Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, October 5, 2011

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - HAI ĐỨA TRẺ



Khi anh lái xe ra khỏi thành phố thì trời sập tối. Không quen đường, anh loanh quanh lạc mất nhiều vòng, dừng lại trước một ngã tư không biết chạy hướng nào. Nhác thấy bên kia đường, cuối bãi đậu xe trước khu shopping mall đã đóng cửa, hai đứa bé trai ngồi trên cỏ gần vệ đường. Một đứa bốn, năm tuổi và đứa kia bảy, tám tuổi, chắc là anh em. Khu vực này không hoàn toàn vắng, nhưng quanh chúng vào lúc đó không có ai cả, trời lại sắp tối. Anh ngạc nhiên, muốn quay xe lại nhưng vì lạc đường hoặc vì thói quen lười biếng, anh phóng hẳn vào xa lộ, không quay lại được nữa. Trăng lên sáng bạc ở chân trời, anh mãi ngắm, quên hẳn mọi thứ.

Sáng hôm sau, thức dậy ở nhà, anh nhớ lại, băn khoăn. Cha mẹ hai đứa trẻ là ai, ở đâu. Một người mẹ lơ đễnh bận đi mua sắm? Một người cha ghé trạm đổ xăng, không để ý ở băng sau hai chú bé chui tọt ra ngoài. Hay một tai nạn bất ngờ? Nghĩ, lan man đủ chuyện.

Anh nhớ một buổi trưa chủ nhật, nằm đọc sách lơ mơ trên giường, gần cửa sổ. Mưa rơi lác đác trên mái nhà lúc anh bắt đầu ngủ thiếp. Mùi hương thoang thoảng làm anh tỉnh dậy. Không phải mùi hoa hồng, mặc dù lúc đó là đầu mùa xuân. Mùi lạ bay trong gió, có lúc nhẹ, có lúc đậm đà, biến mất rồi quay lại. Nằm mông lung nghĩ ngợi.

Hai chuyện có vẻ chẳng liên quan gì đến nhau. Anh tự an ủi: trong đời biết bao chuyện như thế, tưởng chúng có liên hệ nhân quả này nọ nhưng về sau chỉ là tình cờ.

Mùa hè năm nay anh về quê, sau chín, mười năm góc biển chân trời, lại tìm ra được nó. Một buổi chiều đi dạo với người bạn gái cũ trên con phố dọc bờ sông. Cô bạn bỗng nhiên chậm bước, ngẫm nghĩ, rồi đi tiếp. Anh nhìn cô tò mò. Cô trả lời: nhà này nấu canh mướp ngọt mà không bỏ ruốc. Anh ngạc nhiên, nhìn cô ngờ vực, cô vẫn như ngày nào. Cô giải thích: biết chứ anh.

Ruốc. Trời ơi, đó là thứ thức ăn gì mà khiến cô bạn của anh, một người thời trẻ anh đã từng đem lòng yêu say mê, lấy làm quan tâm hơn cả mọi chuyện, ví dụ như là chuyện sức khỏe của anh gần đây không được tốt lắm?

Anh nhớ mẹ anh khi mới vào Nam lần đầu thăm con, bảo: người Sài Gòn không biết nấu ăn. Bà than phiền: họ nấu ăn mà không có ruốc. Tanh chết được. Anh nhớ những ngày mưa lụt tháng mười, nghỉ học, cùng các anh chị mang vợt ra sông, vớt những con tép nhỏ. Đó có phải là thứ tép di cư từ biển lên, người ta thường bắt để làm ruốc không? Anh không chắc, một mình ở chốn tha hương, bạn bè không phải người cùng quê, anh chẳng có ai để hỏi, bây giờ người ta gọi là tham khảo ý kiến. Chị Tư, một người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi, mỗi năm thường gánh ruốc từ biển lên bán rong trong làng, có thể trả lời câu hỏi ấy của anh, nhưng biết tìm chị ở đâu. Chị đi từ sáng sớm, mặc chiếc áo dài màu đậu đỏ, gánh một gánh kĩu kịt, trời mưa lâm thâm hay trời nắng như đổ lửa, chị vẫn mặc chiếc áo dài. Chị bán khắp làng, nhưng dành thứ ruốc ngon nhất dưới đáy thúng cho mẹ anh, người khách cuối cùng trong ngày. Đường xa, mẹ thường giữ chị ở lại qua đêm, mời chị ăn cơm tối. Đêm chị ngủ trên chiếc chõng tre đặt gần cửa sổ ngoài hiên, mặc dù trong nhà, có chỗ nằm dành cho chị, nhưng chị ngại, khăng khăng không chịu vào nhà. Thế là mẹ anh cũng mang gối ra nằm ngủ ngoài hiên, tỉ tê trò chuyện. Ở đó, những đêm trăng sáng, dưới giàn hoa thiên lý xanh thơm man mác, bọn trẻ được chị kể cho nghe những chuyện cổ tích đầu tiên trong đời.

Như thế ruốc thì hẳn nhiên là có liên hệ với anh rồi, cô bạn nhắc đến là phải, nhưng canh mướp thì liên hệ gì? Anh không nhớ được.

Rồi anh về nhà ở Canada, rồi một hôm lái xe qua Mỹ và đi lạc đường. Hai đứa trẻ. Anh nhớ ra rồi. Đó là một buổi sáng tinh mơ đầu đời. Hôm ấy anh lên bốn hay năm tuổi. Người ta có thể lưu giữ ký ức vào lúc mấy tuổi? Chú bé và người anh trai, lớn hơn hai tuổi, dẫn nhau qua đò ngang, lên tỉnh xem lễ Phật Đản. Hồi ấy chưa có cây cầu tre tay vịn do gia đình Phật tử bắc tạm qua sông để bà con từ vùng quê đến xem chương trình văn nghệ trên bãi đất trống trước mặt chùa Tỉnh hội phủ bóng phượng vĩ trổ bông đỏ thắm. Hai đứa trẻ lang thang giữa đám đông, tranh với những đứa khác nhặt những cái nắp có nút điền điển của chai bia con Cọp nhét đầy túi. Chơi mãi quên cả tối. Bên kia sông, phía nhà của chú, nắng chiều vừa tắt, chuyến đò ngang cuối cùng ngừng đưa khách, người lái đò đã gác mái chèo lên mạn thuyền ì ọp sóng, kéo dây buộc vào bãi cát trắng, lững thững đi lên quán rượu khuất sau bụi tre cuối bến, gần làng Xuân An, trước mặt chùa Sư Nữ.

Khi chúng nhận ra mình là những kẻ sau cùng trên bãi cỏ thì đã quá muộn.

Hai đứa trẻ sợ hãi ngơ ngác trên đường, chạy từ góc phố này qua góc phố khác, tìm đường về nhà, không dám hỏi đường, trong một thành phố đã đến giờ lên đèn, xa lạ. Bên hàng rào kẽm gai gần một trại lính, một người lính mặc quân phục màu xanh bồng súng đứng gác trong im lặng. Dưới ngọn đèn đường vàng vọt, cao vút, tiếng ve bắt đầu hót, nghe khi như từ bên phải, khi như từ bên trái, chộn rộn vang rền, một cặp tình nhân đi đi lại lại. Người thanh niên cao lớn tóc chải dầu bóng loáng, người thiếu nữ nhỏ nhắn để tóc dài đen mượt xuống khỏi thắt lưng. Chị đi guốc cao gót, nên trông có vẻ nhún nhảy. Họ đi hết một đoạn đường, rồi quay ngược lại, và đi như thế đều đặn nhiều lần, nhẹ nhàng nhưng nghiêm nghị, không nói năng gì. Tiếng guốc gõ nhịp đều đều. Khung cảnh kỳ lạ làm hai đứa trẻ ngẩn người: một thế giới xa lạ. Đi bộ đau ở bắp chân, chúng kéo nhau vào cổng tam quan trước chùa. Đêm vào khuya, sân chùa vắng lặng không bóng người, trên ngọn ngô đồng cao vút một con chim đi ăn đêm về muộn kêu mấy tiếng rồi im bặt. Chúng chui vào một góc tối trước cổng chùa nằm ngủ. Chú bé mệt quá thiếp đi một lúc nhưng lát sau tỉnh lại vì đói bụng. Anh của chú bảo chú cầu nguyện. Chú làm theo, rồi ngủ thiếp lần nữa. Lại thức dậy vì đói. Gió lạnh từ ngoài sông thổi vào. Một vật gì lành lạnh hơn chạm vào chân. Chú ngồi lên: hai đồng tiền của ai để rơi lấp lánh dưới ánh trăng. Đồng tiền kẽm có in hình cây trúc. Hai đứa trẻ cầm mấy đồng tiền chạy qua quán tạp hóa bên góc chùa. Người chủ quán càu nhàu vì mất ngủ, hé liếp cửa lấy tiền rồi bỏ vào tay chúng những viên kẹo bi tròn nhẵn đủ màu xanh đỏ. Chú ngồi ăn kẹo, nhìn qua bên kia sông, trăng đã treo một lưỡi liềm sáng bạc trên rừng dương liễu đầu làng. Lần đầu tiên chú biết cảm giác nhớ nhà, xao xuyến, đau thắt cả ruột. Căn nhà của chú nằm ngay dưới vầng trăng ấy, tưởng chạm tay vào là được mà xa xôi quá. Từ đó về sau, khi đã lớn, cảm giác bồn chồn không yên ấy thỉnh thoảng lại trở về. Tâm trạng tha hương.

Chờ đến sáng tinh mơ hai đứa trẻ đi xuống bờ sông, lúc ấy còn sớm, chuyến đò ngang sớm nhất cũng bắt đầu trễ hơn. Dưới bến một con thuyền có mui của dân chài lưới đi đánh cá đêm cắm sào trong sương mù buổi sáng từng lớp từng lớp trôi đi. Chúng kéo tay nhau xắn quần đùi lội ra. Mùi thơm ngào ngạt xông lên từ mui thuyền. Mùi canh mướp mà mẹ chú thường nấu những ngày nóng nực. Mùi mướp ngọt, mùi ruốc, bay xa trong gió, khắp xóm đều nghe. Một người đàn ông chắc là chủ thuyền đang ngồi vá lưới ngẩng đầu lên hỏi một câu gì đó rồi khoát tay ra hiệu cho hai đứa trèo lên. Ông ta chỉ tay vào cuối thuyền, một đứa bé gái trạc bằng tuổi chú hoặc lớn hơn chút đỉnh thắt hai cái bím bằng dây cao su xanh đỏ đang ngồi bên một nồi canh mướp bốc khói nghi ngút. Cô bé có vẻ lanh lợi, nhường chỗ cho chúng, bưng cho mỗi đứa một tô canh mướp nóng. Sau này chú không có dịp nào để quay lại cám ơn người chủ thuyền và cô con gái. Nhiều năm trôi qua, mỗi khi nhớ lại mùi canh mướp ngọt, mùi ruốc thơm trong gió, anh lại nhớ đến cô bé, giờ này chắc đã có con, có cháu. Và nhớ người anh trai lớn hơn hai tuổi. Một người ngã xuống trên chiến trường, dòng máu trên ngực đã khô từ lâu. Một người nay có lẽ trở thành một người lái đò, hay một bà chủ tiệm, hay đã chết trong chiến tranh, hay là một góa phụ lặn lội giang hồ thân gái dặm trường?

Anh nhớ vành trăng lưỡi liềm sáng bạc bên kia sông, nhớ chùa Tỉnh hội, nhớ mùa Phật Đản, nhớ cặp tình nhân đi đi lại lại bên hàng rào thép gai trại lính dưới ánh đèn vàng vọt, nhớ hai đứa trẻ lạc đường xa nhà đói bụng ngồi trên bậc tam cấp trước cổng chùa. Anh nhớ hai đứa trẻ khác ngồi trên bãi cỏ vệ đường khi trời sập tối bên kia bãi đậu xe sau một khu shopping mall phồn hoa đô hội ở Mỹ. Hai đứa trẻ và một người đàn ông lái xe cùng lạc đường, không bao giờ có dịp gặp lại nhau.

NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Damau.org
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - HAI ĐỨA TRẺ

PHÙNG NGUYÊN - VÔ ĐỀ


 Sông Thạch Hãn. Ảnh NKP



Ta ngồi trên bờ vắng
Thấy sông buồn mênh mang
Hỏi thầm con sóng nhỏ
Phải chăng đời ly tan.

Ta đứng bên cổng thành
Nơi tiên Chúa dừng chân
Bồi hồi nghe đất kể
Chuyện tình sử Huyền Trân.

Ta về thăm xóm cũ
Bâng khuâng nhìn lá đổ
Tìm lại dáng quỳnh xưa
Một loài hoa đã nở.

Ta đi giữa quê hương
Bao quen lạ phố phường
Hững hờ khung cửa sổ
Lòng bổng thoáng tơ vương.

Muốn trao sợi nắng hồng
Muốn gởi giọt mưa tuôn
Nỗi niềm xa xăm trước
Với những lời yêu thương.

                   Phùng Nguyên.
  
READ MORE - PHÙNG NGUYÊN - VÔ ĐỀ

Saturday, October 1, 2011

PHẠM XUÂN HÙNG - NGÔI NHÀ DƯỚI LÙM DƯỚI DẠI


Buổi chiều.

Từ bến xe thị trấn đi bộ đến hết con đường cái quan vừa đúng 1 tiếng đồng hồ. Chỗ ngã rẽ bắt đầu con đường mòn này về làng cũng mất gần 2 tiếng có khi hơn.

Phía tây thị trấn là những quả đồi bát úp dày đặc sim mua. Con đường mòn nhỏ len lỏi, bé như sợi chỉ găm đầy cỏ may và gai xấu hổ. Hoàng cố nhận ra hướng của ngôi làng mà anh đã sống hết thời thơ ấu nhưng không tài nào nhận ra. Ngày bé, cũng trên lối mòn này Hoàng cùng lũ chăn trâu chơi trò giặc giã, lấy ống tre nhỏ làm súng bắn đùng đoàng. Những viên đạn làm bằng hạt trơng thơm cay vị tiêu rừng như vẫn còn trong ký ức…

Học hết cấp II, Hoàng gần như từ giã miền thơ ấu. Thị trấn nơi Hoàng trọ học không có sim mua, luôn réo rắt tiếng nhạc bôlêrô buồn thảm, những cô gái mắt xanh mỏ đỏ bên ly cà phê đá đập nước đọng thành vũng trên bàn. Ba năm cấp III thi thoảng Hoàng cũng trở về, mỗi dịp như thế ngôi làng dường như thu nhỏ lại, gây cho Hoàng cảm giác một ngày nào đó sẽ biến mất khỏi thế gian mà không để lại một dấu vết. Rồi cổng trường đại học mở ra nuốt chững gã nhà quê sim mua thuở nào. Hoàng tốt nghiệp, trở thành công chức, lấy vợ sinh con, lương cơ quan nhà tập thể và nghiễm nhiên trở thành thị dân, thứ thị dân đời ép một. Cũng đôi lần nhớ quê, muốn về thăm làng nhưng rồi Hoàng cứ ngại ngần. Cha mẹ khuất bóng lúc Hoàng còn học cấp III, bà con xa thì đã quên bẵng Hoàng từ lâu. Duy còn Nguyệt đôi lúc làm tim Hoàng quặn thắt. Người chị họ nhưng cùng tuổi, xinh đẹp dịu dàng, người đã từng cho Hoàng thử cảm giác thế nào là đôi môi  thiếu nữ. Hoàng đá vào búi cỏ lòa xòa cạnh lối mòn, nhớ lại một đêm trăng xa lắc. “Sau này lớn lên, Hoàng mần chi?” “Tôi đi làm Nhà nước, ở ri cực quá”. “Ừ, Hoàng học giỏi, gắng mà bon chen” “Còn chị?...” Vừa thốt lên Hoàng đã biết mình lỡ lời. “Tui thì mần chi, con gái con lứa, nhỏ thì giữ trâu cắt cỏ, lớn thì lấy chồng đẻ con…” Nguyệt cúi xuống bứt một cọng xấu hổ có chùm hoa tim tím, bé xíu. Mắt lá từ từ khép lại, gió thổi qua triền đồi những tiếng u u, u u. “Ước chi tui lấy được một người như Hoàng…” Tiếng Nguyệt nhỏ dần, Hoàng nghe như tan lẫn vào tiếng gió và sau đó không còn nhận ra tiếng khóc hay tiếng côn trùng. Những giọt ấm nóng thấm dần qua vai áo…

Chợt ân hận vì từ lúc xuống xe không kịp hỏi ai đường về làng. Mà hỏi để làm gì bởi Hoàng muốn đôi chân anh lần theo lối cũ, con đường vòng từ xóm Củi sang xóm Bàu nơi ngày xưa anh vẫn thường ví bò về chuồng mỗi buổi chiều. Ngày ấy dù đã 13, 14 tuổi Hoàng vẫn còn là thằng nhóc tóc khét lẹt vì cháy nắng, đôi cẳng chân chằng chịt những vết cào móc của gai mâm xôi, mãng lồ. Vậy mà thằng nhỏ tóc cháy nắng ấy lúc nào ngủ cũng nằm mơ thấy Nguyệt. Nguyệt cầm liềm bứt tranh giữa đồi nắng, má chín lựng màu sim vừa trở bói, Nguyệt bơi giữa sông vú chũm cau đùa với sóng nước… Bao nhiêu là hình ảnh mà khi thức dậy thật lâu Hoàng vẫn còn ngơ ngẩn. Lại nhớ có lần hai người chọc nhau. “Đáng ra Hoàng phải gọi Nguyệt bằng chị”. “Thèm đó, chị chi bằng tuổi người ta, mà này, tui nghe nói bà con xa thì cũng như người dưng, cũng… được mà, thiệt mà”. Hoàng nói như khóc. “Mai mốt về thị trấn học, làm ông này bà nọ, nhớ chi ai hè”. “Thôi, biết răng mà nói, chừ thì thương đã”. Con đường bỗng dưng hẹp lại, chân Hoàng đá phải một bãi phân trâu đã khô, ít bụi phân bay lên ngay trước mũi giày rồi lập tức tan lẫn vào đám cỏ rối. Trời đất, vậy mà bao nhiêu năm rồi Hoàng không nhớ nổi, thời gian thì tính được nhưng có những điều như gai nhọn đâm vào tay thành chai, khi nào đụng đến là đau, biết chi ngày tháng.

Hoàng chợt sững người. Từ trên đỉnh đồi nhìn xuống làng thấy rõ một sợi khói mỏng manh bay lên trong buổi chiều chạng vạng. Cây cối um tùm nhưng Hoàng vẫn nhận ra hình như chỉ có một nóc nhà thì phải. Làng xưa ít nhà, dân tứ xứ đi kinh tế mới thì bạ đâu đó là làng. Nhưng chí ít cũng có gần hai chục gia đình sao giờ bỗng quá hiu quạnh.Chân Hoàng bỗng bước nhanh gấp gáp.

“Hoàng mô hè, răng tui không nhớ”. Người đàn ông gầy guộc, da tái xanh như người sốt rét kinh niên nhắc đi nhắc lại. Hoàng cũng không nhớ nổi người đứng trước mặt anh là ai. “Tui là Chiến, Chiến con ông Nậu thợ cội đó”. Hoàng kinh ngạc, tưởng chừng đất sụt dưới chân. Trí nhớ vận hành như tia chớp của anh nhớ lại một điều khủng khiếp. “Lâu quá tôi quên…tôi quên mất rồi. Nhưng mà, tôi nhớ hình như Chiến con bác Nậu cùng tuổi với tôi là cái anh đi rà sắt gặp hầm lựu đạn nổ, chết banh xác”. “Rứa là chú nhớ lộn rồi, đó là thằng Tranh em tui”. Hoàng chớp chớp mắt, quả thật người đàn ông này lớn hơn anh nhiều tuổi, có thể đó là Chiến. Còn cái người cùng tuổi với anh, chết vì lựu đạn có thể là Tranh mà lâu rồi anh không nhớ ra nổi. “Thôi được, chi thì chi, chú cứ tắm rửa rồi nghỉ ngơi, nói chuyện sau”.

Căn nhà nhỏ, tối tăm. Buổi chiều sắp tắt nắng khiến căn nhà chỉ còn vài vệt sáng mờ ảo. Rửa mặt xong, đầu óc tỉnh táo Hoàng mới nhận ra một bầy con nít đều săm sắp, mũi dãi lòng thòng đang láo liêng nhìn anh. Giống như bầy chuột con, Hoàng nghĩ thầm. Bầy chuột xao động khi anh lấy ra đùm bánh lọc gói lá chuối mua lúc vừa xuống bến xe thị trấn. Vài cái chớp mắt bầy chuột biến đâu mất, để lại trên nền nhà ẩm thấp những mảnh lá vương vãi.

Hoàng nhai trệu trạo miếng cơm độn sắn. Bao nhiêu năm rồi mà người dân ở đây vẫn còn ăn thứ cơm ngày xưa anh cố lèn chặt dạ vào mỗi buổi sáng chân thấp chân cao đến trường. Chai rượu trắng nút vỏ mỳ tôm cuộn xoắn vơi dần. Hai người ngồi đối diện, chiếc đèn dầu hỏa tỏa ra thứ ánh sáng mờ đục, gió tạt khiến hai chiếc bóng sấp ngửa, chực bổ vào nhau.

Trong lặng im là chính, đôi lúc Hoàng hỏi giọng nhát gừng như người mơ ngủ.  Người đàn ông hầu chuyện Hoàng trả lời lại bằng thứ giọng đặc sệt thổ âm, ngắt quãng, nhiều chỗ yếu ớt đến nỗi Hoàng tự hỏi, không biết anh ta còn ngồi đó hay không. Chắp nhặt câu chuyện không đầu không cuối Hoàng hình dung những biến cố xảy ra với ngôi làng bé nhỏ ngày xưa của tuổi thơ anh.

Những năm khi Hoàng còn là sinh viên, làng rộ lên nghề đào bới phế liệu. Cái nghề bạc bẽo và sinh tử này đã cướp đi không biết bao nhiêu mạng người. Nhà mụ Cả Điền, thằng con cưa trái 105 ly nổ tan tành, xương cốt cả nhà lượm lại chưa đầy một nồi đất. Nhà ông Hợi Tàng (có đứa con tàng tàng), cả nhà chết vì tháo bom lân tinh, xương thịt vãi ra người ta phải dùng đũa để gắp, gắp rồi bỏ vào thau nhôm vẫn còn cháy khét lẹt. Nhà này, nhà kia… Hoàng cảm thấy tức ngực. “Sao không kiếm nghề khác mà làm?” “Nghề chi? Chú thấy xung quanh làng 3 mặt rừng rú, một mặt là sông. Đi cội thì kiểm lâm bắt, sông thì không có cá tôm. Ruộng đất canh tác được nhỏ như lỗ mũi, có làm cũng không đủ ăn..”.

“Vậy làng chỉ còn mỗi nhà anh ở đây thôi à?”. Ngọn đèn hao dầu, bấc cứ lụi dần. Im lặng tưởng như vô tận. “Thì còn ai nữa. Cả làng chưa đến 20 nóc nhà.  Có mấy hộ dắt díu nhau vô miền Nam, Tây Nguyên chi đó tui không biết, còn lại rồi cũng bỏ đi, người thì qua Lào làm thợ nề, kẻ thì lang bạt dọc các bãi vàng. Theo nhau đi hết, còn lại mình tui”. Hoàng bất giác nghĩ tới bầy chuột con. “Chừ có mình tui với bầy con, ngày hai buổi vô rú chặt củi. Khi nào đủ chuyến xe thì gánh ra đường lộ, lái buôn từ thị trấn lên chở. Họ đem mắm muối, gạo cơm lên, có chút tiền thì dành để may áo quần”

Có tiếng sương rơi trên tàu lá chuối và tiếng gió u u len qua khe cửa. Trời tối sẫm, không cả một vì sao nhỏ. Thứ rượu cất bằng sắn tươi pha quá nhiều cồn đã đánh gục Hoàng. Tựa lưng vào chiếc cột ám khói, Hoàng như đi vào một thế giới khác, như là cõi nào ở âm ty, địa ngục. Tiếng người đàn ông ngắt quãng, đều đều. Theo lời kể, Hoàng lúc lúc giật mình, lúc lại muốn hét lên, chồm tới tát vào mặt người đàn ông để nói rằng đó là câu chuyện láo lếu. Nhưng Hoàng say quá hoặc yếu quá, tấm thân mềm nhũn, bất động. Hoàng không thể tin được, rằng trong câu chuyện Nguyệt đã từng là vợ anh ta, là mẹ của bầy chuột con đang chui rúc mê mệt đâu đó trong ngôi nhà ẩm thấp này. “Nguyệt không muốn đi đâu cả, muốn ở đây suốt đời. Cô ấy với tui có 5 mặt con, bầy con nít chú thấy lúc chiều” Tiếng khóc ti tỉ nghe như tiếng mọt trên xà nhà. “Cô ấy mới bỏ tui đây. Năm ngoái Nguyệt đi đốt than, xui quá, bếp nằm ngay trên ổ bom bi. Rứa là cả người không còn chỗ mô nguyên vẹn…” Tiếng khóc ti tỉ bỗng vỡ ra nhưng không át được tiếng gió về khuya đang rít lên từng hồi. Đầu óc Hoàng trở nên mụ mị. Hoàng nhìn thấy Nguyệt đang đứng ngay trước mặt, thân mình không một mảnh áo, máu bết lại từng mảng. Chỉ có đôi mắt, đôi mắt trong sáng, quá đỗi buồn. Nguyệt nhìn anh như van lơn, day dứt điều gì. “Nguyệt đợi Hoàng lâu quá, đợi suốt cuộc đời rồi Hoàng nghe. Chỉ tại Nguyệt khổ quá, không bước chân ra được khỏi làng, để đi với Hoàng. Mà làng cũng còn đâu nữa Hoàng ơi…” Vừa nói, thân hình tơi tả của Nguyệt cứ chập chờn rồi mất hút dần. Hoàng nghe thấy tiếng hét của mình rồi sau đó chỉ toàn là bóng tối.

Những giọt sương buổi sớm khiến Hoàng tỉnh giấc lúc mờ sáng. Im lặng tuyệt đối. Hoàng nghe như có tiếng chân người rất khẽ đâu đó nhưng nhìn quanh chẳng thấy ai. Ngôi nhà ẩm thấp đêm qua đã biến mất, mình Hoàng nằm lọt giữa lùm dưới dại, bốn phía mọc đầy cây xấu hổ. Cố trấn tĩnh nỗi sợ hãi, Hoàng vạch lùm cây bước ra. Xung quanh chỗ Hoàng đứng chẳng có dấu vết gì của ngôi làng tuổi thơ, cả ngôi nhà đêm qua, cả người đàn ông tên Chiến cùng lũ trẻ. Đột nhiên Hoàng rùng mình, trên tay anh đang nắm chặt không biết tự bao giờ, là một lọn tóc dài, xanh mướt. Và trước mặt Hoàng, trên lùm dưới dại, một bầy chuột con đang vắt vẻo,chúng nhìn anh trân trối…

Mất hơn 3 giờ đồng hồ, Hoàng mới về đến bến xe thị trấn. Trước khi trở lại thành phố, Hoàng dò hỏi mãi mà chẳng ai hay biết gì về ngôi làng nằm ở phía tây thị trấn. Có người nói không chắc chắn rằng, cách đây vài năm ở đó chỉ có ngôi nhà của đôi vợ chồng trẻ và đàn con. Rồi sau đó, trong một lần lên rừng đốt than, bom bi đã nổ tung giết chết cả gia đình họ…

Đà Nẵng 17.6.2006


 Phạm Xuân Hùng


Nguồn: vanchuongviet.org

READ MORE - PHẠM XUÂN HÙNG - NGÔI NHÀ DƯỚI LÙM DƯỚI DẠI

ĐÌNH THU - MÙI THIẾU VẮNG


                                 


Sự va đập rất tình cờ
Vỡ nguyên cả miền hạnh phúc
Quay  ngược hướng những con tàu
Ta đi về phía không nhau

Sẽ trần trụi mùi thiếu vắng
Sẽ cô đơn cuối con đường
Những chấm nhỏ giữa cuộc đời
Hiện ra bên bờ vực thẳm

Hư ảo … chỉ là hư ảo
Nấp sau khoảnh khắc tư duy
Giấc mơ luôn là không thể
Níu lưng gọi nhau quay về

Mọi chuyện trên đời có thể
Nhớ quên là lẽ thường thôi
Biết đâu mình gặp bất chợt
Qua rồi… ngoảnh lại nhìn nhau

Coi như ban đầu trở lại
Ta chưa gặp nhau trên đời
Giả sử vô tình va đập
Nghe mùi xưa lại nhớ nhau


Đ.T
READ MORE - ĐÌNH THU - MÙI THIẾU VẮNG

Thursday, September 29, 2011

CHÂU THẠCH - BIẾT CÓ CÒN KHÔNG?


Trời lạnh, chờ em dưới mái thềm
Môi buồn huýt sáo điệu nhạc êm
Vột vàng em mở, qua khung cửa
Hiển hiện đây rồi đôi mắt em.


Hai đứa dạo chơi khắp nẻo đường
Em nép vào anh thật dể thương
Môi hồng thỏ thẻ lời nhung nhớ
Anh thấy làn hơi bay vấn vương.


Đi qua phố chợ đến bờ sông
Nhìn thấy mênh mang trắng xóa đồng
Dòng Thạch ngầu lên con nước chảy
Lòng lo chợ Sãi ngập hay không?


Đường Gia Long chạy dọc bờ nam
Có lắm cây cao trước Tỉnh-Tòa
Em sợ mưa to làm nhánh gảy
Thầy em gặp nạn mấy năm qua.


Đây chùa Tỉnh-Hội đứng bình yên
Tà áo ai nâu rất dịu hiền
Ngày rằm khấn mãi A-di-Phật
Van vái xin chàng đậm mối duyên.


Nhìn qua bờ bắc chùa Sư-Nữ
Có bé qua đây muốn cạo đầu
Bởi giận, bởi yêu mà khó xử
Nhưng mà theo Phật dễ chi đâu.


Mưa quá không về được Sãi chơi
Để ăn nem lụi nhớ muôn đời
Lại thêm kẹo đậu thơm như mật
Thơm cả bàn tay em gái ơi!


Loanh quanh đã mỏi cả chân rồi
Ta hãy vào xơi tô bún thôi
Hãy thêm tương ớt cay nồng vị
Đu đủ dầm, chua chua thấm môi


Em hãy ăn đi cho đã thèm
Sau nầy xa cách nhớ nghe em
Tương tư tô bún nhiều hương vị
Trời lạnh, mưa dầm đâu dễ quên.

                                                 
Hãy đến trường ta đây Nguyễn-Hoàng
Lầu cao mưa cứ thổi ngang ngang
Có cô thiếu nữ quên bài tập
Ngồi ngắm mưa bay nhớ đến chàng.


Tập thơ anh đã tặng cho em
Trao vội cho ai trước bậc thềm
Thư tình anh dấu trong thơ ấy
Em về thức trắng đọc thâu đêm.


Từ đó hai người yêu rất yêu
Ngây thơ nên nắng sớm mưa chiều
Chợt giận, chợt thương trăng tròn khuyết
Chợt đầy hạnh phúc chợt cô liêu.


Rời đây đến đất đạo La-Vang
Nhìn tượng Ma-Ri, viếng giáo đường
Uống nước ngọt ngào trong giếng Thánh
Nghe đồn hết bệnh, hết tai ương.


Nếu muốn thì em theo bước anh
Vào thôn Thạch-Hãn dạo vòng quanh
Hương cau, hương bưởi, hương hoa lá
Về ngủ em mơ thấy đất lành.


Hãy cùng anh ngắm chiếc Cầu Ga
Những đêm trời đẹp dưới trăng ngà
Nhìn lên tưởng tượng cầu Ô Thước
Để nhớ thương ai, nhớ đậm đà.


Em muốn ra thăm Ái-Tử không ?
Xem chùa Sắc-Tứ của vua phong
Ở đây phong cảnh nằm u tịch
Như có hồn xưa chúa Nguyễn-Hoàng.


Đi mãi mà sao cảnh vẫn còn
Tri Bưu, Như Lệ, Hạnh Hoa thôn
Hay ta về dạo quanh Thành-Cổ
Nhìn đá phong trần với nước non.


Em mỏi, thì thôi ta trở về
Ghé quán Ông Tàu uống cà phê
Đậm đà hương vị ly đen nóng
Ngồi mãi bên nhau cho thỏa thê.


Chợt tỉnh, thì ra ta đã mơ
Giường đơn, mộng ảo, gối tay hờ
Em ngày xưa đó nay xa lắm
Biết có còn không nhớ tuổi thơ ? 
 
 Châu Thạch



READ MORE - CHÂU THẠCH - BIẾT CÓ CÒN KHÔNG?

Wednesday, September 28, 2011

VÕ LÀNG TRÂM - MONG MỎI



           Thương gi cháu VTN , TX Qung Tr

Ngậm ngùi thăm lại mái nhà xưa
Hàng tre lả ngọn gió đung đưa
Vườn cây ngày ấy đâu còn nữa
Thay mới xanh um đám ruộng dưa .

Oi ả chiều quê nắng hạ vàng
Gió Lào xối xả cứ tràn sang
Làng Trâm oằn oại trong khô hạn
Con dân lần lượt bỏ đi ngang.

Em lại tìm về anh ở đâu?
Nấm mồ chẳng có vợ con sầu
Thanh bình ai cũng về thăm lại
Anh lạc nơi nào tận núi sâu !

Khấn nguyện tự tâm với cõi trời
Dẫu rằng mưa lũ vẫn không trôi
Ơn may tìm được về quy tập
Cho con, cho cháu tạm lòng nguôi .
                             
Võ Làng Trâm
READ MORE - VÕ LÀNG TRÂM - MONG MỎI

NGUYỄN KHẮC PHƯỚC - CHIỀU TRÊN SÔNG LA NGÀ


Thơ NGUYỄN VĂN LONG
Nhạc: NGUYỄN KHẮC PHƯỚC
Ca sĩ : THÙY DƯƠNG
Hòa âm: VÕ CÔNG DIÊN

READ MORE - NGUYỄN KHẮC PHƯỚC - CHIỀU TRÊN SÔNG LA NGÀ

Tuesday, September 27, 2011

VÕ VĂN HOA - BỒNG BỀNH CƠN MÂY


Đi suốt đôi bờ nắng hạ
Bồng bềnh, bồng bềnh cơn mây
Thương ai một thời hóa đá
Muôn đời mây trắng bay bay...
Bồng bềnh, bồng bềnh, bồng bềnh
Anh ngước nhìn trời nhìn đất
Có em tình yêu đích thực
Vĩnh hằng mây trắng thôi bay...




HOA TUYẾT
Đã tan băng rồi ư? Hoa tuyết
Trong thảo nguyên thơm mát yến, oanh vàng
Mùa xuân đến - ngày vui nào hơn thế!
Anh mãi còn du tử phía thu sang.

VVH

Mời các bạn đọc thêm   Entry KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY CƯỚI

READ MORE - VÕ VĂN HOA - BỒNG BỀNH CƠN MÂY

Sunday, September 25, 2011

PHẠM NGỌC THÁI - CÓ MỘT KHOẢNG TRỜI


Có một khoảng trời để thương để nhớ 


Là khoảng trời ở đó có em!


Những bóng cây in trên đường phố thân quen 


Đêm đêm chiếc lá nhớ lại bay về, xào xạc. 




Có một khoảng trời không ai thấy được 


Dẫu đêm nào chớp cũng loè lên 


Có ánh chớp không kéo theo tiếng sét


Mà rung ngân, rung ngân trong tim... 




Khoảng trời gió thổi xót đêm 


Hoá sắc cầu vồng nối hai miền thương nhớ 


Cây tình yêu lớn theo cấp số 


Ngược trời về cho ta gần ta! 




Cái khoảng trời khi anh và em đã cách xa 


(xa thật đấy mà cũng gần thật đấy) 


Trong đau đớn anh hoá bờ cát cháy


Hạt vô tư còn lại... những tàn tro!



                                           Nước Đức 

                                 Đêm 11/10/1988


READ MORE - PHẠM NGỌC THÁI - CÓ MỘT KHOẢNG TRỜI

TRƯƠNG LAN ANH - CHIỀU PHƯƠNG XA






Chiều phương xa nhớ lắm nhớ ghê
Cái rét ngọt đầu mùa rất Huế
Gió heo may bay tà áo tím
Nón em nghiêng che phía mưa về.

Ước chi anh đang ở quê nhà
Để đưa đón em đi về mỗi bận
Tràng Tiền ơi nhịp gần thêm bước
Cho em qua mưa nhé đừng vương!

Nhìn mưa xa anh nhớ Huế thương
Nhớ em về bên lối bờ Hương
Vọng tiếng guốc trên đường nhịp bước
Trở về nhà sau phút tan trường.

Nghe mưa xa anh nhớ mưa quê
Nhớ giọng nói ngọt ngào rất Huế
Nhớ tiếng rao đêm đêm trên phố
Lanh lảnh vang trên những vỉa hè.

Anh nhớ lắm vị cay cơm hến
Đĩa bánh bèo bánh nậm đêm đêm
Tất cả đọng trong niềm thương mến
Miền quê ta thao thiết gọi về!



Tháng 6-1999
TLA


Trích từ tập thơ Người Đàn Bà Mặc Chiếc Áo Choàng, tác giả Trương Lan Anh, NXB Hội Nhà Văn, 2011, tác giả gởi tặng.










READ MORE - TRƯƠNG LAN ANH - CHIỀU PHƯƠNG XA

Saturday, September 24, 2011

PHẠM XUÂN HÙNG - MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN



 Truyện ngắn





Đêm qua tôi mơ thấy mùa xuân đầu tiên. Mặt đất ngập tràn hoa cỏ và tiếng bầy chim sơn ca hót vang bầu trời… Mẹ tôi nói, đã lâu người dân trong thị trấn không có khái niệm mùa xuân. Ở đây chỉ có hai mùa, mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa nước ngập trắng đồng, ếch nhái leo cả lên bàn thờ tổ tiên. Mùa khô, nắng đốt cháy những bông lau trắng, gió Lào man dại, bỏng rát, ném cát vào mắt người, xô ngã trẻ con rồi cười khanh khách túm chân chúng ném vào lề đường.

Giấc mơ chỉ làm tôi thèm khát vì sáng ra thị trấn Mười hai cây sầu đông vẫn hiện ra trước mắt với những nếp nhà buồn tẻ. Cây cối héo úa và con sông chảy vòng quanh thị trấn trương sình lên bởi lá rụng. Duy một niềm an ủi là bên kia sông có ngôi nhà của nàng mà từ lâu đối với tôi luôn đồng nghĩa với hạnh phúc, niềm hoan lạc vô biên. Tôi hẹn gặp và kể nàng nghe giấc mơ mùa xuân. Nàng hỏi, những bông hoa trong giấc mơ màu gì. Tôi trả lời, tôi không nhìn rõ nhưng chắc chắn có rất nhiều những bông hoa màu vàng nhiều cánh, nở xao xuyến trên nền những chiếc lá đỏ thắm như màu lá cây trạng nguyên nở trước thềm nhà nàng. Nàng hỏi tiếp tôi về lũ chim và những tiếng kêu âm vang cả bầu trời. Tôi trả lời, rằng lũ chim đó tôi đã từng nhìn thấy, chúng bay thành từng đàn, thi thoảng xuất hiện ở một góc nhỏ của thị trấn, vào lúc bình minh rạng rỡ hoặc hoàng hôn ảm đạm hắt ánh nắng cuối ngày lên những mái nhà buồn tẻ như không thể buồn tẻ hơn. Nàng lại hỏi tôi về nhiều điều khác nữa, như trong giấc mơ có con đường nào chạy dọc ven đường chân trời, có ngôi nhà nào đầy ắp cửa sổ, có bàn tay nào vẫy vẫy không… Tôi mệt mỏi bảo nàng, tôi không thể nhớ hết vì giấc mơ có quá nhiều chi tiết. Nàng cười buồn rồi nói với tôi giấc mơ đó là một điềm báo rằng trái tim đa cảm của tôi đang gánh chịu những nỗi buồn đau khủng khiếp, có thể vỡ òa ra bất cứ lúc nào, và theo nàng sẽ vỡ òa vào lúc mùa khô chuyển sang mùa mưa, khi những ngọn gió bỏng rát thôi gõ vào mái tôn và ném cát vào mắt người.

Mỗi buổi sáng của mỗi ngày, mẹ tôi nhìn sâu vào mắt tôi để vớt vát một chút hình ảnh của giấc mơ còn sót lại. Mẹ bảo, mày lại mơ thấy mùa xuân nữa phải không con. Làm gì có mùa xuân, tóc tai mày cháy đen, da dẻ mày đang lột dần đi vì những ngọn gió Lào hoang dại từ phía tây thổi đến thì có. Con ơi, con nhìn xem thị trấn này có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu người đang ước ao điều con thấy, nhưng không hề có dù chỉ trong giấc mơ.

Bà ngoại tôi kiếm lá trầu không, giã nát rồi đắp lên trán tôi. Tội nghiệp thằng bé, cháu còn nhỏ quá làm sao hiểu nổi đó chỉ là những ảo ảnh. Bà thương cháu, bà căm ghét những giấc mơ nhưng bà không giúp cháu được. Hàng trăm năm qua, bà đẻ mẹ mày rồi mẹ mày đẻ mày ra, biết bao đời chủ tịch thị trấn lên rồi xuống chức có ông nào ra đạo luật cấm các giấc mơ lang thang, có ai đem giấc mơ ra hành quyết đâu. Tội nghiệp cháu của bà, đa cảm thế làm sao mà sống nổi.

Tôi không biết mình còn sống được bao lâu nhưng giấc mơ về mùa xuân thì vẫn ám ảnh trong từng giấc ngủ mê mệt của tôi. Ôi những bông hoa vàng lộng lẫy, nở xao xuyến trên thảm lá đỏ tươi, giữa bầu trời ngập tràn tiếng kêu lảnh lót của bầy chim sơn ca. Biết đến bao giờ tôi tìm thấy và bắt gặp. Năm nay tôi hai mươi tuổi, hai lần như thế nữa là hết cuộc đời, liệu có còn kịp không.

Nàng nói, vào một buổi sáng khi giấc mơ vừa rời bỏ tôi đi, anh dạo này xanh xao lắm và dường như đang ngày một gầy hơn. Tôi giật mình không phải vì nhận xét của nàng mà bởi chính tôi cũng thấy mình ngày một khác thường. Trước khi có giấc mơ đầu tiên tôi là chàng trai lực lưỡng nặng bảy mươi cân. Vậy mà, thật lạ, cứ mỗi lần lạc vào giấc mơ mùa xuân ấy, khi tỉnh dậy tôi thấy mình gầy hơn một ít. Hay tại những bông hoa vàng, tại tiếng chim sơn ca thúc hối, muốn tôi biến thành làn khói nhẹ nhàng, thật nhẹ nhàng bay khỏi thế gian. Tôi đâm lo sợ và thực sự luôn bị giằng xé giữa một bên là ước muốn chìm đắm vào giấc mơ và một bên là những giấc ngủ thật sâu, như ngày nào đó tôi chưa hề biết đến mùa xuân là gì.

Một tháng tròn đều đặn đêm nào cũng chìm đắm vào giấc mơ mùa xuân tôi trở thành một thiếu niên bé nhỏ. Chỉ còn lại trên dưới bốn mươi ký lô và chiều cao cũng giảm từ một mét sáu lăm còn lại một mét ba mươi. Đứng bên nàng tôi như đứa trẻ và điều đó khiến tôi vô cùng tủi hổ. Tôi khóc rưng rức như thể mình chưa hề là một chàng trai. Nàng an ủi tôi. Anh đừng khóc nữa, em sẽ đi tìm cho anh những bông hoa màu vàng, những chiếc lá màu đỏ, rồi anh thấy mùa xuân sẽ đến và anh lại là chàng hoàng tử từ trong cổ tích bước ra.

 Nhưng hóa ra tất cả đều bất lực. Mẹ tôi, bà tôi và cả nàng đều không thể ngăn cản được tình trạng thê thảm của tôi. Giấc mơ chuyển dần từ đêm sang ngày, từ trạng thái ngủ sang cả khi tôi không hề chợp mắt. Tôi như người mộng du, bắt đầu nhìn thấy những điều không ai thấy. Chao ôi, những bông hoa đến là đẹp, tươi thắm vô ngần. Và lũ chim, những đôi cánh tự do mới cảm động làm sao, tiếng hót nữa, chúng ngân nga, kéo dài một nỗi khát khao thầm lặng mà tôi chưa hề bắt gặp suốt thời thơ ấu. Tôi vật vờ, lẩm nhẩm về những điều nhìn thấy, cầu mong ai cũng như tôi, được chìm đắm trong một thế giới ngập tràn hạnh phúc. Cứ thế cho đến lúc nào mẹ tôi kéo tôi ngồi xuống, vạch miệng, vạch quần xem thử tôi có sử dụng chất kích thích nào như hút bồ đà, tiêm chích xì ke hay loại nào đó tương tự. Bà tôi thì khóc hết nước mắt, miệng không ngớt chửi rủa ai đó đã dùng tà ma ngoại đạo làm cháu bà người không ra người, thân tàn ma dại.

Hình hài tôi nhỏ dần để cuối cùng trở lại thân xác bé con như ngày nào mẹ tôi sinh tôi. Nhỏ đến nỗi bà tôi có thể bế trên tay, đi lang thang trong đêm. Nhờ đó mà tôi khám phá thêm rằng, trong thị trấn này có rất nhiều hồn ma. Họ sắp thành từng đôi một, đi xuyên qua mùa xuân trong giấc mơ tôi, họ cười nói và âu yếm nhau, dưới những tán cây bằng lăng tím thẫm. Và tôi, ước muốn cháy bỏng là được cùng nàng đi như thế, trong đêm tối, trong khu vườn mùa xuân tĩnh lặng…

Nhưng nàng đã vĩnh viễn không còn gặp tôi. Vào ngày cuối cùng, trước khi tôi thu nhỏ hình hài lần cuối cùng và biến mất khỏi thế gian, nàng đã một mình gọi đò xuôi theo bến sông ra biển. Tôi biết nàng đi đâu vì nhớ có lần nàng thổn thức cùng tôi. Em sẽ ra biển, sẽ tìm gặp một ai đó từng bắt gặp mùa xuân, đến vùng đất nào đó ngập tràn hoa cỏ và tiếng chim sơn ca, để rồi ngồi xuống thảm cỏ xanh nhất và đợi anh đến đưa em về.

Nàng ơi, nàng nhỏ nhoi, ngây thơ và trong trắng quá. Làm sao nàng hiểu được rằng, dòng sông mà tôi đã hơn một lần đi qua, rút cục phải quay trở về, dòng sông sình lên vì củi rều và lá mục chảy vòng quanh thị trấn Mười hai cây sầu đông ấy chỉ là một dòng sông chết.

Và tôi đã không kịp nói với nàng dù chỉ một lời. Khi bóng con đò chở nàng ra đi khuất sau tán lá những cây sầu đông mọc dày ven sông, tôi đã biến thành hạt bụi như đã là tôi của hàng nghìn triệu năm trước, hạt bụi mang theo giấc mơ mùa xuân tội nghiệp không có chỗ giữa bao la trần gian.

Phạm Xuân Hùng


Nguồn: vanchuongviet.org
READ MORE - PHẠM XUÂN HÙNG - MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN

PHẠM PHÚ PHONG – Hoàng Phủ Ngọc Tường - Người kể chuyện cổ tích chiến tranh


"Tôi ngồi nhớ lại tất cả nỗi trầm tư dài bên cạnh mớ hài cốt khô khốc của anh Hoàng. Trước mắt tôi, tất cả cuộc sống đầy những hùng tráng và bi thương vốn đã từng tồn tại trên mảnh đất rừng này, giờ đã bị xoá sạch dấu tích trong sự câm nín của lau lách. Như thế đấy có những con đường không còn ai đi nữa, những năm tháng không còn ai biết nữa, và những con người chết không còn hắt bóng vào đâu nữa...

Cỏ lau mọc lên thật nhanh, nhưng không nhanh bằng trí nhớ bội bạc của con người. Tôi thấy buốt lòng như một cơn đau dạ dày trong ý nghĩ (1). Những dòng suối của chương mở đầu cho Bản di chúc của cỏ lau, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết bằng những câu như vậy. Đó cũng là tiền đề mở cho câu chuyện về những người yêu nước của thành phố Huế, những người đầu tiên đi mở rừng và dọn địa bàn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mà di sản của họ để lại cho đời sau chỉ là một bản di chúc viết bằng máu vùi dưới cỏ lau...

Tôi không phải là người có thói quen phân chia văn học theo các khái niệm, các phạm trù có sẵn, hoặc theo hệ thống đề tài, hệ thống thể loại... nhưng dưới bước chân kiên trì và chăm chỉ của thời gian, tất cả rồi trở thành chuyện cũ. Những sự tích anh hùng trong hai cuộc kháng chiến của chúng ta rồi cũng sẽ trở thành cổ tích mà thôi. Mới hơn 25 năm trôi qua mà nghe chừng như đã xa xôi lắm, chuyện gian khổ ở rừng, lòng chung thuỷ, đức hy sinh, tình đồng chí... tưởng chừng như truyền thuyết, đối với thế hệ sinh sau đẻ muộn chưa sống qua một ngày chiến tranh đã đành, lại còn với cả một số người rũ áo bước ra từ khói lửa của chiến tranh. Gần 100 trang sách của Hoàng Phủ Ngọc Tường là một lời tự nhắc nhở với chính mình, với mọi người về âm vang chưa xa xôi ấy.

William Burto cho rằng: "Cổ tích là một thể loại văn học, người ta nghĩ đến sự huyền truyền, đồn đại đến cái không phải là thực tại hoặc là một thực tại diệu kỳ" (2). Chuyện cổ tích chiến tranh của Hoàng Phủ Ngọc Tường đúng là một thực tại diệu kỳ về cuộc sống và chiến đấu của những con người có độ dư về phẩm chất làm người, ném cả thời trai trẻ của mình vào gian khó đói rét, bệnh tật, chống lại cuộc săn lùng của kẻ thù, của thú dữ ở trại Cây Thị, tại vùng núi có tên là Khe Trái. Những ngày đói cơm nhạt muối. Những ngày chui bờ ngủ bụi. Những cuộc chiến đấu quyết liệt với kẻ thù, với thú rừng... Nghĩa là những sự kiện, những sự việc, những chi tiết khá điển hình phổ biến trong cuộc chiến tranh mà người đọc đã từng trải qua hoặc từng nghe, từng đọc trong nhiều tác phẩm viết về chiến tranh lâu nay. Nhưng được Hoàng Phủ Ngọc Tường kể lại bằng giọng điệu riêng, mà chỉ ở anh mới có. Đó là lối tư duy văn học mang đậm dấu ấn cách cảm nhận và cảm nghĩ chủ quan của tác giả, mà Hoàng Ngọc Hiến đã từng cho rằng đó là tư duy của một tiểu loại văn học ét-xe (3) và "Hoàng Phủ Ngọc Tường là một tác giả viết ét-xe". Là một người viết bút ký tài hoa,"trong văn học hiện đại Việt Nam, sau Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn thứ hai nổi bật lên với thể ký, ký của anh có cái là truyện, có cái là tuỳ bút, có cái mới chỉ là ghi chép"(4), hay cũng có thể nói là đặc trưng nổi bật của Hoàng Phủ Ngọc Tường là bao giờ cũng soi rọi thực tại dưới hơi thở của những cảm nhận chủ quan của mình. Do đó, ngay cả trong sáng tác có một cốt truyện hẳn hoi như Bản di chúc của cỏ lau, cũng được anh trần thuật bằng ngôn ngữ của người viết ký. Đó là ưu điểm, đồng thời cũng là nhược điểm trong thi pháp biểu hiện của anh, nên chuyện của anh không phải bao giờ cũng thành công, cũng thu hút người đọc, có nhiều "tạng" khác nhau trong thị hiếu thẩm mỹ. Câu chuyện của Bản di chúc của cỏ lau bắt đầu từ "một ngày không được bình yên, theo anh Bình quay lại vùng Khe Trái để tìm mộ anh Hoàng", người viết đã lần ngược lại cuộc chiến đấu của những người yêu nước, dưới bóng cờ của cách mạng. Nhưng với sức liên tưởng mạnh mẽ của người viết bút ký, truyện không chỉ đơn thuần là một cuộc chiến đấu hy sinh gian khổ đến ngày thắng lợi hoàn toàn, mà còn bao nhiêu truyện khác: chuyện chiến đấu với kẻ thù, với thú rừng, với nỗi cô đơn, chuyện về tờ di chúc như lời thề im lặng của dòng máu cuối cùng Tổ quốc muôn năm, về sự hy sinh đang có nguy cơ "trở thành sự lãng phí vô nghĩa của lịch sử", chuyện người may mắn thoát chết trở về sau chiến tranh mang theo với mình chiến tích của một cuộc chiến đấu kinh hồn, để rồi cố thu nhỏ mình lại thành một dấu chấm không ai buồn để ý trên chuyến xe cuộc đời mà chỗ ngồi đã dành cho những người khác". Bên cạnh đó, còn có sự tích của người Pakô, về thiên nhiên, các phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc miền Tây, chuyện về các loài vật, các thú dữ ở rừng... Cũng như con người, trong thế giới loài vật, có loài vô hại, nhưng cũng có loài là kẻ thù nguy hiểm đối với con người. Điều quan trọng hơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ tự mình tạo nên sự liên tưởng cho mình, mà luôn tạo nên những tầng sâu ngữ nghĩa, buộc người đọc muốn hiểu vấn đề một cách thấu đáo, phải cùng tác giả chui xuống những tầng hầm sâu khuất, tìm đến những mạch ngầm của chiều sâu liên tưởng mới, như một phép ẩn dụ nghệ thuật. Chẳng hạn, anh đưa chi tiết chiếc đèn dầu chôn theo hài cốt mấy chục năm dầu vẫn còn thắp sáng, để nói "chính ngọn lửa bé bỏng kia, tôi nghĩ đã thắp sáng cuộc chiến đấu của anh Hoàng hai mươi năm trước, trong những đêm rừng tối thẳm", anh đưa chi tiết ngồi xe nhờ bị bà chủ, vợ một quan chức hành xác "người bạn đồng hành tội nghiệp của tôi muốn thu nhỏ người lại thành một cái chấm để khỏi làm phiền bà ta" để nói đến cái giả định xót xa về cuộc chiến tranh qua, những người đã hy sinh xương máu có còn chỗ nào trên chuyến xe cuộc đời, trong lòng mọi người hay chỉ là một dấu chấm hết của một trang đời, dẫu rằng họ vẫn may mắn tồn tại!


Nếu nói mỗi người đều có một tâm hồn được kiến tạo bằng một chất liệu riêng, một cách thức riêng, một tâm thức sáng tạo riêng, thì dẫu cho những điều mà Hoàng Phủ Ngọc Tường viết ra có đôi điều dự báo, là tín hiệu của tương lai, nhưng thế giới tâm hồn anh vẫn thuộc về quá khứ, bị ám ảnh bởi một quá khứ dữ dội mà anh có can dự vào và may mắn là người được trở về sau chiến tranh với mặc cảm luôn thấy mình có lỗi với những người đã khuất. Một cảm giác không yên, luôn lo sợ về sự quên lãng, sự bội bạc của chính mình. Điều này trở đi trở lại vò xé tâm hồn anh, khi thì điềm tĩnh "tôi ngồi nhớ lại tất cả trong nỗi trầm tư dài... thấy buốt lòng như lên cơn đau dạ dày trong ý nghĩ". khi thì da diết đến riết róng: "Bây giờ tôi đang có tất cả những gì mà các anh ấy không bao giờ có nữa, cả cuộc sống cụ thể, đất nước và cả hành tinh, để làm một người. Và trĩu nặng hơn tất cả, chính là khát vọng thiêng liêng mà chính các anh ấy đã để lại cho những người sống còn. Tôi hiểu, nếu một ngày nào tôi không còn cảm thấy nữa cái sức nặng để lại ấy của những người vắng mặt, thì chính là tôi đã sống khác đi, như một kẻ đáng nguyền rủa"(5), hoặc có khi cái vốn là sức mạnh chủ quan của người viết ký lại được hóa thân thành con chim bói cá ngồi trầm tư về cuộc đời, đặt ra bao nhiêu điều vấn tâm về phận người như tiếng vọng lại từ trong sâu thẳm của tâm linh. Gần đây, đọc tập thơ mới in của anh, tập Người hái phù dung, tôi lại bắt gặp cái cảm giác buồn bã quay về Thành cổ Quảng Trị quê anh, về phía cuối con đường cỏ lau, trong bài Về chơi với cỏ:

Thưa rằng người đã quên tôi
Tôi về chơi với ngọn đồi cỏ may
Một đường hoang một dấu giày
Một người ngồi một thoáng ngày bóng nghiêng.

Có người coi anh là một trong những tri thức miền đi theo cách mạng với một chủ nghĩa yêu nước rõ rệt, một trí thức có một tri thức sâu rộng đã kịp chuyển tải vào trang viết.

Riêng tôi, vẫn coi anh như một người đến cư ngụ trong đời không chỉ với tư cách là một nghệ sĩ để ngợi ca cái đẹp mà còn là một hành giả đi tìm cái chân, cái thiện; một con người không yên, luôn đòi hỏi ở mình với nỗi buồn khó nguôi ngoai về quá khứ, đang ngồi dõi tầm mắt về phía cuối đường chân trời, nhặt từng chiếc lá thu vàng và kể lại chuyện chiến tranh giữa hai bờ hư thực của thời gian vô định và cả không gian sương khói, trong nỗi xót xa, mòn mỏi của thân phận con người.

P.P.P

Nguồn: tapchisonghuong.com
READ MORE - PHẠM PHÚ PHONG – Hoàng Phủ Ngọc Tường - Người kể chuyện cổ tích chiến tranh