Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, January 9, 2019

QUẺ DỊCH, CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN - Nguyên Lạc


                             Nhà thơ Nguyên Lạc


 QUẺ DỊCH, CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN
                                  (Bài 1)         
                                                           Nguyên Lạc

Cẩn báo:  Cụ Nguyễn Hiến Lê có nói:  "Muốn học điều gì thì hãy viết về điều đó". Theo tinh thần đó, chúng tôi đang học về Kinh Dịch, nên xin viết ra đây những gì mình đã học được từ người xưa, từ các bậc tiền bối... Xin hiểu cho, đây chỉ là những ghi chép vụn vặt trong quá trình học hỏi, nên chắc nó sẽ có rất nhiều thiếu sót, mong các bậc cao minh bỏ quá cho! Nếu các bạn tìm thấy có ít nhiều điều hữu ích thì tốt, còn nếu không, coi như " Mua vui cũng được một vài trống can
Ở đời muôn sự của chung
Hơn nhau ở chỗ biết dùng hay không! 
     
Dẫn nhập: Bói Dịch không phải là mê tín, nó là khoa học. Có thể gọi là khoa học huyền bí. Vì vậy,  Tiến sĩ Phân tâm học C.G. Jung  ( ông cùng với S. Freud là một trong những thủy tổ của khoa Phân Tâm Học, nghiên cứu về tiềm thức của loài người) năm 1949 đã dùng bói Dịch để biết việc quảng bá và giới thiệu Dịch (I Ching) từ tiếng Đức sang tiếng Anh có đuoc thuận lợi hay không?. Bói được rất tốt, ông tiến hành và Dịch đã trở thành kinh điển cho các học giả và các trường đại học Tây Phương học hỏi!
Có 2 lý do để tôi viết bài này:
1/ Chúng ta chỉ sợ những gì mình không hiểu. Thí dụ như sợ Ma, vì chúng ta không biết rõ Ma là gì?. Nếu  biết thì sẽ không sợ. Cũng vậy, chúng ta sợ chết, vì không biết chết ra sao, sau khi chết như thế nào?. Nếu chúng ta biết rõ thì chắc chúng ta cũng sẽ không sợ. Đó  là lý do Phật giáo khuyên chúng ta nên tìm hiểu về sự chết (Tử)!(*)
Tôi viết bài này mong độc giả tìm hiểu rõ về Bói Dịch, không sợ nó nữa, để các ông thầy Bói toán, Phong thủy (giả), vì tư lợi, không còn "hù" ta được nữa. Bói Dịch mà vì tư lợi sẽ không bao gi linh ứng
2/ Kinh Dịch là 1 trong 5 Kinh chính của triết lý Đông Phương. Các nhà trí thức (nho gia) xưa phải lào thông nó mới có thể đi thi. Điều đó chứng tỏ nó rất quan trọng. Bói Dịch rất khó hiểu đối với các người trẻ, người mới bắt đầu. Ngay cả sách được cho là kinh điển của cụ Ngô Tất Tố, phần giải thích về bói cũng rất khó hiểu. Tôi mong làm nó đơn giản, dễ hiểu hơn, giúp cho các bạn trẻ , ai muốn tìm hiểu, sẽ dễ dàng hơn, hầu mong giữ gìn những quý giá của ông cha không bị mai một!
Lại nữa, ý của Dịch cho rằng con người tự mình vẫn có thể sửa đổi được số mạng của mình một phần nào. Thế thì tại sao chúng ta không tự tìm hiểu, tự bói quẻ tìm phương thức đối ứng,  mà phải nhờ người khác làm cho mình? Có biết chắc họ thật sự là bậc Thức giả không? Ở đời, biết đâu hư biết đâu thực, biết đâu chân biết đâu giả?!  (Nguyên Lạc)
                                                                                                  
NHẬP MÔN KINH DỊCH
ĐI CƯƠNG VQUDCH

Kinh Dch

Kinh Dch là mt trong ba bkinh cnht ca Trung quc, sau Kinh Thi và Kinh Thư, nhưng
ngun gc ca nó (tc bát quái) thì có thsm hơn, vào cui đi Ân, khong 1.200 năm
trước Tây Lch.
Nó không do mt người viết, mà do nhiu người góp sc trong mt ngàn năm, tVăn
Vương nhà Chu mãi đến đu đi Tây Hán.
Điu kdnht của Dch là nó chdng trên thuyết âm dương, trên mt vch lin ____
tượng trưng cho dương, mt vch đt __   __ tượng trưng cho âm. Hai vch đó chng lên
nhau, đi ln cho nhau nhiu ln thành ra tám hình bát quái, ri tám hình bát quái này li
chng ln lên nhau thành sáu mươi bn hình mi: Lc thp tquái.
Dùng sáu mươi bn hình này, người ta din được tt ccác quan nim vvũ tr, nhân
sinh. Tnhng hin tượng trên tri dưới đt, nhng lut thiên nhiên cho ti nhng công
vic thường ngày như trnước, ra quân, trnhà, cưới hi, ăn ung, xthế...

-- Mi đu chlưỡng nghi: dương (vch lin:  ___ ) và âm (vch đt:  _  _ )
-- Bên dương, nếu ly dương chng lên dương, ri ly âm chng lên dương, chúng ta s
được hai hình tượng:
- (vch dương/ vch dương): thái dương
- (vch âm/ vch dương): thiếu dương
Bên âm cũng vy, nếu ly âm chng lên âm, ri ly dương chng lên âm, chúng ta sẽ được
hai hình tượng na:
- (vch âm/ vch âm): thái âm
- (vch dương/ vch âm): thiếu âm
Như vy được bn hình tượng, gi là ttượng.
Ttượng có tên:  Thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm
-- Sau cùng, ly dương ln lượt chng lên cbn hình trên, chúng ta sẽ được 4 hình:
Ly (Li) , Càn (Kin) , Tn , Cn.
Ri ly âm ln lượt chng lên cũng cbn hình đó, chúng ta sẽ được thêm 4 hình na:
Chn , Ðoài (Đoái) , Khm , Khôn.

                           
                Hình 1: Sự hình thành bát quái

Như vy được hết thy 8 hình gi là bát quái (tám qu). Mi qucó 3 vch (gi là 3 hào),
xut hin ln ln tdưới lên trên. Cho nên khi gi tên hào, khi đóan qu, phi đếm và xét
tdưới lên trên: Hào dưới (cũng là hào 1), ri lên hào 2, hào 3...


Bát quái                                                                       
Số của Bát quái / Hành

: Càn (hay Kiền) vi thiên là trời có đức cứng mạnh, là đàn ông.
1 Kim

: Khôn vi địa là đất, có đức nhu thuận, là đàn bà.    
8 Thổ

: Ly vi hỏa là lửa, sáng.                                                         
3 Hoả

: Khảm vi thủy là nước, hiểm trở.                                       
6 Thuỷ

: Cấn vi sơn là núi, yên tĩnh.                                                 
7 Thổ

: Đoái (hay Đoài) vi trạch là chầm (đầm), vui vẻ.               
2 Kim

: Tốn vi phong là gió, vào.                                                   
5 Mộc

: Chấn vi lôi là sấm, động.                                                    

4 Mộc

Các bn phi thuc rõ 8 hình trên, trông thy hình nào, thì phi gi được tên ca nó. Ngược
li hnghe thy nói tên qunào, thì phi vngay được hình nó.

Bn có ththeo cách này:

Trước hết chúng ta bqua quCàn và quKhôn đi, vì ai cũng cũng nhngay ri, còn li 6
qu:
- 3 qucó 1 hào âm (mt vch đt): quLy, quẻ Đòai, quTn.
- 3 qucòn li Khm, Cn, Chn đu có mt hào dương (mt vch lin).
Chúng ta chcn nhvtrí ba vch đt trong 3 qucó 1 hào âm thôi:
- QuLy là la thì vch đt gia: Như hình ming lò.
- Quẻ Đòai là chm (đm) thì vch đt trên cùng: Như chtrũng trên mt đt.
- QuTn là gió thì vch đt tt phi dưới cùng: Vch đt (âm) đó tượng trưng smm
mi, du dàng ca gió.

Nhnhư vy ri thì vẽ được ba quẻ đó, vì hai hào kia ca mi qulà vch lin (dương).
Vẽ được 3 quẻ đó ri thì vẽ được ba qutrái vi chúng vý nghĩa cũng như vcác vch:
- Khm (nước) trái vi Ly (la), thì gm mt vch lin (dương) gia còn li hai vch
kia đt
- Cn (núi) trái vi Đòai (đm): núi ni lên trên mt đt, đm trũng xung, thì gm mt
vch lin (dương) trên cùng, còn li hai vch kia đt (âm).
- Chn (sm): trái vi Tn (gió): Chn (sm) đng mnh, còn Tn (gió) thi nh thì gm
vch lin (dương) dưới cùng, còn li hai vch kia đt (âm).

Trùng quái:

Chúng ta biết lưỡng nghi chng lên nhau mt ln thành ttượng, chng lên mt ln na
là bát quái. Chcó 8 quvi 24 hào thì không thdin được nhiu hin tượng, svic...
nên li phi chng lên thêm mt ln na. Ln này không ly 1 vch âm haydương như ln
thnhì, mà ly trn mt quchng lên tt c8 qu. Chng hn, ly quCàn chng lên Càn
và 7 qukia, ly quLy chng lên Ly và c7 qukia. Như vy mi quthành ra 8 qumi,
tám quthành 64 qumi. Mi qumi gm 6 hào, cng là 64 x 6: 384 hào, tm đủ để
din được khá nhiu hin tượng, svic ri.
Sáu mươi bn qumi này gi là trùng quái (qutrùng) đphân bit vi tám qunguyên
thy gi là đơn quái (quẻ đơn).

Chu Dch (Dch nhà Chu) hòan tòan xây dng trên quan nim âm dương. Sáu mươi bn
quchdo hai vch âm và dương (đt và lin) chng lên nhau, thay đi cho nhau
mà thành.

Nghĩa hai chữ dương và âm

Theo mt snhà ngnguyên hc Trung Hoa thì mi đu hai chdương, âm có hình thc
như sau:
Chdương () gm hai phn: bên trái là sườn núi hoc bc tường; bên phi, trên có mt
tri lên khi chân tri, dưới là nhng tia sáng mt tri chiếu xung.
Do đó, dương trphía có ánh sáng, phía sáng.
Châm () gm hai phn: bên trái cũng là sườn núi, bên phi, trên có nóc nhà, dưới có
đám mây.Do đó, âm trphía mt tri bche khut,không có ánh nng, phía ti.
Phía có ánh nng thì m áp, cây ci tươi tt, phía không có ánh nng thì lnh lo, cây ci
không phát trin. Do đó âm dương tcái nghĩa ti/ sáng chuyn qua nghĩa lnh/ nóng,
đêm/ ngày, mùa đông/ mùa hè, mt trăng/ mt tri, chết/ sng, yếu/mnh, ging cái/
ging đc, suy/thnh, xu/tt, hư/thc, tiu nhân/ quân t, đóng/ m, đc/ trong...
Trong âm có dương, trong dương có âm. Âm thnh thì dương suy, dương thnh thì âm suy.
Kinh Dch tượng trưng âm dương bng hai vch: Vch lin (dương):  ___  và vch đt
(âm):  _  _ . Lin thì gi là thc (đc), đt gi là hư (rng).

Thái cc
Tkhi có quan nim Thái cc, người Trung Hoa tượng trưng âm dương bng hình đen
và hình trng, vì mi đu, âm có nghĩa là phía không có ánh mt tri, trong bóng ti,
dương có nghĩa là phía có ánh mt tri, sáng sa.


                            Hình 2: Thái cc

Chúng ta nhn thy vòng tròn Thái cc gm hai hình âm dương đó, và hai hình này tuy cách
bit hn nhau, đi lp nhau, mà li ôm ly nhau, xon ly nhau.
Li thêm chhình đen phng ra có mt đim trng, chhình trng phng ra có mt đim
đen; chhình đen phng ra là chhình trng thót li, ngược li chhình trng phng ra là
chhình đen thót li. Như vy đdin cái ý :" âm thnh ln thì dương suy ln, ngược li
dương thnh ln thì âm cũng suy ln. Khi âm cc thnh đã có mt
mm dương (đim trng) xut hin ri, khi dương cc thnh đã có mt mm đen (đim
đen) xut hin ri".
Vy chng nhng âm dương xon ly nhau mà trong âm còn có dương, trong dương
còn có âm na!

Thành ri hy

Lut trong dương có âm, trong âm có dương có nghĩa là hin tượng nào cũng cha sn
mm thy ca nó. Trong sthnh có mm ca ssuy, trong strcó mm ca slon,
trong ssng có mm ca schết. Cho nên có người bo mt đa trsinh ra là bt đu
tiến ti schết, mà chết là bt đu sng li mt cuc sng khác, là tái sinh dưới hình thc
này hay hình thc khác. Không thcó dương mà không có âm, có sng mà không có chết,
có thnh mà không có suy, có trmà không có lon. Phi có đchai thì mi thành mt
hin tượng được, mi thành vũ trụ được, cũng như bt kvt nào cũng có mt phi và mt
trái, xã hi nào cũng có thin và ác.
Mi sbiến trong vũ trchlà mt tiến trình thành ri hy, hy ri thành.
Sthành ca dương là shy ca âm và ngược li, sthành ca âm là shy ca dương.
Tóm li âm dương tuy tính cht tương phn nhưng cũng tương ng, tương cu (tìm nhau),
tương giao (gp nhau) có tương giao mi tương thôi (xô đy nhau), tương ma (cxát
nhau), tương th(thay thế, btúc nhau) đtương thành (giúp nhau thoàn thành: có
cái này thì mi có cái kia, có cái này thì cái kia mi làm tròn được nhim vca nó trong vũ
tr).
Quan trng nht là stương giao: ging đc ging cái, ctri đt na (vì tri đt cũng ch
là âm dương) có giao cm vi nhau ri mi có vn vt, vn vt mi sinh nbiến hóa được.
- Âm dương đu đng: Mun giao nhau thì cdương ln âm đu phi đng.
- Ri biến hóa: Âm dương có đng thì mi giao nhau, mi biến mà sinh sinh hóa hóa

Chdch ở đây là biến dch, tc đo biến hóa trongvũ tr. Mi sbiến hóa đu tCàn
Khôn mà ra; không còn Càn Khôn tc âm dương thì không còn sbiến hóa.
Mà nếu không có sbiến hóa, nghĩa là nếu âm dương không tác đng ln nhau, không gp
nhau, thì “cô dương” không thsinh, “đc âm” không ththành; trong trường hp đó âm
dương sbtiêu dit.
Tóm li, Dch cho rng có smng, nhưng con người vn có thsa đi smng được
phn nào!

(còn tiếp)
                                                              Nguyên Lc                                                                         
....................
Tham Kho: Nguyn Hiến Lê, Ngô Tt T, Wu Wei, Richard Wilhelm,
Kiu Xuân Dũng, Đông A Sáng, Internet, Facebook...

READ MORE - QUẺ DỊCH, CÁCH LẬP VÀ GIẢI ĐOÁN - Nguyên Lạc

ĐÔNG ĐAM B'RI - Thơ Hoàng Yên Linh

Tác giả Hoàng Yên Linh
Đông Đam B'ri
                    Hoàng Yên Linh

Chiều giăng mây về ngang lưng núi
Thoáng dáng em gùi hoa cuối Buôn
Lá rơi nhè nhẹ bên bờ suối
Mùa Đông đã thấm lạnh lưng đồi.

Hình như giá rét mùa đông cũ
Còn lá vàng rơi bên khóm cây
Bước chân hiu quạnh nàng sơn nữ
Cũng cô liêu trong giấc mơ dài.

Mùa Đông sao cứ dài giá buốt
Ta đếm thời gian cũng chạnh lòng
Lưng đồi ai nhóm vàng ánh lửa
Xin thắp trong ta một chút hồng.



Hoàng Yên Linh


hoangmylinh@live.com
READ MORE - ĐÔNG ĐAM B'RI - Thơ Hoàng Yên Linh

Tuesday, January 8, 2019

KINH KỆ GIỮA LÒNG TÔI - Thơ Mặc Phương Tử






KINH KỆ
GIỮA LÒNG TÔI

Lâu lắm,
Không làm bài thơ cúng Phật
Những câu chú,
Vẫn còn nằm yên trong trang kinh cũ
Chỉ nghe hạt bụi thời gian lần theo hương cỏ bên trời.
Sỏi đá tâm tình ở mãi tấm lòng tôi.

Chúng ta,
Là những người hiện thân vào thế kỷ
Đã khoác lên chiếc áo đời rất thật
Màu lá đương xanh mang đầy nghĩa Phật
Mỗi ý niệm an lành, lòng Phật vẫn mênh mông.

Từng bước đi xa
Gọi nhau về bổn xứ
Nghe chim hót vang những lời tình tự
Mỗi ngày mặt trời lên cho thơm trái tim đời
Câu kinh-kệ đã viết vào những trang vui
Trang sách mới cho hồng thêm câu chữ. 


Những vì sao
Vẫn thức trắng giữa đêm đen
Những hạt sương
Vẫn sáng hồn trên chiếc lá
Đường ta đi bốn phương về mới lạ
Thức trắng đời thơ cho ý thức chong đèn.

Ta gặp nhau trên đường đời muôn ngã
Và chia nhau theo mỗi ngã vào đời
Như con Ong đi tìm hương mật
Con Kiến tha mồi chia mảnh thời gian.

Ta mang từng ý niệm
Cho cây đời thêm sức sống
Cho trăm nụ chồi Xuân thêm biếc lộc
Để lối về hoa cỏ sắc thêm tươi,
Câu kinh-kệ
Khi đã viết giữa lòng tôi.


                                      MẶC PHƯƠNG TỬ

READ MORE - KINH KỆ GIỮA LÒNG TÔI - Thơ Mặc Phương Tử

CÒN ĐÂY MỘT CHÚT TÂM TƯ - Thơ Tịnh Đàm


                    Nhà thơ Tịnh Đàm


CÒN ĐÂY MỘT CHÚT TÂM TƯ

Một mặt trời
Đã ngủ trong tôi
Những rạo rực
Chìm vào cõi lặng !

Tôi bây giờ
Hồn như chút nắng
Xót bên đời
Vàng vọt, hạnh hao !
Đường mộng nào
Trả lại trả sao ?
Chốn đi về
Bước chân xa vắng !

Em ngày xưa
Tình trầm vẫn nặng
Mắt môi còn
Dan díu đời nhau .
Phút biệt ly
Đâu hẹn mai sau
Cầm giọt lệ
Nẻo tìm... mây trắng !

Này tôi ơi...
Tuổi còn mấy chặng ?
Soi gương thầm
Đếm những tàn phai !

Gối sầu vương,
Vọng tưởng tình hoài
Đêm nguyệt tận
Cạn ly rượu đắng !

TỊNH ĐÀM
(Hóc Môn, TP. HCM)

READ MORE - CÒN ĐÂY MỘT CHÚT TÂM TƯ - Thơ Tịnh Đàm

NỖI NHỚ MỘT CHIỀU - Thơ Trương Thị Thanh Tâm



               Trương Thị Thanh Tâm



NỖI NHỚ MỘT CHIỀU

Đã từng có một bờ vai
Cho tôi nương dựa những ngày cô đơn
Những đêm trắng gối mỏi mòn
Ly cà phê đắng nửa đêm còn ngồi

Nhớ ai khoắc khoải từng ngày
Đêm đông nghe lạnh vai gầy, trắng canh
Ngọt ngào chưa ấm cuộc tình
Đã xa dịu vợi, giận mình bấy lâu

Người ơi, nỗi nhớ còn đâu!
Giận hờn là tánh, nên sầu biết bao
Cũng đừng gia trưởng lòng đau
Trái tim se thắt, ngọt ngào vơi đi

Hờn nhau mỗi lúc tối trời
Giận chi để thấy đêm dài cô đơn
Bây giờ xa hẳn con tim
Trái tình lẩn khuất đã chìm chiêm bao

Đêm ngày thương nhớ gầy hao
Bờ vai, nỗi nhớ còn đâu một chiều!

                 Trương Thị Thanh Tâm
                             (Mytho)

READ MORE - NỖI NHỚ MỘT CHIỀU - Thơ Trương Thị Thanh Tâm

ĐIỆU VALSE BUỒN,Thơ: Hồng Thúy- Nhạc: Phạm Mạnh Cương -Biểu diễn: Ngọc Mỹ



ĐIỆU VALSE BUỒN

Thềm xưa mầu trăng úa
Nghiêng soi một nhánh sầu
Những hạt trăng vụn vỡ
Rơi giữa dòng đêm sâu

Mùa thu chưa thay áo
Sao Đông buốt giá đầy
Những hàng cây sương tuyết
Lạnh… buồn cả trời mây

Âm thầm ta nhớ hoài
Từ độ trăng tóc thề
Hẹn hò xanh mộng ước
Môi quỳnh ngát hương mê

Vườn xa… chân vắng lặng
Còn ai... khua lối về
Mùa qua đi rất vội
Dặm ngàn muôn tái tê

Gửi em bài tình ca
Phượng hồng vẫn mơ say
Lời nào… mềm trang giấy
Lời yêu… đến muôn đời

Đàn thương nhớ không nguôi
Điệu luân vũ chơi vơi
Đưa ta từng kỷ niêm
Mộng mị về bên người …



                   Hồng Thúy





Thơ: Hồng Thúy
Nhạc:Phạm Mạnh Cương
Ca sĩ:Ngọc Mỹ
Hòa âm:Đỗ Hải
PPS: Hùng Đặng
READ MORE - ĐIỆU VALSE BUỒN,Thơ: Hồng Thúy- Nhạc: Phạm Mạnh Cương -Biểu diễn: Ngọc Mỹ

HẸN HÒ MÙA XUÂN, Thơ: Hồng Thúy, Nhạc: Nguyễn Tuấn, Trình bày: Tâm Thư

READ MORE - HẸN HÒ MÙA XUÂN, Thơ: Hồng Thúy, Nhạc: Nguyễn Tuấn, Trình bày: Tâm Thư

CHUYỆN VỀ THẦY XEM TƯỚNG BÙI CAO THẾ - Đặng Xuân Xuyến


     


CHUYỆN VỀ THẦY XEM TƯỚNG BÙI CAO THẾ

Anh, nhà thơ, nhà tướng thuật, nhà phong thủy học... Ái Nhân BÙI CAO THẾ là đồng hương xã với tôi. Cha anh là người thôn Gia Cốc (làng Cốc), mẹ anh là người thôn Đỗ Thượng (làng Đọ), chị cùng mẹ khác cha với anh là người thôn Đỗ Hạ (làng Đá), thôn tôi. Anh hơn tôi cũng kha khá tuổi nên thủa nhỏ, tôi chỉ biết anh qua lời khen của làng xóm: hiền lành, chăm chỉ và học giỏi.
Lớn lên, tôi đi lính, học Đại học, rồi lập nghiệp ở Hà Nội, về quê chỉ chớp nhoáng. Anh cũng thoát ly, xa quê từ rất sớm. Thế nên, tôi chỉ bập bõm biết về anh. Nghe làng xã kể thì đời anh cũng nhiều lao đao, lận đận. Tốt nghiệp Học Viện Chính trị Bắc Ninh năm 1987, anh vào làm giảng viên một trường Đại học Quân sự trong Nha Trang thì cuối năm đó anh bị tai nạn giao thông, rồi một năm sau (1988) anh bị thần kinh, phát điên. Người ta đồn, không phải anh điên vì tình mà có lẽ vì học nhiều, đọc nhiều nên bị ngộ chữ. Nghe kể, lúc điên, anh cứ trần như nhộng, chạy lăng quăng khắp nơi, nghêu ngao mấy câu “cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao” rồi ré lên cười, rồi nức nở khóc. Có lúc, anh vỗ ngực, nhận mình là “thần tiên giáng thế”, là “Ngọc Nữ cô nương” đầu thai xuống nhân gian để cứu độ chúng sinh, rồi múa may quay cuồng, rồi trèo vắt vẻo lên ngọn cây, ngồi líu lo những lời ca chỉ mình anh “hiểu”. Mẹ anh, cạn khô nước mắt vì xót con. Chị anh, rộc người, héo rũ vì thương thằng em hóa dại. Anh cứ điên điên khùng khùng, cứ chợt ré lên khanh khách cười, rồi lại thổn thức từng chặp, từng chặp, cứ thế, gần mười năm dở điên dở dại. Hết dặt dẹo Hưng Yên, lại dật dờ ra Quảng Ninh, rồi lang bạt lên tận Lào Cai, Yên Bái để anh tự cười, tự khóc với bóng của chính mình. Rồi anh gặp chị, vợ anh bây giờ, khi những cơn điên mà dân gian xót xa gọi là “Trời đày” chợt lắng xuống. Bìu díu, đưa nhau về ngõ 399 Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội cùng góp sức nhóm bếp dựng nhà. Anh hết điên từ đấy và tự dưng biết xem bói, rồi nổi danh là thầy phong thủy, là tướng thuật gia, là thầy cúng trừ tà, bốc bát nhang mát tay, nhiều phép thuật... Anh làm thơ, nghe kể, từ trước lúc anh bị điên. Giờ tỉnh, không bị điên, anh vẫn làm thơ, nhưng hăng hơn, say hơn, say lắm, còn tự phong cho mình là Vua Mộng của Cõi Trời, trót say rượu đánh rơi chén ngọc nên đáp xuống Cõi Người đi tìm chén ngọc mà phiêu bồng cùng thơ phú. Anh đã ra 8 tập thơ và dõng dạc tuyên bố, sẽ ra 10 tập thơ hoặc hơn nữa, hơn nữa... Tiền thì có lúc anh đủ tiêu, có lúc thiếu khi mua đồ nhưng thơ thì anh nhiều lắm, dồi dào như mạch ngầm tuôn chảy... Mến anh, người quê tôi gọi anh bằng cái tên “Thế điên” trìu mến. Cư dân trên facebook quý anh, rúc rích gọi anh là “Vua Mộng” như lúc hứng lên anh tự ban tự nhận. Bạn bè thì tếu táo bông đùa kêu anh là “Thế hâm”, “Thế dở”. Còn tôi, vẫn quen gọi anh là “Anh Thế”, như ngày còn bé tẹo, ở quê.

        
                                                Nhà thơ Ái Nhân

Tiếng là đồng hương xã, cùng ở Hà Nội, cách nhau chừng 45 phút đi xe máy nhưng bao năm nay, phải quyết tâm lắm tôi mới đến thăm anh được 2 lần:
Lần thứ nhất: sau nhiều lần hò hẹn, sáng 12 tháng 08 năm 2014, tôi mới sang thăm anh.
Lần ấy, khi đến, anh đang xem bói cho mấy khách ở Thanh Hóa. Nghe anh tư vấn cho khách: - “Hạn năm 49 tuổi là hạn về sức khỏe, về tính mạng nên em phải thật cẩn trọng mấy vấn đề đó nhưng nếu vợ chồng em khởi công làm nhà hoặc sửa nhà năm 49 tuổi này thì không ngại, lại rất tốt.”. Tôi thầm nghĩ, năm 49 tuổi, Hạn có sao Thái Tuế chủ về quan sự, khẩu thiệt, hao tốn tiền bạc, ốm đau, tang chế… nên dân gian mới tránh làm nhà, sửa nhà vì lo lắng do vất vả mà suy kiệt sức khỏe dẫn đến đổ bệnh, nguy hại đến tính mạng. Và trong quá trình thi công sẽ có nhiều rủi ro, bất trắc nên người ta nghĩ cần đề phòng ốm đau bệnh tật, nguy hại đến tính mạng vẫn là hơn, vì thế mới kiêng. Nhưng nếu nhà có điều kiện kinh tế, không phải lo lắng chuyện tiền bạc, thợ thuyền, không phải trực tiếp trông coi, đốc thúc việc thi công thì có thể “mượn tuổi 49” làm nhà, cho “hao tốn tiền bạc”, để “của đi thay người” mà tránh họa. Đấy là cách chọn lựa đáp án của số phận đã được thiên định để thuận theo số, không nhất thiết phải làm thầy mới biết. Nghĩ vậy, nên tôi không đề cao vị trí làm “thầy” của anh lắm.

Ngồi chừng hai mươi phút, khách về, anh tiếp chuyện tôi. Có lẽ do bệnh nghề nghiệp, hoặc biết tôi không thích đàm đạo chuyện thơ văn nên anh nhìn tôi, phán: - “Cung Nô của chú xấu lắm. Là người sống tình cảm nên chú hết lòng với bạn bè chiến hữu nhưng lại hay bị bạn bè phản bội, chơi đểu lắm. Đểu ở chỗ là toàn những thằng mà chú hết lòng vì nó, coi nó như ruột thịt, thậm chí cưu mang còn hơn ruột thịt...”. Năm này, năm nọ... chuyện nọ, chuyện kia.... Anh nói cứ như là tôi đã kể cho anh nghe. Tôi ngớ người vì anh đoán quá chuẩn, nhưng rồi tôi nghĩ, người cùng xã, nghe chuyện từ người làng xã nên anh biết, nói đúng cũng phải thôi. Rót rượu, rồi giục tôi nâng chén, anh thủng thẳng: - “Cưới vợ đi chú. Gà trống nuôi con cực lắm.”. Tôi cười, thoáng chút ngạc nhiên: - “Bác làm thầy xem tướng, biết cung Thê của em nát bét như thế mà lại khuyên em cưới vợ nữa? Người không biết về tướng thuật khuyên em đã đành, bác là người sành tướng thuật sao lại khuyên em như thế?.”. Anh tủm tỉm: - “Ừ. Biết là cung Thê của chú xấu lắm, xấu tai xấu hại, xấu hơn cả cung Nô nhưng chú làm sao cải số được. Tuổi còn trẻ, sự nghiệp đang phát triển, còn rất nhiều những tham-sân-si với đời, chú ạ.”. Tôi trầm ngâm: - “Em đã giải tán Công ty từ đầu năm ngoái, chỉ giữ lại Nhà sách Bảo Thắng, chắc vài năm nữa sẽ giải nghệ xong.”. Anh nhếch miệng: “Chú chỉ giỏi xạo. Nghe mọi người nói Công ty của chú cũng lớn lắm, có thị phần toàn quốc mà nói giải tán công ty như kiểu buôn thúng bán mẹt... Chú nói chuyện cũng hài nhỉ...”. Tôi khẽ cười, lặng im, không trả lời. Chừng mười phút, khi đã nhìn kỹ mặt tôi, anh gật gù: - “Như thế là chú chọn lựa hoàn cảnh để thuận theo Số Mệnh chứ không phải chú cải số, không phải chú cãi Mệnh. Chú chọn tự hành xác, tự cầm tù bản thân để không tù mà như tù, không tu mà như tu, vẫn thuận theo số mà tránh được những rắc rối với pháp luật ở hậu vận, hạn chế những đổ vỡ thêm về tinh thần. Tất cả vì cậu ấm. Chấp nhận những thua thiệt của bản thân để con cái được yên ổn nhất, an toàn nhất. Ừ. Cách đó cũng được nhưng phải thật kiên trì và chịu khổ nhiều lắm. Cung Di, cung Nô như thế, chú phải quyết tâm nhiều lắm mới làm được. Khó lắm chú ạ. Sợ chú không làm được, rồi thêm khổ. Luật Trời, khó lái lắm, dù là lái theo số Mệnh. Sơ sẩy một chút, là rách việc lắm, nhục lắm....”. Đến đây, thì tôi thực tin anh là người am hiểu về tướng thuật, làm thầy “giúp thiên hạ” cũng phải.

Tiễn tôi lên đầu ngõ, thấy tôi có vẻ còn băn khoăn, anh hỏi: - “Chắc chú lấn cấn về thế đất nhà anh?.”. Tôi thật lòng: - “Em thấy khí âm vẫn nhiều lắm dù anh đã thiết kế phòng ốc, bài trí cây cảnh để khắc phục.”. Anh chậm rãi: -“Lúc mua đất, làm gì có tiền mà anh được quyền lựa chọn. Thế đất xấu nhưng tiền không có, đành nhắm mắt mua để giải quyết chỗ ăn chỗ ở. May là chỗ quen biết nên người ta chịu bán nợ cho đấy. Biết khắc phục bằng thiết kế phòng ốc, bài trí cây cảnh cũng không thể giải quyết triệt để được thế đất “ao tù” này, nên anh khắc phục thêm bằng 2 chữ Thiện Tâm, hy vọng “ao tù” sẽ thành “huyệt tụ”. Ơn trời. Về đây hơn mười năm, anh đã trả hết nợ mua đất, xây được ngôi nhà mấy tầng, tuy còn nhiều khó khăn nhưng anh cũng đã lo cho chị và 2 cháu có cuộc sống tạm ổn”. Về nhà, tôi ngẫm nghĩ mãi những điều anh nói. Trang Đặng Xuân Xuyến cũng đã đăng mấy bài anh chấp bút về phong thủy nhưng các bài viết (của nhiều tác giả, không riêng tác giả Ái Nhân - Bùi Cao Thế) thường nặng tính lý thuyết, “phô trương học thuật” để đề cao cái “tôi” của tác giả, nên nếu không được “mục sở thị” thực tiễn ứng dụng lý thuyết phong thủy vào cuộc sống thì khó đánh giá được “tay nghề” của tác giả. Tôi yêu thích văn hóa tín ngưỡng nên tự thu lượm kiến thức từ sách vở, từ học hỏi, anh làm thầy, là người kiếm tiền của thiên hạ từ những kiến thức phong thủy ứng dụng vào cuộc sống thì đương nhiên kiên thức về phong thủy anh hơn tôi hẳn “cái đầu”, nhưng những gì tôi kiểm chứng ở lần gặp này, dù chưa nhiều nhưng quả thật anh là người thực tài về xem tướng, còn phong thủy vẫn lợn gợn vài ba dấu hỏi.
Lần thứ hai tôi sang thăm anh là ngày 14 tháng 07 năm 2017, cũng để tặng anh tập thơ Cưỡng Xuân vừa ra.
Ngồi chưa ấm chỗ, anh đã “soi” tôi, rồi túc tắc: -“Cung Tài của chú đang vượng, sáng lắm, dạo này được khen nhiều cũng phải. Nhưng vượng chỉ được một thời gian ngắn nữa sẽ bị ám khí lấn vào, cẩn thận kẻo bị kẻ tiểu nhân phá bĩnh. Cung Tài của chú lạ lắm, sáng mà lại hãm, luôn bị tiểu nhân chọc phá. Phần do chú thẳng quá, thật quá, sống không khôn khéo. Phần do thiên hạ hiểu sai, suy diễn không đúng nên ghen ghét. Mà nếu có gọi cung Tài của chú là cung Chiêu Thị Phi cũng chẳng ngoa...”. Tôi không hoài nghi lời anh “phán” dù không tự xem tướng (mặt) được vì bị bệnh mù màu (không xem được họa - phúc qua ám tướng), nhưng tôi “linh cảm” được điều đó từ những chiêm nghiệm của bản thân. Rồi anh “khoe” chuẩn bị ra tập thơ thứ 8, tôi thật lòng: - “Sao anh không gộp làm 1, 2 hoặc 3 tập thật đầy đặn làm kỷ niệm, chứ thơ ai mua mà in lắm thế, tốn tiền.”. Anh bần thần, nhát gừng: - “Cũng là trời đày cả thôi. Vì đam mê mà chú. Cũng như chú, cũng in hàng bao nhiêu đầu sách đấy thôi.”. Tôi cười, nửa đùa nửa thật: - “Thơ thẩn vừa vừa thôi anh, suốt ngày lướt mây lướt gió như thế, rồi khổ chị, khổ các cháu.”. Anh nhìn xa xăm, uể oải: - “Với lại, phải ra nhiều tập thơ, phải tạo được “hiệu ứng” thì mới được xét kết nạp vào Hội Nhà Văn. Hôm nọ, có người nói với anh là họ phải mất hàng trăm triệu mới được xét kết nạp vào Hội đấy.”. Tôi tròn mắt nhìn anh, không ghìm được chua xót: - “Sao phải khổ thế anh? Người ta cố chen vào Hội để hưởng quyền lợi, bổng lộc của chế độ chứ anh vào chỉ để giải quyết chuyện “con gà”, chuyện “một miếng giữa đàng” thì vào làm gì.”. Nhấp chén rượu, vẻ không ưng, anh chuyển đề tài về xem tướng, luận số nhưng chắc vẫn còn nhiều lợn cợn về chuyện thơ văn nên chưa được mươi phút, anh đã quay lại đề tài cũ: - “Chú làm thơ, viết văn chỉ để giải khuây khác với anh viết thơ, làm văn vì đam mê nên không thể áp đặt quan niệm về Hội của chú vào anh được. Chú có thể dị ứng với từ Hội này, Hội kia, người này, người nọ, nhưng cũng không nên áp đặt với anh, với mọi người như thế. Với lại, chú mới làm thơ có mấy năm nay, chứ anh làm thơ từ thời chú còn cởi truồng...”. Định phân trần với anh vài câu để anh không hiểu lầm, không giận thì 3,4 khách xem của anh vào, nhìn tôi, anh nhẹ nhàng: -“Anh bận rồi, chú lên tầng hoặc kiếm chỗ khác ngồi chơi nhé.”.
Tôi chào anh về. Ra đầu ngõ, gặp mấy thanh niên quãng mười tám đôi mươi, tưởng tôi là khách đến xem, dừng xe hỏi: -“Chú ơi, thầy Thế xem có chuẩn không ạ?”. Tôi thật thà: -“Chú không phải là khách xem bói nhưng chú thấy nhà thầy Thế có nhiều khách đến xem lắm.”.
Về nhà rồi mà tôi mãi vẩn vơ: Sao anh không tranh thủ lúc còn trẻ, lúc đương được Trời cho nhiều lộc lá mà chuyên tâm vào việc “ăn mày lộc Thánh” để tạo tích lũy, phòng lúc ốm đau bệnh tật, ham mấy chuyện thơ phú hão làm gì? Vài năm nữa, khi tuổi cao, sức yếu, lộc Trời cho đến lúc phải cạn, phải kiệt mà nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như bước dồn vó ngựa thì sao? Nhưng rồi, tôi nghĩ: Đời mà! Mấy ai dễ vất bỏ được những Tham - Sân - Si ngồn ngộn trước mắt ra ngoài vòng danh lợi để an nhiên tự tại với cuộc sống thanh bần? Dù anh có là thầy tướng số đang được nhiều lộc lá Trời cho, thì dao sắc vẫn không gọt được chuôi, anh vẫn chỉ là một trong những con thiêu thân đang luẩn quẩn chạy vòng quanh bánh quay định sẵn của số phận.
Anh, tôi và bao người khác, chỉ là những con thiêu thân nhốn nháo chạy vòng quanh chiếc đèn cù số phận. Biết đấy nhưng giãy không ra. Muốn thoát nhưng càng vẫy vùng thì sợi dây“nghiệp chướng” càng thêm xiết chặt. Không biết thì sao cũng được nhưng biết rồi thì thôi đành lựa cách để thuận số mà sống. Bất chợt, tôi nhớ tới câu đám trai làng thường tếu táo: “Vui nhưng đừng vui quá!”. Vâng! Có lẽ nên vậy chăng với số phận của mình ?!?                             

Hà Nội, 28 tháng 01 năm 2018

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - CHUYỆN VỀ THẦY XEM TƯỚNG BÙI CAO THẾ - Đặng Xuân Xuyến

Sunday, January 6, 2019

XUÂN MUỘN !, XIN MỘT LẦN ! - Thơ Phạm Ngọc Thoa






XUÂN MUỘN !

Làm sao kéo ngược bóng chiều lên,
Gió biển mù xa sóng dập dềnh.
Em thấy thoáng buồn trong mắt ấy,
Như là gờn gợn thiếu hình em.

Anh biết không anh mãi chỉ là,
Bện tình thi khách ở phương xa.
Từng đêm rong lạc trong niềm mộng,
Sợi nhớ giăng giăng nhớ chỉ là.

Rồi không anh chiều xuân bất chợt,
Gió đa tình vén nhẹ màn đêm.
Rất bất ngờ thấy mình... bất chợt,
Ấm lên hồn con gái chông chênh.

Em níu anh và sợi tóc bay ,
Úp lên hai má ấm chiều nay .
Em dán vào thơ bài : “XUÂN MUỘN” ,
Với cả cuộc tình... đang đắm say...



XIN MỘT LẦN !

Anh cứ vô tình trong gặp gỡ,
Hay muốn quay lưng ngại tạ từ.
Chiều đi rất chậm sâu trong mắt,
Xa vắng nhau rồi nặng tương tư.

Mắt uẫn u buồn mơ mùa cũ,
Chưa chia xa tím tái quan hà.
Hanh hao những bước đời lưu lãng,
Rơn rớt buồn lệ đẫm đường xa.

Câu thơ đã viết sao đủ ấm,
Chỉ là thơ nên mới ngại ngùng.
Biết đâu phương khách sầu đêm trắng,
Hồn gủi trời xa, núi chập chùng,

Đất trời trùng điệp xa tít tắp,
Khó đắp ấm lòng chăn gối xa.
Mờ dấu chân nhau sầu viễn thẳm,
Ngước nhìn cố quận gió trăng qua.

Muốn bắt cầu thương chiều chạng vạng,
Ngại đêm hiu quạnh giữa mông liêu.
Cho dày thêm nữa trang huyền tích,
Xin một lần lượm nhặt… thoáng môi yêu...

                  Fountain Valley, 29/12/2018
                           Phạm Ngọc Thoa

READ MORE - XUÂN MUỘN !, XIN MỘT LẦN ! - Thơ Phạm Ngọc Thoa

ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG NẺO VỀ CỬA KHÔNG - Trần Kiêm Đoàn



                  Tác giả Trần Kiêm Đoàn


ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG NẺO VỀ CỬA KHÔNG

Đường Xưa Mây Trắng dường như là lối đi mà thật sự chẳng có lối đi nào của hành giả lên đường.
Đó là con đường tâm, luôn luôn có mặt nhưng mà cũng luôn luôn khuất nẻo giữa trần gian ta bà bụi bặm nầy. Thấy được con đường đó để lên đường mà không lo bị lạc là một hạnh phúc tuyệt vời của tinh thần tu dưỡng.
Là một Phật tử đã tham gia những sinh hoạt Phật sự từ lúc còn tuổi trẻ cho đến thời thất thập như bây giờ, tôi xin có đôi điều chia sẻ cá nhân vì con đường đó chợt biến, chợt hiện trước mắt tôi khi tỏ, khi mờ...
Thời hiện đại, trong khi Phật giáo trên toàn thế giới đang cố gắng thống hợp lại với nhau để cùng giúp nhau tu học thì ngược lại, Phật giáo Việt Nam đang trải qua những biến động cùng cực: Chia phe giáo hội, chia miền phân biệt, tách rời bộ phái, xưng bá tranh quyền, vu vạ, hý luận, trùng độc, tấn công nhau... từ phe phái đến cá nhân với những màn ấu trĩ, lỗi thời như: Giáo chỉ, giáo lệnh, thông tư, quyết định... Dọa dẫm “khâm tuân >< bất khâm tuân giáo chỉ” (?!)
Bất hạnh thay vẫn còn những hiện tượng suy đồi phẩm hạnh, muốn làm lãnh đạo mà lại không có khả năng hiểu và đánh giá quần chúng. Người Phật tử hôm nay không còn là những “đệ tử” cả tin, nhẹ dạ, mê tín... như thời mông muội xa xưa nữa rồi!
Sự phân hoá nầy đã xảy ra từ hơn 40 năm qua và ngày càng trầm trọng. Đặc biệt là trong ba ngôi Tam Bảo - Phật, Pháp, Tăng - Tăng chúng và Tăng sự có nhiều biến động nhất.
Nguyên nhân sâu xa và gần gũi mà ai cũng có thể nhận ra là bởi thời Mạt pháp, tam độc tham sân si lên làm chủ.
Trong lúc tinh hoa của đạo Phật là sự thanh tịnh, phá ngã, tu chứng thì thực tế đang diễn ra hầu như ngược lại. Cửa thiền không còn là cửa Tịnh mà đang biến thành cửa Động bởi DANH và LỢI đang ào ạt xô ngã cửa chùa. Tham vọng của quyền lực ngự trị, âm mưu của thế lực lợi dụng và tín tâm chao đảo đã khiến cửa chùa bất tịnh và đường tu gian nan thêm.
Đối diện với ám ảnh thoái trào của Phật giáo Việt Nam, may thay, người Phật tử trong thời đại cách mạng khoa học kĩ thuật và truyền thông đại chúng này đã có những con đường để tìm hiểu học hỏi, tự mình vươn lên theo lời Phật dạy.
Sự tin tưởng cố chấp, thiếu minh định và buông xuôi... đang dần dần giảm thiểu. Những kiến thức cập nhật thời đại đang tích cực giúp người Phật tử tự cải thiện con đường tu học của chính mình mà không cần phải dựa dẫm vào bất cứ quyền lực từ đâu đến.
Ôi! Đã hơn 2500 mà lời dạy đầu tiên của Đức Phật: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi! “; và lời dạy có giá trị nhân văn và nhân bản muôn thuở của Người: “Phải tìm hiểu rõ trước khi tin theo bất cứ ai; kể cả Như Lai” vẫn còn là ngọn hải đăng chiếu sáng cho tâm thành của Phật tử chúng con.
Bạn ơi! Vài ý nghĩ đơn sơ này chỉ là một cảm nghĩ chân thành cá nhân nhưng nếu được bạn chia sẻ thì quý vô cùng.

Mình xin tặng bạn một đóa hồng ở tại vườn Lâm Tỳ Ni mà mình chụp trong một buổi sáng mùa xuân 2018, nơi Đức Phật ra đời ở Nepal, giáp ranh Ấn Độ.
Chúc bạn thân tâm thường hằng an lạc.

                                                     Trần Kiêm Đoàn

***

LỜI DẶN DÒ CUỐI CÙNG CỦA ĐỨC PHẬT

Trong một khu rừng cạnh thị trấn Câu-thi-na, ngày nay là một thị trấn nhỏ tên là Kasia, cách 50 cây số về phía đông tỉnh Gorakhpur, và cách 150 kilomét về phía bắc-đông-bắc Varanasi (Bénarès), Phật nằm nghỉ giữa hai gốc cây sa-la. Ngài tự gấp áo cà sa làm bốn, rồi nằm nghiêng về phía tay phải, đầu hướng về phía bắc, mặt hướng về phía tây, hai chân duỗi thẳng, chân này gác lên chân kia. Sau đó Phật ngỏ những lời cuối cùng với các đệ tử để nhắc lại một lần nữa tầm quan trọng của Đạo Pháp.
Phật nhắc nhở các đệ tử phải hiểu rằng vị thầy của họ không phải là một nhân vật nào cả, dù đó là Phật, vị thầy đích thực của họ chính là Đạo Pháp. Phật cất tiếng và nhắn nhủ các đệ tử đang ngồi chung quanh Ngài như thế này:
"Này các đồ đệ, các con hãy tự làm đuốc để soi sáng cho các con, hãy trông cậy vào chính sức mạnh của các con; không nên lệ thuộc vào bất cứ ai. Những lời giảng huấn của ta sẽ làm ngọn đuốc dẫn đường cho các con, làm nơi nương tựa cho các con; không cần phải lệ thuộc thêm vào những lời giảng huấn nào khác nữa.
Các con phải làm chủ được tâm thức các con.
Tâm thức có khả năng biến một con người thành một vị Phật hay một con thú. Khi rơi vào sự lầm lẫn, ta có thể trở thành quỷ sứ, nhưng khi Giác Ngộ ta sẽ thành Phật. Vì thế, các con phải kiểm soát lấy tâm thức các con và không đi lạc ra ngoài Chánh Đạo.
Để có thể giữ đúng như lời giáo huấn của ta, các con hãy kính trọng lẫn nhau và đừng cãi vã. Đừng bắt chước như nước với dầu xô đẩy lẫn nhau; hãy bắt chước như nước với sữa, có thể hoàn toàn hòa lẫn vào nhau.
Hãy cùng nghiên cứu với nhau, cùng giảng giải cho nhau, thực hành với nhau. Không nên phí phạm tâm thức của các con và thời giờ của các con trong sự cãi vã hay lười biếng. Hãy hân hoan đón nhận hoa thơm của Giác Ngộ vào lúc ra hoa và hái lấy quả ngọt trên Đường Ngay Thật.
Này các môn đệ của ta, giây phút cuối cùng của ta đã đến, tuy vậy các con phải hiểu rằng cái chết chỉ là sự tan rã của xác thân vật chất mà thôi. Thân xác được cha mẹ sinh ra, nó lớn lên nhờ thức ăn, nó không có cách gì tránh khỏi bịnh tật và cái chết. Một vị Phật đích thực không mang thân xác con người, mà vỏn vẹn chỉ là sự Giác Ngộ. Chỉ có sự Giác Ngộ mà thôi. Thân xác con người phải tiêu tan, nhưng Trí Tuệ của Giác Ngộ sẽ trường tồn vô tận trong thực thể của Đạo Pháp, trên con đường tu tập Đạo Pháp. Nếu có ai chỉ thấy thân xác ta thì kẻ ấy không thấy ta một cách thật sự. Chỉ có người nào chấp nhận những lời giáo huấn của ta mới thật sự nhìn thấy ta.

Sau khi ta tịch diệt, Đạo Pháp thay ta làm vị thầy cho các con. Biết noi theo Đạo Pháp, ấy chính là cách các con tỏ lòng trung thành với ta. Trong bốn mươi lăm năm sau cùng trong cuộc đời của ta, ta không hề giấu giếm điều gì trong những lời giáo huấn.
Này các con yêu quý của ta, đây là giây phút chấm dứt. Trong một khoảnh khắc nữa ta sẽ nhập vào Niết Bàn.
Những lời này là những lời dặn dò cuối cùng của ta cho các con"

Nguồn: TTT

READ MORE - ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG NẺO VỀ CỬA KHÔNG - Trần Kiêm Đoàn

MƯỜI NĂM - Thơ Nhã My, nhạc Vĩnh Điện



                            Nhà thơ Nhã My


MƯỜI NĂM

Ta còn vụng dại
Cười với tình câm
Mười năm  ẩn náu
Đời vẫn âm thầm
       
Ta còn trái tim
Qua mùa ước vọng
Em còn  tiếng khóc
Giữa mùa long đong
         
Mười năm  vội vã
Mười năm xa xôi
Mưa trời xối xả
Mà  đời đơn côi

Mười năm khắc khoải
Lời thề xa xăm
Nắng mùa hi vọng
Mà tình lạnh căm
                 
Em ngồi chảy tóc
Sợi nào rơi rơi
Thời gian kết bạc
Tóc hết xanh rồi
               
Mười năm  ở lại
Mười năm ta qua
Mười năm  ái ngại
Mười năm mình xa

Ta kẻ vô tình
Tình theo sương khói
Biết đời không đợi
Như trời mây trôi

Mười năm dâu bể
Mười năm  hư không
Mười năm lá rụng
Xa trời mênh mông.

                Nhã My




Thơ: Nhã My
Nhạc: Vĩnh Điện  
Hòa âm: Trần Nhàn
Tiếng hát: Châu Thùy Trang

READ MORE - MƯỜI NĂM - Thơ Nhã My, nhạc Vĩnh Điện