Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 18, 2013

CHÙM THƠ CẢM TÁC HOÀNG HẠC LÂU - Nhiều tác giả



 Bài xướng:

 LẦU HOÀNG HẠC


Hạc vàng bay mất tự bao giờ
Mà mái lầu xưa vẫn đứng trơ
Đôi cánh vút đi không trở lại
Ngàn mây lờ lững mãi mong chờ
Hán Dương gờn gợn cây lồng bóng
Anh Vũ mơn man cỏ phủ bờ
Sương khói trên sông, chiều bãng lãng
Quê hương vời vợi khuất xa mờ...

       Sông Thu dịch Hoàng Hạc Lâu, thơ Thôi Hiệu

Các bài họa:

LẦU HOÀNG HẠC

Hạc bay biền biệt tận đâu giờ
Lầu cũ buồn hiu mái lạnh trơ
Bận bịu người đi không hẹn lại
Hững hờ mây trắng mãi trông chờ
Hán Dương cây cảnh đà thay lá
Anh Vũ cỏ hoa đã rậm bờ
Lãng đãng trời chiều mây ảm đạm
Trên sông sầu muộn phủ giăng mờ

                                  Thanh Trương


ĐÂU CÒN NỮA

Loài hạc mất tăm tự bấy giờ
Đầm lầy chỉ thấy cỏ năn trơ
Môi trường ô nhiễm không về lại ( 1)
Cảnh vật cằn khô chẳng đến chờ ( 2)
Rừng núi thưa dần cây phủ bóng
Đồng bằng thiếu vắng cỏ che bờ
Chim trời cá nước đâu còn nữa
Thế giới tương lai tối mịt mờ

                                      16-01-2013
                                      Hoàng Từ

1.     Chim hạc bay đi không về lại
2.     Chim chẳng đến để chờ môi trường tốt hơn


 ĐỌC LẠI THƠ XƯA

Hoàng hạc xa bay tự bấy giờ
Ngàn năm cảnh vật vẫn còn trơ
Mây xưa trắng phủ màu thương nhớ
Mái cũ nâu che sắc  đợi chờ                  
Nắng biếc Hán Dương dài chiếc bóng
Cỏ xanh Anh Vũ rộng đôi bờ
Tìm đâu khói tỏa thời xa đó ?
Vời vợi quê hương, lệ ướt mờ...

                        THY LỆ TRANG
                        MASSACHUSETS


HOÀNG HẠC LÂU

Truyền mãi ngàn xưa cho đến giờ
Hạc vàng tung cánh để lầu trơ
Trần gian thưa thớt tiên còn hẹn
Nhân thế nhúc nhung tục vẫn chờ
Thắng tích gợi hồn thơ bất tận
Cảnh quang mở niệm ý vô bờ
Người đi đất ở tình son sắt
Sông rộng trời cao bóng tháp mờ

                             Nha Trang,17.01.2013
                             Võ Sĩ Quý


HOÀNG HẠC LÂU

Cái hạc bay xa tự bấy giờ                  
Lầu tình vắng chủ đứng buồn trơ
Trên trời Hạc-trắng không quay lại      
Dưới đất non xanh mãi ngóng chờ       
Cây cảnh Hán-Dương chồi nứt lá
Cỏ hoa Anh-Vũ nụ chen bờ                      
Người đi, chốn cũ nhiều nhung nhớ 
Mây nước từ nay khuất mắt mờ.

                                     Cao Bằng

  
THĂM LẦU HOÀNG HẠC


Cưỡi hạc vàng bay tự bấy giờ
Mà lầu kỷ niệm cũ còn trơ?
Người đi tìm lại hình mây đợi
Ta đến thấy đâu bóng nước chờ.
Dương Tử sông xanh ôm trọn bãi
Xà Sơn núi biếc ấp quanh bờ.
Nắng chiều lấp loá vờn trên sóng
Chợt nhớ cố hương  mắt lệ mờ.

                                Lương Thế Hùng 
                                17/01/2013


  CẢM TÁC HOÀNG-HẠC-LÂU
                          
  Hạc đi buổi ấy tự bao giờ
  Lầu vắng ngàn năm sương nắng trơ
  Ai đó chuyện xưa, hồn ngớ ngẫn
  Người đây tích cũ, ý mong chờ
  Hán-Dương cây nước chừ tan biến
  Anh-Vũ cỏ hoa đã rụi bờ
  Chỉ áng thơ hay lưu hậu thế
  Cảnh tình muôn thuở vẫn chưa mờ.

                             MẠNH-TRƯƠNG
                             Washington DC/USA


 CẢM TÁC ĐỌC LẠI THƠ XƯA

Hạc vàng người cỡi biết đâu giờ ?
Lầu cũ rêu phong mãi cứ trơ
Một thuở cánh xưa bay vút mất
Ngàn năm mây trắng vẫn trông chờ
Hán Dương ngần bạc trăng tràn bến
Anh Vũ xanh non cỏ ngút bờ
Chiều nắng nhẹ buông quê khuất bóng
Não lòng sóng biếc khói sương mờ.

                                Trần Văn Hạng
                                 


SÔNG THU biên tập
songthu195@yahoo.com.vn

READ MORE - CHÙM THƠ CẢM TÁC HOÀNG HẠC LÂU - Nhiều tác giả

XA NHAU KỶ NIỆM DÒNG NÀY - Dương Thế Kinh Luân


Tốt nghiệp Đại học với bằng kỷ sư xây dựng, có việc làm trong một công ty xây dựng lớn tại miền Trung, lấy vợ là một bác sĩ tại một bệnh viện ở trung tâm thành phố Đà Nẵng, tập tành làm thơ viết văn, cuộc đời của Dương Thế Kinh Luân - con trai nhà thơ Thế Lộc – quả là may mắn và  hạnh phúc mà không phải thanh niên độ tuổi 30 nào cũng có được. Thế nhưng ông trời thương không trót, cách đây đúng một năm, vào ngày 8 tháng Chạp năm Tân Mão, một tai nạn giao thông đã cướp mất cậu con út của nhà thơ Thế Lộc, để lại nỗi đau đớn vô hạn cho gia đình anh và nỗi tiếc thương cho bạn bè và đồng nghiệp, để lại hạnh phúc dở dang cho người vợ đang mang thai đứa con đầu lòng vừa tròn 8 tháng.

Nhân ngày giỗ đầu của Dương Thế Kinh Luân (ngày 8 tháng Chạp năm Nhâm Thìn), nhà thơ Thế Lộc gởi đăng hai tác phầm đầu tay và cũng là cuối cùng của người con quá cố của anh. VNQT xin chia buồn cùng nhà thơ Thế Lộc và trân trọng giới thiệu.


Dương Thế Kinh Luân


XA NHAU KỶ NIỆM DÒNG NÀY

            Hè! tiếng gọi quen thuộc của tuổi học trò, mỗi lần nhắc đến ai cũng vui mừng, phấn khởi vì mình có thể thư giản, vui chơi thỏa thích để trút bỏ mọi ưu phiền trong lòng cũng như trong học tập. Nhưng sao hè này mình chẳng muốn nó đến chút nào, làm sao mình có thể cản được, thời gian mà ! Nó trôi đi một cách phũ phàng và sẽ không bao giờ trở lại. Mình biết hè đến cũng là lúc mình, các bạn và thầy cô phải xa nhau mãi mãi, mình không muốn những gì bao năm có được bây giờ lại tan biến tất cả: Thầy, cô, bạn bè, tuổi học trò ư? Không, mình không đủ can đảm để lĩnh nhận sự thật ấy. Bao năm cùng bạn bè sống chung trong một mái trường, cùng nhau san sẻ mọi biến cố, dù trong mọi hoàn cảnh vui hay buồn thì bây giờ bỗng phút chốc trắng tay, mình không còn oán trách ai, mà chỉ trách tạo hóa hay trêu ngươi, thường trái ngược với cuộc đời. Bây giờ còn đây những gương mặt, cử chỉ, điệu bộ, mình phải biết trân trọng vì bước chân ra trường sẽ là mất nhau, không biết sau này sẽ như thế nào, nếu như năm năm, mười năm rồi hai mươi năm sau trong cuộc sống bận rộn, hối hả xuôi ngược của cuộc đời mình có thể gặp lại các bạn không? Có rảnh để ngồi lại hàn huyên nói chuyện, tán gẩu như ngày xưa không? Hàng loạt câu hỏi cứ tuôn ra, mình không biết, mình phó mặc tất cả, mình tự để cho thời gian trả lời. Nhưng mình vẫn mong và hy vọng các bạn một điều là vẫn luôn nhớ đến ngôi trương Hồng Đức nơi đã dạy cho chúng mình những tri thức để bước vào đời và cũng là nhịp cầu cho chúng mình quen nhau.
                        Ba năm là dài hay ngắn
                        Sao bỗng thẫn thờ giây phút chia tay
         Một việc nữa mà mình vẫn luôn giấu giếm bấy lâu nay, mình để nó trong tận trái tim này của mình, mình cảm ơn cô chủ nhiệm lớp 12/3 cô Nguyễn Thị Trinh, người đã tận tụy dẫn dắt và luôn có mặt kịp thời để giúp đỡ mình trong những tháng ngày qua,. Lúc ấy mình cảm thấy như một luồng hơi ấm của một người Mẹ dịu hiền. Bây giờ nghĩ lại mình thật có lỗi với cô, mình đã làm cho một người Mẹ phải buồn về đứa con ngỗ nghịch. Bao lần mình đã phạm hết sai lầm nầy đến sai lầm khác, nhưng cô vẫn từ tốn phân tích lời hay lẽ phải. Nhưng cũng có lúc cô chỉ buồn và lặng lẽ làm thinh, mình biết lúc cô lặng lẽ cũng là giây phút cô buồn nhất, cũng nhờ những lời trách móc, sự lặng lẽ buồn của cô đã làm cho đứa con này thay đổi.
       Cô ơi, nhờ cô mà em đã thay đổi, những lời này thật sự thốt ra từ đáy lòng của em, em không dối trá, em không muốn lời thú tội của một người con nói ra khi đã quá muộn màng. Em không định nói ra nhưng không nói sẽ không còn cơ hội nào để tỏ bày nữa. Có ai đó đã nói rằng "Nghề giáo như một nghề chèo đò, mỗi năm là một chuyến đò chở khách qua sông". Nhưng riêng em thì em không nghĩ như vậy. Dù sao đi nữa, bên em vẫn vang vọng tiếng của cô như lời nhắc nhở, bài giảng của cô như chắp cánh ước mơ cho em bay khỏi vùng trời cổ tích. Có những lúc lặng thầm em ngắm vầng trán cô đọng lại những nếp nhăn ... Tuổi thơ em như ánh trăng rằm, sao thấy được nỗi lòng cô cùng năm tháng. Đã đi qua một thời gian em đã lớn, bài học đầu tiên em hiểu được Thầy Cô. Lời giải đáp cho em không còn là ẩn số mà cả tấm lòng của gió, em gởi lòng mình thương kính đến Cô yêu .

DƯƠNG THẾ KINH LUÂN
Trích DƯ ÂM tuyển tập thơ văn lớp 12/3 trường PTTH HỒNG ĐỨC  năm 1999.


CON KHÔNG QUÊN

Ngày tôi về em ra đầu ngõ đón
Nước mắt lăn dài vai nhỏ run run
Em kể lể trong từng cơn nấc nghẹn
Mẹ qua đời giữa đêm lụt vừa qua

Xác Mẹ trôi theo cơn lũ băng nhà
Rồi vướng lại nơi hàng tre cuối xóm
Mấy ngày sau nước đi, xác Mẹ sạm
Dân làng mình chôn Mẹ đậm tình thương

Cơn lũ đi qua như bải chiến trường
Nhưng tình quê hương còn cao hơn lũ
Em lớn lên làm người dân xứ Quảng
Ngàn đời không quên nghĩa xóm tình làng.

DƯƠNG THẾ KINH LUÂN
(Trích Đặc san ĐỨNG TRÊN ĐỈNH LŨ, trang 130, do Ban Tuyên Giáo Thành Ủy và Hội Văn Học Nghệ Thuật TP Đà Nẵng xuất bản tháng 01 năm 2000 .

READ MORE - XA NHAU KỶ NIỆM DÒNG NÀY - Dương Thế Kinh Luân

Thursday, January 17, 2013

HOA ANH ĐÀO VŨNG TÀU KHOE SẮC MỘT GÓC XUÂN- video Dương Đình Hùng







DƯƠNG ĐÌNH HÙNG
Sinh năm 1950 – Huế.
Tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa Sài Gòn.
Bác sĩ Bệnh viện Chợ Rẫy, Dưỡng đường Cao Bá Nhạ, Thẩm mỹ viện Ngô Văn Hiếu, Cẩm Thạch…
Email: drduongdinhhung@gmail.com
ĐT: 84.8.8325708



ĐỌC THÊM VỀ HOA ANH ĐÀO VŨNG TÀU
 Vào mùa xuân, du khách đến Vũng Tàu sẽ rất ngạc nhiên khi bắt gặp rừng hoa anh đào nở rộ bạt ngàn hai bên tỉnh lộ 44, đoạn từ đèo Nước Ngọt đến Cầu Tum, dưới chân núi Minh Đạm, thuộc xã Phước Hải (huyện Đất Đỏ).

Hoa anh đào ở đây có hai màu: trắng tinh và hồng phớt. Không ai biết lai lịch của loài hoa anh đào này. Nếu có người mang từ Nhật về trồng thì cách đây có thể vài thể kỷ, bởi phải có thời gian thật lâu để một vài cây phát triển thành một rừng cây và mọc tự nhiên như cây bản địa, không cần chăm sóc. 


Thế nhưng giờ đây, rừng hoa anh đào Phước Hải lại đang đứng trước nguy cơ bị "xoá sổ"… 


Năm 2005, khi tuyến đường ven biển bắt đầu thi công qua đây, nhiều cây anh đào ven đường theo đó bị đốn hạ, làm cho cánh rừng trở nên xơ xác … Ngành du lịch cũng bắt đầu triển khai xây dựng các khu du lịch và vô số cây hoa anh đào nữa bị đốn hạ không thương tiếc, một số cây còn lại bị khói bụi phủ lên, bị chặt cành, trơ gốc, trông quá tiêu điều. Hậu quả là diện tích rừng hoa anh đào đang bị thu hẹp. Người ta quên rằng khu du lịch ven biển thì suốt dọc bờ biển Việt Nam, ở đâu mà chẳng có, thậm chí nhiều nơi còn tốt hơn Vũng Tàu, nhưng chỉ ở Vũng Tàu mới có hoa anh đào.


Phát triển du lịch là đúng nhưng phải gắn liền với bảo tồn thiên nhiên, phải giữ nét đẹp đặc trưng tự nhiên của vùng đất, ở đây là rừng hoa anh đào Phước Hải, một đặc điểm để thu hút khách du lịch đến Vũng Tàu mà không có khu du lịch biển nào khác ở Việt Nam có được. 


 (Tham khảo bài Cứu Rừng Hoa Anh Đào Phước Hải, Báo Bà Rịa Vũng Tàu : baobariavungtau.com.vn)
READ MORE - HOA ANH ĐÀO VŨNG TÀU KHOE SẮC MỘT GÓC XUÂN- video Dương Đình Hùng

BÀN VỀ CHỮ TẦM - Vũ Từ Sơn

Nhà thơ Vũ Từ Sơn và nhà thơ Nguyễn Trân Trân viếng chùa Thanh Mai (Hải Dương).
Ảnh từ trang duyphitho.blogspot.com


Trong một tập hợp người từ tập hợp nhỏ đến tập hợp lớn đều phải có người lãnh đạo. Muốn làm được chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo phải có "Tầm" nhất định, nếu không sẽ hỏng việc, thậm chí hỏng cả một cơ nghiệp của một đất nước.

Vậy "Tầm" của người lãnh đạo là gì?


Quy lại có ba trạng thái tầm: dưới tầm, ngang tầm, trên tầm. Ba trạng thái, ba bậc này để đánh giá một người lãnh đạo. Lãnh đạo A khi đảm nhiệm một cương vị lãnh đạo nào đấy luôn không hoàn thành nhiệm vụ; để công việc lẹt đẹt, trì trệ, dẫn đến việc hoàn thành kém, hỏng việc. Đó là dưới tầm. Một lãnh đạo B, kết quả cho thấy đạt ở mức hoàn thành trung bình, đạt yêu cầu. Đó là ngang tầm. Một lãnh đạo C luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; đưa công việc họ đảm nhiệm, chức vụ họ được giao phó đến tốt đẹp, mỹ mãn. Người đó có thể sử dụng ở mức cao hơn. Đó là trên tầm. Ví như Bàng Thống trong "Tam quốc diễn nghĩa", tài cao học rộng, có tầm quốc gia, Lưu Bị lại chỉ sử dụng ở chức quan huyện xoàng, khiến ông ta suốt ngày uống rượu, làm thơ, giải quyết công việc của một tháng chỉ trong một ngày .

Vậy làm thế nào để có một người lãnh đạo trên tầm?

Mỗi con người đều trải qua một vòng đời: Sinh - Trưởng - Lão - Tử. Quỹ thời gian hữu hạn, đều phải trải qua thời kỳ nuôi dưỡng giáo dục, học tập, rèn luyện, phấn đấu đúc rút kinh nghiệm, vươn lên trau dồi đạo đức, trí tuệ. Sự giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cộng với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân để có một con người cụ thể nhất định. Trường đời, qua lao động nhanh chóng nhận rõ ai là người làm được việc. Lấy công việc để đo con người ấy như thế nào, lúc đó tầm của họ biểu hiện rõ nhất!

Ta bàn thêm về trí tuệ.

Thông minh vốn sẵn tính trời! Việc đó chỉ đúng một phần, thông minh không quyết định tất cả. "Hiền dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên" (Hồ Chí Minh). Hình chóp "Tam giác trí tuệ" xếp loại người ra 5 tầng trí tuệ: dưới bình thường - bình thường - thông minh - thông tuệ - minh triết. Khảo sát trí tuệ dân số một đất nước theo tam giác trí tuệ: Số người dưới bình thường, bình thường ở đáy tam giác chiếm tỷ lệ lớn; thứ đến người thông minh chiếm tỷ lệ đáng kể; người thông tuệ chiếm ít, người minh triết thì cực hiếm.

Có người viết về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trên một tờ tạp chí với tiêu đề nghe rất sang trọng: Minh triết Nguyễn Huy Tưởng. Nghe thấy lạ!

Ở nước ta từ cổ chí kim người minh triết là: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Lê Quý Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Chí Minh... và chỉ một số rát ít người nữa mà thôi.

Có người ở tầm cao không làm được gì đáng kể cho đất nước, khi về đời thường lại hành xử không bằng một thường dân. Hiện xã hội ta còn tồn tại một số người lãnh đạo có trí tuệ bình bình, may mắn được cất nhắc lên một vị trí cao hơn khả năng, khiến họ xử lý công việc hạn chế, lại vinh thân phì gia, bán rẻ lợi ích tập thể, mưu lợi bất chính. Thời gian và lịch sử sẽ trả lời, sẽ minh chứng.

Xã hội vận động tiến lên, mọi người đứng trong xã hội đều phải sống và làm việc theo tầm của mình. Xã hội mà mọi công dân ở mọi vị trí đều ngang tầm hoặc trên tầm là xã hội phồn vinh.

Làm được trọn vẹn chữ "Tầm" khó lắm thay!

Bắc Giang, tháng 11/ 2012


VŨ TỪ SƠN
            vutuson01@gmail.com
                                                                        ĐC: Số 29 , ngõ 137  Hùng Vương,
TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
                                                                                               

READ MORE - BÀN VỀ CHỮ TẦM - Vũ Từ Sơn

Wednesday, January 16, 2013

Ý NGHĨA BÀI THƠ ĐẶT TÊN KÉP CỦA VUA MINH MẠNG - Nguyễn Hồng Trân

         Vua Minh Mạng (tên hoàng tử là Nguyễn Phúc Đảm) lên làm vua năm Canh Thìn (1820). Ông là một vị vua có tri thức uyên thâm, biết nhìn xa thấy rộng. Khi lên làm vua, ông biết lo lắng nhiều việc: lo xây dựng chính trị, phát triển giáo dục, văn hóa xã hội v.v... chắc là ông rất tâm đắc câu phương châm mà người xưa thường nói: "Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Nghĩa là muốn cho dân chúng yên ổn, làm ăn phát đạt thì phải lo điều hành cai quản nhà nước thật nghiêm minh, chặt chẽ. Nhưng muốn vậy thì trước tiên phải lo dàn xếp nội bộ gia tộc được êm thấm theo khuôn phép rõ ràng.

Minh Mạng cũng đã biết từ nhiều đời vua trước đây ở trong nước và nước ngoài do việc tề gia không tốt nên đã sinh ra tranh chấp quyền hành trong nội bộ hoàng gia dẫn đến ngai vàng bị sụp đổ, triều đình nát tan. Vì thế, ông lo lắng cho cơ nghiệp nhà Nguyễn. Nếu không tìm cách tề gia cho nghiêm chỉnh thì cũng dẫn đến số phận như thế thôi. Cho nên Minh Mạng đã nghĩ ra nhiều cách để duy trì đế nghiệp của mình và con cháu kế tục lâu dài về sau. Trong đó có một cách mang đậm sắc thái văn hóa, tâm lý xã hội. Đó là cách đặt tên kép. Nghĩa là bên cạnh tên chính, phải ghép thêm một tên phía trước theo phân định bắt buộc để biết vị trí, thứ lớp của mình trong hàng ngũ của hoàng tộc. Nhưng trình bày việc đó như thế nào cho tế nhị với các hoàng tử anh em để họ dễ chấp thuận là việc không dễ dàng. Minh Mạng biết rằng anh em mình ai cũng yêu thích thơ văn nên ông bèn nghĩ ra cách tạo ra những bài thơ có ý nghĩa xã hội-nhân văn thâm thúy.


Nhà vua đã sáng tác ra 11 bài thơ kiểu "ngũ ngôn, tứ cú" để dễ đọc, dễ nhớ. Trong đó có một bài gọi là "Đế hệ thi" và 10 bài gọi là "Phiên hệ thi".

Bài "Đế hệ thi" dùng để đặt tên kép cho các con cháu nội nhà vua từ vua Thiệu Trị trở về sau; còn bài "Phiên hệ thi" để tặng cho con cháu các ông hoàng anh em ruột của vua Minh Mạng. Còn 10 “Phiên hệ thi” là để tặng cho 10 anh em ruột của vua Minh Mạng để cứ theo đó mà đặt tên kép cho dễ phân biệt các thế hệ bà con trong dòng tộc nhà Nguyễn. Về 10 bài “Phiên hệ thi”, tôi sẽ  trình bày vào dịp khác.

Sau đây tôi xin trình bày rõ về bài “Đế hệ thi”

Bài "Đế hệ thi" là một bài thơ chữ Hán thuộc thể loại “Ngũ ngôn Tứ cú” (Chỉ có 4 câu, mỗi câu 5 chữ) như sau:

Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh.
Bảo Quý Định Long Trường.
Hiền Năng Kham Kế Thuật.
Thế Thoại Quốc Gia Xương

Bài thơ này trong Thế tộc phả Nguyễn Phước đã dịch nội dung ý nghĩa thành thơ như sau:

Huấn nghiệp lớn do Tổ Tiên gầy dựng
Gắng giữ gìn cho xứng ân sâu
Phồn vinh thịnh đạt dài lâu
Anh tài hiền đức cùng nhau bảo toàn
Đời đời nối nghiệp tiền nhân
Nước nhà hưng thịnh muôn phần phát huy.

Bài thơ này gồm 20 chữ. Từ chữ đầu tiên cho đến chữ cuối cùng, mỗi chữ có một ý nghĩa sâu xa. Người ta đã truyền lại lời giải thích của vua Minh Mạng theo từng chữ thành câu thơ như sau:

1.MIÊN         : Trường cửu phước duyên trên hết.
2.HƯỜNG    : Oai hùng đúc kết thế gia.
3.ƯNG          : Nên danh xây dựng sơn hà.
4.BỬU          : Bối báu lợi tha quần chúng.
5.VĨNH         : Bền chí hùng anh ca tụng.
6.BẢO          : Ôm lòng khí dũng bình sanh
7.QUÝ          : Cao sang vinh hạnh công thành.
8.ĐỊNH        : Tiên quyết thi hành oanh liệt
9.LONG       : Vương tướng rồng tiên nối nghiệp.
10.TRƯỜNG : Vĩnh cửu nối tiếp giống nòi.
11.HIỀN      : Tài  đức phúc ấm sáng soi.
12.NĂNG     : Gương nơi khuôn phép bờ cõi.
13.KHAM     : Đảm đương mọi cơ cấu giỏi
14.KẾ           : Hoạch sách mây khói cân  phân.
15.THUẬT   : Biên chép lời đúng ý dân.
16.THẾ        : Mãi thọ cận thân gia tộc.
17.THOẠI    : Ngọc quí tha hồ phước lộc.
18.QUỐC     : Dân phục nằm gốc giang san.
19.GIA         : Muôn nhà Nguyễn vẫn huy hoàng
20.XƯƠNG  : Phồn thịnh bình an thiên hạ.

Khi đặt tên kép cho cháu chắt của vua Minh Mạng thì cứ lấy tên chính của người đó ghép với một chữ trong bài thơ "Đế hệ thi" theo thứ tự từng đời từ cao xuống thấp, mỗi đời một chữ. Khi có tên kép rồi thì có thể không cần ghi họ (họ coi như được ẩn) người ta vẫn hiểu đó là thuộc họ tộc Nguyễn Phước. Thí dụ: Miên Tông là vua Thiệu Trị (con vua Minh Mạng). Ghi đầy đủ là Nguyễn Phước Miên Tông; Vua Tự Đức là Hường Nhậm (Hường hoặc Hồng đều như nhau), là con vua Thiệu Trị; Ưng Chân là vua Dục Đức (con nuôi của vua Tự Đức, con đẻ của Nguyễn Phước Hồng Y); Bửu Lân là vua Thành Thái , con vua Dục Đức, tức NP. Ưng Chân); Vĩnh Thụy là vua Bảo Đại (con vua Khải Định tức là NP Bửu Đảo).
        
Những người không làm vua nhưng thuộc dòng đế hệ của vua Minh Mạng cũng được đặt tên kép (theo hàng từng đời, từng chữ) và được ẩn họ như thế. Thí dụ: Nhà thơ Ưng Bình (hiệu Thúc Dạ Thị) là con cụ Nguyễn Phúc Hồng Thiết, cháu nội cụ Nguyễn Phúc Miên Trinh (Nhà thơ Túy Lý Vương). Nhà Hán học: Nguyễn Phước Vĩnh Cao là con cụ Nguyễn Phước Bửu Kế. (chữ Hán Phúc hay Phước đều như nhau).  
   
Như vậy bài "Đế hệ thị" của của vua Minh Mạng chỉ mới thực dụng được câu đầu tiên "Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh" thì đã hết chế độ nhà vua Nguyễn ở Việt Nam. Tuy vậy, sự ảnh hưởng của tục lệ này khá đậm nét ở Huế nên trong thực tế xã hội hiện nay vẫn còn nhiều người ở thế hệ sau của Hoàng tộc Ming Mạng vẫn thích đặt tên kép để kỷ niệm nguồn gốc tổ tông là con cháu nội nhà vua nhưng vẫn kèm theo họ Nguyễn Phước hay Nguyễn Phúc là như nhau.

Theo Thế phả của Nguyễn Phước tộc có ghi thêm rằng:

Bài “Đế hệ thi” được khắc trong một cuốn sách bằng vàng (kim sách), cất trong hòm vàng (kim quỹ) để lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các bài Phiên hệ  thi  cũng được khắc trong các cuốn sách bằng bạc.

Nói chung, con cháu các hệ Chánh từ Vua Minh Mang trở về sau, kể cả các Phòng thuộc hệ Chánh, đều đặt họ tên kép theo cách nói trên”.

Ngoài ra, Minh Mạng còn quy định cách viết chữ Hán theo từng bộ đi kèm với mỗi chữ trong bài Đế hệ thi là một bộ Ngự Chế Mạng Danh Thi:

Miên (có bộ miên chữ Hán), Hồng (bộ nhân), Ưng (bộ thị), Bửu (bộ sơn), Vĩnh (bộ ngọc), Bảo (bộ phụ), Quý (bộ nhân), Định (bộ ngôn), Long ( bộ thủ), Trường (bộ hòa),
Hiền (bộ bối), Năng (bộ lực), Kham (bộ thủ), Kế (bộ ngôn), Thuật (bộ tâm), Thế (bộ ngọc), Thoại (bộ thạch), Quốc (bộ đại), Gia (bộ hòa), Xương (bộ tiểu),

Nghĩa là anh em ruột của vua phải đặt tên có cùng một bộ.

Ví dụ: Vua Thiệu Trị, có chữ lót là Miên, và tên là Tông (thuộc bộ “miên”: () và tất cả các anh em của Vua Thiệu Trị cũng đều phải có tên chữ Hán có bộ Miên như thế cả, còn các con của vua Thiệu Trị thì tên đặt theo chữ Hán phải có bộ “nhân” (), con kế ngôi của vua Thiệu Trị là vua Tự Đức (Hồng Nhậm) có bộ nhân () trong tên chữ Hán, nhưng con của các vị Hoàng Tử anh em ruột của vua Thiệu Trị thì phải đặt tên không được có bộ nhân (), trừ con Vua Thiệu Trị).

Lưu ý:


Có tài liệu đã nói rằng 11 bài thơ này không phải chính vua Minh Mạng sáng tác, mà là Đông các học sĩ Đinh Hồng Phiên (người quê ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An), có tài liệu ghi là Nguyễn Đình Phiên là tác giả của 11 bài thơ ấy. Chuyện này tôi cho rằng đây là một sự ngộ nhận của ai đó mà thôi, chưa có tài liệu thật chính xác để khẳng định điều đó. Vì vua Minh Mạng là một ông vua sành thơ và cũng thông thái chữ Hán, không lẽ nào nhà vua không sáng tác được bài “Đệ hệ thi” và “Phiên hệ thi” hay sao mà lại nhờ người khác sáng tác rồi lấy tên cho mình? Thật là vô lý!

Theo tôi nghĩ rằng 11 bài thơ ấy là do vua Minh Mạng đưa ra nội dung, mục đích, ý tưởng và giao cho một vị quan chịu trách nhiệm soạn thảo ra rồi trình lên nhà vua xem xét, sửa đổi cho hoàn chỉnh rồi mới chính thức ban hành để làm Ngọc phả Hoàng tộc nhà Nguyễn.

Năm Minh Mệnh thứ nhất, ngày 20 tháng 11 năm 1820, Nguyễn Đình Phiên đã tâu lên vua Minh Mạng : “Bề tôi Đông các học sĩ Nguyễn Đình Phiên cứu đầu, rập đầu trăm lạy  kính tâu về việc: Nay kính vâng chủ kiếm soạn các chữ trong Ngọc Phổ. Hãy kính đấy. Kinh cẩn xếp thành  11 bài 4 câu 20 chũ, cộng 220 chữ kính cẩn trình bày theo thứ tự. Kính chờ Thánh thượng xét đoán” (bản dịch từ chữ Hán, Châu bản triều Nguyễn, tở 223 đến 235).

Bài “Đế hệ thi”, Đinh Hồng Phiên viết:

Miên hồng khai bửu tộ
Bảo định ứng trinh tường
Toản tự di nhân viễn
Gia hy tích dận trường.

Đọc bài thảo, vua Minh Minh Mạng ban đầu sửa chữ Khai thành chữ Ưng. Câu thứ hai vua sửa lại là Long quý định bảo trường. Câu ba, Toản tự di nhân viễn, vua sửa lại là Hiền năng kham kế thuật. Câu bốn: các chữ hy tích dận trường vua sửa thành Thụy Quốc gia xương. Rồi vua lại sửa câu bốn một lần nữa, thành Thế Thọ Quốc Gia Xương. Sau đó vua chỉnh lại Thế Thụy. Rồi  vua tham khảo ý kiến  anh em mình và các  trí thức trong triều,  một lần sửa nữa mới chính thức thành: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh/ Bảo  Quý Định Long Trường/ Hiền Năng  Kham  Kế Thuật / Thế  Thụy  Quốc  Gia  Xương.

Như vậy chúng ta cũng đủ hiểu rằng bài “Đế hệ thi” không phải là hoàn toàn do Đinh Hồng Phiên sáng tác.

 Có lẽ vì người hậu duệ của cụ Phiên là ông Đinh Văn Niêm đọc một tài liệu chữ Hán lưu trữ tại thư viện Quốc gia Việt Nam có ghi bút tích của cụ Phiên nói rằng cụ viết bài “Đế hệ thi”“P hiên hệ thi” để làm kim sách cho nhà vua.

Bởi vì cụ Phiên là người văn hay chữ đẹp nên vua Minh Mạng mới sai lo việc soạn thảo để nhà vua xem xét sửa chữa rồi mới chính thức ban hành, chứ không do cụ Đinh Hồng Phiên  sáng tác hoàn toàn 11 bài thơ đó. Thế nhưng báo Văn hóa Nghệ An cũng như một số bài viết trên báo chí đã có người vội vàng đưa lên bài “Tìm lại tác giả bài “Đế hệ thi” “Phiên hệ thi”.

Nội dung bài đó nói rằng bài “Đế hệ thi”“Phiên hệ thi” là của tác giả Đinh Hồng Phiên người Nghệ An. Một số cứ liệu nêu ra trong bài đó là không chứng minh được là cụ Phiên là tác giả độc nhất của 11 bài thơ đó. Chắc cụ  Phiên ở thế giới âm cũng phải chạy đến và lạy vua Minh Mạng mà tạ lỗi đã phạm Thượng vì để cho con cháu tâng bốc mình quá đáng!...
                                                  
*****
 Tài liệu tham khảo:
1.Nguyễn Phước Tộc Thế phả. Nxb Thuận Hóa , Huế 1995.
2.Niên biểu lịch sử Việt nam. Nxb. Văn hóa Thông tin. Hà Nội 1999.
3.Kim sách và ngân sách triều Nguyễn  Tg: Tôn Thất Thọ  (Đã đăng trên X&N số 342-tháng 10/2009 ký là Tôn Châu Quân)
        4.“Nghiên cứu Huế” do nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan chủ biên, tập 8, ấn hành tại Huế  quý I/2012 , do NXB Thuận Hóa và Trung Tâm nghiên cứu Huế xuất bản.                                                                                                 


NGUYỄN HỒNG TRÂN
Cựu GV Đại học Huế
nghongtran38@gmail.com

READ MORE - Ý NGHĨA BÀI THƠ ĐẶT TÊN KÉP CỦA VUA MINH MẠNG - Nguyễn Hồng Trân

ĐỌC "ĐÊM ĐÊ MÊ", THƠ LÊ TRANG - Châu Thạch

Tác giả LÊ TRANG











ĐÊM ĐÊ MÊ  
Lê Trang 

Trăng lõa thể
Biển lập lòa
Sóng ngước
Rướn cổ cao
Hôn mềm mượt…
Ngực trăng trần…

Biển ạt ào rũ bọt sóng
Khỏa thân
Gieo ngây ngất rực nồng trong nhịp thở
Gió, mây và sao trời lấp ló
Cũng cháy tràn những cảm xúc ứa trào dâng

Trăng lâng lâng
Tỏa men tình rạo rực
Vòng ngực căng cháy lên hừng hực
Thiêu đốt đêm thâu

Sóng mắt nâu
Biển gợi tình tha thiết
Quấn riết
Trăng biển vỡ òa
Vắt kiệt
Đê mê…

L.T.
(Thơ đăng trên Tạp chí Tiếng quê Hương, trang Thơ Trẻ)

    
Lời bình: Châu Thạch


Tác giả CHÂU THẠCH
Nếu ta nhìn thấy “Trăng nằm sòng sõi trên cành liễu/ Đợi gió đông về đễ lã lơi”“Ô kia bóng nguyệt trần truồng tắm/Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe” (thơ Hàn Mặc Tử) là một cảnh trăng lõa thể tuyệt vời, nhưng đó chưa phải là phút giây gió về cùng trăng ân ái. Sau Hàn Mặc Tử, “Đêm Đê Mê” thơ Lê Trang tiến xa hơn một bước, đã cho trăng và biển đắm mình đê mê trong phút giây ân ái:                    
                         
                         Trăng lõa thể
                         Biển lập lòa
                         Sóng nước
                         Rướn cổ cao
                         Hôn mềm mượt…
                         Ngực trăng trần…

Rõ ràng trăng đã thoát y phơi cả bộ ngực trần và biển đương rướn mình lên hôn vào bộ ngực thanh tân kia.

 Sáu câu thơ đầu của khổ thơ là một bức tranh tả chân, có tác dụng làm cho người đọc cuốn hút vào khung cảnh gợi tình bày ra trước mắt. Trăng và biển đã hóa thành hình ảnh người với người ân ái cùng nhau. Tuy nhiên hình ảnh thấy được không chứa đầy dục tính mà chứa đầy nét hùng vĩ bao la của trời cao và biển rộng.

Đọc sáu câu thơ ngắn, không ai không thấy được trăng tròn vành vạnh, sáng trong và hấp dẫn như làn da trên ngực người con gái, không ai không thấy được hơi thở hổn hển của biển từ con sóng nước rướn mình lên, và không ai không thấy da thịt mình cũng căng lên như đang nhìn ai đó ân ái cùng nhau. Tuy thế thơ không làm cho linh hồn con người chìm trong dục vọng mà thơ đã làm cho linh hồn người đọc thoát bay cao lên cõi trăng thơ mộng, cõi biển bao la và cõi tình  thanh tao tinh khiết
 
 Qua khổ hai của bài thơ, hình ảnh càng thêm khêu gợi vì  biển cũng khỏa thân và mây, gió, sao trời cũng căng phồng da thịt vì nhìn thấy cảnh ái ân:
                           
                           Biển ạt ào rũ bọt sóng
                           Khỏa thân
                           Gieo ngây ngất rực nồng trong nhịp thở
                           Gió, mây và sao lấp ló
                           Cũng cháy tràn những cảm xúc ứa trào dâng

Như vậy không chỉ có giới hạn giữa biển và trăng, mà men tình đã lan ra làm phập phồng khắp cả bầu trời. Biển và trăng đang đắm đuối truy hoan và cả vũ trụ cũng miên man trong phút giây kỳ lạ. Qua thơ, con người cũng cảm thấy thần kinh tê rần, đường máu nóng ran.

Tất nhiên trời đất là vô tình, nhưng chính nhà thơ hửu tình đã làm cho trời đất cũng biết truy hoan, đã phổ linh hồn mình cho trăng, cho biển, cho sao, cho mây và cho gió, và chính cái cảm xúc cháy lên, trào dâng đó không phải là cảm xúc của vạn vật mà từ nội tâm tác giả, loan ra theo cái nhìn lên, cao rộng giữa bầu trời.  Điều đó càng thể hiện thêm trong tiếp nối của bài thơ:
                             
                                Trăng lâng lâng
                                Tỏa men tình rạo rực
                                Vòng ngực căng cháy lên hừng hực
                                Thiêu đốt đêm sâu

Sự tưởng tượng của nhà thơ thật là cao vợi. Cái vòng ngực tỏa men tình và men tình như ngọn lửa vô hình thiêu đốt cả đêm sâu.

Như vậy,“Đêm sâu” theo thơ đã trở thành hửu thể sống, bị vòng ngực của trăng cuốn hút làm cho đam mê rạo rực. Như vậy, tất cả bầu trời có trăng sao, biển gió, mây và cả bóng đêm bao la rộng lớn đều trở thành hửu thể biết yêu, và trở nên có linh hồn biết cảm xúc như người.

 Cuối cùng trăng và biển đã rùng mình đạt được cái khoái lạc tận cùng của giây phút ái ân:
                              
                                   Sóng mắt nâu
                                   Biển gợi tình tha thiết
                                   Quấn riết
                                   Trăng biễn vỡ òa
                                   Vắt kiệt
                                   Đê mê …

“Quấn riết/ Trăng biển vỡ òa” phải chăng là nhập vào nhau thành một đễ vỡ òa ra vì cảm xúc đê mê trong phút giây tuyệt đỉnh. Trời đất trong thơ như vậy không còn là vô tình, mà nó đã có linh hồn như con người nhưng không mang bản chất nhỏ nhoi như con người mà nó tuyệt vời làm sao, như có thần tánh trùm lên không gian, thời gian cao rộng biết nhường nào!

Theo Kinh Thánh, ngày xưa khi Đức chúa Trời dựng nên trời đât. Ngài chỉ nghĩ đến sông, biển, trăng sao thì tự nhiên có sông, biển, trăng sao. Ngài không nghĩ đến sông, biển, trăng sao có linh hồn. Giá như ngày đó, Ngài cũng nghĩ như nhà thơ trẻ Lê Trang với bài thơ  “Đêm Đê Mê” cho trăng, biển cũng có linh hồn quấn quit yêu nhau đến “Ngây ngất rực nồng trong nhịp thở” đến “Cháy lên hừng hực thiêu đốt đêm sâu” thì con người và vũ trụ ngày nay ắt là sẽ khác đi nhiều.

Tác giả Lê Trang quả là một nhà thơ lãng mạn tột cùng. Với trí tưởng tượng Lê Trang đã làm cho những cảm xúc trong con người bé nhỏ loang ra, thấm sâu vào vạn vật, làm cho cả vũ trụ cũng trở thành có thớ thịt, có đường gân để hưởng thụ khoái cảm tuyệt vời của tình yêu đê mê và đắm đuối .

“Đêm Đê Mê” là một bài thơ hay của một nhà thơ trẻ.

                                                                Châu Thạch
truongvantran@hotmail.com
                
READ MORE - ĐỌC "ĐÊM ĐÊ MÊ", THƠ LÊ TRANG - Châu Thạch

Huy Uyên - TRƯỜNG SA

Ảnh từ trang REDS.VN
 

Ngoài đảo xa 
máu em đã chảy
giữa đêm đen thuốc độc nghẹn ngào
chiều đứng ngã tư, ngã bảy
nghe tiếng ai buồn đưa tin.

Những chiến sĩ đảo xa, đảo xa
để rồi ai không còn chờ đợi
mới hôm nào cầm tay nhau nói
mắt đỏ hoe
chiều khói cay.

Giặc đã bắn vào em
những tiếng nỗ xót đau
tuổi chưa tròn hai mươi, xanh màu tóc
tiếng người phát thanh như khóc
đọc từng tên,từng tên.

(Tôi hối tiếc một thời đã cũ
không cùng em chung một màu cờ
chôn Tổ-quốc mình trong trái tim rướm máu
để rót mời em những chén rượu cay)

Em đã về chưa
ơi đứa con hải đảo
phải chi chiều nay em còn vững vàng bên mâm pháo
nhắm quân thù xiết cò súng dậy vang.

Tôi cúi đầu bên mẹ trắng khăn tang
nghe thoáng giọng nhắc thầm
tên đứa con vừa mất
ơi em !
giữa đêm sao đã tắt.


1988
Huy Uyên

lesinh.lesinh@yahoo.com
READ MORE - Huy Uyên - TRƯỜNG SA

Ngọc Tình - TRỐNG RÁCH




Buồn tình mang trống đánh khoe chơi
Đâu biết ngoài trong rách mọt rồi
Trông thoáng mặt kia sao lủng lỗ
Nhìn qua hông nọ lại hư rời
Thương đôi dùi gỗ còn xinh chán
Tiếc miếng da trâu bán ít lời
Đem vứt vào trong kho phế liệu
Lũ mèo, lũ chuột giỡn mà thôi.
TN 15-1-2013
Ngọc Tình
nguyentinhtn@yahoo.com.vn
READ MORE - Ngọc Tình - TRỐNG RÁCH