Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, August 19, 2012

BỨC HỌA LÀNG QUÊ - Thơ: Mai Hoài Thu - Diễn ngâm: Nghệ sĩ Hoàng Đức Tâm


Nhà thơ Mai Hoài Thu. Ảnh từ trang nhacsingocson.com





Làng tôi, nằm bên bờ sông Hiếu Giang* ,
Quanh năm đếm những mùa thương nhớ.
Bao năm tháng đi qua,
Làng vẫn âm thầm, chịu bao đắng cay.
Mưa nắng nhọc nhằn, hằn sâu trên vai…
Làng tôi, bao lũy tre xanh ngút ngàn,
Con đường mòn, rơm vàng phơi trong nắng.
Bên mái tranh xiêu, tỏa khói lam chiều.
Ngọt ngào mẹ ru, những trưa hè, ơi hỡi ! Ầu ơ… 

Chiều chiều, mây trắng lững lờ trôi xa…
Bầy chim ríu rít lời ca,
Tiếng chuông chùa ngân vang cuối xóm.
Xa xa, những cánh buồm…
Những cánh diều thấp thoáng ven đê…
Bầy trẻ thơ vang lừng khúc nhạc đồng quê.
Thuyền ai lướt nhẹ bên sông vắng,
Chạnh lòng bến mơ…
Lời ru, một thời quê hương đã xa,
Bao tháng ngày nhung nhớ.
Ôi ! Quê hương dấu yêu, tình vẫn đong đầy,
Gợi bao nhớ thương, tình sầu vấn vương…

Giờ đây, quê người ôi nhớ thương,
Ôm niềm đau chôn kín,
Sương khói mông lung,
Xao xuyến tâm tư, làng quê khuất xa mờ...
Hồn đau nát tan, chan chứa bao ân tình,
Nặng lòng với nước non…
Mây nước giăng mịt mờ,
Ôi ! Buồn lòng cố hương…


*Sông Hiếu Giang: Là nhánh sông nhỏ chảy ngang qua cầu Đông Hà, Quảng Trị, xuôi về Cửa Việt, Cửa Tùng. Bên ni sông là làng Đông Lai (quê nội của tôi). Bên tê sông là làng Điếu Ngao. Mảnh đất này đã sản sinh ra biết bao nhiêu nhân tài, nhiều nhà thơ, nhà văn, ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng....

San Jose, tháng 11, 2007
Mai Hoài Thu

***

TIỂU SỬ MAI HOÀI THU
- Mai Hoài Thu, tên thật, cũng là bút hiệu. .....
- Các bút hiệu khác: Mây Trắng, Hoài Cổ, Hoài Cố Hương, Mai Kiều Vy, Mai Thuỵ Khanh, Lê Thy Vân.
- Sinh ngày: 25/10/1967 tại Đông Hà, Quảng Trị.
- Giáo viên văn trường Phổ Thông Trung Học Điểu Cải, Định Quán, Đồng Nai, Việt Nam.
- Hiện đang định cư tại thành phố San Jose, California.
- Tốt nghiệp A.A.với các ngành Social Science, Psychology, Biological Science tại Mission College, California.
-Tốt nghiệp B.A. Social Work tại trường San Jose State University, California.
- Hiện đang theo học ngành Psychology tại trường San Jose State University, California.
- Yêu thơ văn từ lúc còn đang học ở Tiểu Học. Bắt đầu làm thơ, viết văn từ lúc còn đang ở Trung Học.
- Đã từng cộng tác với Mực Tím, Áo Trắng, Báo Tuổi Trẻ lúc còn ở quê nhà, qua các truyện ngắn, tuỳ bút, thơ…
- Có bài đăng trên các website: Sài Môn Thi Đàn, Art2all.net, Xuân Thu Lạc Việt, Văn Tuyển, Quán Thơ, Nguồn Cội, Hoa Đông Phương, Núi Ấn Sông Trà, Quảng Ngãi Nghĩa Thục, Hồn Quê, Giao Mùa,Thi Nhân Quán ...
- Chủ Biên Thi Nhân Quán Văn Học Nghệ Thuật online .

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN:
- Hương Thơ 5 (In chung với nhiều tác giả trong & ngoài nước - 2008).
- CD 1, 2, 3, 4, 5 thơ ngâm của nhóm nghệ sĩ Hồng Vân (2008, 2011, 2012).
- TIẾNG LÒNG 2009 - Tuyển Tập Thơ & Nhạc.
- MỘT SỚM THU VỀ - CD thơ phổ nhạc 2009.
- LỜI CUỐI CHO CUỘC TÌNH, - CD thơ phổ nhạc 2010
- CHỜ TÌNH -  CD thơ phổ nhạc 2010.
- SẦU LỮ THỨ - Tập Thơ Đường, 2010.

SẮP XUẤT BẢN:
- Thơ Ðường Xướng họa.
- Thơ Tình Mai Hoài Thu - Tuyển Tập Thơ & Nhạc.

  
                                        Liên lạc:
Tel: (408) 204-9472
Email: maihoaithu999@yahoo.com
READ MORE - BỨC HỌA LÀNG QUÊ - Thơ: Mai Hoài Thu - Diễn ngâm: Nghệ sĩ Hoàng Đức Tâm

THU BUỒN - Thơ tự họa: Nguyễn Thanh Bá


Tự Họa:

               T H U    B U Ồ N

Nhìn thu phơn phớt gió mưa bay
Lay nhẹ lên ngàn bông cỏ may
Mà nhớ tuổi thơ vui một thuở
Chợt thương kỷ niệm đẹp bao ngày
Người đem lời nguyện chôn từ trước
Ta để chén thề đọng đến nay
Năm tháng dần phai mòn dấu cũ
Trong lòng khó xóa nỗi chua cay


Bái Xướng:

                C H I A    T A Y

Nắng bỗng hanh và mây trắng bay
Hắt hiu chiều thoảng gió heo may
Đưa mùa thu tới vàng chân lá
Tiễn bước người đi lạnh bóng ngày
Kỷ niệm khắc ghi hình thuở trước
Tâm tình phong kín mộng từ nay
Thuyền xuôi khuất nẽo - dòng sông vắng
Lệ đắng âm thầm thấm giọt cay.

Nguyễn Thanh Bá
thanhbaxabang@yahoo.com.vn
READ MORE - THU BUỒN - Thơ tự họa: Nguyễn Thanh Bá

QUAY VỀ - Thơ và thư pháp của Lê Đăng Mành dâng mùa Vu Lan



Xin được lần về tắm lại (1)
Đắm hồn trong buổi sớm mai
Trôi với mây tuôn cùng nước
Vít ao đời thời non dại


Mồ hôi Cha thơm sữa lúa
Tao nôi Mẹ ca dao mùa
Lời ru cánh diều ấp ủ
Một đời dâu bể chát chua


Chăm  chút đường kim vá áo
Bóng Mẹ bên dĩa dầu hao
Cha ngồi thở dài trăn trở
Nghe lúa chuyển đòng xôn xao


Thu nay vu lan thắng hội
Song thân biền biệt tăm hơi !
Chơi vơi chạm miền ký ức
Nhớ thương chan chứa khôn nguôi…


Thân cùng tử tháng ngày trôi
Chác chao giông bão giữa đời hơn thua
Ngoảnh nhìn mưa nắng sớm trưa
Giành giựt buông bỏ quê xưa quay về ./.
                                                                              


                                  Lamnguyethien
                                  Trăng mùa hiếu


(1) Chúng ta không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông.
                                        Heraclitus 
   





Thư pháp trên máy tính




Thư pháp trên máy tính


Thư pháp trên máy tính
READ MORE - QUAY VỀ - Thơ và thư pháp của Lê Đăng Mành dâng mùa Vu Lan

Saturday, August 18, 2012

Truyện ngắn CHÔN NHAU, CẮT RỐN - Trạch An - Trần Hữu Hội

Trạch An –Trần Hữu Hội .
(Quê mẹ là Thượng Trạch và quê cha là An Lưu = Trạch An)
Sinh ngày 13 tháng 11 năm 1955 tại làng An Lưu, Triệu Sơn, Triệu Phong, Quảng Trị.
Năm 1972 rời quê vào Đà Nẵng. Năm 1974 vào Ninh Thuận theo đoàn di dân.
Nơi định cư của người Quảng Trị là Quảng Thuận (Quảng Trị - Ninh Thuận,)
Hiện ở : Quốc Lộ 27,Triệu Phong, Quảng Sơn, Ninh Sơn, Ninh Thuận.
ĐT: Bàn : 0683 850 256, DĐ:0906 902 094.
Blog yahoo: http://blog.yahoo. BGF6com/_LKZX4BLJA55ZRXMKLQOAGE
                    (hoặc vào Google: tranhuuhoi.blog  )


                                                              


      Chị Linh vói tay nhổ sợi tóc bạc trên đầu chồng, vừa phàn nàn:
      - Răng bựa ni tóc anh bạc mau quá, nhổ hết thì sói đầu mất!.
      Hóa xuề xòa:
      - Thì già rồi chứ trẻ mỏ chi nữa mà không bạc, tính tuổi bà mụ thì năm tám rồi chớ ít à, hôm qua đi Phan Rang anh bị lạc đường, gặp cậu thanh niên đi bộ bên đường, dừng xe hỏi, nó lễ phép: “Thưa ông, rẻ phải, chạy một hồi là tới ạ”, không già mà nò gọi bằng ông à !
      - Sống nơi cái đất này bốn chục năm rồi mà còn lạc đường à trời !
      Hóa quay người đối diện hẳn với vợ:
      - Em nói răng, bốn chục năm rồi à ?!
      - Ùa, thì 1972 với 2012 không bốn chục năm thì mấy nữa?   
      Hóa lặng im không nói, thẫn thờ nhìn vợ, lát sau anh lẩm bẩm một mình: “Hơn nửa đời người xa quê cha, mới đó mà bốn chục năm, ghê thiệt !” Trong đầu anh lại nhớ đến cha, nhớ câu thơ của ông khi rời quê lên tỉnh : “An Lưu luyến, di tha hương tác khách…”
      Còn anh, 40 năm, hơn nửa đời người trôi vèo nơi đất khách! Tóc bạc rồi mà cũng không định được ngày về nơi cái làng An Lưu xa xôi ấy.


                               ***   
                                     
      - Mạ ơi mạ, mạ mô rồi rứa?!
      Thằng Hóa vất cái bao ni lông đựng mấy cuốn vở vô trong chiếc bể cạn khô nước từ đầu mùa, hắn vừa đi học hè bên nhà cậu ở Thượng Trạch về, không thấy mạ liền lên tiếng gọi. Không nghe tiếng mạ từ trong nhà, hắn chạy ra sau hè, mạ hắn đang khom người xăm mấy vồng khoai gần sát hàng rào của đám nương.
       -Mạ!
       Mạ Hóa lưng còng từ khi nào rồi, chống cuốc cố đứng thẳng người, ngoắt tay, rồi lần trong túi áo, hắn nhảy băng qua mấy vồng khoai đến bên mạ, mạ đưa cho Hóa một đồng bạc kẽm “trúc - ngô “ dặn:
       -Ăn năm hào, còn năm hào để mai nghe con.
       -Dạ, con đi chơi chặp nghe mạ.
       Hóa nhảy chân sáo, vừa đưa đồng bạc kẽm lên mũi ngửi, hắn ghiền nhất là mùi thuốc lá hăng hắc, màu ten xanh xanh nơi đồng bạc cũng toát lên một mùi khó tả, ngậm vào miệng càng có nhiều vị khác hơn, ngòn ngọt, nhưng hôm trước, anh hắn học trên tỉnh về thấy hắn ngậm, cấm không cho ngậm nữa, nói là mất vệ sinh, nên hắn nghe theo, nhiều khi vẫn thèm cái vị là lạ của đồng bạc kẽm.
       Hắn thẳng theo đường xóm, ghé nhà mụ Khóa, mua năm mươi xu kẹo vòng, cất năm hào thối vào bọc quần rồi đi tìm Thảo.
       Thảo đang ngồi chơi ô làng một mình ngay giữa đường vô nhà, những hột thầu đâu tróc vỏ, nằm trong những ô như những tổ trứng chim chiền chiện. Thấy Hóa đi tới, Thảo giả đò không thấy, cứ cặm cụi bốc một ô rồi rải cho những ô khác…
      -Ối chao! Đau!
      Thảo giật mình nhìn lên, Hóa nhảy cò cò tay nắm cổ chân, hắn mãi nhìn Thảo nên đạp nhằm nè! Một nhánh nè khô còn mắc dưới chân Hóa. Lúc này Thảo mới chạy lại:
     -Ngồi xuống, ngồi xuống rồi…lấy ra cho.
     Hóa ngồi bệt xuống giữa nền đất mát của đường làng. Thảo nhẹ nhàng nắm cổ chân Hóa kéo mạnh nhánh nè, một chút máu theo ra. Thảo bứt mấy lá tre xanh nhai nhuyển rồi đắp vô chỗ chảy máu, Hóa chẳng đau đớn là mấy, nhưng hắn cũng nhắm mắt nghiến răng cho có vẻ trầm trọng !!!
      -Đau lắm à.
      -Ừ, đau !
      -Ngồi một chặp là hết.
      Hóa đưa xâu kẹo vòng cho Thảo.
      -Chia đi.
      -Của Hóa mà.
      Hóa với tay lấy xâu kẹo, đưa lên miệng cắm đứt sợi dây, cầm sáu cái bỏ vô tay Thảo còn hắn bốn cài: “Ăn đi, Hóa ăn diều rồi !”
      Lát sau, hai đứa đi dọc theo đường đựng, xuống đường bắt, tìm tới gốc mưng ở chùa, nơi con khe ranh giới làng Phương Sơn, vừa ăn kẹo vừa hái lá mưng non đem về cho mạ Thảo nấu canh !

            ***



       Thằng Hóa vừa buồn vừa đi dọc theo đường bạn, gần tới chỗ rẻ lên làng, hắn rươm rướm nước mắt. Hắn mới gặp con Thảo ngoài chợ Cạn, cùng mạ hắn đi chào bà con để ngày mai theo chồng vô trong cây số 17. Mạ hắn đi Nam lâu lắm rồi, lấy chồng cũng người Nam, ở lính. Hắn không biết cây số 17 là chỗ mô, nhưng chắc là xa lắm, xa hơn côi tỉnh nhiều.

       Hôm trước, khi mới nghỉ hè, anh Dương của hắn học trên tỉnh, cho hắn lên tỉnh chơi, lần đầu hắn lên tỉnh, lại đi bằng xe đạp, sướng ơi là sướng! Đêm hôm đó, Hóa không ngủ được. Lâu lâu hắn lén lật chiếc gối xem cái quần ka-ki số 2 xếp dưới gối đã thẳng chưa.  Nhà hắn không có bàn ủi. Hắn nhớ lần may cái quần này để khai giảng, mạ hắn lấy cái ấm, cho nước sôi vô, ủi qua ủi lại, thẳng mà đẹp lắm, chừ mai lên tỉnh, hắn nghĩ ra cách xếp cái quần để dưới chồng mền, ngồi lên cả buổi chiều, tối hắn dằn dưới gối cho thẳng!

       Ngồi trước dàng xe của anh hắn, chạy từ nhà ra chợ Cạn, gặp ai hắn cũng chào, khoe là đi tỉnh ! Hắn nhớ quán chè ở bờ sông Thạch Hãn dưới cây ngô đồng cao to, hắn chưa từng thấy cây mô to như rứa! Lần đầu ăn chè đá bào, a, răng nước đá trắng như đường cát rứa, ôi chao là lạnh, tê cả răng, nhưng ngon thiệt là ngon! Cả ngày anh hắn chở hắn đi nhiều chỗ. Tỉnh rộng lắm! Đêm nằm ngủ trong nhà  anh hắn trọ ở làng Thạch Hãn, nghe tiếng tre pheo kẻo kẹt làm hắn nhớ làng và nhớ mạ, hắn rươm rướm làm anh hắn phải dỗ: “Nín đi, mai anh chở về!”
       Chừ con Thảo đi xa hơn, mà chắc là không về làng nữa. Hắn lại nghĩ đến “cây số 17” mà ghét cái chốn lạ lùng, xa xôi ấy.
                
                                                                       ***

        Làng hắn mất an ninh, Hóa không biết an ninh là chi, người lớn nói rứa, thỉnh thoảng hắn nghe mấy chữ lạ hơn, “lật đổ”, “đảo chánh” …
       Cha và anh chị hắn lên tỉnh trước rồi, hắn còn ở với mạ trong làng, đêm nằm ngủ, lâu lâu nghe tiếng súng, mạ hắn ôm hắn, miệng lầm rầm khấn ông mệ!
        Một buổi sáng, mạ hắn cột cặp gà cho vô cái trác nhỏ, dắt tay hắn đi bộ lên tỉnh. Gặp ai, mạ hắn cũng nói to là bới lên tỉnh cho anh chị hắn cặp gà. Qua hết làng An Trụ, mạ hắn dắt hắn đi mau hơn, tới Triệu Tài, có xe hàng, mạ và hắn lên xe, mặt mạ hắn hiện rõ lo lắng. Lâu lâu, mạ hắn nhìn xuống hướng làng An Lưu, chợ Cạn mà thở dài! Xe dừng ở Góc Bầu, mạ hắn dẫn hắn đi bộ lên bờ sông Thạch Hãn, nơi quán cơm xã hội. Cha và các anh chị hắn đã ở nhờ nơi đó lâu nay, hắn nhận ra cây ngô đồng và quán chè ngày nào.
       Nhà hắn không về lại làng nữa! Ông tỉnh trưởng cho nhà hắn mượn căn phòng triển lãm số 3 đường Gia Long để ở. Hắn thành dân xóm chợ, hai năm sau, nhà hắn thuê căn nhà số 55 đường Duy Tân, gần nghĩa địa và căn cứ Mỹ Macvy. Tết Mậu Thân, hắn nằm trong hầm run như cây sậy ! Năm đó, hắn chuẩn bị thi vào trường công lập Nguyễn Hoàng thì nhà hắn làm nhà ở thôn Thạch Hãn, đường Hồ Đắc Hanh, xóm “Ba cây dừa”. Lúc này, cha hắn cho vào nhà dòng Thánh Tâm, cha muốn hắn đi tu.
       Tỉnh không còn lạ lẫm và quá rộng nữa, mọi con đường, mọi ngỏ ngách …hắn rành như trong lòng bàn tay. “Tỉnh” trở thành chốn quen thuộc hơn cả dưới làng An Lưu của hắn. Thỉnh thoảng hắn cùng bạn bè vô Huế chơi. Chừ thì hắn biết “cây số 17”, gần xịt, nhưng Thảo thì xa xôi chốn mô hắn không biết!
       Chuyện tu trì không đạt, năm lớp 8 hắn qua học trường Nông Lâm Súc ở Nhan Biều. Hè năm sau, hắn học xong lớp 9, hy vọng được vô Huế học vì Quảng Trị chưa có lớp 10 Nông Lâm Súc. Đó là năm 1972!
       Có một buổi trưa, chị hắn đi làm dưới tòa tỉnh về, thì thào với mạ. Cha Hóa vừa mất năm ngoái, ông được đưa về làng theo ước nguyện. Rứa là hai mạ con qua Mai Lĩnh, lúc này, hai anh đều đăng lính, hai chị lấy chồng, lại Hóa và mạ, lên xe Dodger chạy vô Huế, không đem gì theo, chỉ mỗi người một cái túi nhỏ. Xe chật! Không nghĩ đến chuyện chia tay ban bè và cô bạn gái thích mang áo mưa màu tím nơi con Đường Quang Trung. Vì hắn không ngờ, lần đi ấy là đi luôn không về nữa, như cái lần hắn cùng mạ lên tỉnh ngày nào, với chỉ hai con gà trong cái trác tre!
       Mấy ngày sau, bom đạn tơi bời ở Quảng Trị và Cầu Dài, nhà hắn vô Đà Nẵng rồi vô Long Khánh, rồi trở ra Đà Nẵng, rồi lại vô Ninh Thuận! Lần này, gọi là định cư, nhưng sao khó gọi là quê hương quá khi mà trong câu chuyện cùng bạn bè, hồi ức về chốn Quảng Trị vẫn là đề tài chính,..

                                                                             *
       Anh Hóa nắm bàn tay vợ, bóp nhè nhẹ. Chị là người gốc Quảng Bình nhưng sinh Quảng Trị. Hai người cưới nhau vào năm 86, năm ấy anh đã 31 tuổi, chị 29, giờ cũng đã bốn mặt con. Những cay cực cuộc đời hồi chưa cưới nhau mỗi người nếm trải theo một cách, những đêm nằm bên nhau, chuyện trò nho nhỏ: “…cái hồi đó ở Quảng Trị…” hoặc “cái hồi em dạy ở Sông Lũy, chao ơi là cực, khi nớ anh ở mô?...”  “Hồi ấy, anh ở tù,…hồi ấy lang thang ở miền Tây,… hồi ấy làm chụp hình dạo trong Long Khánh, Bà Rịa…”
      Rồi những “…hồi ấy  tụi mình có bầu con Thảo, ở nhờ nhà o Tịnh, nhà có cây khế ngọt, ăn cơm chỉ có món khế, khế canh, khế bóp, khế chắm ruốc… môi em nứt tứa máu, rát ơi là rát !...”… “…hồi ấy mình làm cái nhà bằng cây, mái lợp giấy dầu đen, gió thổi rách tứ tung, nhà lại ở mặt đường, trời mưa, người ta vô núp mưa em trẻn ơi là trẻn, toàn bộ áo quần cho vô cái nôi, chạy quanh trong nhà mà cũng khó tìm ra chỗ không dột…”… “…hồi năm nớ, tết vất ba dứa con ở nhà, tụi mình vô “suối Thương” chụp hình dạo, nắng rát mặt, khát khô cổ, tối về thấy con mà ứa nước mắt, coi như con không có tết…” Ôi, những “hồi ấy” bất tận. …
               

                                                                              ***

       -Có lẻ phải về sơn lại cái mộ ba, mạ…em ạ. Anh Hóa nói mà mắt nhìn ra sân.
       -Không phải hồi đó anh lát gạch men hết rồi à? Hôm mình về kiệu Đại Hội La Vang, em thấy mộ đẹp lắm mà!
       -Hơn 4 năm rồi, nền và chín ngôi mộ thì lát gạch, nhưng bờ thành anh sơn nước, ngoài mình mưa ẩm dễ mốc lắm. Còn cái cửa sắt cũng rỉ sét rồi!
       -Thì anh gọi ra cho mấy cháu đi. Nếu cũ lắm thì sắp xếp mà về! Giá còn anh Phong thì đỡ quá!
        Anh Phong là anh rể của Hóa, chị Hóa chết hai năm thì anh ấy cũng mất. Hồi anh ấy còn sống, môt tay anh lo chăm coi mồ mả cả hai gia đình. Giờ còn cháu, mà là cháu ngoại, cũng thương. Ông thương, mệ thương nhưng không bằng cha mạ của chúng.
         Lắm khi muốn đưa cha, mạ, o và các anh chị vào trong này, nhưng biết chốn này rồi có lâu dài không hay lại phải theo con, đi nơi khác nữa. Ba tám năm mà chưa gọi được là quê hương là vậy, vẫn còn lạc đường kia đấy! Anh thấm thía hơn cái câu “chôn nhau, cắt rốn!”
         Anh Hóa lại như mơ màng nhớ quê và những lần về…
              
                                                                              ***

        Lưu lạc, bươn chải mưu sinh rồi cũng có lúc gọi được là tàm tạm!
        Mà khi đã “tàm tạm” thì tới lúc phải nghĩ đến chuyện mồ mả cha ông. Ngoài quê thì cha và mạ đích, cùng các anh chị con mạ đích. O lấy chồng không có con, hồi tôn, thì cũng lo cho o. Trong này thì mạ  ở Long Khánh, anh ở Biên Hòa ! Thôi thì cứ để mạ trong đó với chị đã, lo đưa anh về kẻo người ta giải tỏa nghĩa trang thì khó vô cùng! Đưa anh về thì có chị dâu và mấy cháu đó, nhưng chị thì khố, các cháu thì dại mà cũng khó, thôi thì…

                                                                               *  
       Thằng lơ nghi ngờ nhìn chăm chăm cái túi xách mới tinh Hóa đeo trên vai. Anh lo thật sự, nhưng lo thì lo mặc kệ anh, thằng lơ nói nhỏ với tài xế, tài xế dừng xe lại chỗ Hố Nai, mời anh xuống không cần nói lý do!
        Hóa bất cẩn, lẻ ra nên đi bộ một quãng xa khỏi Nghĩa Trang  Biên Hòa rồi đón xe. Ban đầu nó thấy anh ăn mặc cũng tươm tất, cái túi đựng hài cốt anh cũng mới tinh nên cho lên xe, dở cái là cứ ôm khư khư nên thằng lơ nghi! Anh xuống xe, khấn với anh như người ta hay bày, lên chiếc xe khác nhằm xe ra bắc, chỉ chở vài khách còn hàng là chủ yếu. Hóa nằm dài gối đầu lên cái xách cho chắc ăn, túi hành lý nhỏ gọn bỏ một bên, cũng hồi hộp nhưng rồi không bị phát hiện.
       Anh nằm lo về quê xoay xở ra sao! Từ tỉnh về thì có thằng cháu rể ở Ba Bến, mà không có thì đi bộ về cũng chẳng sao, nhưng về làng mới gay! Đang mùa lúa trổ đòng đòng mà mình đem cốt về, mai mốt mất mùa thì toi! Băng qua đường bạn lên đường đựng thì mé làng nhưng cũng là ruộng. Thôi thì cứ về rồi liệu!
        Chiếc xe dừng ở gần cầu Ga, Hóa nhìn đồng hồ đã 12 giờ đêm. Anh đi bộ một chút về hướng đường Trần Hưng Đạo cũ. Một chiếc xe ôm trờ tới, anh cười và nói thật với cậu trai:
        -Chú không lên xe cháu được, chú ở trong Nam ra nhưng có cái cốt ông anh, cháu giúp chú một cuốc chạy về Ba Bến, hỏi nhà thằng Hảo, nói hắn lên chở cậu Hóa về làng. Mấy tiền chú xin trả, được không?
        -Phải anh Hảo chị Loan không chú?
        -Ừ, đúng rồi. Loan là cháu ruột của chú đó, cháu quen à?
        -Dạ, mà răng, phải kiêng à chú?
        -Ừ kiêng, cháu làm ăn là phải kiêng! Chừ ghé qua bên quán nớ mua cho chú hai gói Jet, chú vô quán cũng xui họ, chịu khó nhé.
         Hóa đưa cho cậu xe ôm tiền, mua xong, Hóa lấy một gói và đưa cho cậu xe một gói, cậu không hút thuốc nên không lấy.
       -Thôi để cháu chạy về Ba Bến, chút xíu thôi!
       Hóa đứng nhìn vu vơ hàng quán chờ đợi. Lát sau, cậu xe cũng về nhưng không có đứa cháu rể, nó đi làm trong Mỹ Thủy rồi. Hóa hỏi bao nhiêu tiền xăng chú gởi lại, cậu xe không lấy: “Cậu của anh Hảo chị Loan thì cũng như cậu của cháu mà”. Hóa bần thần nghĩ đến chuyện đi bộ. Trời khá lạnh. Cậu xe ôm nói:
       -Hồi nãy chú đừng nói chi cả là cháu vù một hơi về chợ Cạn khỏe re, chừ nghe chú nói kiêng cữ con cũng không dám, thôi ri nì, cháu mới mua chiếc xe đạp Trung Quốc cho vợ cháu hắn đi dạy, chú đạp về rồi mai mốt chi lên trả cho cháu.
      Hóa cảm động và mừng đến ứa nước mắt.
      -Có được không cháu, cháu không sợ mất à?
      -Cháu không sợ mô, chú không thiệt thà thì chú có nói thiệt với cháu mô! Cứ ngồi lên xe là cháu chở đi rồi ! Mai mốt chi cũng được chú à, chú lên tại chỗ ni, không có thì ngồi quán nớ chờ cháu. Chừ để cháu chạy về lấy xe.
      Cậu xe ôm quay đi, Hóa thầm cám ơn anh Dương, chắc là anh đã phù hộ!
      Khi cậu xe ôm đạp chiếc xe đạp ra tới thì đã hơn 1 giờ sáng. Anh muốn mời cậu uống vài ly rượu, nhưng ngại phải vô quán, hơn nữa, anh cũng muốn tranh thủ ghé Thành Cổ cho anh thăm lại môt chút trước khi về làng. Trời lạnh hơn.
      Mang cái túi trên vai, anh đạp quanh một vòng. Quảng Trị đã  khác xưa. Ghé Thành Cổ buồn hiu hắt. Ra Góc Bầu, Hóa nói thầm với anh, ngày xưa anh chở em lên tỉnh bằng xe đạp, chừ em lại chở anh về quê cũng bằng xe đạp đây! Em lên tỉnh lần đầu còn chừ anh về… lần cuối!
       Hóa vừa đạp xe vừa nhẩm đọc bài thơ anh Dương cùng hai anh con bác làm ngày nào khi mới lên tỉnh:
                “Buổi ấy trăng tà chốn Hãn Giang
                 Thong dong bách bộ có ba chàng
                 Hoài Lưu, Hoài Lệ, với Hoài An
                 Sánh bước bên nhau ngắm…những nàng.

                         *
                 Đêm về sông lạnh nước buồn trôi
                 Khơi lại trao nhau mẫu chuyện đời
                 Những nàng thôn nữ xinh xinh ấy
                 Lạc lõng phương nao cuối góc trời!”

      Năm ấy Hóa học lớp Bốn, nghe những tên Hoài Lưu, Hoài Lệ, Hoài An…,Hóa cũng tự đặt cho mình một cái tên, không có chữ “Hoài” như anh, mà lấy hai chữ đầu quê mẹ cộng với quê cha là Thượng Trạch và An Lưu thành Trạch An. Năm học lớp 12, Hóa viết một chuyện ngắn đầu tiên, và cũng lần đầu ký cái tên ấy, nó theo anh cho tận bây giờ!
      Gần một tháng vừa cất cốt dồn 9 ngôi về một chỗ, vừa xây, tạm ổn, Hóa chừa chỗ cho Mạ.
      Bốn năm sau anh lại đưa mạ từ Long Khánh về, sửa sang và lót men nềm mộ.
      Chừ cũng đã bốn năm, anh lại tình chuyện về…
      Ôi, Quê hương! Ôi, nơi chôn nhau cắt rốn! Bao giờ thì tới lúc cái thân lưu lạc này về yên nghỉ cùng cát trắng và rú tràm An Lưu đây?!

                                                           Tháng VIII năm 2012
Trạch An – Trần Hữu Hội

           
READ MORE - Truyện ngắn CHÔN NHAU, CẮT RỐN - Trạch An - Trần Hữu Hội

Friday, August 17, 2012

BÀI PHÁT BIỂU CỦA GS NGÔ KHÔN LIÊU

GS. Ngô Khôn Liêu

BÀI PHÁT BIỂU CỦA GS NGÔ KHÔN LIÊU
NHÂN DỊP VỀ DỰ HỌP MẶT LIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC
ĐÔNG HÀ NGÀY 22 THÁNG 6 NĂM 2012


Kính thưa quý thầy cô cùng các em học sinh thân mến,

Chan chứa hạnh phúc, đầy ắp niềm vui, xúc động khôn cùng, hân hoan tột đỉnh…đó là những gì tôi thực sự cảm nhận được trong cuộc họp mặt cựu học sinh liên trường trung học Đông Hà (Công Lập, Bán Công, Bồ đề, Đắc Lộ) tại thành phố Đông Hà hôm nay…


Đầu tiên tôi xin trân trọng gởi đến quý vị và các em lời chào tốt đẹp nhất.

Giờ đây, tôi thực sự xúc động như chưa bao giờ xúc động trước sự hiện diện đông đủ của quý vị và các em sau 40 năm xa cách, quả tình tôi đã tìm lại được mình sau những năm tháng dài đánh mất.

Tôi đã tham dự nhiều lần trong rất nhiều cuộc họp mặt của cựu học sinh tổ chức tại Huế, Đà Nẳng, Sài Gòn…mà lần này nơi đây, tôi vẫn có cảm tưởng như lần đầu tiên trong đời được tham dự. Bởi nơi đây, có những người đã sống với nhau trong nghĩa tình, biết tôn trọng những tình cảm thầy trò, đồng nghiệp, biết yêu quý những giá trị sống đích thực giữa một tình trạng đau thương của chinh chiến thời bấy giờ. Thật đáng trân trọng và khó có thể trọn đời nhạt phai trong tâm tưởng của mỗi chúng ta.

Kính thưa quý thầy cô cùng các em kinh mến,

“Ra đi là để trở về”. Chúng ta đã trở về đây hôm nay và mai sau, nếu có, như trở về với cội nguồn. Nơi cội nguồn Đông Hà này, khi còn trên bục giảng, các thầy cô đã chuẩn bị cho các em vào đời một cách vững chắc, đã bước đầu ươm mầm, chăm bón kiến thức cơ bản bằng đường lối giáo dục đặt nền tảng chính yếu là Nhân bàn, Khoa học và Dân tộc. Từ chất lượng giáo dục đến phương pháp giảng dạy và đặc biệt là luân lý đạo đức luôn được chú trọng, đế cao như Âu Dương Tu khi dạy học trò đã nhấn mạnh « Giữ gia đạo nghĩa, làm việc trung tín, quý trọng danh tiết ». Với đường lối và định hướng này, học sinh liên trường của chúng ta đã đạt được nhiều kết quả khả quan, xứng đáng với niềm tin của các thầy cô, đáp ứng đúng mức những ước vọng của phụ huynh học sinh trong toàn thị xã…

Nhà văn Biélinsky đã khẳng định « Giáo dục là sự nghiệp vĩ đại, nó quyết định số phận của con người ». Do sự nghiệp giáo dục quan trọng như vậy nên các thầy cô luôn xem công việc dạy dỗ là hơi thở, là lẽ sống của cuộc đời, vì chính nhà trường là cuộc đời mà giảng dạy là hơi thở. Đứng trên bục giảng, các thầy cô đã nói tiếng nói của con tim, đã sống hết mình với thiên chức nhà giáo, với lương tâm, trí tuệ, đam mê và trách nhiệm…

Xin phép thầy cô cho tôi nói với các em vài điều :

Các em quý mến,

Hôm nay, các thầy cô tuổi đã cao, sức đã yếu, không còn đi lại trên bục giảng như ngày nào nên thường tự nhũ thầm là sứ mệnh giáo dục của mình đã phần nào hoàn tất, để rồi tự an ủi bằng một nhận định rằng, hạnh phúc nhất trong nghề nhà giáo là khi các thầy cô đã đóng trọn vai tuồng của mình trên sân kháu bục giảng giữa cuộc đời.

Một số lớn các em ngồi ở đây đã nhận thức được giá trị cao quý của nghề giáo nên đã nối nghiệp các thầy cô. Chúng ta, người trước kẻ sau đều là đồng nghiệp cả. Chúng ta trót sinh ra một kiếp con tằm : khi tằm đã ăn được lá dâu xanh biếc, thì buộc tằm phải nhã ra tơ lòng tinh khiết. Tơ lòng tinh khiết ở đây chính là giá trị nhân văn, là tố chất tư duy, là chuẩn mực đạo đức, là chất xúc tác cần thiết gắn bó các thế hệ trẻ với cuộc đời tương lai.

Cuộc hội ngộ hôm nay cởi mở, chân thành, đầm ấm, yêu thương, không những nhằm mục đích tri ân thầy cô, đoàn kết bằng hữu bốn trường trung học Đông Hà năm xưa mà còn là một cơ hội giáo dục giới trẻ, giáo dục các hế hệ tiếp theo. Bởi lẽ, bất cứ nôi đâu, trên bất cứ cương vị nào, mấy ai không trải qua trường lớp mà có thể thành nhân tài! Thầy vừa nhắc đến cụm từ « Đoàn kết bằng hữu », đúng vậy ! Thật khó mà thực hiện cuộc hội ngộ trong niềm tin yêu và quý trọng nhau như thế này nếu không có sự nổ lực và đồng thuận của tất cả các thành viên trong Ban tổ chức và tất cả các em trong và ngoài nước.

Các thầy cô và các em quý mến,

Khát vọng hòa hợp 50 năm qua giữa các trường trung học trong thị xã Đông Hà xưa kia đã thành hiện thực. Tôi đã ra dạy ở Đông Hà cách đây gần nửa thế kỷ, đã từng mê say : mê đất, mê người, mê nụ cười ngây thơ, trong trắng của các em nữ sinh, mê tố chất thông minh, trung thực của nam sinh, mê cả giọng hát hồn nhiên của một nữ sinh bé bỏng qua bài ca « Hoa trinh nữ » một thời vang bóng, mê những mái trường thân yêu, mê những con đường nho nhỏ, mê cả phố phường chật hẹp của thị xã Đông Hà…

Ôi ấm áp tình thầy trò, nồng thắm nghĩa bạn bè, đồng nghiệp. Hôm nay thực sự  tôi đã tìm thêm được niềm vui và ý sống.

Xin trân trọng tri ân.


                                                                Ngô Khôn Liêu
                                                                    Đà Nẵng

********************

Phạm Hòa Việt gởi tặng.

READ MORE - BÀI PHÁT BIỂU CỦA GS NGÔ KHÔN LIÊU