Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, March 14, 2012

THƠ VĂN CỦA THẦY CÔ GIÁO TRƯỜNG THPT NAM HẢI LĂNG - Nguyễn Điền tuyển chọn



 NGÀY VÀO TRƯỜNG - Nguyễn Thị Huyền

Mưa ! Những cơn mưa tầm tả, rả rích suốt cả ngày một chặng đường dài. Ngày hôm nay, là ngày đầu tiên tôi bứơc vào nghề. Bao nhiêu nỗi lo lắng, sự bỡ ngỡ cứ nối tiếp theo nhau đến trong tâm trạng tôi. Dường như những cơn mưa đầu mùa đông cũng hiểu được tâm trạng ấy nên đã bớt nặng hạt hơn. Trên đường vào trường là những sự suy tư, những điều tưởng tượng cứ xen lẫn trong đầu của tôi. Thế là, 4 năm học đại học đầy vất vả bây giờ tôi đã được đền đáp xứng đáng. Quả thật, đây là niềm vui ngoài sự mong đợi của tôi nhưng xen lẫn vào đó là một tâm trạng khó mà diễn tả được. Tôi bây giờ đã trở thành một giáo viên thực sự, sẽ đứng trên bục giảng, trước những người học trò thân yêu. Rồi ! không biết tôi sẽ như thế nào nhĩ ? câu hỏi đó cứ theo tôi suốt cả chặng đường dài gần 70 km.

Và cuối cùng, tôi đã đến nơi ngôi trường nơi tôi nhận công tác cũng đã hiện ra trước mắt mình. Tôi nhìn ngắm ngôi trường với cái tên thật trìu mến trường THPT Nam Hải Lăng “mà trong tôi không khỏi bâng khuâng trong đầu tôi lại vang lên bài thơ mà tôi không nhớ mình đã đọc được ở đâu đó.

Một đời người-một dòng sông...
Mấy ai làm kẻ đứng trong bến bờ
Muốn ai qua sông phải luỵ đò “
Đường đời muôn bước cậy nhờ người đưa...

Tháng năm dầu dãi nắng mưa
Con đò trí thức thầy đưa bao người
Qua sông gửi lại nụ cười
Tình yêu xin tặng người thầy kính thương
Con đò mộc-mái đầu sương
Mãi theo ta khắp muôn phương vạn ngày
Khúc sông ấy vẫn còn đây
Thầy đưa tiếp những đò đầy qua sông...

Bỗng ! tiếng trống trường làm tôi giật mình. Ừ nhỉ, sáng nay tôi phải lên lớp tiết 1.

(Nguyễn Thị Huyền)



THẦY - Nguyễn Tiến Dũng

Thầy không phải dòng suối vậy mà
Ngọt hương thơm như cả trái hoa bốn mùa
Thầy không là ngọn gió lùa
Thổi qua cửa lớp về xuôi nắng vàng
Cũng không là đất mở màng
Mà sao ươm lớn bên hàng cây xanh
Với viên phấn trắng bảng đen
Thầy gieo bao hạt góp thêm cho đời

(Nguyễn Tiến Dũng)




NƠI TÔI Ở - Võ Đình Hiệp

Nơi tôi ở, có bao trò nhỉ
Với ánh mắt, hồn nhiên vô tư
Ngày từng ngày, lật từng trang vở
Viết tiếp vào, những trang vỡ tương lai...

Nơi tôi ở có bao đồng nhiệp
Đoàn kết, chung tay xây dựng mái trường
Cùng nghĩ suy, từng trang giáo án
Để tháng ngày, tiếng bài giảng ngân xa...

Nơi tôi ở, Nam Hải Lăng yêu dấu
Bên dòng Ô lâu, nặng nghĩa tình
Cùng tiến sĩ đầu tiên, xứ đàng trong
Bùi Dục Tài, tấm gương mãi sáng ngời

Nơi tôi ở, có bao kỷ niệm
Những buồn vui mỗi khi lũ về
Nơi tôi ở có nhiều điều để nhớ
Có mái trường ấm áp tình thân.

( Võ Đình Hiệp )




CON SÓNG NHỎ - Nguyễn Thị Thanh Uyên

Này con sóng nhỏ
Có tỏ lòng em
Dạt dào bao phen
Cho trò em nghĩ

Sóng dâng tràn bờ
Làm em trăn trở
Trắng xoá ngày đông
Bài học dang dở

Rồi mai nắng lên
Sóng hãy dịu êm
Vỡ bờ mãi miết
Em thôi da diết




  GIÓ

Gió nhẹ lay tà áo
Cho lòng anh ngẩn ngơ
Gió lại mang vần thơ
Vương vào trong suối tóc

Gió cho anh gặp em
Vòm cây xao động lạ
Nắng rải trên màu lá
Tình ta thuở ban sơ

Gió buồn qua mắt biếc
Tha thiết với trời xanh
Gió lại đến bên anh
Kể về em rất khẽ

Về cuộc sống tình yêu
Những điều anh chưa biết
Con đường ta sẽ đi
Trong những ngày lộng gió.

( Nguyễn Thị Thanh Uyên )




KHÔNG ĐỀ - Nguyễn Điền

Tôi lại về Nam Hải Lăng
Giữa mùa hoa sen nỡ
Cũng cái nắng suốt đời căng mình trăn trở
Nhưng mà sao rất lạ trưa này
Nắng bây giờ như có cánh bay
Rất có thể dưới cây phượng già thầm lặng
Chổ tôi ngồi có dấu chân em ...
Con bướm vàng bất giác chao nhanh
Thả giọt nắng ngoài kia núp vào bóng lá
Tôi chợt hiểu trưa này
Nắng sao bổng lạ...
Nữa vỗ từ trời- nữa ngã từ em.

        
        VỀ VỚI HẢI LĂNG – Nguyễn Điền

Nắng rủ nhau về ươm cỏ cây
Gió reo lồng lộng, bóng cây gầy
Đất trời thanh thản xanh không tưởng
Ngờ chỉ mình riêng một cõi này

Lá đàn, gió hát, tâm hồn say
Lời thơ ấp ủ, bấy nhiêu ngày
Bâng khuâng bướm lẽ, chiều thơ thẩn
Tiïm trời hoang - nhớ thoáng vơi đầy

Hải Lăng!Hải Lăng ! gió với mây
Hàng cây xanh lặng chút nghe này
Lời thơ xin nối ngày gặp lại
Riêng gửi về đây một thoáng say

( Nguyễn Điền )



THĂM TRƯỜNG XƯA - Hoàng Văn Dựng

Em về thăm lại trường xưa
Phượng hồng thắm giữa nắng trưa em đến
Bâng khuâng rạo rực nỗi niềm
Nhớ thầy cũ, nhớ bạn hiền ngày xưa

Nhớ ngày đến lớp trong mưa
Nhớ mùa thi đến mà chưa thuộc bài
Nhớ sân trường bước chân ai
Với đôi guốc nhỏ, áo dài thướt tha

Ngày mai chắp cánh vươn xa
Thầy cô vẫn mãi như là quê hương
Dù mai đi khắp muôn phương
Xin đừng quên nhé mái trường dấu yêu.

( Hoàng Văn Dựng )



        ÂN TÌNH QUÊ HƯƠNG - Lê Văn Niệm

Cho con trở lại với tháng năm
Nơi ấy ngày xưa một thời con khôn lớn
Với dáng mẹ tảo tần hôm sớm
Mái đầu cha nặng trĩu những gió sương
Cho con trở về với quê hương
Với những giọt mồ hôi mẹ cha mang hình giọt nắng
Với “gió lào cát trắng” phủ lên bao mảnh đời mặn đắng
Nhưng vẫn hát câu ân tình “ muối mặn gừng cay”
Cho con trở về với lời giảng của thầy một thời con mê say
Có cô Kiều với tiếng đàn nức nở
Phận má hồng truân chuyên, duyên tình giang dở
Nhưng vẫn nặng “ Hiếu -Tình “ với thiên lương
Có chị Dậu, Chí Phèo, anh Pha, Lão Hạc...
Những mãnh đời tận khổ giữa nhân gian
Nhưng chính họ dạy cho con cách sống
Giữ lấy chữ “ Người “ trong nhân phẩm, lương tâm
Có “ hai đứa trẻ“ nghèo vẫn luôn nuôi khát vọng
Qua những chuyến tàu chở quá khứ xa xăm...
Những lời giảng của thầy cho con bao trăn trở
Bao khó khăn khi viết một chữ “Người”
Ôi! Quê hương đã nuôi tôi khôn lớn
Con sẽ trở về góp phù sa đắp những bãi bờ quê...

(Lê Văn Niệm)




        HẠNH PHÚC LÀM CÔ GIÁO - Thanh Hà

Làm cô giáo...giấc mơ thời vụng dại.
Lén theo tôi từng bước đến trường
Lớp học thân thương thành miền cổ tích
Cô giáo là tôi, lũ bạn- học trò

Quá khứ ngọt ngào nuôi lớn khôn tôi.
Hạnh phúc vỡ oà...lần đầu tiên bục giảng
Những nghĩ suy, những đam mê một thuở
Tôi góp nhặt trong những vần thơ.

Chở những ước mơ, lay động tâm hồn
Giáo án hay _ đọc ngàn trang sách
Cháy hết mình , thổi bùng ngọn lửa
Tình thương cho đi...thấy mình nhận rất nhiều!

(Thanh Hà)


        BIỂN CHIỀU NHỚ - Quốc Hùng

Biển dạt dào ru bờ cát ngủ
Biển ồn ào dữ dội mỗi lúc sóng bờ ghen
Chiều nay một mình tôi trước biển
Biển vô tình xoá hết dấu chân tôi

Vẫn biết rằng trời xanh là muôn thuở
Nhưng người xưa không thấy bóng đi về
Dẫu biết rằng không có gì toàn vẹn
Sao lòng tôi lại trĩu nặng gánh thời gian


        NHẬT KÝ - Quốc Hùng

Em lên ba
Bố mẹ tập i tờ
Em lên sáu
Bước chân vào lớp một
Tuổi thần tiên với trang sách đầu tiên
Từng nét chữ vòng theo cô giáo chỉ
Viết vào đời những con chữ trẻ thơ
Tuổi mười lăm em trở thành thiếu nữ
Aïo thiên thanh che đậy tấm thân ngà
Để anh đến gieo vào em nỗi nhớ
Lần đầu tiên em tập nói tiếng yêu
Ba mươi tuổi em lại thành goá phụ
Anh lại về xây lại tình xưa
Gửi vào em chút hi vọng vào đời
Rồi anh đi lại không hẹn ngày về
Để em lại bên đời ghẻ lạnh
Nước mắt buồn khô lạnh vướng vành mi
Năm mươi tuổi anh lại về chốn cũ
Tìm người xưa mang trả lại nợ tình
Nhưng anh ơi em đã vào xứ lạnh
Phía bên kia với một nỗi đau đời..

(Quốc Hùng)



KỶ NIỆM TRƯỜNG XƯA - Phạm Thị Thu Thảo

Thấm thoát 4 năm đại học trôi qua, tôi ra trường với bao hi vọng sẽ được trở về công tác nơi tôi đã từng một thời gắn bó. Nhưng dường như số phận không mấy khi theo ý muốn của con người, tôi đã được nhận công tác tại trường Nam Hải Lăng- ngôi trường nằm gần con sông Mỹ chánh. Những ngày đầu tiên đến trường, khi nghe học trò xì xào với nhau rằng : “ Có cô Anh văn trẻ mới về bọn bay ơi”, trong tôi bổng dưng cảm thấy vừa vui sướng vừa lo sợ. Nhìn những nhóm học sinh cười đùa dưới bóng cây xà cừ tôi lại bâng khuâng nhớ về tuổi học trò của mình, nhớ về mái trường Hải Lăng thân yêu ngày nào tôi cùng bạn bè tụm năm tụm bảy chuyện trò. Hồi đó tôi có biệt danh là “ Oliverboy” vì tôi sở hữu một thân hình “ cây sậy” giống như một nhân vật trong phim hoạt hình Pôpai. Không hiểu sao lúc đó tôi thường nổi cáu và đáp lại bằng những câu chua chát mỗi khi nghe mấy đứa bạn gọi tôi với cái tên hoạt hình đó. Bây giờ dù tôi có muốn nghe cũng không có ai thèm gọi nữa. Những ngày mùa đông trời mưa như trút nước, ngắm nhìn các em học sinh lóp ngóp bước vào lớp với cái quần lận lên tận đầu gối, tôi ngậm ngùi nhớ lại các bạn tôi hồi đó. Có những đứa nhà ở tận xã Hải An, Hải Dương phải đạp xe 15 cây số đi học; khi đến được trường thì áo quần đã bị ướt đẫm vì nước mưa lẫn mồ hôi. Chúng tôi thường trêu Tân- người ở xa trường nhất “ Bọn bay ơi, thằng Tân đái dầm ướt cả ghế rồi nè “. Nói xong chúng tôi cười toáng lên sung sướng còn tân thì đỏ mặt, giận lắm nhưng vì biết bạn mình muốn đùa cho vui nên Tân chỉ ngồi lặng thinh. Thời gian cứ thế trôi đi, chúng tôi gắn bó với nhau biêt bao kỹ niệm buồn vui và ngày thi tốt nghiệp đang đến gần. Lúc đó trong tôi một nổi buồn tiếc nuối khó tả vây kín tâm hồn. Tiếc nuối vì sắp phải chia tay với tuổi học trò hồn nhiên, ngây thơ, tiếc nuối vì phải xa thầy cô. Những khuôn mặt thân quen của bạn bè, ánh mắt dịu dàng đầy tình thương của thầy cô như được chôn chặt vào trong tim tôi. Ước gì cho thời gian quay trở lại để mỗi ngày tôi được cắp sách đến trường, cùng đùa vui với bạn bè và được nghe bài giảng của thầy cô.

( Phạm Thị Thu Thảo )






BA CÁI DUYÊN  - Nguyễn Duy Triệu

Có bao giờ bạn tự hỏi rằng: Tại sao mình lại học ở lớp này mà không học lớp khác?
Tại sao mình làm chỗ này mà không làm chỗ khác?
Tại sao mình quen người này mà không quen người khác?
Tại sao mình yêu người này mà không yêu người khác?
Tại sao...?
Đó là do duyên! Tôi không mê tín, không tin số phận, nhưng không giải thích được số phận, tôi chỉ viết ra đây để trải lòng mình như một lời cám ơn số phận mà ở đó tôi gọi là duyên!

Thời học cấp III, tôi chẳng nghĩ gì đến cái nghề trong tương lai mà tôi chỉ nghĩ mình học làm sao cho thật tốt để thoát khỏi cái nghề tay lấm chân bùn mà bao đời người dân quê tôi đã lam lủ. Không ai định hướng vẽ vời mà chỉ biết học và học, thấm thoát 3 năm gần trôi qua, đến ngày làm hồ sơ đăng ký thi ĐH tôi mua 01 bộ hồ sơ ghi các mục đầy đủ và đã chọn khối A mà chẳng biết chọn ngành nào nên vẫn bỏ trống, đến hôm nộp hồ sơ thầy phụ trách văn phòng nói sao chưa chọn ngành thi? Lúc đó tôi nhờ thầy tư vấn, thầy chỉ ra một số ngành và thầy nói: “Thôi chọn sư phạm củng được! ngành này sau ra trường dễ xin việc mà nên chọn sư phạm toán còn tính đến chuyện dạy thêm nửa”, thế là tôi nhờ thầy ghi vào. Đó là cái duyên với sư phạm.

Vào học ĐH, năm đó tôi phải học ĐH đại cương, giảng đường ĐH mở ra cho tôi một vùng trời mới lạ, tràn đầy bao cảm xúc lẫn lộn: Tự tin, lo lắng, buồn, vui…Và điều tôi hứng khởi nhất là được học ngoại ngữ (ở cấp 3 tôi không được học nó mà thủa nhỏ tôi thấy những người nói được tiếng nước ngoài thật là oai là giỏi), lo lắng nhất là môn tin học. Nghe nói đến vi tính thì nghĩ ngay đến sự hiện đại, cao siêu và phải có tiền. (Tôi nhớ lại lúc học lớp 11 có người hỏi vì sao trường chưa có máy vi tính, tôi nghe thầy Hiệu trưởng nói trường chúng ta chưa có phòng đạt chuẩn, không có máy điều hoà ...để đặt máy vi tính và vi rút từ môi trường bên ngoài rất dễ lây vào máy vi tính, nghĩ lại thì thời đó chắc nhiều người củng nghĩ vậy thôi). Nhưng thật khác lạ, cái tôi hứng khởi đầu tư thì gặp rất nhiều trân chuyên và có lẻ do bản tính mọc mạc chất phát nói giọng quê Triệu Trạch đặc sệt hay sao mà học ngoại ngữ quá khó. Còn môn tin học, thật tuyệt vời và sau đó thi chuyển giai đoạn tôi đã chọn ngành sư phạm tin học - Đó là cái duyên thứ 2. 

 
Sau khi tốt nghiệp ĐH, lúc đó môn tin học chưa được chú trọng nên giáo viên dạy tin tuyển dụng rất ít thế là phải dạy hợp đồng toán tại một trường vùng biển, vào TP Hồ Chí Minh làm ngành du lịch... Nhưng dù làm gì, đi đâu tôi củng khao khát được là một giáo viên đứng trên bục giảng mang những kiến thức tin học cho thế hệ trẻ và điều đó đã trở thành hiện thực khi tôi nhận quyết định về Nam Hải Lăng.

Nam Hải Lăng, ngôi trường tôi chưa hình dung ra nó như thế nào cả, tôi chỉ biết nó gần ngã 3 Mỹ Chánh – nơi thời SV tôi thường đi xe đò qua đó và dừng lại nghe những tiếng rao “Lọc, lọc”, “ nước”, “nước”…Nhưng hôm nay nó đã hiển hiện trước mắt, cảm giác đầu tiên là nhỏ, khiêm nhường, không ồn ào và thân thiện nằm cạnh dòng Ô Lâu hiền hòa, một miền quê chiêm trủng, rặng tre xanh …Một cảm giác gần gủi đến đổi lạ kỳ như chính quê tôi. Nơi đây đã cho tôi những chuỗi ngày trưởng thành, cho tôi biết những gì cần thiết để trở thành một người thầy, những kiến thức học ở ĐH chỉ là một phần của người thầy, cái quan trọng nhất là học ở học sinh để làm thầy. 

 
Nam Hải Lăng là cái duyên thứ 3 và củng tại đây cho tôi nhiều cái duyên khác. Tôi có nghe câu nói “trong cuộc đời có 3 cái quan trọng nhất: đó là có việc để làm, có người để yêu và có điều để suy nghĩ” thì chính nơi đây Nam Hải Lăng đã cho tôi tất cả.

Xin cám ơn đời, cám ơn tất cả cho tôi gặp cái duyên Nam Hải Lăng!

(Nguyễn Duy Triệu)




YÊU CÔ GIÁO - Hồng Minh

Đã từ bao giờ, cô giáo ơi
Thầy đã yêu cô hết thật rồi
Ánh mắt cô cười sao xinh thế
Đánh cắp trái tim bỏ giữa đời

Nhiều năm lên lớp chăm trò học
Cô giáo về trường tiếng trống vui
Các thầy náo nức mong đồng nghiệp
Để được cùng nhau nói mấy lời

Cô giáo đang còn tuổi xuân xanh
Chưa muốn sánh duyên cùng các anh
Ra sức xây dựng trường thân thiện
Thành công cô giáo sẽ yêu anh.

(Hồng Minh)




HẠ TÀN - Lộc

Em đi rồi chùm phượng cuối mùa thi
Đỏ hoe mắt một buổi chiều chớm nắng
Nhấm chùm hoa không chua mà chát đắng
Bước chân tôi khập khiểng trước sân trường
Trước mắt tôi là hoàng hôn
Sau lưng là cánh cửa phòng thi khoá vội
Những bàn ghế, những bảng đen ngập bụi.
Tờ giấy vo tròn ném cuối giờ thi.
Chỗ em ngồi còn kia
Vệt nắng dài hằng in lên ghế
Buổi sáng nào lần đầu đi trễ
Vai run run tay lấm vệt dầu
Em đi rồi! Chùm phượng ở trên cao
Cứ cháy mãi những điều chưa nói hết
Nắng chiều hôm cứ ngời lên nuối tiếc
Giá ngày xưa thôi đừng nhắc! Hạ tàn.

(Lộc)



ĐƯA ĐÒ - Minh Hương

Thuở nào làm khách sang sông
Tôi đâu có hiểu nỗi lòng người đưa
Giữa dòng không chút ưu tư
Mãi mê tìm bến, thẩn thờ đợi trông.
Nay tôi mái tóc hoa râm
Vững vàng tay lái với tầm nhìn xa
Tuổi thơ nào có biết đâu
Sóng lòng động khẽ nao nao lòng người
Gìờ đây cầm lái đêm ngày
Nhìn khách hớn hở lên đầy thuyền mơ
Chạnh lòng-Tôi những suy tư
Sang sông- còn nhớ bến xưa tìm về

(Minh Hương)




TRƯỜNG TÔI - Như Băng

Có ai về, đi ngang qua Mỹ Chánh
Xin hãy dừng chân, ghé lại trường tôi
Nam Hải Lăng- thân thương với bao người
Nơi dìu dắt chăm lo bao thế hệ
Trường tôi đó, bên dòng sông xanh ngắt
Nước hiền hoà, tươi mát cánh đồng xa
Từng lắng nghe tiếng hát, tiếng ca
Tiếng giảng bài, nghe sao ấm lạ

Trường tôi đó, với cây bàng, hàng phượng vĩ
Đứng vững vàng trước gió nét mực soi
Che chỗ em, vào những buổi trưa hè
Toả bóng mát, hàng ngày em đến lớp.

Trường tôi đó với người thầy thầm lặng
Đêm miệt mài trên từng trang sách mở
Để bài giảng mang tình yêu đất nước
Làm hành trang em trên bước đi xa.

(Như Băng)




KHOẢNG LẶNG – Hoàng Tấn Sanh

( Nhân ngày 20.11 viết cho Em - người yêu nhất của đời tôi)

Em đi xa để lại trời thương nhớ
Khoảng lặng trong tôi suốt cuộc đời

Cứ mỗi lần đến thăm em, khoảng lặng trong tôi như thêm chồi thêm lộc. Chiều nay cũng thế nơi em yên nghỉ sao bình yên đến vậy. Khoảng lặng đến. ký ức hiện về. Th?m thoắt đã 10 năm, 10 năm, kể từ ngày 20 tháng 11 đầu tiên tôi có em, ngày đó tôi cùng em dạo quanh thành Huế, tìm mua quà kỷ niệm cho nhau. Tôi dành phần thưởng có được mua tặng em chiếc lọ hoa nhỏ bé bằng thuỷ tinh “chúng mình đều là giáo viên mà “ câu nói đầy cảm thông cũng như nụ cười của em hôm đó tôi nhớ suốt cuộc đời. Bây giờ với tôi, có lẽ suốt cuộc đời làm thầy giáo của mình, ngày 20 tháng 11 năm đó sẽ mãi là dấu ấn không thể nào quên.

Tình yêu - Hạnh phúc. Tôi và Em có nhau từ đó.

Rồi em xa Huế, về đây. Về với tôi, với ngôi trường làng bé nhỏ yêu thương này. Và em đã có những ngày tháng đáng nhớ với trường, lớp, với thầy cô, bạn bè đồng nghiệp thân thương. Những tháng ngày mà có lần em đã nói với tôi rằng đó là những gì của khái niệm hạnh phúc-yêu thương của cuộc đời.


Trường- Tôi và Em có nhau từ đó.

Những năm tháng bình yên, hạnh phúc cùng trường, lớp, bạn bè, học sinh yêu thương đang lớn dần cùng bao kỷ niệm. Quên sao được những dịp 20 tháng 11. Tôi- em - bạn bè cùng những khoá học sinh thân yêu đã có quá nhiều chuyện buồn vui để nhớ.


Thế mà cuộc đời. Có ai nói hết cuộc đời - Em đi xa, xa mãi. Xa trường, xa lớp, xa bạn bè - xa tôi. Một trời thương nhớ tôi ôm một cuộc đời.

Trường - Tôi mất em từ đây.

Đã hai năm. Một 20 tháng 11 nữa không có Em. Cảm giác buồn và đơn độc lại quay về. Biết không em, trường - tôi và bạn bè đang chuẩn bị cho ngày 20 tháng 11 đáng nhớ đó. Tất cả sẽ có một ngày vui vẻ như dạo nào còn có em. Hoa cùng những lời chúc tụng sẽ đến.

Còn em ? Em có về không, về với tôi, với trường, lớp với bạn bè đồng nghiệp yêu thương không ?

Về nghe em ! về để tôi và em có lại những gì mình đã có - về với kỷ niệm, với những gì thân thương nhất của một người giáo viên trong ngày này nghe em.

Trường - Tôi sẽ mãi chờ em.


(Hoàng Tấn Sanh)





MAI XA HUẾ - Hoàng Tấn Sanh

Mai xa Huê
Xa trường
Xa kỷ niệm
Xa ai thương
Tóc xoã chấn vai mềm

Mai xa Huế
Còn không
Ngày gặp lại ?
Hương tóc xưa
Mỡ ngõ trái tim gầy

Mai xa Huế
Tình si
Sao muộn quá !
Chưa ngõ lời
Ve đã hát chia xa

Mai xa Huế
Người ơi
Buồn da diết !
Tim đơn côi
Gởi lại Huế - dáng gầy.

(Hoàng Tấn Sanh)



MỘT CHÚT TẢN MẠN VỀ NGHỀ DẠY HỌC – Thanh Hà

Tôi đã gặp em một chiều mưa, ánh mắt nhìn tôi bối rối, chiếc áo nâu sòng, khuôn mặt buồn rười rượi .... tôi nghẹn lời, thấy mình run run ....

Cậu học trò năm nào của tôi, bị đuổi học vì những lỗi lầm không đáng có. Những giọt nước mắt của em theo tôi trong những giờ lên lớp, lớp học còn đó, trống một chổ ngồi ...

Rồi tôi cũng quên em, giữa bộn bề công việc và những lo toan vặt vãnh đời thường.

Tôi đã gặp em ... vẫn ánh mắt ấy khi chia tay tôi trong sân trường dạo nọ. Tôi chẳng ngờ... em lại cắt tóc quy y !

Em đã trưởng thành hơn, thấy tiếc nuối những gì mình đánh mất. Riêng tôi cảm giác như mình là người có lỗi, đã không gần em để chia sẽ những tâm tình.

Gặp em, để nhìn lại chính mình, thấy nghề giáo cần biết bao một cái tâm trong sáng.

Em đã cho tôi một bài học quý giá, em biết không ?

(Thanh Hà)




TẶNG EM – Hoàng Hữu Quyền

Anh cắm hoa tươi để trên bàn
Mong rằng toán học bớt khô khan
Em ơi ! Toán học nhiều công thức
Cũng đẹp như hoa chẳng phải tàn

(Hoàng Hữu Quyền)



QUÊ TÔI – Nguyễn Hành

Quê hương tôi giữa khúc ruột miền Trung
Gánh trên vai dãi trường sơn hùng vĩ
Tháng năm dài rát bỏng gió từng cơn
Bạc trắng ruộng đồng những mùa nước lũ
Quê hương tôi đi qua chiến tranh
Còn in dấu bao chiến công lẫy lừng
Dòng Thạch Hãn màu đỏ máu các anh
Dốc miếu, Côn Tiên, Khe Sanh, Thành Cổ
Từng một thời khói lửa và tang thương
Hôm nay đây màu xanh của đổi mới
Màu của ấm, màu của sự sống
Xin chỉ một lần đặt chân ghé thăm
Quảng Trị thân thương, sâu nặng ân tình

(Nguyến Hành)




KỶ NIỆM – Lê Chí Hùng

Mười lăm năm đã qua
Vẫn trên con đường ấy
Cùng đàn em thơ ngây
Đến trường lên lớp học

Cũng mười lăm năm ấy
Miệt mài trang giáo án
Và những giờ thao giảng
Ươm mầm xanh cho đời

Kỉ niệm ngày về trường
Tôi vẫn còn nhớ mãi
Lòng sao xao xuyến quá
Ngày đầu tiên về trường

Tần ngần lên bục giảng
Với thầy dạy đầu tiên
Sao vẫn thấy hồn nhiên
Nhìn đàn em hy vọng

Tự hào một đời người
Gieo mầm cho cuộc sống
Chăm sóc những cây đời
Trên chặng đường đi tới

(Lê Chí Hùng)




TRƯỜNG TÔI - Lê Văn Niệm

Mười lăm năm một chặng đường
Phía nam đất Hải ... mái trường thân yêu
Thầy cô vất vả sớm chiều
Phù sa kiến thức nâng niu ươm mầm
Học sinh lặng lẽ âm thầm
Rèn tài luyện đức lẫy lững quê hương
Chim khôn cất cánh bốn phương
Lòng còn hoài niệm mái trường, thầy cô
Mười lăm năm những chuyến đò
Câu Kiều thuở ấy bây giờ ai sang
Trường tôi ngày một khang trang
Vươn lên tầm mới vững vàng dựng xây
Hôm nay tôi đã về đây
Cùng thầy cô cũ chung tay đưa đò.

(Lê Văn Niệm)

Tập thơ văn này do thầy giáo Nguyễn Điền tuyển chọn 
và gởi tặng.



READ MORE - THƠ VĂN CỦA THẦY CÔ GIÁO TRƯỜNG THPT NAM HẢI LĂNG - Nguyễn Điền tuyển chọn

Tuesday, March 13, 2012

QUẢNG TRỊ VÀ TÔI - Bút ký Nguyễn Nguyên An

 Nguyễn Nguyên An


Từ Huế, tôi đạp xe ra Quảng Trị, dắt xe vào xóm trưa vắng vẻ. Mặt trời đã ở đỉnh cao, giội sức nóng xuống vùng cây lá lơ thơ. Cây vườn hồi sinh mười mấy năm trở lại đây chưa kịp tròn bóng mát. Tôi xa Quảng Trị năm mười một tuổi, về thăm khi đã gần năm mươi. Thời gian chưa đủ bãi bể hoá nương dâu, nhưng sức tàn phá của chiến tranh, biến cái xóm nhỏ của tôi thành xa lạ, đến đất đai cũng chẳng còn chút thân quen. Tôi trôi vào tâm trạng buồn bã, lạc lõng ngay nơi chốn mình đã sinh ra.

Dòng hồi tuởng như chảy từ cổ tích, hiện trong tôi chấp chới những người thân quen, có người thành thiên cổ. Bác Đỗ Sung - cha Thạch - bạn tôi. Tính bác khoan hoà, nhân ái. Những lần tôi hoang nghịch, ba tôi bắt nằm xuống đất, trót roi mây vào đít là bác đứng ra xin hộ cho tôi:

Anh xin chú, cho cháu mắc nợ lần này, lần sau đánh gấp đôi - Bác nhìn tôi nháy mắt - Đứng lên xin lỗi ba rồi đi rửa mặt, nhanh!

Tôi khoanh tay xin lỗi ba tôi. Cám ơn bác. Sau đó thút thít đi trong nhuề nhoà nước mắt, xuống bếp. Tai tôi vẫn nghe ba tôi dằn tức bực, phân bua với bác Sung:

- Anh coi, đêm mô nó cũng trốn ra rạp Đại Chúng coi cọp xi-nê cao bồi, xi-nê thần thoại Ấn Độ, rồi bắt chước cao bồi quăng dây vào con người ta đang ngồi sau yên xe đạp và chạy theo giựt dây như phi ngựa, bố thằng bé không hay biết vẫn đạp nhanh, dây trặt thằng con ông ta té oạch giữa đường. May tôi thấy chớ không ba thằng bé đánh nó chết rồi. Tôi không đánh nó có ngày người ta đánh nó toi mạng.

Bác Sung ngồi nghe, ve vuốt ba tôi ít câu rồi về nhà.

Gần đầu xóm Heo, nơi tiếp giáp đường Quang Trung thuộc phường Đệ Nhị, có ông Tẩu. Ông già lụ khụ rồi mà còn làm cái nghề tôi cho là gớm ghiếc, nhưng luôn gợi tính hiếu ký lũ trẻ chúng tôi. Ông nuôi nhiều đĩa trâu trong ống tre, giam dói hàng tháng. Ai bị nhọt đều đến nhờ ông lấy máu độc ra. Ông chúc đầu ống tre xuống nơi nhọt sưng tấy, con đỉa đói hút căng phồng bụng máu, ông rứt đỉa ra, thả nhúm muối lên các cái thân nhớt lầy đen láng ấy, con đỉa quằn quại phun máu ra, chờ đỉa xép ve, ông lại cho đỉa vào ống tre cất giữ, dùng lần sau. Ông thường đuổi, doạ chúng tôi, chúng tôi tò mò không chịu đi, thỉnh thoảng ông bắt đựơc một đứa, giả vờ cho đỉa hút máu...thằng cu vùng ra được, mặt tái lét chạy te, vừa chạy vừa khóc hu...hu...về nhà. Lũ chúng tôi đứa nào cũng sợ ông Tẩu, nhưng lại thích lân la đến gần cái thân cọm rọm, hôi hôi của ông vì ông có nhòêu ngón nghề đễ sợ mà lạ đời luôn hấp dẫn đầu óc non trẻ chúng tôi.

Còn bác Mót cạnh nhà bác Sung dễ nực cười bởi tưóng người phốp pháp, da thịt mát mẻ, béo tròn hin một cục. Nhà bác làm nghề mổ lợn. tính vác xuề xoà, luôn vui tươi; trên khuôn mặt nần nẫn thịt của bác không hề bợn chút phiền toái. Bác Mót vô tư, tự nhiên như cây cỏ, buổi sáng bác chạy xuống hói đi đồng, khi nào bác cũng đợi Tào Tháo đuổi mới chịu lạch bạch chạy...và thả lại trong tai bọn chúng tôi một tràng...chúng tôi đỏ mặt nhìn nhau cười rúc rích.

Tôi đang lẩn thẩn chìm trong dĩ vảng giữa ngày trưa đầy nắng. Gặp anh trung niên dong dỏng cao đi tới, tôi dón và hỏi thăm nhà bạn bè. Anh nhiệt tình cho biết người còn, nguời mất, người đi xa, nguời ở gần, nhưng không còn ai ở xóm Heo náy cả. Anh mới ở sau chia tỉnh, nhưng anh biết những người bạn cũ của tôi vì cũng là bạn anh thời học trường Nguyễn Hoàng gần bến xe. Anh nói:

- Tụi nó ở ngoài Đông Hà ơ. Thạch đóng thùng ô tô, làm nước đá. Quang nhà thơ bán cháo bột, anh ra hỏi anh em trên phường Năm ai cũng biết.

Từ giả anh tôi ra Đông Hà. Lủi thủi một mình tìm bến sông xưa sang sông Thạch Hãn. Nơi mẹ tôi tắm tắp những ngày hạ, cùng bạn gái trang lứa mười bảy, mưới tám tuổi vẫn tắm truồng, bởi thời ấy thế hệ mẹ ngây thơ trong sáng, không biết tụi tây đóng đồn gần đó, tranh nhau bắt ống nhòm, nhòm...Và cũng là nơi tôi ngụp lặn thoả thích trong lòng nước mát, quên những cơn gió Lào bỏng rộp rôm sảy trên da. Bến tắm nhiều đá cuội và nước trong veo. Dòng sông chảy dịu dàng mát ngọt vào đời tôi. Sau này tôi hụp lặn bất cứ dòng sông nào, tôi cũng nhớ dòng sông Thạch Hãn, một nỗi nhớ như nhớ bà mẹ quê hương, luôn trào dâng niềm nuối tiếc ngậm ngùi...Tôi đứng bần thần trên bến sông xưa, nay cũng mất sạch dấu vết, chỉ còn bến đò ngang, một chiếc đò rời rạc đưa khách sang sông. Sát bến đò là khu chợ Quảng Trị. Khu chợ sang trọng này xây dựng từ đổ nát điêu linh, trổi mình nghiêng bóng lung linh bên dòng Thạch Hãn, phác một nét hoành tráng ven sông, hợp với tính cách ngoan cuờng và cần cù của người Quảng Trị. Dắt xe xuống đò, tôi thả hồn theo từng mái chèo khoan nhặt của bác lái đò, đò chưa cặp bến Nhan Biều mà lòng tôi đã chạm vào kỷ niệm...Dải biền bên kia sông thuở xưa ngun ngút rừng bắp, bây giờ mơn mởn rau, đậu, cải...Dọc biền này hàng năm đuợc những cơn lụt tô bồi phù sa, mảnh đất đa dạng sinh thái phồn tạp, thổ nhưỡng màu mỡ, rất tốt cho các loại hoa màu và cả dựng vườn cây trái lâu niên. Hồi đó tôi và em trai kế tôi cùng lũ bạn xóm bơi qua Nhan Biều bắt dế và bẻ trộm bắp non, bị mấy thằng chăn trâu bên đó rượt đuổi. Khi bơi về, em tôi bị chuột rút chìm nghỉm chỗ sâu, tôi lặn theo cứu em nhưng bị uống nước, ngộp thở đành trồi lên la: "cứu...cứu em tôi với...". Một anh thanh niên đang tắm sông đã cứu em tôi, vác em tôi chúc nguợc đầu xuống đất chạy quanh cho nước ộc ra và sau đó làm hô hấp nhân tạo. Em tôi thoát chết đuối. Tôi bị bầm mông vì trận đòn của ba tôi! Cho tới bây giờ tôi chưa gặp lại anh ấy. Nhưng tôi mang ơn cứu tử của anh, người con Quảng Trị. Anh ơi, bây giờ anh ở đâu? Anh cho tôi gửi đến anh lời cảm tạ chân thành vang vọng từ đáy lòng tôi giữa chốn mênh mông sông nứơc này.

Trước đây mỗi khi tôi ngang qua Đông Hà, tôi có cảm giác thị xã đầy bụi và nắng; khu chợ lấp thấp vạt tôn gỉ, ngoi lên, tụt xuống không lớp lang thứ tự bên sông Hiếu. Nay, chợ Đông Hà mới xây bề thế tầng cao, người người nhộn nhịp trong cảnh sầm uất. Và, Đông Hà bừng lên trong không khí xây dựng, nhà nhà lộng lẫy. Đông Hà cũng từng tang thương, sập nát dưới mưa bom, bão đạn, hằng năm còn trần thân, với khô khát, bão lụt khắc nghiệt của thiên nhiên. Người Quảng Trị đã và đang chung lưng đấu cật, cung chia gian nan, khổ hạnh dựng lên trên mảnh đất này một thành trì của nhân cách của lòng dũng cãm và sự chịu đựng trường kỳ, dẳng dói một cách đáng nể, để hôm nay có một thị xã trẻ trung với vóc dáng hiện đại, đầy sức sống, phồn thịnh và chan chứa tình người. Cây xanh trên các ngã đường đang ngấp nghé xanh, mai đây sẵn sàng xoè tán mát cho người. Thị xã đầy bụi và nắng sẽ theo chuyến tàu quá khứ chạy chìm vào quên lãng.

Tôi tìm nhà các bạn tôi không mấy khó. Các bạn ngần này tuổi đầu ai cũng có chút danh thơm loang trong thiên hạ. Thạch cẩn trọng đăm chiêu. Quang dận dày bão tố, khuôn mặt sần sùi của Quang nói lên một quãng đời khổ ải. Ba đứa chúng tôi quây quần chuyện vãn suốt buổi. Nhắc cho nhau biết những nhau biết những đứa đang ở rải rác các tỉnh. Thành phố miền Trung như Nguyễn Thái Sơn bán cà phê ở quán Thiên Đàng Huế. Phạm Đình Quát nhà báo, bác sĩ Nguyễn Thái Viện dịch tễ Buôn Ma thuột... đều sinh ra và lớn lên ở Quảng Trị. Đến nay đứa nào cũng có sản nghiệp khấm khá, chỉ tôi và Quang còn xất bất chuyện cơm áo. Khi chưa gặp nhau, tôi tưởng chúng tôi sẽ ùa vào nhau nói năng sỗ sã cho thoả lòng bao năm xa cách. Nhưng khoảng cách gần bốn mươi năm gặp lại kìm chúng tôi giữ gìn ý tứ với nhau. Ai cũng lớn cả rồi, đâu dám buông tuồng suồng sã như thuở thiếu thời. Tôi ăn ở nhà bạn nào cũng dược nhưng ở lại với ai thật là khó xử. Ở Quang buồn Thạch. Ở Thạch sợ mang tiếng chê Quang nghèo.Thôi thì rũ Quang ngủ chung với tôi ở nhà Thạch. Đêm ấy, khi chui mùng lên đi văng ngủ, tôi định chiếm chỗ ở sát tường, giành cho tôi một góc tự do, ai dè Quang cũng ngại nằm giữa, đã giành chỗ sát tường. Thuở nhỏ, chúng tôi ôm nhau ngủ qua đêm là thường. Đây có phải thái độ tôn trọng nhau hay không? Tôi nhăn nhó nói với Quang :'' Ông cho tôi nằm trong đi ''.Quang cười hê... hê... ''Mình cũng thích nằm trong vì hay gác lắm, có gì gác vào tường ''. Đêm ấy, tôi không ngủ được. Xoay qua bên nào cũng ngại làm phiền bạn. Quang, Thạch cũng nằm thẳng tắp, im re, hai bạn cũng không ngủ được? Thì ra, con người càng lớn càng dè dặt nhiều điều. Năm tháng chồng chất, dạy người ta thận trọng trong quan hệ, đối đãi với nhau chừng mực và lễ nghĩa hơn.

Tạm biệt Quảng Trị, quê hương thơ ấu của tôi, nơi đã sinh ra tôi lớn dậy làm người. Tạm biệt bạn bè quấn quýt một thuở, giờ này vẫn còn lưu luyến, thương nhau đến bạc đầu. Tôi đạp xe vào Huế lòng hân hoan...

N.N.A

Địa chỉ liên lạc: NGUYỄN VĂN VINH (NNA) -
 50 Trần Thái Tông, Huế -
Tel: 01688971486
nguyenan009@gmail.com

READ MORE - QUẢNG TRỊ VÀ TÔI - Bút ký Nguyễn Nguyên An

ÔNG HƯƠNG TỪ THIỆN - Lê Đức Việt

Hơn 31 năm làm chi hội trưởng chi hội chữ thập đỏ thôn, bằng tấm lòng nhân ái và bầu nhiệt tâm, ông đã mang đến niềm vui cho rất nhiều gia đình có hoàn cảnh nghèo khó, những mảnh đời bất hạnh. Đã 68 tuổi nhưng dường như bước chân của ông vẫn chưa dừng lại...


Ông Hương và hai đứa cháu 

Về thôn Thi Ông, xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng (Quảng Trị), hỏi ông Võ Đình Hương “Chữ thập đỏ”, một người dân sốt sắng chỉ giúp: “Chú đi thẳng, qua trường THCS một quãng nữa là tới. Ở đây ai cũng quý ông Hương, ông ấy tốt và uy tín với dân làng tôi lắm”.

Căn nhà nhỏ của ông Hương nằm giữa một khu vườn rộng, trước sân nhà, những cây mai nở muộn ươm một màu vàng rực. Đón chúng tôi bằng nụ cười hiền, ông Hương bảo nếu tôi đến chậm thì có lẽ giờ này ông đã đi công chuyện. Hỏi ra mới biết, ngoài việc đang giữ chức Chi hội trưởng Chi hội Chữ thập đỏ thôn Thi Ông thì ông còn là một thú y viên được bà con tín nhiệm.
Bên chén trà nóng, người đàn ông tóc đã hoa râm với dáng người quắc thước chậm rãi kể chuyện đời mình. Sinh năm 1944, từ nhỏ dù nghèo nhưng ông được gia đình cho theo học tử tế, và ông đặc biệt thông minh, học giỏi có tiếng thời bấy giờ. Năm nào ông cũng là học sinh giỏi toàn diện.

Những năm học ở Trường Nguyễn Hoàng ông là một trong những học trò xuất sắc của trường. Kỳ thi đại học năm 1971, ông xuất sắc đỗ cùng lúc hai trường đại học là Đại học Sư phạm, ngành Toán và Đại học Luật khoa Huế với số điểm cao. Ông quyết định học cả hai trường.

Năm 1974, ông tốt nghiệp loại ưu của Trường Đại học sư phạm Huế, còn Trường Đại học Luật khoa ông chỉ mới học đến năm 3 thì đất nước giải phóng nên ngừng học, chỉ được cấp chứng chỉ. Từ năm 1975 đến năm 1977, ông được phân về dạy môn Toán tại một số trường THCS ở huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế.

Sau đó, vì nhiều lý do nên ông xin nghỉ dạy học về quê ở thôn Thi Ông sinh sống, lập gia đình. Sau khi về quê ông làm ruộng, chăn nuôi để nuôi gia đình. Nhờ có vốn kiến thức rộng lại chịu khó ông làm ăn rất hiệu quả và trở thành một nông dân tiêu biểu.

Năm 1979, ông vinh dự được cử đi dự hội nghị nông dân sản xuất giỏi của tỉnh Bình Trị Thiên. Cùng thời gian này ông được tín nhiệm bầu vào làm ở bộ phận định mức của HTX Hải Vĩnh. Một thời gian sau, ông lại được bầu làm thêm chức Trại trưởng Trại giống chăn nuôi của xã Hải Vĩnh.

“Hồi đó trại giống xã Hải Vĩnh cùng với trại giống xã Triệu Thuận là hai trại giống lớn nhất tỉnh Bình Trị Thiên đấy. Trại giống xã tôi chuyên sản xuất lợn giống Móng Cái, cung ứng cho toàn tỉnh Bình Trị Thiên...”, ông Hương kể.

Lúc làm trại giống ông còn được cử đi học kế toán rồi kỹ thuật chế biến thức ăn chăn nuôi, công tác thú y do huyện Triệu Hải tổ chức. Làm trại giống một thời gian thì Chi hội Chữ thập đỏ thôn Thi Ông thành lập, ông lại tự nguyện xin vào làm chi hội trưởng. Năm ấy ông 37 tuổi.

“Tuy làm nhiều việc nhưng tôi đều cố gắng sắp xếp để hoàn thành. Và công việc mà tôi chuyên tâm và dành nhiều thời gian nhất có lẽ là làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo. Tôi muốn dành sức lực còn lại cho công việc này, bởi người nghèo rất cần được sẻ chia, giúp đỡ. Họ cũng là bà con làng xóm, như là người thân của mình vậy...”, ông tâm sự.

Trong hơn 31 năm làm công tác từ thiện xã hội, ông không nhớ mình đã giúp đỡ được bao nhiêu người nghèo khó, bởi “làm từ thiện thì biết chừng nào cho đủ, ráng giúp được người ta bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu. Có lúc mình còn phải tự bỏ tiền túi ra giúp thêm, vì nhiều gia đình có hoàn cảnh tội nghiệp lắm”.

Như gia đình bà Võ Thị Quý, năm nay đã sắp bước sang tuổi 80 mà vẫn đơn thân nuôi người con tâm thần hàng chục năm. Hai mẹ con bà sống trong căn nhà nhỏ với mái ngói rệu rã, tài sản chẳng có gì đáng giá. Bà Quý lúc khoẻ còn đi mót lúa, làm thuê nhưng từ ngày đau yếu thì chẳng làm được gì.

Cám cảnh trước hoàn cảnh này, ông Hương đã vận động những tấm lòng hảo tâm giúp đỡ thường xuyên cho gia đình bà mỗi tháng từ 200- 300 nghìn đồng để sinh sống qua ngày. Vừa rồi, ông Hương cùng với hội viên chữ thập đỏ thôn cũng đã trực tiếp lợp lại mái ngói, làm thêm tầng cấp trước hiên nhà rồi tặng quà cho gia đình bà Quý đón tết.

Hay như bà Bùi Thị Gấm ở đội 5, thôn Thi Ông sống một mình trong căn nhà được thưng bằng phên tre, bạt ni lông tạm bợ lại đau ốm triền miên. Tuy có 2 con gái nhưng do nghèo quá nên cũng bỏ xứ đi làm ăn rồi lấy chồng xa, chẳng đỡ đần bà được gì. Trước hoàn cảnh đó, vào năm 2004, ông Hương kêu gọi người dân trong thôn quyên góp được 600 nghìn đồng, riêng cá nhân ông vận động bạn bè thêm 200 nghìn đồng giúp đỡ bà Gấm.

Đó chỉ là 2 trong số hàng nghìn trường hợp được ông và Chi Hội Chữ thập đỏ thôn giúp đỡ. “Ngoài giúp đỡ tiền, anh em chúng tôi còn sữa chữa nhà, thường xuyên tặng quà, thăm hỏi những gia đình này, bởi họ gần như không còn khả năng lao động, hoàn cảnh lại quá bi đát. Trong hoạt động của mình, chúng tôi dành sự quan tâm đặc biệt cho những mảnh đời như vậy”, ông Hương nói thêm.

Hiện toàn thôn Thi Ông có khoảng 45 hộ cần sự giúp đỡ, trong đó cần giúp đỡ thường xuyên là 12 hộ. Đó là những hộ nghèo, neo đơn, người tàn tật, người nhiễm chất độc da cam có hoàn cảnh khó khăn... Ngoài những gia đình này, Chi hội Chữ thập đỏ thôn Thi Ông còn thường xuyên tham gia cứu trợ bão lũ, thăm hỏi những trường hợp tai nạn, ốm đau.

Với lòng nhiệt tình và những bước chân không mệt mỏi của mình, ông Hương đã mang đến niềm vui, sự an ủi cho rất nhiều mảnh đời kém may mắn. Những đóng góp thầm lặng và ý nghĩa ấy của ông đã được Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, UBND tỉnh, Hội Chữ thập đỏ tỉnh, huyện và các ban, ngành nhiều lần tặng kỷ niệm chương, bằng khen, giấy khen như một sự ghi nhận đầy trân trọng.

Lúc chia tay, tôi hỏi, hồi ấy bác học cao như vậy sao không đi dạy học hay làm việc gì đó nhàn nhã hơn mà về quê làm ruộng, chăn nuôi, làm từ thiện? Ông Hương lặng im trong chốc lát rồi tâm sự: “Làm gì không quan trọng, miễn sao thấy lòng thanh thản và tìm được niềm vui. Đã chừng này tuổi nhưng chưa bao giờ tôi thấy hối hận vì quyết định của mình, bây giờ tôi chỉ mong có sức khoẻ tốt để tiếp tục công việc đang làm. Thế là vui và hạnh phúc rồi”.


Lê Đức Việt 
Theo Báo Quảng Trị
(Võ Văn Hoa chuyển đăng)
READ MORE - ÔNG HƯƠNG TỪ THIỆN - Lê Đức Việt

Monday, March 12, 2012

Hoàng Yên Linh - KÝ ỨC ...


Ai lên Cam Lộ chợ Phiên
Ai về chợ Sãi , Kẽ Diên thì về ...


Tôi xa xứ nhọc nhằn ký ức ...
Khói đốt đồng ngai ngái hoàng hôn
Ấm chè xanh nồi khoai sắn luộc
Thương chị tảo tần
Gánh nặng chồng con ...

Lụt trắng đồng
Nắng bổng bàn chân
Bếp rơm chiều khói bầm mái rạ
Gió mênh mông
Cồn cát mênh mông ...

Đêm Tháp Mười ngọt làn hơi vọng cổ
Đôi mắt em lúng liếng điệu huê tình
Nhớ chén rượu lang Kim , mắt biếc
Nắng Đông Hà mưa trắng núi Khe Sanh .

Có dòng sông trôi mãi
Đi đến cuối biển trời
Có một thời tuổi dại
Theo con nước đầy vơi .

Ơi một thời sông Hiếu
Tắm mát cả đôi bờ
Con sông tràn kỷ niệm 

Vổ về những ước mơ .

Vẫn con sông ngày ấy
Đời xuôi mãi chưa về
Theo tháng ngày bươn chải
Biền biệt chốn sơn khê .

Ai gọi đò sông Hiếu
Tình quê đến não lòng
Giọng hò ơi thê thiết
Trời phương Nam mênh mông .

Vẫn con đò bến đợi
Với sông nước mây trời
Có một người xa xứ
Ngậm ngùi tóc trắng rơi.

 
HOÀNG YÊN LYNH*
                                                           


                                                            Hoàng Mỹ Lynh
                                                             Đông Hà 1952 
                                               Sinh sống tại Lâm Đồng
                                               hoangmylinh@live.com

Ảnh đầu trang: Sông Hiếu - Ảnh của Phạm Văn từ trang Sites.google.com
READ MORE - Hoàng Yên Linh - KÝ ỨC ...