Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, September 15, 2018

NHẠC TIỀN CHIẾN 1930- 1945 - Lê Thiên Minh Khoa - Kỳ 1: TÂN NHẠC VIỆT NAM và DÒNG NHẠC TIỀN CHIẾN

   NHẠC TIỀN CHIẾN 1930- 1945
                                                   LÊ THIÊN MINH KHOA  
Kỳ 1: TÂN NHẠC VIỆT NAM và  DÒNG NHẠC TIỀN CHIẾN


C:\Users\TTC\Pictures\CA KHÚC (In) copy (1).jpg
Phác thảo bìa sách “9 thập kỷ ca khúc tân nhạc Việt Nam”.


  1. TÂN NHẠC VIỆT NAM

    Ca khúc tân nhạc VN ra đời vào đầu thập niên 30 của thế kỷ  truớc do sự giao lưu với văn hoá phương Tây và sự hình thành một  lớp người trí thức mới. Nhưng người Việt tiếp xúc với  nhạc Tây khá sớm: Đầu tiên chính là những bài thánh ca của  nhà thờ. Tiếp đó người dân được làm quen với "nhạc nhà binh" qua các đội kèn đồng. Tầng lớp giầu có ở thành phố được tiếp xúc với nhạc khiêu vũ, nhạc cổ điển phương Tây và người dân Việt bình thường được nghe các hãng đĩa của người Pháp như Odéon, Béka  thu âm các bài hát ta theo điệu Tây. Rồi  sau đó, là rất nhiều các bài hát của Pháp lời Việt như Marinella, C'est à Capri, Tant qu'il y aura des étoiles, Un jour loin de toi, Celle que j'aime éperdument,   Les gars de la marine, L'Oncle de Pékin, Guitare d'amour, Créola, Signorina, Sous les ponts de Paris, Le plus beau tango du monde, Colombella...              
     Thời ấy, các bài tân nhạc thường được đệm bằng các nhạc cụ phương Tây: mandoline, guitare , violon, piano… Có người đặt tên cho loại nhạc mới là "âm nhạc cải cách" (musiquerenovée).
     Từ giữa thập niên 1930, nhiều nhóm thanh niên yêu âm nhạc ở Hà Nội đã tập trung cùng sáng tác: Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn… Tại Huế có Nguyễn Văn Thương... Tại Hải Phòng có Lê Thương… Tại Sài Gòn có Nguyễn Văn Tuyên… Ca khúc lãng mạn, trữ tình của các nhạc sĩ nầy mở ra một dòng nhạc gọi là Nhạc tiền chiến còn được các nhạc sĩ tiếp tục sáng tác đến năm 1975.
       Tờ Ngày Nay của Nhất Linh, số 121 ra ngày 31 tháng 7 năm 1938 đã đăng lần đầu một bài hát tân  nhạc, bài Bình minh (lời Thế Lữ) của Nguyễn Xuân Khoát, và sau đó là các bản Một kiếp hoa của Nguyễn Văn Tuyên, Bản đàn xuân của Lê Thương, Khúc yêu đương của Thẩm Oánh, Đám mây hàng, Cám dỗ của Phạm Đăng Hinh, Đường trường của Trần Quang Ngọc... ở các số tiếp theo.
       Từ đầu năm 1939, nhiều ca khúc sáng tác từ trước được các nhạc sĩ phát hành, các bản nhạc của được bán tại các hiệu sách. Tân nhạc Việt Nam chính thức hình thành.  
       Nhiều băng nhạc tân thời được thành lập, trong đó những băng đã có những ảnh hướng lớn


http://laodong.com.vn/Uploaded/buibichhuong/2013_05_16/nguyen%20xuan%20khoat.jpg?w=629&h=419&crop=auto&scale=both
         NS Nguyễn Xuân Khoát.
                                                                  
tới tân nhạc Việt Nam như: Myosotis (Hoa lưu ly) gồm các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Phạm Văn Nhượng, Trần Dư, Vũ Khánh…; Tricéa gồm ba nhạc sĩ Văn Chung, Lê YênDoãn Mẫn; Đồng Vọng được thành lập bởi nhạc sĩ Hoàng Quý, gồm nhiều nhạc sĩ tên tuổi Phạm Ngữ, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Canh Thân và Hoàng Phủ (tức Tô Vũ); băng Tổng Hội Sinh Viên được thành lập bởi nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Cùng với  Đồng Vọng, nhóm nhạc Tổng Hội Sinh Viên mở ra dòng nhạc hùng trong tân nhạc Việt Nam với thể loại hành khúc được tiếp nối sau nầy trong nhiều dòng nhạc. Tổng Hội Sinh Viên chú trọng đặc biệt đến việc dùng tân nhạc trong việc đấu tranh chính trị chống PhápNhật. Lưu Hữu Phước cùng với nhóm Tổng Hội đã tung ra nhiều ca khúc giá trị khơi dậy lòng yêu nước. Vào giai đoạn cuối, cùng với nhóm Hoàng Mai Lưu mà Lưu Hữu Phước cũng là một sáng lập viên, nhóm Tổng Hội Sinh Viên đẩy dòng nhạc cách mạng (nhac đỏ) Việt Nam lên cao trào với một loạt ca khúc mới ra đời.  


Image result for Cùng nhau đi hồng binhImage result for nhạc sĩ  Đinh Nhu đã viết ca khúc Cùng nhau đi Hồng binh
NS Đinh Nhu ca khúc tân nhạc VN đầu tiên: Cùng nhau đi hồng binh.    
    
         Nhưng  ca khúc được cho là bản tân nhạc đầu tiên của Việt Nam ra đời rất sớm. Theo nhiều tư liệu, trong đó có nhận định của GS- TS âm nhạc Trần Quang Hải và nhà nghiên cứu Dương Viết Á, trên văn bản “khai sinh”, ca khúc tân nhạc được hình thành từ năm 1930 với bài Cùng nhau đi hồng binh theo điệu March của tác giả Đinh Nhu, viết lúc mới 20 tuổi, khi bị tù ở Côn Đảo (sau này được đưa vào ca khúc Hồi tưởng, chương 2 tổ khúc hợp xướng Tổ quốc ta của NS Hoàng Vân).
        Như vậy, tân nhạc Việt Nam là từ ngữ để chỉ chung  9 thập niên âm nhạc VN hiện đại  theo âm luật Tây phương  phổ biến từ thập niên 30 đến nay với nhiều giai đoạn phát triển: 1930- 1945,  1946- 1954, 1954- 1975, 1975- nay.
                
  1. NHẠC TIỀN CHIẾN
http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSQ_NsvbEOARpkMQ7sB3E8RE1EHORqgeMpQ83wlhy1LCaWFdWxosA



         Thực ra, thời tiền chiến (trước 1946), tồn tại 3 loại nhạc: nhạc đỏ (nhạc cách mạng), nhạc hùng (hùng ca) và nhạc tiền chiến (nhạc trữ tình). Nhưng người ta quen dùng cụm từ “nhạc tiền chiến” để chỉ một dòng tân nhạc Việt Nam chiếm ưu thế trong giai đoạn nầy, mang âm hưởng trữ tình lãng mạn với nội dung về tình yêu lứa đôi, quê hương và lời ca giàu chất văn học xuất hiện vào nửa sau thập niên 1930, trước khi nổ ra cuộc kháng chiến chống Pháp`(19461954).   
        Về sau, khái niệm này mở rộng, bao gồm một số sáng tác trong chiến tranh (19461954) và cả sau 1954 đối với một số nhạc phẩm ở miền Nam có phong cách trữ tình lãng mạn và lời ca giàu chất văn học... như dòng nhạc tiền chiến 1930-1945.
       Đặc biệt, nhiều NS kháng chiến trong thời 9 năm vẫn tiếp tục viết các ca khúc lãng mạng và được xếp vào dòng  nhạc tiền chiến như: Lời người ra đi, Sơn nữ ca của Trần Hoàn, Ngày về của Hoàng Giác, Thiên thai, Suối mơ của Văn Cao, Dư âm của Nguyễn Văn Tý, Tiếng hát
C:\Users\TTC\Pictures\NS Dương Thiệu Tước.jpg

     quay tơ của Tử Phác, Nụ cười sơn cước của Tô Hải, Tình quê hương của Việt Lang, Bên cầu biên giới, Thiên thai, Cây đàn bỏ quên, Tình kỹ nữ, Tiếng thu (thơ Lưu Trọng Lư) của Phạm Duy, Đoàn Chuẩn với Ánh trăng mùa thu (1947- ca khúc đầu tay), Tình nghệ sĩ (1947), Đường về Việt Bắc (1948),  Lá thư (1949) ...  

Đoàn Chuẩn - vua tình khúc thu Hà Nội - Ảnh 1.


     NS Đoàn Chuẩn.      
 
  Cũng trong 9 năm, nhiều nhạc sĩ ở vùng đô thị cũng viết ca khúc theo dòng  nhạc tiền chiến như: Văn Giảng dưới bút danh Thông Đạt viết Ai Về Sông Tương (1949). Võ Đức Thu với Mưa đêm thu, Nhớ người xa vắng; Nguyễn Hữu Ba với Sám hối, Xuân xuân (1947); Văn Phụng với Trăng sơn cước (1949- lời Văn Khôi), Lam Phương với Chiều thu ấy (1952- lúc mới 15 tuổi); Lê Trọng Nguyễn với Nắng chiều (1952);  Lê Hữu Mục với Hẹn một ngày về; Phạm Duy viết Đàn tôi, Nụ tầm xuân (phổ ca dao), Tiếng sáo thiên thai (thơ Thế Lữ), Tình ca, Tình hoài hương (1952), Thuyền viễn xứ, Viễn du, Hẹn hò (1954); Hoàng Giác với Lỗi cung đàn,  Quê hương, Hương lúa đồng quê, Bóng ngày qua, Cô hái hoa, Quê hương;  Hùng Lân với Vườn xuân, Hận Trương Chi, Hè về, Cô gái Việt, Mùa hợp tấu, Ca xuân hẹn ước, Luống cầy mạch sống, Nhớ rừng, Sầu lữ thứ, Tơ vương, Xóm nghèo; Phạm Đình Chương với Khúc giao duyên, Được mùa; Đoàn Chuần với Thu quyến rũ (1950), Chuyển bến (1952), Gửi gió cho mây ngàn bay (1952),  Cánh hoa duyên kiếp (hay Dạ lan hương-1953), Lá đổ muôn chiều (1954); Văn Phụng với Ô! Mê ly (1948), Bóng người đi (lời Hoài Linh), Trăng sơn cước (1949- lời Văn Khôi), Thuyền xưa bến cũ; Dương Thiệu Tước với Đêm tàn bến Ngự (1946), Kiếp hoa, Áng
Image result for Hoàng Giác
 NS Hoàng Giác.   
             
mây chiều, Nhạc ngày xanh, Xuân mới, Thuyền mơ; Hoàng Trọng với Nhạc sầu tương tư, Gió mùa xuân tới, Dừng bước giang hồ (1953- lời Quang Khải), Phạm Mạnh Cương với  Nhạc chiều quê, Màu thời gian (1951- thơ Đoàn Phú Tứ), Thu ca (1953); Cung Tiến với Hoài cảm (1952- viết lúc mới 14 tuổi), Thu vàng (1953- 15 tuổi); Lâm Tuyền với Tơ sầu (ca khúc đầu tay), Tiếng thời gian, Hình ảnh một buổi chiều, Khúc nhạc ly hương, Tiếng thời gian (lời Dạ Chung, đạo diễn nổi tiếng Hoàng Vĩnh Lộc, anh ruột của ông). Ở Huế, Lê Mộng Nguyên viết Mùa lúa mới,  Vó ngựa giang hồ (1948), Trăng mờ bên suối, Một chiều thương nhớ, Trọng Thủy Mỵ Châu, Chiều thu, Mưa Huế (1949), Hoàng Hoa thôn, Bài thơ Huế, Cô gái Huế, Về chơi thôn Vỹ Dạ, Đôi mắt nhung (1950). Qua Pháp, ông viết Mơ Đà Lạt, Ly hương, Nhớ Huế (1950), Bên dòng sông Seine, Xuân tha hương, Lá thư cho mẹ, Trời Âu (1951)…

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/9/91/Doan_Man.jpg/220px-Doan_Man.jpg
NS Doãn Mẫn
          Ở Miền Nam sau năm 1954, nhiều nhạc sĩ như Hoàng Trọng, Lê ThươngPhạm Duy, Đoàn Chuẩn- Từ Linh... và những nhạc sĩ trẻ hơn như  Văn Phụng,  Cung Tiến, Phạm Mạnh CươngPhạm Đình Chương ... vẫn tiếp tục dòng nhạc tiền chiến. Có thể kể đến những ca khúc của họ vẫn được xếp chung vào dòng nhạc tiền chiến như: Ngàn thu áo tímLạnh lùngBạn lòngMộng lànhTiễn bước sang ngang của Hoàng Trọng; Mộng dưới hoa, Trường ca Hội trùng dương, Đôi mắt người Sơn Tây của Phạm Đình Chương; Hương xưa, Hương xuân của Cung Tiến,
   Các bản nhạc tiền chiến thường theo điệu Valse, Tango, Slow Waltz, Boston, Blues, March, một số là các trường ca, hay phong cách bán cổ điển. Hầu hết các ca khúc tiền chiến thuộc dòng thính phòng. Dòng nhạc tình khúc ở miền Nam sau này cũng ảnh hưởng của dòng tiền chiến nhưng thường theo điệu Slow Rock, Slow Ballad, Slow Fox, trong khi nhạc đỏ nhiều bài cũng ảnh hưởng của nhạc tiền chiến về giai điệu.                     
      Những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc tiền chiến: Đặng Thế Phong (mất lúc hơn 20 tuồi), Văn Cao, Lê Thương, Nguyễn Văn Thương, Dương Thiệu Tước, Phạm Duy, Hoàng Quý, Doãn Mẫn, Nguyễn Đình Phúc, Hoàng Trọng, Bùi Công Kỳ, Hoàng Giác, Lê Yên, Nguyễn Thiện Tơ, Tô Vũ, Văn Chung, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Mỹ Ca ...   
     Các ca khúc tiêu biểu như Đêm thu (1937), Giọt mưa thu (lúc đầu tên là Vạn Cổ sầu), Con thuyền không bến của Đăng Thế  Phong, Trên sông Hương (1936- lúc 17 tuổi) Đêm đông (1940), Bướm hoa (1942), Mưa thu của Nguyễn Văn Thương, Cô hái mơ (thơ Nguyễn Bính- 1942- ca khúc đầu tay) của Phạm Duy,  Xuân năm xưa (1936), Tiếng đàn âm thầm (1937), Trên sông Dương Tử, Thu trên đảo Kinh Châu, Đêm tàn bến Ngự, Hòn vọng phu (1945) của Lê Thương, Lời du tử (1943), Cô lái đò (thơ Nguyễn Bính) của Nguyễn Đình Phúc, Ca khúc ban chiều, Trên thuyền hoa, Bóng ai qua thềm của Văn Chung;  Đêm trăng (1938- ca khúc đầu tay- lúc 16 tuổi). Tiếng đàn tôi, một trong những bản Tango VN đầu tiên, Một thuở yêu đàn của Hoàng Trọng; Sao hoa chóng tàn, Tiếng hát đêm thu, Gió thu, Một buổi chiều mơ, Bến yêu đương, Từ đâu tiếng tơ, Hương cố nhân, Nhạc chiều, Gió khơi xa, Biệt ly (1939) của Doãn Mẫn,  Con thuyền xa bến của Lưu Bách Thụ, Buồn tàn thu (1939- lúc 16 tuổi), Thiên thai (1941),  Bến xuân, Về đồng quê, Trương Chi của Văn Cao, Bẽ bàng, Xuân nghệ sĩ hành khúc, Ngựa phi đường xa, Vườn xuân của Lê Yên, Bình minh (1938- lời Thế Lữ), Mây trên cao, Hồn Xuân (thơ Thế Lữ), Màu thời gian (thơ Đoàn Phú Tứ) của Nguyễn Xuân Khoát,  Tiếng xưa, Đêm tàn bến ngự của Dương Thiệu Tước, Dạ khúc (lời Hoàng Mai Lưu) của Nguyễn Mỹ Ca,  Ngày xưa  của Tô Vũ, Trầu cau của Phan Huỳnh Điểu, Cô hàng cà phê, Khúc ca mùa hè,
C:\Users\TTC\Pictures\NS Hoàng Quý.jpg
NS Hoàng Quý  
Anh còn cây đàn của Canh Thân, Mơ hoa của Hoàng Giác, Nhớ quê hương của Phạm Ngữ, Giáo đường im bóng của Nguyễn Thiện Tơ, Tiếng còi trong sương đêm (viết năm 1944, khi đang làm nhạc công một phòng trà ở Vũng Tàu, và được tác giả trình bày trong buổi lễ mit-tinh giành chính quyền ở Bà Rịa, sáng  25.8.1945 tại Nhà Tròn, chứ không phải viết khi đã tham gia kháng chiến như thông tin từ nhiều nhà nghiên cứu) của Lê Trực (tức Hoàng Việt sau nầy), Xuân và tuổi trẻ (lời Thế Lữ), Xuân sắc quê hương của La Hối, Tú Uyên, Chùa Hương, Dưới bóng thông xanh, Chiều xuân, Chiều quê, Nắng tươi Cô láng giềng, một ca khúc trữ tình bất hủ  của Hoàng Quý…  
       (Mời xem tiếp Kỳ 2: Nhạc hùng và Nhạc đỏ tiền chiến).                                                    
                                    LÊ THIÊN MINH KHOA  
 (Trích trong cuốn  sách “ 9 THẬP KỶ CA KHÚC TÂN NHẠCVIỆT NAM”- nghiên cứu, nhận định- Lê Thiên Minh Khoa-  trang 9- 14, sắp xuất bản, 2018).
-----------------
Nguồn ảnh: Internet.
                                                                               

READ MORE - NHẠC TIỀN CHIẾN 1930- 1945 - Lê Thiên Minh Khoa - Kỳ 1: TÂN NHẠC VIỆT NAM và DÒNG NHẠC TIỀN CHIẾN

NHỚ - Thơ - Trần Mai Ngân




NHỚ...

Nhớ làm sao nhớ...nhớ
Nhớ thần tiên lên ngôi
Nhớ... nhớ ngày xưa cũ
Mộng tình trên đôi môi...

Nhớ chiều qua...nhớ... nhớ
Nhớ đôi ta một lần 
Bóng hình in nơi đó
Có còn đậm sâu không...

Nhớ chiều phai mênh mông
Nhớ em đến bên tôi
Hồn nhiên và tinh khiết
Chẳng nghĩ điều xa xôi...

Nhớ... nhớ... đời giông tố
Đã cuốn ta trôi mau
Nhớ dòng sông có nhớ
Ôi ...hạnh phúc không màu! 

Nhớ... một đời nhớ... nhớ
Nhớ em , nhớ không tôi
Trách... một lần trách cứ
Trách em và trách tôi! 

                              Trần Mai Ngân 
                                 13-9-2018






READ MORE - NHỚ - Thơ - Trần Mai Ngân

Friday, September 14, 2018

SƠ KHẢO NGÔN NGỮ MIỀN TRUNG - PHẦN HAI: VỀ TRONG LÒNG ĐẤT MẸ PO NAGAR - Chế Cẩm Đình

Tác giả Chế Cẩm Đình


SƠ KHẢO NGÔN NGỮ MIỀN TRUNG
Chế Cẩm Đình

PHẦN HAI: VỀ TRONG LÒNG ĐẤT MẸ PO NAGAR

Phần hai, lẽ ra là phần tôi đi sâu vào ngôn ngữ Miền Trung như lời kết phần một. Dù đã khởi thảo nhưng đành phải gác lại để đến tận kỳ sau, bởi tôi vừa có một chuyến đi hết sức kỳ thú VỀ TRONG LÒNG ĐẤT MẸ PO NAGAR ngồn ngộn xúc cảm buồn vui, mà nếu để lâu thì, xúc cảm ấy sẽ bay đi ít nhiều làm cho bài viết e không còn được hay ho.
Tôi đã đến Nha Trang từ lâu, đã sinh sống nơi mảnh đất này ngót mấy năm trời. Trước khi qua vùng đất mới, thì con gái yêu thương của tôi đã kịp chào đời trên xứ trầm hương, để thấy là tôi gắn bó với nơi này như thế nào. Vậy mà, tôi lại chưa một lần lai vãng đến Tháp Bà cho đến tận chuyến đi vừa rồi, khi tôi trót dấn thân vào “địa hạt” này:
“Chăm pa mộng ấy vẫn ngời
Tôi về tìm lại non Hời đau thương”
Từng thăm thú nhiều tháp Chàm ngoài Quảng Nam, Bình Định và Phú Yên nên tôi không còn ngỡ ngàng về mức độ đồ sộ của cụm tháp, cũng như lối kiến trúc đầy thẩm mỹ và tinh tế đến từng chi tiết trên từng ngẫu tượng, thớ gạch, góc chân hay thiếp mái. Mà bất ngờ lớn nhất với tôi là, khoảng sân phía sau tháp chính có một đoàn ca vũ nhạc chính gốc người Chăm từ trong Ninh Thuận ra biểu diễn ở đây. Họ bao gồm những đàn ông cuối tuổi trung niên chơi các nhạc cụ truyền thống, cùng các Chiêm nữ thanh xuân dưới đôi mươi. Vì chưng tôi còn phải đi làm kiếm sống, nên không đủ nhiều thời gian cho đam mê sâu thẳm của mình, thời, còn có cơ hội nào hay hơn dịp này khi được tiếp xúc với máu mủ xa xưa của mình ngay tại đây. Giữa những lần biểu diễn là khoảng nghỉ ngơi, thì tôi tranh thủ sà vào bắt chuyện ngay với từng người. Dù không được cặn kẽ vì thời gian ngắn ngủi, nhưng với tôi ngần ấy đã là một sự trở về tận trong lòng Chiêm quốc thân thương của tôi.
Pô Inư Nưgar (Po Nagar) là Mẹ xứ sở, như là người có quyền năng với muôn loài nơi đây. Mẹ xứ sở là người đã khai sáng ra giang sơn gấm vóc của dân tộc Chăm pa, dạy cho thần sĩ phép trị nước an dân, dạy cho dân biết phương cách sản xuất lúa chiêm, lúa nước, biết cách dẫn thủy nhập điền để tưới ruộng và cách trồng bông dệt vải, mang đến cho dân tộc Chăm pa một cuộc sống ấm no sung mãn. Po Nagar khác hoàn toàn với mẹ  u Cơ của người Kinh, là người khai sáng chứ không phải là mẹ sinh ra cả dân tộc. Bởi vậy, tiếng ru con của người Kinh cất lời luôn bắt đầu bằng hai chữ “ầu ơ” ( u Cơ) như là một sự tưởng nhớ trong tâm thức về người mẹ đẻ, thì tiếng ru con của người Chàm thường là “ới … ời … ơi” trước lời hát ru chứ không gắn liền với Mẹ Pô Inư Nưgar, mà họ dành hẳn sự kính trọng cho vị Nữ thần này bằng những điệu “Tra” réo rắt bởi tiếng kèn Sanarai trong nhịp trống Ginăng trầm hùng vào những hội tế.
Biểu hiện rõ nhất của việc kính trọng thần nữ Pô Inư Nưgar là người Chăm theo chế độ mẫu hệ, bên mẹ là họ nội, bố là họ ngoại và con gái phải đi hỏi và cưới chồng, còn con trai lấy vợ thì ở rể. Tục này hoàn toàn giống với người đồng bào Ê đê ở mạn trên Tây Nguyên. Khi đối chiếu số đếm của hai giống dân nay, chỉ đôi chút khác về phát âm ở số một với số hai và số năm, còn lại giống nhau tất, thì biết họ cùng một gốc mà ra. Vả lại, bên dòng Eahleo đoạn qua huyện Easup vẫn còn một cụm tháp Chăm là Yang Prong trên ấy, thì đã rõ hẳn việc này.
Chợt đến giờ biểu diễn, các nghệ nhân nam vào vị trí các nhạc cụ để sẵn, từng Chiêm nương trong tà áo dài tha thướt kiểu Chàm đội lên đầu những vại gốm bước vào tấm thảm trải trên nền gạch của sân tháp. Nhạc trỗi lên từ máy hát phát ra loa, giai điệu bài hát thật vui tươi kể về tình yêu đôi lứa và ngày mùa thì điệu múa bắt đầu. Chao ôi, có phải đây là con cháu Mị Ê hồng nhan trinh liệt xưa mà sao ai ai cũng múa từng điệu thật điêu luyện, nhịp điệu của cơ thể theo nhạc nền uyển chuyển mềm mại không khác gì hình tượng các vũ thần Apsara trên các bệ thờ Chăm Pa. Bài múa hãy vừa xong, nụ cười tươi tắn trên mỗi khuôn mặt vũ nữ lấm tấm mồ hôi còn chưa tắt, đã nghe một điệu nhạc khác réo lên bi hùng. Lần này là tiếng nhạc sống được chơi bởi các nghệ nhân nam. Người vỗ trống Ginăng, người thổi sáo Clảr, và buồn thương ai oán tận sâu thẳm trong lòng người về một xứ sở phồn hoa, một giống nòi hùng cường tự ngàn năm trước trào qua tiếng kèn Sanarai sầu cảm. Ai từng nghe thổi kèn đám hiếu với làn khốc, làn thảm, làn ai, già nam của kèn giải ở miền Trung thì khi nghe tiếng kèn này sẽ thấy không khác là bao, mà còn cảm nhận ngay được nỗi bi ai của dân tộc này qua từng làn hơi, làn ngắn thì trầm hùng như ôn lại quá khứ oanh liệt của tổ tiên, nhưng cảm giác giật khục như nấc như nghẹn từng lời của nỗi buồn mất nước, còn chưa kịp bật hơi lên một cách mạnh mẽ thì chuyển làn dài thấu oán đau thương như chính số phận nước non Hời. Nước mắt đã thấm ứa ra ngoài khóe của một người con từ phương xa trở về lòng đất mẹ Po Nagar.
Rồi câu chuyện lại tiếp tục sau giờ biểu diễn với các nghệ nhân. Hỏi trống Ginăng sao vỗ hai đầu tiếng khác nhau mới biết là một đầu bịt bằng da trâu, đầu kia da mang bắt trong rừng mà tiếng Chăm gọi là con đỏr. Hỏi người Chiêm Thành xây tháp dùng vữa gì mà sao chỉ vữa rất mảnh, thì được giải thích là lấy mủ cây Pú trẻh trộn với phân bò và pôông (rơm, trấu) tạo ra một thứ keo làm vữa rất bền chắc. Mà cây ấy, từ khi Chiêm quốc bại vong thì không còn mọc nữa. Rồi hỏi về kỹ thuật làm gốm, được cho hay men gốm là bí quyết của người Chăm không được truyền ra ngoài. Gốm nung sơ hoặc ủ khô, lấy nước vỏ cây quét lên từng lớp cho thấm vào và đem nung lên lần nữa để tạo màu men. Thì bí quyết nằm ở chổ vỏ cây gì cho ra màu gì, quét mấy lượt, nung bằng than củi hay pôông để cho ra độ bóng và mức độ đậm nhạt khác nhau trên thân gốm.
Đôi hồi một lúc, là giữa các thành viên đến mấy bận cãi nhau, vì cách giải thích cho tôi khác nhau về mỗi sự việc. Ấy là, rất nhiệt tình với một người yêu dân tộc Chăm như tôi, lại vì có thể đó là tính cách của giống Hời mà khiến họ thiếu đi cái đoàn kết trong những cuộc chiến quan trọng với Đại Việt dẫn đến tận vong. Nữa là trong sự cãi vã bằng ngôn ngữ đa âm và ít thanh điệu, dù không hiểu gì nhưng tôi đã tìm thấy dấu vết tiếng Việt trong đó, mà tôi sẽ trình bày kỹ ở phần sau. Ai từng qua Lý Hòa (Bố Trạch, Quảng Bình), ghé lại phiên chợ dưới chân ngọn đèo cùng tên nghe các mệ các o buôn bán nói chuyện với nhau bằng thứ giọng líu lo như chim hót (phỏng cách), thì khi nghe đồng bào Chăm nói chuyện với nhau mới thấy giống vô cùng về mặt âm giai. Mà đất Lý Hòa – Đồng Trạch ấy xưa kia chính là thành Khu Túc sầm uất của đất nước Chăm pa.
Tháp bà Po Nagar nằm trên ngọn đồi bên bờ sông Cái – Ea Tờ rang. Dưới lòng sông ấy chứa đựng vô vàn cổ vật của người Chăm, và nhiều nhất là gốm sứ. Đã có nhiều người xúc cát, làm lưới vớt được những tượng Phật, tượng thần bằng đồng của người Chăm bán được rất nhiều tiền, có pho giá bạc tỷ được thâu mua bởi giới săn lùng cổ vật từ Sài Gòn ra. Như là một thiên duyên, tôi ghé qua nhà người anh thân thiết vào buổi chiều, kể cho anh nghe mới đi trên Tháp Bà về như thế nào thì anh lôi ra trong các thùng đồ bao nhiêu là cổ vật vớt lên từ sông Cái. Anh nói, đồ Chàm đó, mười mấy năm nay tích được ngần này. Vậy mà, anh đã tặng ngay cho tôi toàn bộ khi tôi ngỏ lời hỏi mượn về nghiên cứu viết bài, dù hơi hối tiếc công sức sưu tầm trong từng ấy thời gian. Thì đó, nếu không tỏ lòng yêu giống nòi ấy, chắc gì tôi gặp được thiên duyên này, như là Mẹ xứ sở giúp tôi thỏa lòng mong nguyện khai sáng những ẩn ức về non nước Chiêm Thành.

Chế Cẩm Đình


READ MORE - SƠ KHẢO NGÔN NGỮ MIỀN TRUNG - PHẦN HAI: VỀ TRONG LÒNG ĐẤT MẸ PO NAGAR - Chế Cẩm Đình

SƠ KHẢO NGÔN NGỮ MIỀN TRUNG - PHẦN MỘT: NỖI ÁM ẢNH TỪ QUÁ KHỨ - Chế Cẩm Đình

Tác giả Chế Cẩm Đình


SƠ KHẢO NGÔN NGỮ MIỀN TRUNG
Chế Cẩm Đình

Lời phi lộ
Đây là một khảo cứu mang tính chất cá nhân, dựa trên trải nghiệm sống cũng như những cảm tính có được của tôi, chứ hoàn toàn không mang yếu tố nghiên cứu khoa học. Khảo cứu này chủ yếu để quý thân hữu đọc chơi và hiểu hơn về văn hóa, ngôn ngữ của khu vực này. Bài viết được chia làm nhiều phần để quý thân hữu tiện theo dõi.

PHẦN MỘT: NỖI ÁM ẢNH TỪ QUÁ KHỨ

1.Vùng đất chồng lấn giữa hai nền văn minh lớn của nhân loại
Miền Trung có nhiều con đèo, trong đó có hai con đèo lớn là Hải Vân và Hoành Sơn. Miền Trung cũng có nhiều con sông, tuy không lấy làm cả như các con sông lớn ở hai đầu đất nước nhưng đã đi sâu vào lịch sử dân tộc. Đèo và sông ở miền Trung luôn được lấy ra làm ranh giới chia đất chia nước từ xưa đến nay. Đèo Ngang và sông Gianh là biên giới giữa Đại Việt với Chiêm Thành, sau là ranh giới Trịnh - Nguyễn. Sông Bến Hải chảy theo vĩ tuyến 17 thì ai cũng biết là sông chia đôi hai miền Nam – Bắc trong nội chiến 1954 – 1975. Đèo Hải Vân và sông Hương đóng vai trò ranh giới Việt - Hời kể từ khi Huyền Trân công chúa trẩy Chiêm làm hậu. Sau còn làm ranh Trịnh - Nguyễn và Trịnh – Tây Sơn. Phía Quảng Nam thì có sông Thu Bồn cũng được lấy làm biên của nhiều đợt Việt - Chăm tiến thoái, đến nỗi mà hình thành từng tiểu vùng ngôn ngữ ngay trên đất Quảng vì con sông biên viễn ấy.
Thì suốt quá trình Nam tiến của dân tộc, người Việt vào đến đâu thì người Chăm lùi đến đó. Rồi có khi Chiêm Thành hưng lên, thì đánh ra giành lại đất cũ với người Việt. Giữa các cuộc chiến liên miên gần cả ngàn năm, các dòng người của hai bên hòa lẫn vào nhau mà sinh sống, lúc thuận hòa thì chung ở với nhau, lúc chiến tranh thì giết chóc đối phía.
Người Việt từ Bắc vào mang theo văn minh Trung Hoa. Người Chiêm Thành có văn minh từ phía Ấn. Hai nền văn minh lớn này va chạm vào nhau gây ra xung đột dữ dội, rồi hòa nhập có, biến tấu có, và sau cùng là tận vong văn hóa của người Hời, theo sau sự tận vong của đất nước Chiêm Thành vì thất thế trước Đại Việt.
2. Những người họ Chế
Lịch sử Chiêm quốc có giai đoạn hào hùng nhất gắn liền với Chế Bồng Nga, là một vị vua kiệt xuất của đất nước này. Trong giai đoạn 1367-1389, ông từng 12 lần xua quân Bắc phạt Đại Việt nhằm tái chiếm các vùng đất châu Ô và châu Lý vốn được chuyển giao sang chính quyền Đại Việt trong thời gian cai trị của vua Chế Mân. Năm 1377, khi thành Đồ Bàn bị quân đội nhà Trần tấn công, Chế Bồng Nga đã lãnh đạo quân đội đánh Đại Việt, khiến vua Trần Duệ Tông phải bỏ mạng trong trận này. Thắng lợi này khiến Thượng hoàng Trần Nghệ Tông khiếp đảm, sau này hễ Chế Bồng Nga bắc tiến là cùng Lê Quý Ly (Hồ Quý Ly) bỏ kinh thành chạy dài. Trong cuộc chiến này, ông đã có tổng cộng 3 lần đánh vào tận kinh đô Thăng Long. Năm 1389, ông tử trận sau khi trúng phải đạn tại trận Hải Triều. Cái chết của ông khép lại một trang hùng cường trong lịch sử Chăm Pa. Hết đời vua Chế Bồng Nga thì nước Chiêm Thành không lần nào quật khởi được nữa, dù có vùng vẫy bao lần thì cuối cùng cũng bị kết thúc đau thương.
Chế Lan Viên nguyên họ Phan, tên Hoan người gốc Cam Lộ, Quảng Trị nhưng lớn lên và học tập tại Quy Nhơn. Vì hoài cảm quá lớn về quá khứ của một đất nước hùng mạnh qua các đền đài và tháp Chăm cổ, ông đã viết nên tập thơ trường loạn “Điêu tàn” lúc còn là một thanh niên mới mười bảy tuổi. Ông đã lấy bút danh Chế Lan Viên vì tự xem mình là một bông hoa đẹp trong vườn nhà họ Chế, họ hoàng tộc của đất nước Chăm Pa.
Tôi thời cũng vậy, kể từ khi đặt chân đến những đền tháp cũ, tự dưng bị ám ảnh đến lạ lùng nỗi tiếc thương về một cố quốc đã tận. Ám ảnh đến cùng cực, lại thương cảm càng nhiều. Cứ gặp người vai ngang, tóc dợn, da hơi bánh mật thì liên tưởng ngay đến hậu duệ người Hời. Rồi lén chụp hình người ta hai ba tấm, về mở ra xem kỹ hình tướng, đối chiếu với các cổ thư chép về giống người này để tìm kiếm nét tương đồng, như là tự tìm kiếm cho mình một câu trả lời cho việc hòa huyết giữa hai dân tộc sinh ra hậu duệ, chứ không phải là chiến tranh tuyệt diệt lẫn nhau. Chế Cẩm Đình là một cái tên mang hoài ức như thế, dù là có lối bắt chước họ Phan kia. Và tôi như có sứ mệnh phơi sáng những ẩn ức của dân tộc này, là một sự tri hối trong khả năng nhỏ mọn của mình.
3.Chăm, Chiêm, Chàm, Hồi, Hời
Chăm pa là tên loài hoa sứ (hoa đại), hoa này được trồng nhiều ở đền, chùa, miếu mạo, gắn liền với sự thanh khiết. Người xứ ấy lập quốc năm 192 và tồn tại đến năm 1832 thì kết thúc bởi một sắc lệnh của vua Minh Mạng. Trải qua hơn 16 thế kỷ tồn tại, nước này thay tên nhiều lần nhưng tên Chăm pa, lấy tên loài hoa nói trên là nổi bật hơn cả và được chép lại nhiều trong các sử thư, thường gọi tắt là Chăm.
Champapura hay Campa – pura được hán hóa là Chiêm Bà Thành (占婆 城) về sau rút ngắn lại thành Chiêm Thành (占 城). Mà không rõ là bên Trung Hoa có hoa sứ hay không mà lại ký âm Cham thành Chiêm, bởi chữ Chiêm (占) này không mang nghĩa là hoa đại, mà mang nghĩa là Chiêm (tinh) hoặc Chiếm (cứ), theo Hán tự. Giả như chữ Chiêm chỉ là ký âm, thì Chiêm Thành có nghĩa là Thành Hoa đại.
Chữ Chiêm (占) tiếng Phổ thông (Trung văn) đọc là Zhàn, tiếng Quảng Đông đọc là Chàm. Người Trung Hoa đi buôn bán khắp nơi, cập cảng Bắc hà nói trong ấy có xứ Chàm thì người Việt cũng gọi theo là Chàm.
Tận cuối Trung Hoa mạn Tây Bắc có giống người Turk (gốc Thổ) lập quốc và có thời rất hùng mạnh, cát cứ hẳn một vùng đất rộng lớn đến 3 triệu cây số vuông dọc theo con đường tơ lụa huyền thoại qua đến Tây Á. Nước ấy sử củ gọi là Hồi Cốt hay Hồi Hột, ngày nay chính là xứ Tân Cương của người Duy Ngô Nhĩ. Người xứ ấy mặc đồ thụng, đầu đội mũ hoặc quấn khăn trắng theo đạo Islam thờ thánh Ala. Do tính thất bản của việc lưu truyền sử sách mà đạo Islam được gọi là đạo Hồi (đạo của người Hồi). Người Chiêm Thành thì du nhập đạo Islam vào đường buôn bán với Nam Đảo (Mã Lai, Chà Và) từ thế kỷ 12 và phát triển khá mạnh. Từ thời gian này trở đi thì cuộc xung đột với Đại Việt cũng lớn dần. Người Việt đọc Hán thư nhiều, khi vào đến đất Chàm thấy có giống dân ăn vận và thờ cúng như trong sách sử mô tả thì gọi họ là người Hồi. Biến âm Hồi thành Hời ("ôi" thành "ơi" như "ôi trời" – "trời ơi") nên về sau sử ta chép họ là người Hời.
Sự chồng lấn này đã tạo ra tiếng nói riêng cho vùng đất từ Quảng Bình đổ vào đến Thừa Thiên, sử dụng vốn từ ngữ của cả hai dân tộc Kinh – Hời, khác với vùng Thanh, Nghệ chỉ sử dụng từ ngữ Việt cổ sẽ trình bày ở phần tiếp theo.

READ MORE - SƠ KHẢO NGÔN NGỮ MIỀN TRUNG - PHẦN MỘT: NỖI ÁM ẢNH TỪ QUÁ KHỨ - Chế Cẩm Đình

Thursday, September 13, 2018

TÌNH XƯA / MƯA ĐÊM - thơ - Tịnh Đàm


Thơ Tịnh Đàm

TÌNH XƯA

Tôi về
Chiếc bóng cùng đêm
Chân quen bước chậm...
Nghe mềm lối trăng.

Tình xưa
Người có biết chăng?
Trải bao tan, hợp
Cầm bằng... Như không!


MƯA ĐÊM

Gối vào đêm
Trở giấc buồn!
Nghe mưa về gõ nhịp...
Muôn tiếng thầm!

Giấu lòng vào nỗi tình câm
Đèn khuya thắp bóng
Lệ dầm ướt khăn!

Lời yêu còn những băn khoăn ,
Về đâu ?
Sóng mãi lăn tăn vỗ bờ!

Phải chăng xưa...
Đến bây giờ
Con tim biết sẽ đợi chờ...
Vì nhau!

TỊNH ĐÀM

(HÓC MÔN .TP.HCM )
READ MORE - TÌNH XƯA / MƯA ĐÊM - thơ - Tịnh Đàm

CŨNG LÀ CHỊ LÀ EM - Truyện ngắn - Lê Hứa Huyền Trân

Tác giả Lê Hứa Huyền Trân


CŨNG LÀ CHỊ LÀ EM
Truyện ngắn
Lê Hứa Huyền Trân

          Từ bé, tôi, chị và Sú đã lớn lên bên nhau. Tôi bằng tuổi chị nhưng vì quan hệ họ hàng trong nhà nên vẫn gọi là chị, còn Sú nhỏ hơn hai chúng tôi bốn tuổi. Chị là con chú tôi, còn Sú cũng là con chú nhưng là cùng cha khác mẹ, mối quan hệ hơi nhập nhằng nên khi có cả ba đứa thì bao giờ chị cũng có phần hơi khó chịu, dẫu thế, chưa bao giờ chúng tôi rời xa nhau nửa bước. Một phần vì chị ít nói, một phần vì thằng Sú lại thích chị quá rõ rệt, còn phần nữa tính tôi lại “ hơi lo chuyện bao đồng” nên cứ cố hàn gắn mối quan hệ cho hai người.
          Chú và mẹ chị có mối tình đẹp nhất xóm thời bấy giờ. Dù cho bà tôi luôn ngăn cản mối quan hệ hai người vì cho rằng mẹ chị không xứng với chú nhưng chưa bao giờ hai người vì những ngăn cách ấy mà vơi bớt phần nào tình cảm. Vì thế, sau bao nhiêu chông gai thì hai người cũng nên duyên chồng vợ, theo như ba tôi nói, tính từ cái thời hai người ấy yêu nhau chắc dễ cũng đến chục năm mới lấy được nhau. Chú luôn bảo bọc thím và thím cũng săn sóc chăm lo cho chú tròn với nghĩa tình một người vợ. Thế nhưng, người thay lòng trước lại là chú và người chọn cách ra đi lại là thím. Không ai hiểu rõ nội tình đằng sau việc đó, kể cả ba tôi, nhiều khi ông vẫn hay tiếc rẻ mà nói với tôi:
           “Thím là người phụ nữ rất tốt, cho tới giờ tuy là em của ổng ba vẫn không hiểu tại sao ổng lại bỏ thím ấy mà tằng tịu với người khác.”
           Cái người mà chú tôi tằng tịu là mẹ của Sú sau này, người mà tôi hay gọi là “thím hai”. Thực ra tôi chưa bao giờ gặp được “ thím cả” vì sau khi sinh chị thì chú tôi ngoại tình, thím cả vì quá đau lòng nên khóc lóc bế chị qua trao tận tay mẹ tôi vì hai người vốn là bạn thân rồi lại làm dâu chung một nhà, nhờ săn sóc chị và sau khi nước mắt ngắn dài nghe đủ lời hứa hẹn thì ngay hôm sau thím ra đi, để lại mẹ tôi với đứa bé mới sinh còn đỏ hỏn trên tay. Người ta nhiều người trách thím vì con còn nhỏ quá nhưng mẹ tôi mỗi khi nhắc về thím thì chỉ ngậm ngùi:
          “Chị ấy khổ lắm rồi mới bỏ con mà đi như vậy. Mất cả thanh xuân, mất cả đời người, sao có thể ngày nào cũng thấy mặt người phản bội mình để rồi chăm sóc đứa con chung cho được.”
          Nhưng mẹ chỉ nói khi có tôi, sau này tôi sinh ra, cả tôi và chị đều bú chung một bầu sữa  mẹ cho đến ngày chú chính thức rước “ thím hai” về nhà. Ngày thím hai về cũng mâm cỗ rình rang, xóm làng cũng điều tiếng thì chú bực dọc:
          “Không rước về thì ai chăm sóc con Den, nó còn đỏ hỏn.”
           Ý là chú đang “hợp thức hóa” việc lấy vợ mới của chú. Tôi vẫn hay nghĩ, trên đời này, lỗi là của người lớn nhưng bao giờ người chịu tổn thương cũng là những đứa trẻ. Khi chị lên bốn, trong xóm bắt đầu xôn xao ngày cho sấp nhỏ vào lớp mầm, cái hào hứng của đứa trẻ lên bốn muốn bắt đầu với một môi trường mới khác cha mẹ nó rất đặc biệt, thế nhưng năm ấy cu Sú ra đời. Nhà chú tôi không giàu có, lại nông rặt, Sú ra đời tiêu tốn của chú không biết bao nhiều là tiền, nhưng điều đặc biệt nó lại là con nối dõi, là thằng con trai mà chú đã mong mỏi có biết bao nhiêu, vì thế, cái “lớp mầm” mà chị tôi mơ ước bỗng bị gạt phắt không thương tiếc. Đó là nỗi đau đầu tiên của chị, và cũng là chồi non cho việc hình thành “ cái sự ghét Sú” của chị.
          Khi chị vào lớp một thì vì tôi nài nỉ ba tôi quá nên ba gánh luôn tiền học để chị học chung với tôi, nhưng chú thì dường như không muốn thế nên ra quy định có đi học thì vẫn phải giành thời gian để chăm Sú vì chú thím phải bận ra đồng. Cái hình ảnh cô bé chút xíu đang học dở nghe tiếng em khóc lại phải bế em ra sân rồi trong tiếc học cứ ê a những bài hát ru thật khẽ trở nên quá đỗi quen thuộc với lớp chúng tôi. Cứ thế, từng năm cho tới khi Sú lớn dần lên, chị vẫn luôn là người đã một tay chăm sóc nó. Còn tôi, bằng mối thân quen họ hàng và dường như con người ta trở nên tình cảm hơn khi uống chung một bầu sữa mẹ lúc nào cũng ở bên chị đỡ đần. Sú ngày càng bám chị vì nó lầm tưởng việc chăm sóc của chị là sự yêu thương chứ không biết đó chỉ là nghĩa vụ.
          Năm chúng tôi mười sáu, chị có mối tình đầu, tất nhiên là tôi biết nhưng Sú thì không, nó luôn thắc mắc sao chị không đi học chung nữa cho tới khi phát hiện điều đó. Một cậu trai mất đi người chị thân thương vì một cậu trai khác dễ sinh nông nổi, Sú đem đi nói với chú tôi chuyện đó và chị đã bị chú lôi về đánh hằn mình cho tới khi mẹ tôi nghe tiếng khóc la của chị nài chú tôi đừng đánh. Sau lần đó, Sú đã tới xin lỗi chị nhưng đáp lại chị chỉ lạnh lùng:
          “Chị sẽ không bao giờ tha thứ. Ngay cả sự tồn tại của em, với chị đã là điều không thể nào tha thứ.”
          Tôi biết Sú tổn thương, tôi biết chị quá lời nhưng thật ra tất cả chỉ là sự dồn nén quá mức khi biết mẹ mình ra đi vì mẹ Sú, rồi bị ba bỏ rơi từ khi con nhỏ để chăm lo cho đứa con trai nối dõi và đến bây giờ, khi mới nếm hương vị tình đầu đã vội chia xa cũng vì “đứa con trai” ấy. Cảm giác của chị, người lớn lên và ăn chung, chia sẻ tâm sự mỗi ngày cũng như ở bên chị, như tôi, rất hiểu. Nhưng tôi biết tận sâu trong thâm tâm chị, máu mủ tình thân vẫn là mối dây liên kết không thể nào xóa bỏ. Nhiều đêm, khi tôi và chị nằm cạnh nhau, chúng tôi hay nói chuyện.” Chị ghét Sú à?” “Rất.”  “Thật không?” “Thật”.” Thế sao thấy nó không ăn cơm do ghét cá lại giành ăn hết để chú mắng tham ăn?” “ Vì thích ăn.” “Nó đi chơi lại nói chú đang đi học để chú phát hiện rồi nọc chị ra đánh.”  “Vì mắc công bảo không chăm em.” Chị luôn là người nói ngược lại suy nghĩ của mình.
          Năm chị hai mươi, chị đỗ đại học tận phố, dù không muốn xa chị nhưng tôi cũng muốn chị đi, ở cái nhà này, chị như không tồn tại. Tất cả chỉ là một thế giới xoay quanh Sú, nên biết đâu khi chị đến vùng đất mới, con người và cả nỗ lực của chị được công nhận thì sao. Tất nhiên Sú không chấp nhận việc chị đi, nó quấn chị tới mức đòi nghỉ học để theo chị lên phố. Trái tim của một đứa trẻ luôn biết được người nào đã yêu thương mình và khao khát muốn ở bên, trái tim ấy trong trắng đến độ có thể cảm nhận được nội tấm sâu thẳm bên trong chị nó dù ngoài mặt chị ấy luôn lạnh lùng. Quyết đinh là của Sú nhưng người hứng chịu cơn thịnh nộ của chú lại là chị. Ngay trước khi chị đi vẫn bị chú mắng chửi vì cho rằng Sú hư như thế là tại chị, chị chỉ biết ra đi trong nước mắt và nói với Sú:
         “Ngay cả lúc này, người chị không muốn nhìn thấy nhất vẫn là em.”
          Và thế là chị đi thật, chị đi suốt bốn năm không về nhà lấy một lần. Mọi chi phí đều tự thân chị gánh vác, thi thoảng nhớ chị quá, mẹ và tôi lại tay xách nách mang đủ đồ quê lên thăm chị. Nhưng không lần nào Sú đòi theo. Nó vẫn ghi nhớ như in mọi lời chị nói, nó không ghét chị mà nó sợ cãi lời chị làm chị ghét  nó. Thế nhưng, mỗi lần chúng tôi đi nó lại dúi theo một thứ gì đó, khi là cái bánh nó ăn dở nhưng thấy ngon, khi là vài ba miếng chả giò, khi là vài thứ đồ chơi mà theo nó chị sẽ giải khuây được mang lên cho chị và dặn đừng nói chị biết. Lần nao nhận những thứ vô nghĩa ấy chị cũng khóc, chúng tôi đều biết chị biết tất cả rồi.
          Sau bốn năm chị về, mọi thứ ở quê đều đổi khác. Nhưng ngày đầu tiên chị bước vào nhà đã thấy trận cãi vã kịch liệt giữa chú và nó. Nó quyết không đi học đại học vì muốn đi làm đỡ đần và cũng vì nó không giỏi được như chị, nó biết đâu là giới hạn của mình. Còn chú thì nhất quyết không để đứa con nối dõi của mình vô học. Thế rồi chú tức giận quá nên lao vào đánh nó, chẳng biết vì gì, gần như là phản xạ, chỉ còn nghe tiếng “ bốp” rõ to, vài giọt máu chảy ra nơi khóe miệng, chị ngã sập nơi bậu cửa, chị đỡ cái tát trời đánh của chú giùm nó, còn nó lại bỏ chạy, không quên ngoái lại nhìn chị đầy lo lắng và xấu hổ. “ Sao lại đỡ giùm”- tôi hốt hoảng.” Chẳng biết, không muốn thấy nó bị đánh”.
          Thế rồi Sú bỏ nhà đi thật. Nó bặt vô ấm tín suốt mấy ngày, những ngày đầu tôi còn liên lạc được bảo nó về.” Sợ ba hả?”” Không, vì xấu hổ với chị, vì tại em mà chị bị đánh”. Tôi chỉ biết câm lặng, tình cảm con người thât khó hiểu. Những ngày sau chắc điện thoại hết pin, tôi bặt tin. Chị lo lắng sốt vó” Nó đang ở đâu Nhỏ lớn có bao giờ tự làm gì đâu..Ở ngoài ai nấu cơm cho ăn.. rồi ngủ sao?...”, rồi chị đi khắp làng trên ngõ dưới tìm. Rồi chị sinh bệnh, nghe tin chị bệnh nó mới mò về, nước mắt như mưa:
          “Em biết chị không muốn thấy em… Nhưng em lo chị quá, chị đừng bệnh nhé.”
         “Gì mà không muốn thấy, là chị là em với nhau, giận thì chị nói thế thôi, chứ em là em trai chị mà.”
          Rồi hai đứa ôm nhau khóc như mưa, chú ngồi trên cái chõng tre rít khẽ điếu thuốc lào, nhả những vầng khói như đã nghiệm ra một điều gì đó. Chú lục tục xuống bếp nấu nồi cháo loãng mang lên cho chị…
          Con người ta, đôi khi họ không hiểu rõ tình cảm của chính mình để rồi trong những giây phút thiêng liêng nhất, họ nhận ra thứ tình cảm mà bấy lâu mình chối bỏ vẫn luôn hiện diện, chỉ là họ bị những nỗi đau của quá khứ che mờ mắt mà thôi. Khi chị hết bệnh, nó vẫn hay theo chị hỏi:
          “Chị học cao như vậy, em lại không học đại học có sao không chi?”
         “Có học hay không đó là quyết định của em, cuộc đời của em do em lựa chọn, nếu em thấy ngừng học và thấy một cuộc sống tốt hơn cho mình thì hãy nắm bắt nó. Chị là chị của em chứ không phải người quyết định cuộc đời thay em, quan trọng là quyết định gì cũng hãy nghĩ suy thât kì nhé.”
          Nó cười mừng rỡ và lấm lét nhìn sang chú. Chú cũng gật đầu và quay đi hướng khác. Có lẽ chú đã nhận ra nhiều thứ, mà chính tay chú đã vì sai lầm ích kỉ của mình mà đánh mất, và hai đứa con của chú đã tìm lại giúp chú. Là “ tình chị em”.

Lê Hứa Huyền Trân

Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định.
READ MORE - CŨNG LÀ CHỊ LÀ EM - Truyện ngắn - Lê Hứa Huyền Trân

Wednesday, September 12, 2018

LƯU LY 1 - 2 - Thơ tình Lục Bát 2018 - Lê Kim Thượng

Tác giả Lê Kim Thượng
           
Thơ Tình Lục Bát 2018
Lê Kim Thượng                                                     


LƯU  LY 1 - 2


1.     


Những ngày hò hẹn đón đưa
Cho dài nỗi nhớ... cho thừa đợi trông
Bay bay tà áo bên sông
Gió đưa sóng cỏ, bóng hồng phiêu phiêu
Trời xanh bay bổng cánh diều
Bóng em thấp thoáng... cho chiều tỉnh say
Thơ tình tôi thả gió bay
Để bên ấy biết bên này... tình si...
Đò qua chở dáng xuân thì
Để cho bến nhớ tương tri nước nguồn
Em tôi cười nói luôn luôn
Chuyện vui đến cả chuyện buồn... cũng duyên
Nhẹ nhàng giọng nói ngoan hiền
Buồn vui kể chuyện hồn nhiên bên người
Áo dài khoe dáng xinh tươi
Cười chưa hết nụ... nụ cười trinh non
Má hồng như thể tô son
Mặt hoa, da phấn, tươi giòn đôi mươi
Nụ hôn rơi giữa nụ cười
Hương tình ngọt lịm cho người vấn vương
Thơm mùi tóc Dạ Lan Hương
Môi hoa tươi sắc Cát Tường đỏ au
Hẹn thề trọn kiếp mai sau
Dẫu thêm kiếp nữa... với nhau vĩnh hằng...


2.


Tôi về miền nhớ bâng khuâng
Vòng tay còn ấm hương xuân nồng nàn
Tôi về tìm giọt mưa tan
Trên môi thơm Ký - Ức - Vàng ngày xưa
Tiễn em chiều ấy... chiều mưa
Mùa Thu chợt tím... buồn vừa chợt sang
Trời mưa mà nắng chang chang
Cho khô nỗi nhớ... cho tràn nỗi đau
Đố ai tát cạn mạch sầu
Đoạn trường chín khúc ruột đau còn gì?
Tương phùng là để biệt ly
Hợp tan, tan hợp... có chi buồn hoài?
Giường đôi, gối chiếc chờ ai
Mà nghe tiếng gió thở dài tiếc thương
Hương tình vương vấn chiếu giường
Thương thân em bậu pha phương phiêu bồng
Em làm Con Chốt sang sông
Đã đi, đi mãi... đợi trông làm gì?
Tôi làm hoa tím Lưu Ly
Thủy chung vẫn nhớ người đi qua cầu
Em giờ khuất nẻo biển dâu
Để cho sóng vỗ làm đau mặt ghềnh
Cầu cong nỗi nhớ hai bên
Hoa trôi nước chảy, lênh đênh phận bèo
“Vắn tay với chẳng tới kèo
Cha mẹ anh nghèo... cưới chẳng được em...”

                       Nha Trang, tháng 9. 2018
                            LÊ KIM THƯỢNG

“...” Ca dao
READ MORE - LƯU LY 1 - 2 - Thơ tình Lục Bát 2018 - Lê Kim Thượng