Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, August 25, 2014

Thơ Chu Vương Miện - TRẦN VIÊN VIÊN, PHỤNG CẦU HOÀNG

Tác giả Chu Vương Miện

TRẦN VIÊN VIÊN

ngũ đại mỹ nhân thời Đại Minh
đệ nhất kiều nữ đất Dương Châu
thi gia Ngô Mai Thôn
trứ tác mấy năm mấy trăm bài thơ
tuyệt bút riêng tặng giai nhân
nhiều hoạ gia thì vẽ chân dung
tài tử phong lưu chén ngà
đũa ngọc rượu Nữ Nhi Hồng
được hoàng đế Sùng Chính vời vào cung
phong tạm tài nhân
sau hai tuần sủng ái
long thể đức vua suy nhược
im thin thít chỉ có nằm
lâu lâu thở dài
uống bát canh sâm thang rồi nhắm mắt
cũng may phúc trơì còn lây lất
quần thần bàn đưa nàng vào lãnh cung
thấy phí của giời uổng công tài sắc
bèn hạ chỉ ban thí cho Bình tây Vương
Ngô Tam Quế trấn Sơn Hải Quan
đúng là duyên trời cho cầm sắt
kỳ phùng địch thủ
hai con giao long
phụng đảo loan điên không mệt và không nghỉ
giao hoan thủ lạc vô cùng mỹ ý
phiá mạn bắc Mãn Châu chưa xong
lại hạn hán mất mùa kéo dài ba năm
dân đói nằm chết đầy đường đầy đồng
loạn Lý Tư Thành
nổi lên phá làng phá xóm
giặc Sấm chiếm mất Trần Viên Viên
Ngô Tam Quế mất ghệ phát điên
cuộc chiến xẩy ra do hai con bò tót
hai con dê đực dê xồm
bá tánh phân khổ phần đói phần chết
mượn gió bẻ măng
quan Mãn Châu do thân vương Đa Nhĩ Cổn
nhập quan chấm dứt ngôi vua của họ Chu
nhà Đại Minh đi đứt
ôi nhan sắc nghiêng trời lệch đất
quốc phá gia vong
vì “lờ” mà bọn đâu trâu mặt ngựa
yêng hùng lẫn khùng
đánh đến kỳ cùng không còn mảnh đất
ngũ đại mỹ nhân
kẻ nào vô phước rớ tay vào
không tiêu tán đường cũng thác ?

chu vương miện



PHỤNG CẦU HOÀNG

đời xưa còn có chàng Tư Mã
đơi nay sao lạc Trác văn Quân
Phụng bay rã cánh nằm chết dở
loan lạc phương nào không vết chân
chuyện xưa nghe lại càng lãng xẹt
thật giả xem ra cuội mây phần
cung thương rên rỉ sấu trăm ngả
chủy vũ rạt rào cấm với ngăn
nhạc nhoẽ nghe ra chừng không khá
thì thôi khăn áo xéo cho đành
về sau lại thấy đi bán rượu
dăm vò trong đục đoạn đường quanh
giai nhân giờ cũng đành gánh nước
quét nhà nuôi lợn nguội công danh
cây đàn dẫn nợ treo gác bếp
nhân tài đem đắp đổi cơm canh
đời xưa còn có chàng Tư Mã
đời nay đầy dẫy phương nam hành
loanh quanh một lũ phường mặt trắng
chết tiệt đâu rồi bọn mắt xanh
tình ta từa tựa chàng Tư Mã
vắng hẳn đâu rồi Trác văn Quân

chu vương miện


READ MORE - Thơ Chu Vương Miện - TRẦN VIÊN VIÊN, PHỤNG CẦU HOÀNG

MÂY TRẮNG PHÍA NHÀ - thơ Trúc Thanh Tâm




MÂY TRẮNG PHÍA NHÀ

Lắng nghe sông núi trở mình
Đâu đây tiếng vạc ăn xin đêm dài
Đếm đời oằn những ngón tay
Vậy mà chưa giáp trần ai lụy phiền

Lúa thơm xứ sở bưng biền
Cọng rau đắng đất thương miền hoang sơ
Ngọn tre cong tuổi ấu thơ
Từ hôm con sáo bỏ bờ giồng bay

Gió qua vườn cũ thở dài
Ta qua vườn cũ vướng vài sợi mưa
Chợ đời bán ít người mua
Chuyến xe định mệnh vẫn chưa khởi hành

Bao năm tính cuộc ân tình
Ta lời số phận tóc mình sương pha
Vườn cau, mây trắng phía nhà
Còn đâu cục đất còn là quê hương !

                             Rằm tháng 7, Giáp Ngọ - 2014

                                  TRÚC THANH TÂM
READ MORE - MÂY TRẮNG PHÍA NHÀ - thơ Trúc Thanh Tâm

GỞI LẠI CHO EM ĐÀ LẠT - thơ Huy Uyên



GỞI LẠI CHO EM ĐÀ LẠT

Kỷ-niệm đầy những luống cải vàng trên đồi
buổi sáng sương phả lạnh
quặn thắt nhớ người
quay về những vườn hoa xưa chiều thăm thẳm.

Bên hồ lặng im và gió
những con đường thay tên
tình em và nỗi nhớ
bên kia phía đồi thông buồn.

Em bỏ sầu ở lại đại-dương
mặt hồ chạy quanh co phố chợ
em giờ môi má thôi hồng
những bông hoa đào cũng nhạt phai sắc đỏ.

Đi một mình giữa mùa thu xa chết
bên hồ hàng cây tan mưa
người đưa tay níu trời mà khóc
se lạnh lòng ai nhớ những ngày xưa.

Em cầm trong tay tuổi dậy thì
đóng cửa lao xao lung linh bờ ngực
con đường in dấu bước chân đi
em mang hoài vết thương về địa ngục.

Vội vàng chân trời khép kín
sao trời trôi ngơ ngẫn nước mặt hồ
lên đồi khóc òa tình trái chín
cuối dốc Hòa-bình mây ngũ bơ vơ.

Dưới hồ em lặng nhìn xe qua
vườn hoa cũ chừng như lười chải tóc
dưới trăng tiếng ai thầm thì
những đóa lan đỏ như màu môi đang khóc.

Hết rồi con đường xưa đã mất
tôi ngậm ngùi cầm tay em xa
quanh đồi bổng dưng ai hát
mối tình đi không hẹn ngày về.

Có thể quên sao đã đi rồi
chút bâng khuâng xa người
treo lên cây đứng ngó 
ly cà-phê bên hồ lãng đãng mây trôi
dấu nụ cười nữa đêm quán nhỏ.

Em mang chi trái tim đen của rắn
để tôi đi không thấy đường về
nước mắt người thôi đã cạn
đường chiều xao xuyến hương mê .

Em dấu tôi nụ cười
thôi em nỗi buồn đã khép
Đà-lạt chiều một mình thôi
gởi lại người trái tim tuồng như đã chết ...
                           Huy Uyên
READ MORE - GỞI LẠI CHO EM ĐÀ LẠT - thơ Huy Uyên

Ký: CẢM NHẬN SAU MỘT LỄ HỘI VU LAN - Mặc Phương Tử


Portland, Oregon


Ký: CẢM NHẬN SAU MỘT LỄ HỘI VU LAN 

Đến Louisiana, thành phố Gretna đã hơn 2 tuần, nay được huynh đệ mời đến Tiểu bang Oregon, thành phố Portland để trình bày giáo lý Đạo Hiếu đến với cộng đồng người Việt nhân mùa Vu Lan (tháng 7 âm lịch) theo truyền thống của Đạo Phật nói chung và có liên quan đến Đạo Nho cũng như qua tinh thần uống nước nhớ nguồn của nền văn hóa Việt đã được khởi động và hình thành một bản sắc đặc thù đã có tự ngàn xưa từ kho tàng ca dao của các bậc tiền hiền đã trải qua nhiều thời đại sáng tạo, chắt lọc, khơi nguồn đạo lý của dân tộc cho đến ngày hôm nay, và miên viễn cho cả những thế hệ mai sau.

Buổi lễ được tổ chức 2 ngày, và cả 2 ngày đều có chương trình văn nghệ, chủ yếu là ca nhạc vể Mẹ, Cha và Quê hương, chương trình ca nhạc bắt đầu từ lúc 2 giờ chiều đến 10 giờ tối cùng ngày. Trong tất cả những ca khúc nổi tiếng, chúng tôi còn nhớ như: Bông hồng dâng mẹ, Tình Cha, Đạo làm con, Mẹ tôi, Cha yêu con, Nhật ký của mẹ… Nhưng cũng lắm nỗi da diết, khát vọng về quê hương của những ai xa xứ qua những ca khúc bất hủ, như : Nỗi lòng xa xứ, Lối về đất mẹ, Sương trắng miền quê ngoại, Tình ca quê hương, Quê hương tôi miền Trung, Đất Phương Nam.v.v…

Trong những buổi lễ hội và văn nghệ như thế nầy, thường là rất đông đảo những bà con người Việt trong khu vực Thành phố, kể cả có những người từ những Tiểu bang lân cận cũng trở về, theo chúng tôi được biết, với số người đến dự trên dưới 2.000 người.

Sau thời trình bày giáo lý về đạo Hiếu, và tiếp đến qua nghi thức hành chánh lễ khai mạc chương trình văn nghệ, chúng tôi ngồi nán lại để thưởng thức những ca khúc tuyệt phẩm từ nguồn âm nhạc Việt nam xưa và nay, sau đó trở về phòng nghỉ sớm, nhưng cũng thức sớm theo thói quen thường khi là như vậy.

Được biết, sau gần nửa đêm, tàn cuộc vui chơi ăn uống với số lượng người đến như trên đã nói, chúng tôi bước ra, chợt thấy hiện trường của đêm qua mà không khỏi chạnh lòng nghỉ ngợi! Trên bàn và cả dưới mặt sân nhiều nơi trông thức ăn, nước uống, giấy, ly, đổ tung ra, ghế ngồi thì xoay chiều và ngả đủ hướng. Sau đó, những người đến phụ dọn dẹp, đồng thời lại nhờ 2 vị đi từ phía đầu ngõ dọc theo 2 bên đường để nhặt tàn thuốc, cả 2 cùng nhẫn nại ngồi đếm, mới biết ra trên 500 cùi tàn thuốc quăng bỏ bên đường. Nếu không làm như vậy thì điều gì sẽ xảy ra cho người tổ chức lễ hội và văn nghệ nói trên.

Sự thành công và ưu điểm của người Việt ở xứ nầy, phần lớn là ổn định chuyện làm và ăn ở, song song với việc ấy, họ hướng dẫn, tạo điều kiện cho con cháu học hành nên danh nên phận cho bản thân và gia đình. Đồng thời, họ lại cũng tích cực làm các công tác từ thiện, hướng tâm về đời sống có sự tu tập đạo đức, ý thức điều thiện ác, tốt xấu, nhất là lúc nào cũng nghe tâm tư luôn hướng vọng về tổ quốc, quê hương yêu dấu ngàn đời của cha ông. Thế nhưng trong ấy, chỉ có một ít người bởi do thiếu sự chăm sóc nhân cách, giáo dục đạo đức từ những bậc thức giả, trí giả truyền đi từ một nền văn hóa đạo lý ngàn đời. Ngay lúc ấy có vị chịu trách nhiệm tổ chức 2 đêm qua đang đứng gần bên, chúng tôi liền hỏi: Sao sự việc lại như thế nầy? Vị ấy không ngần ngại trả lời ngay: thì mình lấy tiền bán vé và bán thức ăn để gây quỹ, nên mình phải chịu như vậy thôi, chớ đâu nói gì với ai được!

Bấy giờ chúng tôi mới hiểu, thì ra là như vậy…!

Trở lại vấn đề Lễ hội Văn hóa đạo Hiếu và tâm linh được truyền đi từ tinh thần “Uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây…” trong mùa lễ hội Vu lan nầy, mà cũng là cội nguồn đạo lý chung của con người, một khi đã được sinh ra và lớn lên hòa cùng hơi thở với cuộc đời, mặc nhiên không một ai là khi mang thân một con người lại khước từ thoát ra khỏi những chất liệu sống ấy, cho dù ai đó có tôn lập niềm tin tín ngưỡng của hệ thức tôn giáo nào hay không một tôn giáo nào đi nữa, không những nó còn bất tuyệt đối với muôn loài khác. Cho nên truyền thống lễ hội “nhớ ơn và đền ơn” vẫn bất tuyệt và muôn trùng với không gian và thời gian, vẫn thắp sáng giá trị đặc thù trong mọi giá trị sinh tồn của con người qua lời dạy của Đức Phật : “…nầy các tỳ kheo, không biết ơn, không nhớ ơn. Đối với những người độc ác, đây là đặc tánh của họ được biết đến… Đây là hoàn toàn là địa vị kẻ không Chân nhân… là biết ơn, là nhớ ơn. Đối với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, nầy các tỳ kheo, tức là biết ơn, là nhớ ơn. Đây là hoàn toàn địa vị bậc Chân nhân…” (Kinh Tăng Chi I).

Và cũng từ lời dạy trên, chúng ta xuyên qua những đức tánh khác như: Đức Nhân, Đức Trí, Đức Tín, luôn biểu thị từ nguồn giáo dục của Đức Hiếu, vì Hiếu là căn bản của Đức do giáo dục mà sanh ra, nó nhân rộng từ bản thân, gia đình đến xã hội; “Ái thân giả, bất cảm ác vu nhân, Kính thân giả, bất cảm mạn vu nhân” (nếu có sự thương kính cha mẹ hay thân nhân của mình, thì không đem những hành động ác quấy và khinh mạn đối người người khác).

Vì thế, nền văn hóa đạo học tâm linh luôn giúp cho chúng ta có cái nhìn từ sự thực hành đích thực mà không phải chỉ bằng ngôn ngữ, ý tưởng xa xôi, có khi chỉ là sự đánh bóng kiến thức cập nhật nào đó để điểm tô cho lớp mỏng ảo huyền, thiếu chân tính ngay trong lòng cuộc sống mà chúng ta đang có mặt.

Ngày nào mà con người còn có biết bảo toàn chân tính từ những đặc thù trên, thì nền văn hóa đích thực mới được toàn diện hay trên con đường đi đến toàn diện, bằng trái lại, chỉ là bao nỗi lo âu đè nặng cho hiện tại và cho cả những thế hệ kế tiếp trong tương lai của nhân loại.

                              Tp Portland, Oregon, 19.8.2014.

                                      MẶC PHƯƠNG TỬ
READ MORE - Ký: CẢM NHẬN SAU MỘT LỄ HỘI VU LAN - Mặc Phương Tử

HOÀI NIỆM - thơ Trần Ngộ

Tác giả Trần Ngộ

HOÀI NIỆM

Mấy hôm nay như trẻ nhớ nhà
Thơ thẩn ra vào một mình ta
Ly rượu tân hôn còn choáng váng
Men tình quê mẹ mát lòng ta
Không phải Tử Kỳ chẳng Bá Nha
Cũng không phải bạn ngư tiều gặp nhau trên bãi
Vốn đã quen gió mát trăng trong
Bầu ngọt đắng say lần hội ngộ
Chuyện đời tan trong chén rượu hồng
Tủi thì tủi, mừng thì mừng
Hai bảy năm một lần gặp lại
Lệ không trào mà tim tê tái
Vẫn là em đang còn trẻ mãi
Như cái buổi tắm truồng khơ dại ngây ngô
Ta mê man không biết từ khi mô
Và ký ức cũng bừng lên rộn rã
Cảnh cùng người hoà nhã một trời vui
Vẫn là em vẫn là tôi
Của một thời chân đất mộc mạc
Ngày xa quê
Aó ôm tròn trái bưởi
Giọt lệ nào thương nhớ buổi tiễn đưa
Gói hành trang vỏn vẹn vầng trăng xưa
Chiều cuối xóm tiếng chuông chùa văng vẵng ... !

                                    (Kỷ niệm ngày đám cưới con trai trưởng 2002)

                                          Trần Ngộ
READ MORE - HOÀI NIỆM - thơ Trần Ngộ

THÁNG BẢY VỀ QUÊ - thơ PN Trương Đình Đăng

Tác giả Trương Đình Đăng tặng toàn tập Thi Phẩm của ông cho nhà thơ Võ Văn Hoa



THÁNG BẢY VỀ QUÊ

Đây Giáo Liêm, Triệu Độ
Mảnh đất nửa ngàn năm
Tổ Tiên tôi vào đó
Từ những ngày di Nam

Nước quê tôi mặn muối
Đất quê tôi chua đồng
Người quê tôi như đất
Chân chất mà thật lòng

Dưỡng nuôi tôi lớn khôn
Cạn khô bầu sữa mẹ
Sữa người dân nô lệ
Đủ cay, đắng, mặn, nồng,...

Một ngày phá xiềng gông
Giành Tự do Độc lập
Tôi cầm súng cầm gươm
Theo cha anh chống giặc

Ba mươi năm gót sắt
Lũ giặc lại xéo dày
Máu cha, anh, chú, bác,...
Thấm đỏ mảnh đất này

Về thăm quê, viếng mộ
Tưởng niệm hồn tiên linh
Khói hương khơi dòng nhớ
Nhoè mây trắng trời xanh

Phương Ngữ - Trương Đình Đăng
30 Nguyễn Văn Thoại, P Mỹ An, Q Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng
ĐT: 01239744707
READ MORE - THÁNG BẢY VỀ QUÊ - thơ PN Trương Đình Đăng

Sunday, August 24, 2014

Thơ Đoàn Vũ - ĐỘC HUYỀN, BÀ ĐI

Tác giả Đoàn Vũ


Thơ ĐOÀN VŨ

ĐỘC HUYỀN

Độc huyền rãi… khúc bi ai
Nghĩ thương con nước miệt mài đợi trăng
Chuông chùa ru giấc trường canh
Nghĩ thương vầng nguyệt vướng nhành cổ thi
Dòng sông độ lượng, từ bi...
Cưu mang ai? Khúc ai bi - độc huyền



BÀ ĐI 

Nén hương lòng lồ lộ bằng đôi mắt đỏ hoe. Chân thoắt nhanh về hướng núi. Cây cỏ trơ trơ lạ lẫm bước chân dồn. Doi cát ngày nao đâu còn…?! Núi đã địu trăng lên và trăng đã chít lên đầu tôi màu sữa. Bà đi lạnh khoác góc sân vườn.
           
Tôi về, Bà đi không kịp lời trối trăn. Nấm đất chơ vơ chiều tái nhợt. Tàn tro mẹ đã nhen lửa bên chiều Bà có ấm không bởi mùa này trở gió? Vệt trầu của Bà hắt lên chiều bổi hổi, tím bầm trong con Bà ơi!

Tôi về, men theo đám ruộng đầu hồi. Gốc duối già ôm đồm cả những xâu chùm gửi tựa hồ Bà địu tôi bao năm. Con mương cái đâm nhánh thật thà như khối lửa của trời giống hệt đôi bàn tay Bà tôi sần sùi một đời chai sạm chẳng một chút chao lòng thong dong, thong dong.

Tôi về, úp mặt hớp ngụm nước trong veo trôi lặng lờ giữa lòng mương cái. Giề cỏ lác đung đưa in hệt chiếc nôi đời. Ở cuối nách ruộng đầu hồi ổ khoai lùi lở dở đọng rạch ròi hơi hám của Bà tôi.


Ðoàn Vũ – Hội viên hội Văn Nghệ Bình Thuận.
Địa chỉ: 48 Trần Hưng Đạo, Phan Rí, Tuy Phong, Bình Thuận.
Điện thoại: 0915748434.
Email: vudoan0102@gmail.com.
READ MORE - Thơ Đoàn Vũ - ĐỘC HUYỀN, BÀ ĐI

NHỚ… CÕI NÀO XA - thơ Hoài Huyền Thanh



Anh còn nợ em bóng con đò nhỏ
Chở nỗi niềm về lại mái trường xưa
Dòng Mỹ Hòa Hưng ngập tràn cánh gió
Sóng dập dờn ôm ấp bóng trong mưa
             
Anh còn nợ em hoàng lan mấy độ
Buổi hẹn hò len lén vội trao thư
Bao nhiêu năm ta không về qua đó
Chốn ai đi có lạnh gió giao mùa?
              
Anh còn nợ em lời yêu chưa ngỏ
Bối rối bâng quơ bãi mía bờ lau
Mây trắng quá ! Trời xanh trong hở nhỏ?
Nắng nồng nàn anh giấu biệt nơi nào?!
              
Anh còn nợ em những mùa nước lớn
Cùng chống xuồng phụ đạo học trò xa
Vàng điên điển, súng tím xanh mơn mởn
Thương tấm lòng thầy cô giáo xa nhà

Anh còn nợ em đêm dài thức trắng         
Chèn lớp lá thưa chống dột mái nhà
Thương đám học trò  đầu trần chân đất
Bát cháo thơm lừng chợt nhớ quê xa
              
Anh còn nợ em đời dài xa ngái…
Lời thì thầm nhen nhúm gói trong mơ
Mong phép lạ mang mùa xưa trở lại
Cõi nào xa… không chín đợi mười chờ 
               
Trôi mù mịt cõi nào xa lắc lắm!
Trần gian ơi xin thứ lỗi ngày về…
Nơi ta đến trời hanh hao ảo vọng
Thăm thẳm nẻo đời xa khuất bến mê.

                    HOÀI HUYỀN THANH


READ MORE - NHỚ… CÕI NÀO XA - thơ Hoài Huyền Thanh

Saturday, August 23, 2014

NGŨ ĐẠI MỸ NHÂN: TRẦN VIÊN VIÊN - biên khảo của Chu Vương Miện

Trần Viên Viên. Ảnh từ vi.wikipedia.org

  
Năm 163, miền tây bắc Trung Hoa đói kém kinh khủng, dân chúng ăn rễ và vỏ cây, khi hết cây cỏ họ phải ăn đất. Vậy mà vua Minh Tự Tôn [tức vua Sùng Chính] vẫn bắt họ è cổ ra đóng thuế để có tiền nuôi binh lính đánh nhau với nhà MãnThanh, thuế tăng lên gấp 16 lần bình thường.
Bị dồn vào thế cùng, dân chúng phải họp nhau làm loạn, làm giặc. Cả ngàn đồng một lít gạo dân chúng làm sao chịu cho nổi, trong khi đó bọn vua quan, quí tộc rất phè phỡn, có người làm chủ cả triệu mẫu đất [50.000 hecta] bắt nông dân nộp thuế đều đều. Loạn nổi lên bắt đầu từ miền tây, tiềp theo là Sơn Đông ở miền Đông [nước Tề cũ]
Hội kín Bạch Liên Giáo gần hàng vạn tín đồ kéo nhau đi cướp bóc, chém giết các quan lại. Phía Đông Nam, một tên cướp cũng chiếm đảo Đàiloan.Tóm lại, từ năm 161 đến 1649, không nơi nào trên đất nhà Minh yên. Đã đến lúc nhà Minh phải sụp đổ.
Hai viên đầu đảng được nông dân ùn ùn theo là Trương Hiến Trung và Lý Tư Thành [sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê, trang 160, quyển 2]. Trương Hiến trung không đáng kể, lực lượng đáng kể là Lý Tư Thành [tự xưng là Sấm Vương] được tam bang tứ trại trong giang hồ yểm trợ. Trong các đồng đạo võ lâm thời bấy giờ có phái Hoa Sơn là mạnh nhất hổ trợ tối đa [cụ thế là Viên Thừa Chí là con trai của đốc quân đại tướng Viên Sùng Hoán].

Tứ đại mỹ nhân trong văn chương cổ Trung Hoa ngày xưa là :
-Tây thi –lạc nhạn [nhạn rơi]
-Chiêu Quân – trầm ngư [cá lăn]
-Điêu thuyền –bế nguyệt [trăng thện]
-Dương Ngọc Hoàn –tu hoa [hoa nhường]
Trong bốn vị đại Mỹ nhân này thì người thứ ba [tức Điêu Thuyền] chỉ là nhân vật hư cấu của đại văn hào La Quán trung mà thôi. Thực tế trong thời Tam Quốc, không có người nữ nào thực danh là Điêu Thuyền cả. Tây Thi thời chiến quốc người nước Việt [nguyên giai nhân giặt lụa ở bến Trữ La]. Chiêu Quân thời Tây Hán. Dương Ngọc Hoàn thời trung Đường. Đến thời Minh mạt Thanh sơ, ở Trung Hoa xuất hiện thêm một mỹ nhân nữa  tên là Trần Viên Viên, sắc đẹp và tài năng có lẽ không thua ba mỹ nhân trên, nhưng về phá tướng, làm quốc gia suy vong thì có lẽ Trần Viên Viên là người đứng đầu sổ đoạn trưòng.
Trần Viên Viên là gái yên hoa lầu xanh, nức tiếng ngoài những vương tôn vọng tộc, ngay vua Sùng Chính, Ngô Tam Quế, Lý Tư Thành cũng vì nàng mà nhà tan cửa nát, mất mạng, mất nước. Trước khi đề cập tới ngũ đại mỹ nhân Trần Viên Viên, xin tóm tắt sơ sài qua bộ phim Bích Huyết Kiếm. Bộ này được dàn dựng theo tác phẩm của đại văn hào Kim Dung ở Hồng Kông, bộ này được sáng tác trước bộ Lộc Đỉnh Ký.
Bị kế ly gián của Hoàng Thái Cực [vua nhà Thanh] nên vua Sùng Chính đa nghi giết chết oan cha của Viên Thừa Chí là Viên Sùng Hoán, nên Viên Thừa Chí được các sư huynh sư đệ phò trợ hết mình [để trả thù cho cha] tức là phải tiêu diệt nhà Minh. Trong những người này gồm có Qui Tân Thịu, Phùng Nan Địch, ngoài ra còn thêm Ngũ Độc Giáo mang hết nhân lực ra yểm trợ cho Sấm Vương Lý Tư Thành.
Dân chúng đã lầm than thống khổ cuối nhà Minh, bao nhiêu hào kiệt theo Sấm Vương làm loạn kéo xập nhà Minh. Nhờ kiếm được tấm bản đồ [tầm bảo] mà kiếm ra được kho tàng. Sấm Vương quá thành công khi mang quân vào Tràng An, cho quân lính của mình tự do ăn cướp thả cửa ba ngày ba đêm sau đó ổn định và đăng cơ làm vua.
Tất cả anh hùng hào kiệt trong tam bang tứ trại đều bị thanh trừng, ai may mắn thời chạy thoát. Lý Tư Thành sau đó lại lộ ra bản chất của một kẻ côn đồ, không có lý tưởng gì cả, dân chúng lại khổ hơn dưới thời Minh Sùng Chính.
 Trở lại chuyện Mỹ nhân Trần Viên Viên. Trước đó vì quá nổi tiếng nên được đem nạp cho vua Sùng Chính, ở trong nội cung được vài tháng, vì quá say mê nhan sắc của nàng và tửu sắc quá độ nên nhà vua bị bệnh đau liệt giường, sau nghe lời can gián của triều đình, vua Sùng Chính gả Trần Viên Viên cho Ngô Tam Quế đang trấn thủ  ở Sơn Hải Quan làm thiếp. Trần Viên Viên vốn là tình nhân của Sấm Vương Lý tư Thành nên Lý Tư Thành bèn nổi loạn, cuộc nổi loạn này có hai mục đich:
1/Muốn chiếm cho được giang san nhà đại Minh.
2/Muốn cướp lại mỹ nhân Trần Viên Viên.
 Lúc Lý Tư Thành chiếm Tràng An, người mà Lý Tư Thành sợ nhất là Ngô Tam Quế. Lúc đó thời Ngô Tam Quế đi hàng hai, là có thể theo Lý tư Thành, mà cũng có thể mở cửa Sơn Hải Quan cho quân Thanh nhập quan giúp nhà Minh. Lý Tư Thành bỏ ra 40.000 lạng bạc để tặng Ngô Tam Quế nhưng Quế không cần vàng bạc mà chỉ một điếu kiện tối hậu là mỹ nhân Trần Viên Viên. Quá nóng nẩy và bộp chộp, Lý Tư thành phái tướng mang 20.000 quân cấp kỳ tấn công Ngô Tam Quế, nhưng Lý Tư Thành thua, Ngô Tam Quế  hy vọng đuổi được Lý Tư Thành rồi nhường cho nhà Thanh một số quyền lợi nào đó thì họ sẽ rút quân về Mãn Châu, không dè phụ chính của nhà Thanh lúc đó là Hoàng thúc Đa Nhĩ Cổn [chú ruột cả vua Thuận Trị], đưa vua Thuận Trị vào Bắc Kinh lên ngôi [lúc đó mới vừa 7 tuổi]. Quế được tin như người mất hồn, suốt ngày đóng cửa không tiếp ai, vừa mất ngôi vua lại bị nhà Thanh áp chế.
Trong một buổi tiệc ở cung đình, phụ chính của vua Thanh là Đa Nhĩ Cổn hỏi Bình tây Vương Ngô Tam Quế rằng:
-Lý do nào mà khanh mở cửa Sơn Hải quan cho quân Thanh tràn vào chiếm luôn nhà Minh?
Ngô Tam Quế tâu:
-Chả có lý do chính đáng nào cả. Cả đời thân chỉ có yêu say mê duy nhất một nguoì là Trần Viên Viên, mà nay nàng lọt vào tay Lý Tư Thành, thì bằng mọi cách mọi giá thần phải đoạt lại cho bằng được, Quê hương tổ quốc dân tộc chẳng qua cũng chỉ là một cách nói, bây giờ mỹ nhân Trần Viên Viên đã ở trong tay thần, thì mộng ước cũng kể như đã thỏa.
Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn hỏi tiếp :
-Vậy ngưới có biết ta mang quân nhập vào trung nguyên để làm cái gì không?
Ngô Tam Quế thưa: Không.
Đa Nhĩ Cổn ôn tồn đáp :
-Ta cũng y như nhà ngươi vậy. Nhà Thanh ta cũng không màng, làm vua ta cũng không màng. Trong đời của ta, ta chỉ yêu có mỗi Trang Phi, mà nàng lại là hòang hậu [vợ của vua anh]. Ta giết chết hoàng huynh Hoàng Thái Cực cũng vì nàng, mà ta xua quân chiếm toàn bộ đất đai của nhà Minh cũng vì nàng, chớ ta có biết chiếm giang san nhà đại Minh để làm cái gì?
Vua Sùng Chính tự tử chết. Công chúa Trường Bình đi tu theo Thiết Kiếm môn pháp hiệu là Cửu Nạn Sư Thái. Nhà Minh đã làm khổ bá tánh, Sấm Vượng lại làm khổ hơn, sau cùng dẫn đến mất nước cho nhà Đại Thanh. 

                                           Chu Vương Miện


READ MORE - NGŨ ĐẠI MỸ NHÂN: TRẦN VIÊN VIÊN - biên khảo của Chu Vương Miện

Trúc Thanh Tâm - CHÙM LỤC BÁT SỐ 14



THƠ  TRÚC THANH TÂM

1. THỜI GIAN

Hình như suối cũng tương tư
Khi hương và gió đến từ nẻo xa
Cuộc đời còn lại đôi ta
Mắt chìm trong mắt sợ già thời gian!


2. LỘC XUÂN

Nhạc trời rớt lại tiếng xưa
Trong mầm cây nhú một mùa tóc tơ
Thời gian cánh én đưa đò
Trái tim hé cửa đón chờ lộc xuân!


3. HƯƠNG ĐỜI

Thuyền trăng trời kéo cánh buồm
Chơi vơi sóng bạc cọng buồn bấp bênh
Đời còn nhiều thứ ta quên
Chỉ còn tình để mình tìm về nhau!


4. ĐANG YÊU

Dựa đầu, nhích sát vào thêm
Không gian mở lối chiều quên nắng rồi
Giật mình, chiếc lá thu rơi
Em ơi có thấy đất trời đang yêu!


TRÚC THANH TÂM
(Châu Đốc)


READ MORE - Trúc Thanh Tâm - CHÙM LỤC BÁT SỐ 14

MẬN TRUNG LƯƠNG, TRÁI CÂY MỘT THỜI VANG BÓNG - Kha Tiệm Ly





MẬN TRUNG LƯƠNG, TRÁI CÂY MỘT THỜI VANG BÓNG
                                                                       
                                                                           Kha Tiệm Ly


Váo thập niên 60 - 70, dọc theo đường lên Sài Gòn, hai bên đường từ “Thành Mỹ”(cầu Đạo Ngạn)  đến khỏi Câu Đôi (Cầu Sắt) một đổi; rồi sâu vào miệt vườn Đạo Thạnh, Trung An, nhà nhà đều trồng một loại mận có tên rất nên thơ : Hồng Đào!

Đúng như cái tên, mận Hồng Đào có màu da hồng nhạt, trái không thon hình quả chuông như các loại mận khác, mà hình hơi tròn, có nhiều trái bề ngang lại lớn hơn cả bề dài!  Đặc biệt là mình mận cứng, ăn giòn, ít nước nhưng vị ngọt thì đậm đà, chưa thấy một loại mận nào “qua” được; đó là nói về “Hồng Đào Sọc”; với “Hồng Đáo Đá”, thì da  hồng hơn, thân càng cứng hơn (đá mà!); đây là điểm ưu việt giúp cho thân mận khỏi bị giập trong việc thu hoạch hay di chuyển xa. Khi “chín tới”, cầm trái mận ta lắc lắc thì nó kêu lụp cụp vì những hột bên trong đã “nhả ruột” (hột không còn dính vào ruột mận nữa); lúc nầy hột đã chuyển từ màu trắng qua màu nâu sậm.

Tên mận là Hồng Đào, nhưng sao lại thường gọi là “mận Trung Lương”? Câu trả lời cũng giống như “Vú sữa Lò Rèn”, “xá lị Bắc Mỹ Thuận”… , tức là địa danh trồng và được tập trung bán loại trái cây ấy nhiều (mà phải ngon, nổi tiếng) mà thôi!

Mọi loại xe ngược xuôi qua Trung Lương, hầu hết đều ghé nơi nấy và ít ai lại không nghĩ tới mua vài kí mận, là đặc sản, lại vừa rẻ tiền, vừa ngon, vừa nổi tiếng để biếu người thân, hay ít nhất cũng mua một vài gói mà thưởng thức cho vui miệng trên bước hành trình thiên lý.

Những năm đó ngã ba Trung Lương đường sá còn chật hẹp; thế mà các xe, nhất là xe đò, tài xế phải dừng lại nơi đấy theo lời yêu cầu của hành khách  để … mua mận. Dòng lên, dòng xuống, xe đậu chật ních cả một quãng đường, để tha hồ chọn mua hàng chục món hàng của đội quân bán rong theo xe rao ỏm tỏi, nhưng nhiều nhất vẫn là: “Mận đây! Mận đây! Mận mới hái đây!”

Hồi ấy chưa phát minh ra túi nylon, mận được gói vào một miếng là chuối lớn hay mảnh nhật trình, kèm với gói muối ớt., (cũng gói bằng giấy nhật trình) So với giá các loại thức ăn khác thì gói mận tương đối “coi được”, nhưng so với mua thẳng tại vườn thì vốn một lời … mười!

Ai từng là học sinh, dù là học sinh chuyên cần đến mấy cũng  khoái những giờ nghỉ đột xuất khi mà giáo sư (từ gọi giáo viên bậc trung học thời đó), bận việc không đến lớp được; thế là nhà trường cho lớp ấy về sớm! Thừa dịp nầy, chúng tôi đèo nhau trên xe đạp chạy thẳng đến Trung Lương, vào vườn  mua mận và “xực” liền tại chỗ! Chủ vườn thấy học sinh, mặt mày sạch sẽ (mà túi ít tiền!) sẵn mận đã hái từng đống lớn, cứ hốt mà bán cho chúng tôi cho có lệ với số lượng tượng trưng, còn cứ ăn cho “đã”, chừng nào… bể bụng thì thôi! Chủ vườn cũng không quên tặng cho một chén nước mắm đường và một ít ớt hiểm để tự ý dầm vào theo khẩu vị.

Ăn mận Trung Lương mà lấy hai ngón tay cái bấu vào đít (mận) để tách hai ra là không đúng điệu nghệ; mà phải cho trái mận vào lòng hai bàn tay rồi ép mạnh; nó sẽ kêu cái “rốp”, đồng thời bể ra làm tư, làm năm tạo thành những cái ngao nhỏ; lấy ngao nầy múc nước mắm đường ớt, cho vào miệng thì các mùi vị của ngọt, mặn, cay hòa lẫn nhau, vừa ăn vừa hít hà, nước miếng nước mồm tuông ra mỏi cả hai má!

Chỉ cần trịch qua hông nhà, chúng tôi có thể chiêm ngưỡng được một vùng cây trái no lành. Cây nọ giáp lá với cây kia: Mận ơi là mận! Mận đỏ trên cây, mận oằn cả nhánh, mận rụng nghẹt đất, nghẹt mương; không cơ man nào nói hết!

Mận Trung Lương đi vào lòng người dân khắp cả các tỉnh miền đông , miền tây  nam bộ; mận đã đi vào thơ ca, Nhiều người “rành sáu câu” với bài vọng cổ “Quả Mân Trung Lương” của soạn giả Viễn Châu.

Lại thuở đó, người ta thường nghe câu hát bên tiếng võng đu đưa: “ Ầu ơ… Bánh canh trắng, cọng vắn cọng dài / Bánh tằm xe, cọng dài cọng vắn…Ầu ơ… / Xứ Mỹ Tho gạo trắng nước trong…ờ… / Gái Mỹ Tho tuy dang nắng / (Mà) má vẫn hồng như điểm phấn tô son… Ơ hờ… / Anh ơi! Muốn chơi hoa thì kiếm gái Sài Gòn… ờ hơ  … / Còn (như) muốn tìn người vợ hiền dâu thảo… Ầu ơ… / Thì anh hãy xuống  miệt vườn Trung Lương… Ầu ơ!...”

Chúng tôi không biết đó là ca dao hay bài thơ của tác giả nào, nhưng chắc chắn nó phải có xuất xứ từ “miệt vườn Trung Lương”, và chắn chắn hơn nữa là các cô gái Trung Lương rất hãnh diện vì bài hát ru em  (hay bài thơ ) ấy, ngược lại các cô “gái Sài gòn” mà nghe qua chắc phải tức điên người!

Chúng tôi dù có tâm hồn hoài cổ, nhưng không phải như vậy mà cứ khen bừa những chuyện xưa. Công tâm mà nói, dù ngày nay có nhiều giống mận được cấy ghép, pha giống để cho năng suất và chất lượng hoàn hảo nhất (như mận An Phước chẳng hạn), nhưng nếu để trên bàn cân với mận Hồng Đào, thi đòn cân chắc chắn sẽ nghiêng về phía mận có cái tên  mà khi xưa đã một thời vang bóng!

                                                                              Kha Tiệm Ly
READ MORE - MẬN TRUNG LƯƠNG, TRÁI CÂY MỘT THỜI VANG BÓNG - Kha Tiệm Ly

Friday, August 22, 2014

THU B'LAO - Hoàng Yên Lynh




  THU B'LAO

  Mùa thu vàng khóm lá
  Nắng hanh vàng bên nương
  Sơn nữ hồng đôi má
  Sương khói chiều vấn vương .

  Một màu xanh, xanh thẳm
  Ngút xanh cuối chân trời
  Hương trà loang trong nắng
  Bên đồi chiếc lá rơi.

  Ngỡ ngàng mùa thu đến
  Với đất trời mông mênh
  Và thu ơi đến hẹn
  Đậm đà hương cao nguyên

  Áo chàm nghiêng khe suối
  Tiếng ai cười trong veo
  Lên nương gùi bước vội
  Buôn làng chiêng trống reo.

  Thế là... mùa thu tới
  Sơn nữ trải chiếu hồng
  Đón chồng vào hội mới
  Bao mùa thu đợi mong ...

  Hoàng Yên Lynh
  Thu B'lao 2014


READ MORE - THU B'LAO - Hoàng Yên Lynh

Thursday, August 21, 2014

Thơ Trúc Thanh Tâm - MỪNG SINH NHẬT TÔI




MỪNG SINH NHẬT TÔI

Tôi đi nhặt hết nỗi buồn
Để cho sông chảy về nguồn cội xưa


Tôi đi nhặt hết hẹn hò
Để cho chung thủy qua đò nhân duyên

Tôi đi nhặt hết mưa quên
Để cho nắng nhớ từ tiền kiếp ta

Tôi đi nhặt hết hương hoa
Để cho trái đất còn quà tặng nhau.

Sinh nhật lần thứ 66 - 21.8.2014
TRÚC THANH TÂM
READ MORE - Thơ Trúc Thanh Tâm - MỪNG SINH NHẬT TÔI

THƠ HOÀNG YÊN LYNH

Tác giả Hoàng Yên Lynh


CỐ TRI

Này cố tri ơi giờ vạn dặm
Ngăn sông cách núi nhớ gì không ?
Trăng cứ vơi đầy theo năm tháng
Ngõ vắng thềm rêu có chạnh lòng .


ĐỒNG ĐỘI

Tìm mãi tên anh hàng bia mộ
Thì ra đã bốn chục năm rồi
Số quân còn nét hằn ghi rõ
Trở về đồng đội chỉ mình tôi.


CANH THÂU

Mưa vẫn mưa đêm hun hút sâu
Soi lại đời ta đã bạc đầu
Nhục vinh thôi cũng mòn thiên hạ
Mà vẫn chưa vơi vạn lý sầu.


                        Hoàng Yên Lynh
READ MORE - THƠ HOÀNG YÊN LYNH