tủm tỉm hình dung cảnh Sương Nguyệt Minh thi thoảng thơm trán Nguyễn Hoàng Đức âu yếm nhẹ một cái rồi thuận tay đét hai, ba cái rõ mạnh vào mông Nguyễn Hoàng Đức và chỉ chờ thế là cả Nguyễn Hoàng Đức, cả Sương Nguyệt Minh cùng ngửa cổ cười ngặt nghẽo.

 

Đọc Sương Nguyệt Minh vẽ Nguyễn Hoàng Đức mà thấy thương, thấy yêu, thấy tội tội Nguyễn Hoàng Đức. Chữ danh làm con người ta đẹp lên, sang lên, thơm lên và chữ danh cũng làm con người ta xấu đi, hèn mọn đi, nhơ bẩn đi. Nhưng với Nguyễn Hoàng Đức thì lại khác, chữ danh khiến ông ngây thơ như một đứa trẻ, đạo mạo như một quý bà...

 

Trong số những bài viết về Nguyễn Hoàng Đức tôi đã đọc, có lẽ bài viết của nhà văn Sương Nguyệt Minh là hay nhất - Hay không phải vì Sương Nguyệt Minh viết kỹ, viết sâu... về Nguyễn Hoàng Đức mà là khoảng lặng "Nguyễn Hoàng Đức: Kẻ mộng du giữa đời thường" để lại trong lòng bạn đọc là khoảng lặng day dứt về chữ TÌNH. 

 

2. 

Tôi cũng đã theo dõi Nguyễn Hoàng Đức một quãng thời gian khá dài trên facebook để hiểu thêm những gì mà đạo diễn Nguyễn Minh Tuấn và nhà văn Sương Nguyệt Minh chưa viết nhưng tôi không tìm thêm được vì hai ông quá giỏi, đã kẻ vẽ Nguyễn Hoàng Đức vừa đủ, không thừa, không thiếu những gì (cơ bản) thuộc về Nguyễn Hoàng Đức.

 

Ngoài 2 bài viết về chân dung Nguyễn Hoàng Đức đã điểm qua ở trên thì trong số các bài viết của nhà giáo Chu Mộng Long, nhà văn Nguyễn Thế Duyên.... phản bác lại bài viết: "Thơ Và Truyện Kiều Phát Sinh Trong Giới Mù Chữ Và Ít Học" của Paul Nguyễn Hoàng Đức (nhà giáo Chu Mộng Long hài hước gọi là Phao Lồ Nguyễn Hoàng Đức) thì bài viết "Lại Phải Vài Lời Trao Đổi Với Anh Nguyễn Hoàng Đức...”, của nhà văn Nguyễn Thế Duyên gây nhiều ấn tượng với tôi.

 

Với bài viết “Lại Phải Vài Lời Trao Đổi Với Anh Nguyễn Hoàng Đức...”, nhà văn Nguyễn Thế Duyên hừng hực nhảy vào cuộc bút chiến bằng tâm thế "bất chấp", lôi cả chuyện đời tư của Nguyễn Hoàng Đức: “già yếu, ốm đau, không gia đình, không có nguồn thu nhập ổn định, chỉ còn mỗi một niềm vui là lên mạng tự sướng” để ăn thua, để hả hê... với Nguyễn Hoàng Đức - Người đã được giới chữ nghĩa mặc định là “anh hề Triết học”, là “kẻ mộng du giữa đời thường.”.

 

Nửa phần trên của bài viết, có lẽ còn sung sức, vốn chữ còn nhiều, tâm trí vẫn ổn nên nhà văn Nguyễn Thế Duyên có những luận cứ hợp lý, thuyết phục khi ông dẫn luận về truyện Kiều của Nguyễn Du để phản bác “những lập luận vô cùng xằng bậy” và “bịa đặt trắng trợn” của Nguyễn Hoàng Đức “muốn lật đổ truyện Kiều, một trong những áng văn thơ đỉnh cao hiếm hoi của nền văn chương trung đại của dân tộc Việt” nhưng đến nửa phần sau bài viết thì hình như sức ông đã đuối nên loạng choạng, có chút lảm nhảm, lôi cả số like, số comment ra để làm vũ khí.... Thật tiếc, hành động này chứng tỏ tâm - tầm của ông chưa thể là "đối thủ ngang cơ” với Nguyễn Hoàng Đức. Nói kiểu “tưng tửng góp vui” thì với hành động đếm like, đếm comment làm vũ khí để hạ gục “đối thủ”, nhà văn Nguyễn Thế Duyên đã vô tình vào vai anh hề để tôn "anh hề" Nguyễn Hoàng Đức cao thêm vài bậc hoang tưởng.

 

Chắc nhà văn Nguyễn Thế Duyên cũng đã quá rõ ma mãnh trong tranh luận của Paul Nguyễn Hoàng Đức là đánh vào niềm tin của người nghe, người đọc ở những con số cụ thể, mà những con số cụ thể đó lại không có nguồn trích dẫn cụ thể, nó được "anh hề" bất chợt nghĩ ra để "anh hề" "chơi" kế sách "cả vú lấp miệng em", ví như "anh hề" nói 60% nhà thơ miền Nam là đạo thơ hay dân miền Trung thích thơ nhất vì nghèo đói. "Anh hề" cứ nói hú họa bừa như thế mà "nhồi nhét vào đầu những người lười suy nghĩ và ít chịu đọc những lập luận vô cùng xằng bậy" (Nguyễn Thế Duyên). Lạ là cũng không ít người lại hùa theo ý thức tự tôn giáo hóa bản thân của Nguyễn Hoàng Đức, rồi tán thưởng, tụng ca Nguyễn Hoàng Đức lên ngang với thánh thần, coi Nguyễn Hoàng Đức như một tượng đài bất khả xâm phạm. Tôi nghĩ, nếu nhà văn Nguyễn Thế Duyên xoáy sâu một chút về đặc trưng "chất Chí Phèo" trong "phương pháp tranh luận" của Nguyễn Hoàng Đức: Không giống Chí Phèo chỉ khi say bí tỉ, khi thiếu tỉnh táo để làm chủ nhận thức mới chửi bất cứ ai, bất cứ thứ gì Chí Phèo bất chợt nghĩ đến, còn “anh hề Triết học” - “kẻ mộng du giữa đời thường” Nguyễn Hoàng Đức chả cần thế, cứ không vừa ý là "anh hề Triết học" ỏm tỏi chửi, chửi bất kỳ ai dù vô tình chạm vào sợi dây thần kinh tự ái của “kẻ mộng du giữa đời thường” theo kiểu “chửi bất chấp” không cần lĩnh vực đấy “anh hề” có biết hay không, cũng chẳng cần chứng cứ mà “anh hề” chỉ cần lấy chửi để thắng người,.... mà “lựa chiêu ra đòn” thì bài viết “Lại Phải Vài Lời Trao Đổi Với Anh Nguyễn Hoàng Đức...” của ông rất đáng đọc.

 

-------------

 

Hà Nội, ngày 17 tháng 12-2020

 

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

 


READ MORE - NGUYỄN HOÀNG ĐỨC QUA MẤY BÀI VIẾT TÔI ĐÃ ĐỌC - Đặng Xuân Xuyến

QUẢNG TRỊ ĐÔNG VỀ - Thơ Lê Văn Tiến

 


Quảng Trị Đông Về


Ánh dương dần khuất phía chân mây
Bầy nhạn bay về chốn nào đây?
Đông đến bâng khuâng miền gió lạnh
Tìm em ta nhớ lúc sum vầy
Thuở đó em anh một mái trường
Đông qua xuân đến vẫn yêu thương
Trò chơi thuở nhỏ sao quên được
Em làm cô dâu má ửng hồng
Anh là chú rễ nghe là lạ
Hai đứa cùng mơ một mái nhà
Thế rồi chinh chiến ngập quê hương
Anh theo binh lữa chốn sa trường
Em làm cô giáo phương trời cũ
Cách biệ̣t nhưng mà vẫn nhớ thương
Quảng Trị bây giờ mưa vẫn bay
Nhớ em ta rót chén rượu say
Lại nhớ đêm nào nghe mưa đổ
Hai đứa cùng nhau một vòng tay
Quảng Trị đông về lại nhớ em
Nhớ bờ tóc xỏa ngát hương đêm
Vai gầy ánh mắt vòng eo nhỏ
Hồn ta có phải quyện vào em?
Bây giờ Quảng Trị dấu hồn thơ
Ánh đèn phố thị choán trăng mờ
Hồn ta sao vẫn còn lạnh lẽo
Nhìn phố bâng khuâng, phố hửng hờ

Lê Văn Tiến
Mùa đông 2020
 





READ MORE - QUẢNG TRỊ ĐÔNG VỀ - Thơ Lê Văn Tiến