Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, March 12, 2012

LỤC BÁT - Hoàng Văn Chẩm


            
       Nửa mùa xuân qua

Một ngày như không có em
Bên lề  xa khuất chợt thèm tiếng thơ
Cuối ngày xin một giấc mơ
Tan theo mộng mị một bờ sông quê.

Còn đây một tối đi về
Áo xưa thầm lặng vai kề gối hoa
Thì thầm nữa mùa xuân qua
Em chưa giấu kín phôi pha cuộc chờ

Buồn theo nhịp bước bơ vơ
Bỏ thương nhớ lại tóc tơ muộn màng
Nữa xưa còn chút mênh mang
Nữa nay nỗi nhớ lỡ làng mùa trăng.



Mắc cạn một mùa xuân

Nắng cho em bén hương nồng
Xuân cho môi thắm giữa mông mênh tình
Tha hương một cõi riêng mình
Góc đời em cạn thác ghềnh bể dâu.

Đêm ngày chia nhau nông sâu
Em về chia hết bạc đầu phôi pha
Ta về mắc cạn mùa hoa
Bỡi thương nhớ một bước xa cuối trời.....

Xuân xưa mắc cạn một lời
Chia đôi con mắt một thời tóc bay
Không nhau giữa những tháng ngày
Xuân qua còn lại tỏ bày tình xưa.


Hoàng Văn Chẩm
                             hoangvancham@yahoo.com



READ MORE - LỤC BÁT - Hoàng Văn Chẩm

THƠ HAIKU TƯỞNG NIỆM MỘT NĂM SÓNG THẦN Ở NHẬT BẢN – Lê Đăng Mành



Đất Trời mịt mù
Xuân phân tàn tạ
Cứa bờ HAIKU !



TÂM động Phù hoa
Mực pha thảm họa
Xước nét HAIGA !*



Đất Tâm sân hận
Gieo phủ Phù Tang
………Hải chấn !



Năm sau phục hồi !


Vẫn rực đông phương
Từ bùn vươn dậy
Một cành hướng dương !


Tưởng niệm một năm sóng thần ở Nhật Bản 
(11/3/2011- 11/3/2012)
                                                       ledangmanh@gmail.com






*Tranh haiga của Họa sư KIKAKUDO (giản ước, nhẹ nhàng, trống vắng). Xem haiga sẽ có ấn tượng như đọc haiku !



READ MORE - THƠ HAIKU TƯỞNG NIỆM MỘT NĂM SÓNG THẦN Ở NHẬT BẢN – Lê Đăng Mành

HỌA SĨ LÊ THỊ HẢI : HỌA SĨ CỦA TRANH LỤA



Họa sĩ Lê Thị Hải sinh năm 1985 tại Quảng Trị.
Tốt nghiệp ngành Hội họa chuyên khoa Lụa 
- Đại học Nghệ thuật Huế. 
Hội viên hội Mỹ thuật Thừa Thiên Huế. 
Hiện đang làm việc và sáng tác tại Huế.

Triển lãm Nhóm:

+ Năm 2006 - 2008:
- Triển lãm sinh viên ĐH Nghệ thuật Huế tại trường ĐHNT Huế, Số 10 Tô Ngọc Vân, Huế.
- Năm 2007 Triển lãm Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường Mỹ thuật Huế.

+ Năm 2009:
- Tháng 9: Triển lãm Nghệ thuật Nhóm Tác giả tại Huế do Trung tâm NCTH Âm nhạc - Mỹ thuật Đại học Mỹ thuật Huế tổ chức tại Khách sạn Celadon Palace Huế tại 105A Hùng Vương, Huế
+ Năm 2010:
- Tháng 06: Triển lãm tranh Cổ động "Ngày môi trường thế giới" tại NVH Trung tâm tỉnh Thừa Thiên Huế, 41 Hùng Vương, Huế
-Tháng 06: Triển lãm "Thầy và trò" Festival Huế tại Gallery của họa sĩ Vĩnh Phối -12 Bạch Đằng, Huế.

+ Năm 2011:
- Tháng 01: Triển lãm "Xuân Tân Mão 2011" tại Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế.
- Tháng 04: Triển lãm mỹ thuật " Nguyện cầu cho nạn nhân động đất  tại Nhật Bản" tại Liên hiệp các Hội VHNT TT Huế.
- Tháng 04: Triển lãm "Của nhà" tranh lụa, sơn mài Festival Huế 2011 tại 15 Lê Lợi Huế.
- Tháng 08: Triển lãm Mỹ thuật Khu vực Bắc miền Trung lần thứ XVI - 2011 tại Hội Mỹ thuật Quảng Bình (Đồng Hới - Quảng Bình).
- Tháng 09: Triển lãm Hội chợ du lịch Quốc tế ITE tại Khách sạn Kumho InterContinental Asiana Saigon (13/9/2011). Địa chỉ: đường Hai Bà Trưng, Quận1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tháng 09: Triển lãm Chương trình Sen Việt Nam (17/9/2011) tại Nhà hát Bông Sen Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tháng 09: Triển lãm trưng bày Kỷ niệm 50 năm Nhà hát Bông Sen (18/9/2011) tại Nhà hát Bông Sen, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tháng 12: Triển lãm Mỹ thuật mừng ngày truyền thống Mỹ thuật Việt Nam Ngày 10 tháng 12 Năm 2011 tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán 15 Lê Lợi, Tp. Huế.

- Năm 2012:
+ Tháng 01: Triển lãm Mỹ thuật xuân Nhâm Thìn tại Hội Mỹ thuật T.T Huế - 26 Lê Lợi, Huế.
+ Tháng 03: Triển lãm tranh cổ động chào mừng Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XI (2012 - 2017) do Hội Liên hiệp Phụ nữ Thừa Thiên Huế phối hợp với Đại học Nghệ thuật Huế tổ chức tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, số 07 Lê Lợi - Huế.

Liên hệ: 
Họa sĩ Lê thị Hải
Email: lehaiartist@gmail.com
Điện thoại: +84.988.53.30.30
website: http://duongkinhart.com

TRANH CỦA HỌA SĨ LÊ THỊ HẢI

Hát Bội Trao Duyên



Cửu Đỉnh Huế


Dừng Chân Ven Đường


Nét Đẹp Xuân Thì


Nỗi Đau


Suy Tư
READ MORE - HỌA SĨ LÊ THỊ HẢI : HỌA SĨ CỦA TRANH LỤA

Trang thơ Đường của Sông Thu, Sonata, Võ Làng Trâm, Thu Vân


Cửa hàng hoa ngày 8 tháng 3
Rực rỡ khoe màu muôn sắc hoa
Ruy băng phất phới cánh nơ quà.
Ra vào tấp nập như đi hội
Mua bán lao xao tựa hát ca.
Người trẻ đắm say hồng đỏ thắm
Kẻ già mê mẩn ly kiêu sa.
Riêng ta chọn một cành lan tím
Về cắm thư phòng, nhớ bạn xa....
Sông Thu


BÀI HỌA
Nói với tháng ba

Đẹp ngày xuân mộng rạng muôn hoa
Thân ái trao nhau những món quà
Bóng nguyệt trong veo - trong tiếng hát
Cành hồng thắm sắc - thắm lời ca
Lung linh phố thị dòng trăng rót
Rực rỡ đường làng chuỗi nắng sa
Gió trải hương nồng thơm nụ biếc
Muộn phiền xin gửi khói bay xa
Sonata (Trần Hằng)
           

Thông cảm giùm anh

Sáng nay dạo bước phố hàng hoa 
Thấy lắm người mua để tặng quà
Mấy cụ ga lăng đùa đệm tếu
Các anh vồn vã nói pha ca
Nam nhi đắc chí  tay hào phóng
Phụ nữ  kiêu kỳ dáng nhạn sa
Bởi dịp xa nhà đành nợ vợ
Mong sao nàng hiểu cảnh chồng xa . . .
Bình Dương ngày QTPN
Võ Làng Trâm
             

Một thời

Sắc nước, hương trời cũng kiếp hoa
Thanh danh khắp cõi được làm quà
Sáng ra phơi phới vui thi hội
Tối đến rã rời bặt giọng ca
Kiêu hãnh một thời khoe sắc thắm
Ngậm ngùi phút chốc giọt châu sa
Còn thời, còn sắc còn tham vọng
Hết nghĩa, phai tình chịu xót xa
Thu Vân



READ MORE - Trang thơ Đường của Sông Thu, Sonata, Võ Làng Trâm, Thu Vân

Thursday, March 8, 2012

THĂM QUÊ - DÒNG SÔNG QUÊ - Trương Nguyễn


THĂM QUÊ


về quê xưa tim tím nhuốm hoàng hôn
mây xám đè lên đỉnh núi
đất ...
phần nhiều đá sỏi
cánh đồng làng loang lổ 
dấu đạn bom

đồng bào tôi lam lũ sớm hôm
một đời...lưng chai vai phỏng
dù gian lao vòng tay vẫn rộng
đã vun bồi bao thế hệ lớn khôn

xa quê man mác nỗi buồn
trên da thịt còn thơm mùi khoai sắn
giọt mồ hôi mang chung vị mặn
cửa Tùng-cửa Việt quanh đây

bao năm xa quê
về lại mấy ngày
ôm mặt đất thương người đi trước
bước phiêu linh nửa đời xuôi ngược
quê hương ơi...
                   đau lắm
                               dấu phong trần .




DÒNG SÔNG QUÊ

đứng trên cầu
bắc đôi bờ thuở ấy
ta lắng lòng soi bóng nước sông xanh
dòng Hiếu Giang vắt vẽo lượn quanh
bờ cát mịn giữ phù sa cho đất
 
sông yêu thương
            cho con người tắm mát
cam chịu điều trong đục với thời gian
sông trầm mình lặng lẽ...
                        chẳng thở than
luôn tươi mát qua bao mùa nắng lửa
 
dòng sông quê...
            ngát xanh từ muôn thuở
man mác buồn...
            đâu bóng tuổi thơ xưa?
nghiêng mái đầu
            chợt thấy nét già nua
nơi quê cũ...
                ta như người xa lạ.
TRƯƠNG NGUYỄN
truongnguyen49@yahoo.com.vn  

READ MORE - THĂM QUÊ - DÒNG SÔNG QUÊ - Trương Nguyễn

ĐÂY THÔN VỸ DẠ - Thơ Hàn Mặc Tử - Lời bình Phạm Ngọc Thái



ĐÂY THÔN VỸ DẠ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?


                       Hàn Mặc Tử
       (Rút trong tập "Đau thương" - Thơ điên của HMT)
                                           ***
  
        Bài thơ được mở đầu với lời trách móc của người con gái. Lời trách ấy có lẽ do một hoàn cảnh gặp gỡ nào trước đó được thi nhân nhớ lại:
                   Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
    Câu mở đầu như thế giúp cho ý tưởng kiến thiết bài thơ thôn Vỹ gắn với nỗi nhớ người xưa được gợi lên trong kỷ niệm:
                Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
               Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

       Nghĩa là từ hàng cau đến cái nắng mới vào buổi sáng ấy, màu xanh của vườn cây đều là cảnh hiện trong hồi tưởng. Thôn Vỹ nói riêng cũng như mỗi làng quê Việt Nam nói chung: hàng cau thường đọng lại những ấn tượng sâu sắc, nhất là với những người khi đã phải xa quê. Ta cũng thấy ở trong thơ Nguyễn Bính từng viết:
                Nhà tôi có một hàng cau liên phòng
      Hàng cau dưới cái nắng mới buổi sớm thì trong mát, thanh thiên lắm! Cảnh quê cô đọng được hoà quyện vào mối tình đầu trong sáng, mơ mộng của thi nhân, dù mối tình với nàng Hoàng Cúc ấy chỉ đơn phương về phía Hàn Mặc Tử. Nhưng sự sâu lắng đã trở thành hoài niệm mãi trong cõi nhớ của ông, bởi thế màu xanh của lá cây trong vườn cũng lung linh mà "xanh như ngọc"... 
                                                           
    Như vậy "cảnh nhớ" ở ba câu đầu tuy chỉ là hồi tưởng nhưng lại xuất phát từ "cảnh có thực"! Sở dĩ tôi nhấn mạnh về chữ "thực" ở đây? vì chỉ đến câu thứ tư hình ảnh thơ đã có ý nghĩa tượng trưng:
                Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
     "lá trúc" và "chữ điền" thuộc những ngôn từ mỹ học! Hình tượng cây trúc làm tượng trưng trong thơ HMT, ta còn thấy ở trong bài thơ Mùa Xuân Chín:
                Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
    "trúc" là hình ảnh biểu tượng cho làng quê, còn "mặt chữ điền": theo cách nói cổ nho là ví cho gương mặt nam nhi! Trong bài thơ này gương mặt chữ điền ấy để biểu tượng cho chính bản thân thi nhân.  Hai chữ "che ngang" kia, nghĩa là thôn Vỹ với nhà thơ giờ đây chỉ còn ở trong kỷ niệm, nỗi nhớ... mãi mãi phải cách xa nên đã bị... "cắt ngang"!
     Ngay trong bốn câu của khổ thơ đầu ta đã nhận thấy cấu trúc, tư duy thơ HMT theo cảm súc đã được thiết lập theo trình tự suy lý về nỗi cảnh mà lập thành tứ, để phát triển sâu hơn ở khổ thơ thứ hai khi nói đến tình duyên dang dở giữa hai người:
                Gió theo lối gió, mây đường mây...
      Ý là:
                Em theo đường em, anh đường anh
                Duyên phận đôi ta có thế thôi!

      Tả cảnh nhưng chính để nói nỗi đời:
                Dòng nước buồn thiu (tĩnh), hoa bắp lay (động)...
      Cái (tĩnh) và (động) ấy chỉ để bộc lộ một cõi lòng, một tâm trạng cô đơn và buồn! Thi nhân ngồi nhớ người xưa, lòng ông lặng lờ buồn bã như dòng nước hắt hiu, nhưng trái tim ông vẫn bổi hổi, xốn xang như làn "hoa bắp lay"... 
                Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
                Có chở trăng về kịp tối nay?

       Đây là hai câu thơ thần cảm - Hình ảnh thuyền và sông trăng theo cảm súc ùa vào trong thơ mà bật ra... làm cho tình thơ thêm rộng rãi, rung rinh, nỗi thơ càng mênh mang, da diết. 

     Xin nói thêm, cảnh thuyền và sông trăng ở đây theo như một số nhà bình luận: Người thì cho đó là cảnh trong một bức ảnh về Huế mà nàng Hoàng Cúc đã gửi tặng thi nhân khi đang lâm bệnh phải điều trị ở Gành Ráng, Qui Nhơn. Nhưng cũng có người lại nói rằng nàng Hoàng Cúc đã gửi tặng thi nhân tấm ảnh mặc áo dài trắng?... chứ không phải là phiến cảnh "thuyền" và "sông trăng" đó. Nếu vậy thì cảnh trong thơ chỉ là cảnh mà thi nhân nhớ lại nơi thôn Vỹ chăng? - Cũng chưa thật ngã ngũ về hướng nào.
        Nhưng tóm lại cảnh của hai khổ thơ đầu ấy là cảnh thuộc về trí tưởng, dù là vào buổi sớm dưới hàng cau hay trong một đêm trăng trên sông nước. Trong bài bình của nhà bình thơ Vũ Quần Phương, đến đây có nhận xét rằng:
   "Bốn câu đoạn hai không có liên hệ gì về chi tiết với đoạn một... thoáng nhìn bài thơ có vẻ đầu Ngô mình Sở...", (hay là) "Những ý thơ rất xa nhau về ý nghĩa hoá ra lại vẫn có chỗ liền nhau..."  và nhà bình thơ cho rằng "chỗ liền nhau ấy trong thơ HMT chỉ là nhờ vào tâm trạng súc cảm"...
        Theo tôi: HMT là một thi nhân viết thơ bằng nội tâm theo tư duy thế giới trong, súc cảm chỉ làm đà cho mạch thơ, hơi thơ tuôn chảy... còn ý tứ thường được diễn tả rất mạch lạc, rõ ràng. Mượn cảnh làm biểu tượng để diễn đạt nỗi tình thơ  - Đoạn thơ thứ hai ấy cần phải hiểu sâu sắc bằng thế giới bên trong như đã bình trên, mới thấy cảm súc về ý tứ của bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ hoàn toàn liên kết chặt chẽ với nhau, từ đoạn thơ đầu tiên cho đến đoạn cuối cùng.  Đấy chính là cốt lõi để tạo ra thi phẩm của ông. Đây thôn Vỹ Dạ là một tuyệt tác thi ca! Nếu cho rằng đoạn thơ thứ hai chỉ là để tả cảnh buồn mênh mang... thì sẽ không thấy hết được cái hay và sâu sắc của bài thơ!
    Tôi xin bình sang khổ thơ thứ ba:
              Mơ khách đường xa, khách đường xa
              Áo em trắng quá nhìn không ra
              Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
              Ai biết tình ai có đậm đà? 
   Như đã nói mối tình giữa HMT với nàng Hoàng Cúc chỉ là một mối tình đơn phương về phía thi nhân, có thể nàng không hay biết về tình yêu của chàng? Hơn nữa trong lễ giáo phong kiến thời ấy, giữa gia đình thi nhân với gia đình nàng còn có một khoảng cách về đẳng cấp xã hội. Hoàng Cúc thuộc gia đình một quan lại, còn HMT là gia đình lớp bình dân. Ông vốn tính lại rụt rè,  hay bẽn lẽn, yêu tha thiết mà chỉ dám đứng từ xa chiêm ngưỡng người đẹp  như trong mộng... rồi thương thầm, nhớ trộm. Thi nhân đã dồn hết tình yêu của mình vào thơ ca... sáng tác cả một tập, gọi là tập "gái quê" để tặng nàng!
     Giờ đây thì cả cái mối tình đơn phương ấy cũng đang trôi vào dĩ vãng. Thi nhân lâm bệnh nặng phải sống cách ly, sự ngăn trở giữa hai người càng xa hơn. Nên trong bài thơ nói về người yêu mà thi nhân lại dùng chữ "khách" là vì thế! Ông mơ về nàng dẫu tình thì sâu nặng... mà vẫn như mơ về một người khách lạ...
    Hình ảnh: Áo em trắng quá.../ - Hẳn  là màu áo trắng  của nàng Hoàng  Cúc thường mặc  phải gây ấn tượng trong trí nhớ của HMT hơn các màu áo khác!  Nhưng màu áo trắng ở đây còn là ảnh ảo, khi thi nhân mơ tưởng người đẹp ở trong trăng...  Màu trăng ấy thường hay thấy trong thơ HMT:
               Người trăng ăn vận toàn trăng cả...
       Còn tại sao "áo em trắng quá" mà lại "nhìn không ra"? Ý là: Mối tình ấy đã cách biệt, giờ đây khoảng cách giữa hai người xa vời như người khách lạ qua đường.  Còn cảnh tượng:
                  Ở đây sương khói mờ nhân ảnh 
       Đó là cảnh thực của nơi Ông đang sống và chữa bệnh... hiu quạnh, khói sương heo hút ở Gành Ráng, Qui Nhơn. Nhưng đồng thời cũng để nói lên trong cảnh ngộ của Người về thân phận "mịt mờ nhân ảnh". Tâm trạng Ông đang rơi vào trong vực thẳm trước sự quên lãng của người đời.  Lòng ông càng da diết mà hỏi:
              Ai biết tình ai có đậm đà?
      Tiếng "ai" bộc lộ một tâm trạng  vẫn rất tha thiết của Ông:  Liệu nàng còn nhớ đến ta chăng? Cái tâm trạng xa xót ai oán ấy, ông cũng đã từng bộc lộ nhiều lần khác:
          Một mai kia ở bên khe nước ngọc
          Với sao sương, anh nằm chết như trăng
          Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
          Đến hôn anh và rửa vết thương tâm!

      "Đây  thôn Vỹ Dạ" là một bài thơ được dệt  thành một bức tranh trong mộng, không gian đa sắc đa chiều, đan xen giữa hiện tại và kí ức.  Ý, tình  khúc triết, sâu xa. Dù rằng tình thơ được rút trong tập "thơ điên",  nhưng nó không những không phải là thơ điên mà còn là một tình thơ đằm thắm chứa chan, trái tim của nhà thơ đã thấm đầy huyết lệ!
                                                                                Phạm Ngọc Thái 
 thai_quanthanh@ymail.com
READ MORE - ĐÂY THÔN VỸ DẠ - Thơ Hàn Mặc Tử - Lời bình Phạm Ngọc Thái

TÀO LAO VỚI EM NGÀY 8 THÁNG 3 - Châu Thạch



Khi Thượng Đế dựng xong vũ trụ
Ngài dùng bụi đất nén người nam
Hà sinh linh vào lỗ mũi A-Đam
Con tim tình yêu bắt đầu rung động.

Vườn Ê- Đen cảnh địa đàng thơ mộng
Thượng Đế, trăng sao thánh khiết ở gần
Muôn thú dịu hiền quấn quít bên chân
A-Đam vẫn khóc, vẫn buồn, A-Đam chối bỏ.

Thượng Đế bèn làm ra cô gái nhỏ
Từ A-Đam, chính xương thịt của mình
Nên A-Đam đắm đuối, say tình
Đến nỗi nghe nàng cải lời Thượng đế.

Em không tin, hay tin lời anh kể
Có hề chi vì chuyện đã xa rồi
Nhưng rất gần, chỉ hai đứa ta thôi
Anh mơ ước làm A- Đam thuở trước.

Anh muốn đời chỉ trăng sao, mây nước
Không một người nam, người nữ khác nào
Để hai ta hưởng hết những ngọt ngào
Thứ hương vị của tình yêu nguyên thủy

Ta sẽ yêu giữa vô cùng tuyệt mỹ
Vườn tinh tuyền ta lõa thể tung tăng
Suối lưu ly ta tắm dưới trăng rằm
Mắt muôn thú ngắm nhìn ta âu yêm.

Nhan sắc em không một người tranh chiếm
Không có ai dùng chức vị cao sang
Không có ai đem mua chuộc bạc vàng
Để em phải so đo trước ngàn trái lạ.

Hôm nay ngoài đường bán hoa nhiều quá
Khắp nhân gian mừng ngày 8 tháng 3
Anh xin tặng em nguyên một món quà
Là trái tim nầy- A-Đam thuở trước !
                                      

                                                 Châu Thạch
truongvantran@hotmail.com
READ MORE - TÀO LAO VỚI EM NGÀY 8 THÁNG 3 - Châu Thạch

Hoàng Yên Linh - TÌNH QUÊ



( Gởi Đông Hà,QT)

Xa quê mới nhớ quê xưa
Nhớ con sông nhỏ nắng trưa gọi đò
Bạn bè từ tuổi ấu thơ
Xôn xao lớp học, ước mơ vào đời
Nhớ từ cánh võng vành nôi
Vần thơ lục bát ru hời đêm trăng
Xa quê mòn gót lang thang
Nửa đêm phố thị nhớ hàng cau xanh
Bờ tre giếng nước mái tranh
Đường quê lá ủ nắng hanh khói chiều
Ngược xuôi tìm dấu thương yêu
Vầng trăng lẽ bạn hắt hiu dáng người
Xa quê đã hết một đời
Mang theo ánh mắt môi cười cố nhân
"Bắt phong trần phải phong trần ..."
Vẫn không ghép đủ một vần quê hương .

Ở đây núi thẳm mù sương
Ở đây lộng gió bốn phương gọi về
Chiều lên hun hút cố quê
Khói rừng ai đốt mà tê tái lòng
Biết rằng chẳng có ai mong
Biết rằng nơi ấy quạnh không mắt buồn
Tình quê, tình nước, tình non
Nồi khoai sắn luộc chén cơm Mẹ chờ
Khúc Kiều ru giấc tuổi thơ
Dáng Cha nắng đổ bên bờ ruộng xanh .

Đi qua năm tháng chiến tranh
Ước mơ sâu thẳm một manh chiếu hè
Gió xôn xao lộng hàng tre
Nghiêng nghiêng bờ lá, tiếng ve ngậm ngùi
Tiếng quê là tiếng Mẹ ru
Dẫu đời xuôi ngược tiếng quê vẫn còn

Rừng hoang rộn tiếng chim muông
Tuổi đời bóng xế bồn chồn nẻo đi
Trăm năm rồi cũng từ ly
Đôi dòng chắp nhặt tình quê nặng tình.

                                                       HOÀNG YÊN LYNH
                                                                (Lâm Đồng)
                                                               0987291501
READ MORE - Hoàng Yên Linh - TÌNH QUÊ

Wednesday, March 7, 2012

NỮ SĨ TƯƠNG PHỐ- MỘT TÂM HỒN THƠ TRÀN ĐẦY TÌNH NGHĨA - Nguyễn Hồng Trân


Nữ sĩ Tương phố tên thật là Đỗ Thị Đàm, con gái của một nhà nho nghèo, quê quán tại làng Bối Khê, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, là con dâu của tỉnh Quảng Trị. Lúc nhỏ bà học ở trường tỉnh nhà, sau đó bà lên học trường Sư phạm nữ ở Hà nội. Hồi đó bà gặp anh chàng sinh viên Trường Y Hà Nội là Thái Văn Du người làng Quy Thiện, huyện Hại Lăng, tỉnh Quảng Trị. Ông Du là em ruột ông Thái Văn Toản- Thượng thư bộ Lại triều Nguyễn (cuối thời Khải Định và đầu thời Bảo Đại). 

Đỗ Thi Đàm và Thái Văn Du rất tâm đắc với nhau về văn thơ nên đã thương yêu nhau và trở thành vợ chồng. Tuy bà chỉ là vai trò người vợ hai thôi nhưng đôi vợ chồng sống rất hạnh phúc “Tâm đầu ý hợp” vô cùng. Nhưng tiếc thay duyên phận của bà quá ngắn ngủi! Tổ ấm gia đình của bà mới xây nên thì phải chịu cảnh mất chồng bị góa bụa lúc còn xuân xanh 25 tuổi đời.

Bài thơ “Khóc chồng” của bà là những tiếng lòng than vãn  đau thương làm xúc động bao người lúc bấy giờ  và cả đến sau này.

Ngoảnh lại trời Nam lệ  chứa chan
Lửa hương thôi đã lỗi muôn vàn
Thương chàng lỡ vỡ đường danh vong
Tủi thiếp bơ vơ  lỗi đoạn tràng
Chiếc bách dòng sâu e sóng cả
Nửa chăn bụi lấp lửa canh tàn
Từ đây non nước người xa vắng
Chi xiết lòng em nỗi dở  dang…

Nỗi buồn cô  đơn của bà đã kéo dài qua năm tháng trong cảnh mẹ góa, con côi. Thời gian ấy bà Đàm đã sáng tác nhiều bài thơ hay và một số chuyện ngắn khá ấn tượng. Không ít tác phẩm của bà đã được xuất bản trên các báo chí trong nước. Đặc biệt có tác phẩm”GIỌT LỆ THU” của bà (được đăng trong tạp chí Nam Phong số 131 tháng 7, năm 1928) đã làm rung động hàng vạn trái tim thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ và bà đã trở thành Nữ sĩ Tương Phố có tiếng tăm trong ngành văn chương Việt Nam.

Có thể nói rằng “Giọt lệ thu” như mạch nước ngầm tuôn trào dòng lệ từ tình yêu thương, chung thủy vợ chồng đã bị mất mát bất ngờ. Tác phẩm này của bà đã làm xúc động nhiều giai tầng trong xã hội bấy giờ. Riêng ở tỉnh Quảng Trị tôi đã biết có nhiều người đã nhớ và thuộc lòng từng đoạn của bài ấy như các cụ: Văn Dung, Trần Khanh, Văn Tùy, Trần Kim Hồ (ở làng Long Hưng); cụ Phan Giá, Lê Công Tôn (làng Thượng Xá); cụ Nguyễn Bân, Nguyễn Kiểm (làng Phú Long); cụ Lương An (làng Tài Lương) v.v…

“Giọt lệ thu” đã gieo vào lòng người một tình cảm sâu đậm, một sự xót xa da diết trong tâm hồn… Nó có một cài gì đó vừa chân thực, vừa tâm linh huyền ảo; vừa gần gũi lại vừa xa xôi; vừa tủi thân lại vừa trách phận vô bờ.

“Bao giờ quên được mối tình xưa
Sinh tử còn đâu mãi tới giờ!
Giấc mọng tìm đâu tìm chẳng thấy?
Mênh mông biển hận, hận không bờ!...”

Có đoạn bà tự sự một cách xót xa, đau buồn rồi mượn cảnh  đất trời, trăng gió để chia sẻ tâm tình:

“Duyên chẳng hẹn Em nghĩ trăm năm, tình còn ghi muôn kiếp. Anh chàng Thái văn Du mất ở Huế ngày 25 tháng 7 năm Canh Thân(1920). Đôi lứa trẻ trung kẻ Nam người Bắc. Khi sống đã xa nhau, lúc mất không gặp mặt. Lòng em thương xót bao giờ cho nguôi!”

“Trời thu ảm đạm một màu
Gió thu hiu hắt thêm rầu lòng em
Trăng thu bóng ngả bên thềm
Tình thu ai để duyên em bẽ bàng?”

Ta thấy trong “Giọt lệ thu” tiếng khóc than của bà râm rỉ đau thương quằn quại như người ngây dại mất hồn, cứ nhớ gì nói nấy, nghĩ gì thì tuôn ra cho thỏa lòng thương nhớ. Giọng văn và lời thơ cứ đan xen nhau, hòa quyện với nhau hiện ra như dòng lệ ứa tràn từ đôi mắt…

“Trời ơi! Ba sinh hương lửa đã có  duyên kiếp ái ân bạn đời. Vì đâu chẳng để trăm năm nữa, cũng cho xuân thu đắp đổi độ vài mươi năm cho cam lòng trẻ thời khăn túi. Nỡ nào chắt chiu em mới một xuân quân đã đem sinh ly tử biệt, chia phôi bước đường..."

Tuy trong lòng bà  buồn rầu vì cảnh cô đơn sớm mất chồng nhưng bà không ngã gục trước hoàn cảnh khó khăn con thơ, sức mình yếu, bà cố bình tâm nhìn cảnh vật thiên nhiên mùa thu để liên hệ tâm sự lòng mình cho khuây khỏa nỗi đau thương: 

“Anh ơi! Chung cảnh thu này, Đông Tây Nam Bắc biết bao người cảm thu nhưng long ai thu hẳn như em, mà mây chiều vấn dạ, gió mai lạnh lùng… Một lần lá rụng, một mảnh tình sầu; thu càng thảm, sầu càng tăng…

“Anh ơi! Em nghĩ đến về với anh  mùa thu; mất anh cũng lại mùa thu. Cho nên năm lại năm, cứ độ thu sang, em lại bồi hồi nhớ trước tưởng xưa mà thu một tâm ngây ngất sầu….

 “Anh ơi! Thu về như gợi mối thương tâm. Mỗi độ thu sang em lại vò lòng than khóc. Nghĩ năm có một lần thu, nhưng thu năm nay đi, năm sau còn trở lại. Hỏi ba sinh hương lửa, thời ái ân kia dễ mấy kiếp hẹn hò nhau? Chẳng hay cơ trời dâu bể vì đâu, xui nên chăn gối vừa êm, lửa hương mới bén… bỗng ai xô lộn tình tan, gương vỡ cho người lỡ duyên!”

“…Anh ơi! Giọt lệ khóc thu, em chỉ vì anh mà năm năm lai láng… Than ôi!, thu sang thu não lòng người biết bao!”

Sầu thu nặng, lệ thu đầy
Vi lau san sát, hơi may lạnh lùng
Ngổn ngang trăm mối bên lòng
Ai đem thu cảnh, họa cùng thu tâm!...”

Có những đoạn bà tâm sự nỗi lòng mình như đang thì thầm nói với chồng bên bàn thờ trong đêm vắng nghe thật cảm động:

“Anh ơi! Hờn xuân em lại hận trời. Trời đa đoan phủ phàng con trẻ. Nơi dở dang này em biết than thở với ai đây? Theo duyên những ước duyên may, em có ngờ đâu giữa đường đứt gánh chung tình. Anh đi để lại cho em những ngày mưa sầu gió thảm. Con anh măng sữa, em còn ngây thơ. Cuộc đời trăm đắng, ngàn cay. Trông vào ai? Cậy vào ai?...”

Có thể nói rằng trong tất cả những tác phẩm của bà Tương Phố thì “Giọt lệ thu” là nổi tiếng vang xa và thấm sâu lâu dài nhất trong lòng bạn đọc qua nhiều thế hệ, nhiều giai tầng trong xã hội. Mặc dù tác phẩm “Giọt lệ thu” không nổi bật gì lắm về lịch sử văn hóa nhưng nó có một giá trị về xã hội nhân văn rất ấn tượng và được nhiều người yêu quý vì họ tìm thấy sự đồng cảm của tâm hồn, tình nghĩa của con người nói chung và người phụ nữ Việt Nam nói riêng.

Xin trích một  đoạn trong cuốn “Từ điển văn học” (T2 NXB, KHXH, 1984, tg491) về nhận xét đánh giá chung văn thơ của nữ sĩ Tương Phố mà tiêu biểu là “Giọt lệ thu” như sau:

“Tương Phố đã góp vào bộ phân văn chương hợp pháp 30 năm đầu Thế kỷ XX một tiếng khóc ảo não. Ít nhiều bà có làm sống lại tâm trạng người chinh phụ trong văn học quá khứ…. Nhưng nỗi đau xót bất hạnh của bà có nhiều sầu thảm, vô vọng hơn, cũng nhuốm màu sắc hiện đại hơn, vì trong đó không chỉ có nỗi đau riêng mình mà còn gói cả “Trời sầu” của thế hệ thanh niên tiểu tư sản thành thị Việt Nam trong những năm sau Đại chiến I…”

***
Ghi chú: Hiện nay trên đồi Tương Sơn ở Đà Lạt có nhà lưu niệm nữ sĩ Tương Phố -Đỗ thị Đàm. Trên tấm bia lăng mộ bà có ghi năm sinh – năm mất là (1900-1973). Sau năm 1954, bà cùng con trai là Thái Văn Châu vào sống ở Nha Trang, sau đó lên Đà Lạt. Ông Châu là GS. Thủy lâm của Đại học Đà Lạt. Ông Thái Văn Châu có 10 người con (7 trai 3 gái). Người con trai đầu là Thái Văn Đăng là liệt sĩ CM, người con trai út là Thái Trường Chinh có gia đình riêng ở Đà Lạt, còn những người con khác đang sinh sống ở nước ngoài.

READ MORE - NỮ SĨ TƯƠNG PHỐ- MỘT TÂM HỒN THƠ TRÀN ĐẦY TÌNH NGHĨA - Nguyễn Hồng Trân