Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, December 19, 2010

LÊ BÁ LƯ - ĐẢO PHÚ QUÝ: TIỀM NĂNG ĐÃ ĐƯỢC ĐÁNH THỨC VÀ ĐANG CHỜ KHAI PHÁ



Rời cảng Phan Thiết lúc 7 giờ sáng, sau hơn 8 tiếng đồng hồ hành trình lênh đênh trên biển khơi, vật lộn với những con sóng mạnh hơn cấp 6, đến 15 giờ 30 chiều, tàu Phú Quý 07 đã đưa chúng tôi đến đảo Phú Quý- hòn đảo tiền tiêu của Tổ Quốc thuộc tỉnh Bình Thuận, nằm cách bờ hơn 56 hải lý.




Dù đang mệt nhoài, ngất ngư trong cơn say sóng, nhưng khi nghe tiếng tàu hụ báo hiệu sắp cập bến, tôi cố gắng ngồi dậy bước lên bong tàu. Từ biển nhìn vào, quần đảo Phú Quý nổi lên với những hình dáng kỳ thú. Nhìn về phía bên phải, đảo có dáng con rồng uy nghi; phía bên trái giống như con cá voi khổng lồ đang vượt sóng. Cửa khẩu Cảng Phú Quý tập nập ghe thuyền neo đậu và nhộn nhịp người. Thuyền trưởng Nguyễn Văn Thuyên cho biết lúc này biển đang động nên ghe thuyền không ra khơi. Thoạt nhìn, đảo có vẻ sầm uất với những công trình nhà cửa kiên cố, mới mẻ và những rặng dừa, phi lao xanh ngan ngát nối dài.

Vừa lên bờ, tôi đã được anh em bộ đôi Biên phòng chờ đón và đưa về đơn vị. Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Phú Quý nằm giữa một khu đồi cao nhìn ra phía biển, với 3 dãy doanh trại kiên cố mái lợp màu xanh, bao quanh là những hàng na, hàng dừa trĩu quả. Khoảng đất rộng ở giữa là sân bóng chuyền và những bồn hoa, chậu cảnh xanh tươi, tạo cho đồn một cảnh quan trẻ trung, đầy sức sống.

Những người lính đảo rất hiếu khách và chân tình. Tôi đã được cán bộ, chiến sĩ đồn Biên phòng tiếp đãi ân cần và chia sẻ những thành tích lẫn khó khăn của đơn vị trong nhiệm vụ công tác bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới vùng biển đảo, góp phần cùng chính quyền và nhân dân địa phương phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.



Thượng tá Ngô Xuân Bờ, Chính trị viên Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Phú Quý cho biết, toàn huyện hiện có 1.340 phương tiện đánh bắt, tổng công suất 76.000 CV, với gần 5.200 lao động. Trong đó số tàu thuyền công suất từ 90 CV trở lên có 146 chiếc. Đồn đã tham mưu với địa phương xây dựng các Tổ Đoàn kết khai thác hải sản trên biển. Sau hơn 2 năm hoạt động, các Tổ này đã phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong hoạt động khai thác trên biển, đồng thời sẵn sàng phối hợp cùng các lực lượng, đặc biệt là bộ đội biên phòng trong công tác bảo vệ quyền và chủ quyền biển đảo; nổi bật là giúp nhau trong công tác phòng chống lụt bão, cứu nạn cứu hộ; tiêu thụ sản phầm ngay trên biển…



Trung úy Nguyễn Minh Hải, Trưởng ban Vận động quần chúng của đồn đã đưa tôi đi thăm nhiều nơi trên đảo. Đảo không có suối, nhưng mạch nước ngầm dồi dào nên nguồn nước ngọt không khan hiếm. Những cư dân lao động biển ở đây đặc biệt có giọng nói với âm vực nặng, khó nghe, nhưng rất hiền lành, dễ thân thiện. Chúng tôi còn thấy nhiều dân Tây ba lô tắm biển, lướt ván và đạp xe lang thang các con đường quanh đảo...



Phần nhiều các cơ quan hành chính, nhà văn hóa, sân vận động, trường học, khu vui chơi giải trí, đường giao thông tráng nhựa… nơi đây đều còn mới và một số công trình đang thi công dở dang. Nhiều khu vực huyện đảo đã có khuôn mặt đô thị, nhưng tất cả vẫn còn là “nhà không số, phố không tên”, chưa có đường nào có tên, nhà nào có số.



Chỉ mất hơn 3 tiếng đồng hồ bằng xe honda, chúng tôi đã được một vòng quanh đảo và trở về điểm xuất phát. Địa hình đảo không bằng phẳng, nhiều đồi, gò, cồn cát kéo dài. Là một đảo nhỏ giữa biển khơi nhưng Phú Quý có đến 34 cơ sở thờ tự, tín ngưỡng và rất nhiều danh lam thắng cảnh, với những kiến trúc độc đáo có từ lâu đời. Tôi đã đến thăm chùa Linh Quang, chùa Vạn An Thạnh ở xã Tam Thanh; Dinh mộ Thầy Nại, miếu bà chúa Bàng Tranh ở xã Long Hải; ngôi chùa cỗ Linh Sơn trên núi Cao Cát…

Dinh mộ Thầy Nại


Dinh mộ Thầy Nại, xây dựng từ thế kỷ 17, là nơi được cư dân biển sùng bái, xem như là chỗ dựa tinh thần. Lễ cúng Thầy được tổ chức hàng năm vào ngày 4/4 âm lịch, đây là hoạt động văn hóa, tín ngưỡng của người dân trên đảo với những nghi thức cỗ truyền nguyện cầu trời yên biển lặng, đất thái dân an. Đây cũng là lễ hội lớn nhất hàng năm trên đảo, có rất nhiều người từ đất liền ra tham dự.


Miếu bà chúa Bàng Tranh


Miếu bà chúa Bàng Tranh, một di tích văn hóa cũng là nơi tín ngưỡng của ngư dân. Theo truyền thuyết, bà chúa Bàng Tranh tên là Bàng Thị Vương Tranh là một công chúa của vua Chiêm Thành, vì trái lệnh vua cha nên bị thả xuống thuyền lưu đày biệt xứ. Thuyền công chúa trôi dạt vào đảo và bà đã ở lại cùng cư dân khẩn hoang lập nghiệp. Bà là người tài đức, đạo hạnh được nhân dân tôn sùng.Sau khi mất, bà được dân lập miếu thờ, cúng giỗ hàng năm. Hiện nay, Miếu bà chúa Bà Tranh đang được Nhà nước trùng tu, tôn tạo với kinh phí trên 2 tỷ đồng.

Chùa Linh Sơn


Ngôi chùa cỗ Linh Sơn tọa lạc uy nghiêm, hùng vĩ trên núi Cao Cát, ở độ cao hơn 120 mét so với mực nước biển. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo. Đứng nơi đây, tâm hồn con người cảm thấy lâng lâng, hòa quyện với đất trời, chúng ta có thể nghe tiếng gió hú lồng lộng với những âm thanh kỳ bí như tiếng nói tâm linh, đồng thời có thể nhìn ngắm toàn cảnh bức tranh sống động của đảo Phú Quý: từng rặng cây, bãi biển, cồn cát, làng chài, khu dân cư, con đường vòng quanh đảo, những con thuyền nhập nhô lướt sóng và cầu cảng nhộn nhịp ghe thuyền….




Ông Huỳnh Văn Hưng, Bí thư kiêm Chủ tịch huyện Phú Quý cho biết, huyện có diện tích tự nhiên gần 18 km2, là một quần thể gồm 10 hòn đảo lớn, nhỏ, trong đó chỉ đảo lớn Phú Quý là có dân sinh sống. Huyện có 3 xã, 10 thôn, 5.466 hộ với số dân gần 27.000 người, đa số sống bằng nghề đánh bắt và các dịch vụ hậu cần nghề biển. Trước đây, Phú Quý là một hòn đảo hoang sơ với hơn 1.000 dân sống nghề chài lưới. Là một vùng đất đầy tiềm năng, giàu khoáng sản, ngư trường rộng lớn với nhiều loại hải sản có giá trị cao; khí hậu quanh năm ôn hòa; cảnh quan nên thơ, hùng vĩ, hấp dẫn du khách, nhưng do điều kiện cách xa đất liền, đi lại khó khăn nên nhiều năm qua Phú Quý vẫn còn dáng vẻ hoang sơ. Tiềm lực đảo mới được đánh thức và bắt đầu phát triển khoảng hơn 5 năm trở lại đây, nhất là từ khi Chính phủ có Chương trình hành động về chiến lược phát triển biển đến năm 2020.

Chùa Thạnh Lâm

Lãnh đạo huyện cho biết, huyện đã và đang tập trung quy hoạch, đầu tư phát triển các công trình và cơ sở hạ tầng theo hướng đô thị hóa. Riêng trong năm 2010, bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp, huyện đã triển khai nhiều chương trình, như: giảm nghèo; xây dựng cơ sở giáo dục – đào tạo, trung tâm dạy nghề huyện; chương trình nâng cấp mạng lưới thông tin- truyền thông, mạng lưới điện; chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; chương trình biển Đông- hải đảo, nâng cấp hệ thống cầu cảng, đường giao thông; xây dựng đê, kè chống sạt lở, chống xâm thực bờ biển và một số chương trình mục tiêu khác, với tổng kinh phí hơn 80 tỷ đồng. Hoạt động tín dụng trên địa bàn huyện được đẩy mạnh; ngân hàng đã kịp thời áp dụng các biện pháp linh hoạt, phù hợp trong huy động và cho vay vốn, đảm bảo đáp ứng đầy đủ các nguồn vốn đầu tư cho ngư dân và các tổ chức, cá nhân phát triển sản xuất, kinh doanh…



Trong chiến lược phát triển lâu dài và bền vững, huyện rất quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại chỗ; đồng thời có chính sách ưu tiên, đãi ngộ, như cấp đất, hỗ trợ điều kiện xây dựng nhà cửa …nhằm thu hút lao động chất xám và chuyên môn kỹ thuật cao từ nơi khác đến đảo phục vụ lâu dài.

Đại hội Đảng bộ huyện vừa qua đã xác định cơ cấu kinh tế huyện được chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng các ngành nông-lâm-ngư nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Huyện tập trung thu hút mọi nguồn vốn đầu tư, đặc biệt, là đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, du lịch sinh thái, nhà hàng- khách sạn, tàu vận chuyển hàng hóa, tàu khách cao tốc, điện gió…Trong đó, dự án nhà máy Điện gió Phú Quý do Tổng Công ty Điện lực Dầu khi đầu tư, với công suất lắp đặt 6 MW, đã được khởi công xây dựng vào cuối tháng 11 vừa qua, với tổng vốn đầu tư 335 tỷ đồng. Dự kiến sẽ Nhà máy sẽ hoàn thành vào cuối năm 2011, khi đưa vào vận hành sẽ cung cấp sản lượng điện hàng năm 25,4 triệu kW/h và được đấu nối lên đường dây 220 kV, vận hành đồng bộ với Nhà máy điện Diesel hiện có, sẽ góp phần giải quyết tình trạng thiếu điện hiện nay và tạo thêm điều kiện cho các ngành kinh tế huyện phát triển.


Tiềm năng phong phú, đa dạng của huyện đảo Phú Quý đã được đánh thức. Tuy nhiên, để vươn lên mạnh mẽ và phát triển bền vững, ngoài nổ lực khắc phục những khó khăn chủ quan, huyện còn phải vượt qua những trở ngại và thách thức khách quan, trong đó đặc biệt là giải quyết được vấn đề khó khăn “ngăn sông cách biển”. Bởi, nếu hệ thống giao thông nối liền giữa đảo và đất liền chưa được cải thiện như hiện nay thì rất khó thu hút các nhà đầu tư. Đó là vấn đề mà lãnh đạo huyện đang ngày đêm suy nghĩ - vị đứng đầu lãnh đạo huyện bộc bạch.

Tôi nhận thấy, những trăn trở của lãnh đạo huyện Phú Quý cũng là trăn trở của lãnh đạo tỉnh Bình Thuận trong chiến lược khai phá tiềm năng và phát triển đảo Phú Quý thành một địa chỉ đến hấp dẫn của các nhà đầu tư và khách du lịch./.

Lê Bá Lư (TTXVN)
READ MORE - LÊ BÁ LƯ - ĐẢO PHÚ QUÝ: TIỀM NĂNG ĐÃ ĐƯỢC ĐÁNH THỨC VÀ ĐANG CHỜ KHAI PHÁ

Saturday, December 18, 2010

TRƯƠNG THỊ PHƯỢNG - CHÙM THƠ

"Wind" - Tranh của Sergey Kisel


NGƯỜI ĐÀN BÀ MẶC CHIẾC ÁO CHOÀNG


Người đàn bà mặc một chiếc áo choàng

Chiếc áo ấy dấu cả mùa hạ cháy

Đang Rực lên và nồng nàn biết mấy

Màu áo em là màu của con tim!

Người đàn bà mặc chiếc áo của mình

Sau lần áo là một mùa hạ cháy

Mùa Đông về ôi lạnh lùng biết mấy

Chiếc áo choàng có đủ ấm không em?

Người đàn bà mặc chiếc áo thân quen

Qua mấy mùa Đông có còn đủ ấm?

Mùa xuân về chắc sau làn áo mỏng

Sẽ cho em thêm hơi ấm mùa xuân!



CHIỀU ĐÔNG


Chiều mùa Đông biển lạnh

Sóng rùng mình vây quanh

Sóng tìm dấu chân em

Sóng hôn bờ bãi cát!

Sóng tung mình ào ạt

Tìm em đến bạc đầu!

Em đi đâu đi đâu?

Chiều Đông về sóng hỏi

Nghe sóng lòng thầm gọi

Về đi em chiều Đông!



CHƠI VƠI


Em vẫn như thuở ấy em ơi

Lóng lánh mắt đen đẹp tuyệt vời

Em mang biển sóng vào trong mắt

Lùa lại trong anh cả chơi vơi!



NÍU


Ước chi ôm trọn được cuộc đời

Biển dầu dài rộng đến không thôi

Hai ta níu cả vòng dương thế

Níu lại trong ta níu cuối trời



VÔ ĐỀ


Em đã ra đi không ngoảnh lại

Trời giăng sương trắng vắng hình ai?

Lối ngõ ngày xưa hoang rêu vắng

Một nắm hao gầy xương tuyết mai!



SÔNG NGÂN


Trong đáy mắt em đẹp tuyệt vời

Ánh hoàng hôn tím nắng chơi vơi

Sông ngân dậy sóng cho anh tắm

Dịu ngọt yêu thương trọn cuộc đời!



BIỂN ĐỘNG!


Thuyền lướt ra biển khơi

Bỗng nhiên trời gió nổi

Sóng cứ ghìm thuyền xuống

Nước lại nâng thuyền lên

Trời đất đang bình yên

Bỗng nhiên về nổi sóng!

Mong cho trời gió lặng

Biển hát lời ngàn năm!

Để cho anh cùng em

Một chiều về trước biển!

Biển thương em nhiều lắm

Nước lại nâng em lên!

Sóng như giận hờn ghen

Xô ghìm anh ngã xuống!

Dẫu vô thường sóng cả

Mà vẫn được bên em

anh được bình yên

Như thuyền về bên biển!


TTP

READ MORE - TRƯƠNG THỊ PHƯỢNG - CHÙM THƠ

Friday, December 17, 2010

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - TẢN MẠN QUÊ NHÀ




Về đêm ít ngủ, chợt giật mình nghe tiếng chim chèo hót kêu thảm thiết giữa không gian thành phố. (Nhà tôi có nhiều chim về đậu vì xung quanh đô thị hóa hết rồi,còn một mảnh vườn thiên hạ chưa thèm làm, cây cỏ mọc um tùm, những loài chim không có chỗ nương thân thường về đậu chứ không phải đất lành). Lại nhớ con chim chèo hót ở quê nhà, theo truyền thuyết là báo hiệu có người sắp chết. Nghĩ về kiếp nhân sinh, tôi viết:



Chim chèo hót kêu lời thảm thiết


Giấc mơ vàng nương bóng tre xanh.



Ừ, giấc mơ từ đâu nhỉ? Từ thuở lên năm ở nhà quê, bên luỹ tre, giấc mơ xa nhất của tôi là mặt trăng và hình ảnh chị Hằng, biểu tượng cho tình yêu, lại có thằng cuội dối trá. Làng quê là bức tranh thanh bình, cần tình yêu thương biết bao, cần chi điều gian dối để đày đoạ nhau. Tôi lại viết:




Hãy quên đi những điều gian dối


Lịch sử rạch ròi cái trắng cái đen

Thằng cuội ngàn năm trơ thằng Cuội

Chị Hằng muôn thuở chị Hằng EM



Thế đó, thơ văn của tôi bắt đầu từ lũy tre làng, từ ca dao tục ngữ. Tôi may mắn được làm nhà nông hai năm (1978-1980) ở quê nhà để cảm lại những câu ca dao mẹ hò ngày xưa, những câu tục ngữ mẹ tôi thường dạy những lúc chị em tôi bối rối trước một tình huống. Những bà mẹ quê xưa thường không biêt chữ, bằng vào những câu ca dao tục ngữ đã nuôi nấng tâm hồn chúng ta nên người.




Có một số người thành đạt về kinh tế rất sợ nhắc đến "ngày xưa", họ thích khoe khoang kiến thức này nọ nhưng chưa hiểu nổi một câu ca dao tục ngữ. Hãy nghe người xưa ví von sự đó: "khó chưa từng chộ của, mặc quần lụa chó sủa cả đêm" . Ý của người xưa nhắc rằng cái giàu có về văn hoá mới là đáng quý.






CÂY RỰA,CÂY TRE VỚI NHÀ NÔNG.




Mỗi làn về thăm quê, thấy làng xóm khang trang, đường sá được bê tông hóa, đèn điện sáng trưng thì mừng nhưng thấy thiêu thiếu một cái gì đó không giải thích được. Ở tuổi ngũ thập hay nhớ chuyện xưa, nhớ cái hồn của làng xưa mà bắt đầu từ đâu nhỉ? À, phải rồi, hình như đường xóm thẳng và rộng hơn, cây tre ít lại. Có nơi chặt hết tre vì vướng dây điện. Làng quê mà không có những lũy tre thì mất đi một phần hồn quê, điều mà trong tâm thức của những đứa con xa xứ luôn thương nhớ, khắc ghi.




Cha ông mình với nghề nông đã gắn với cây tre từ bao đời. Lũy tre là bức thành vững chắc ngăn gió bão. Hình như từ nhà cửa đến dụng cụ gia đình, nhà nông đều gắn liền với cây tre. Hãy nghe lời than vãn của người đàn ông về những bất hạnh gắn liền với cây rựa (quê mình gọi là rạ) :



Thứ nhất vợ dại trong nhà
Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rạ đùi


Vợ dại trâu chậm thì làm sao ngóc đầu lên với bà con. Cái khổ thứ ba "rạ đùi" thì ngạc nhiên thật. Mà đúng thế, để chặt một cây tre chẻ lạt, đan lát các dụng cụ thì không thể thiếu cây rựa, mà "rạ đùi" thì có chi khổ bằng ??? Cái rựa quê mình đẹp và thanh thoát lại rất tiện dụng, luôn theo nhà nông suốt cuộc đời. Từ cây rựa mà người nông dân sáng tạo ra cơ man nào là dụng cụ. Chuyện kể có anh nông dân khi chia gia tài với vợ, bà vợ bảo "cái gì giống đực thì của ông, giống cái thì của tui." Ông chồng đang tức tối, đồng ý ngay. Thế là tất cả gia sản từ cái sàng, cái dần, cái cối, cái chày, cái cày, cái bừa ... đều giống cái . Đến khi bà vợ toan lấy cái rựa thì ông chồng giành lại và nói "Nó là đực rựa". Tiếng đực rựa bắt đầu như thế đó. Những dụng cụ nhà nông ở quê mình luôn mang dáng dấp giống đực giống cái, hay như cách nói của các cụ thì là "có đôi, có đụa" :Cày thì có bừa, đòn xóc thì có đòn gánh, mỏ xảy thì có mỏ ngà, liềm thì có vằng, sàng dần thì có thúng mủng ...


Thức khuya dậy sớm hỏi chàng
Tre non khẳm lá đan sàng được không .


Thiếu nữ hỏi chàng một câu thật dí dỏm. Sàng dần, thúng mủng đều phải dùng loại tre già để đủ độ chắc bền không mối mọt. Cũng như phụ nữ phải trưởng thành mới lấy chồng. Thiếu nữ chưa trưởng thành hay còn trong giai đoạn khẳm lá (vị thành niên) mà đòi được "đan sàng" thì ngộ nghĩnh và dễ thương biết bao. Tình yêu nam nữ đã được ví von bằng hình tượng rất gần gũi.



Rồi họ thương yêu nhau, lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái. Có những gia dình hạnh phúc nhưng cũng biết bao gia đình tan nát. Hãy nghe lời than vãn trách móc của thiếu phụ:




" Anh nói vớí em như rìu sa xuống đá, như rạ chém xuống đất, như mật rót vào tai.


Chặng chừ anh đã nghe ai, để tranh mòn rui mọt, để nụ măng mai tồi tàn."



Cảm động biết bao khi người vợ đôi lúc phải nói giọng đanh thép như "rìu sa xuống đá", trầm thống như "rạ chém xuống đất", êm ả ngọt ngào như "mật rót vào tai". Để... "chặng chừ anh đã nghe ai" ...”để" để, để gì? "để tranh mòn rui mọt, để nụ măng mai tồi tàn”. Trách móc, giận hờn, biết ví với cái gì đây? Nhìn cây rựa, cây rìu chồng để lại mà ví vào, nhìn lên mái nhà tranh dột nát rồi mà chồng chưa về, lại nghĩ đến tình cảnh của gia đình, mai kia đàn con thơ như “nụ măng mai” sẽ lớn lên thế nào khi vắng bóng cha, ai sẽ dạy dỗ chúng nên người, bà con sẽ dè bỉu là "con nhà không ai tra cán cuốc".



Tranh của Alain Fontenas


Như đã nói ở trên những dụng cụ nhà nông thường mang dáng dấp giống đực giống cái. Hai loại dụng cụ ấn tượng nhất về điều đó là đòn xóc và đòn gánh. Đòn gánh thì khắp nơi đâu cũng có, cái đòn gánh của quê mình nó mảnh mai làm sao. Nó cong như cánh cung nhịp nhàng trên vai thiếu nữ, làm ta nhớ lại quê nhà thuở thanh bình.




Nhưng cái đòn xóc mới là độc đáo: Lựa cây tre già, có độ cong tương đối, cắt khoảng 1.6 m, chẻ đôi khúc tre theo kiểu "phá mắt" ta sẽ có được phía lưng làm đòn xóc, chiều ngược lại làm đòn gánh. Đòn xóc được vót nhọn 2 đầu (Có câu tục ngữ để ví người hay châm chọc người khác là "đòn xóc nhọn 2 đầu" ) dùng để gánh lúa bó từ đồng về. Lúa được bó thật chặt bằng lạt, dùng đòn xóc thọc vào khoảng 7 phân, 2 bó lúa được xóc đối xứng nhau. Đòn xóc cong ngược lên để bó lúa không bị "trơi". Có lẽ Phạm Duy ấn tượng về cách gánh lúa của quê mình mà viết nên bài "Gánh lúa" nổi tiếng , với hình ảnh thật lãng mạn :



" Chơi vơi , chơi vơi, gánh lúa chơi vơi , cánh đồng làng tôi mà làng tôi ... "



Không biết mình có thiên vị không nhưng theo tôi những dụng cụ nông nghiệp của quê mình nó có duyên hơn những vùng tôi đã đi qua. Thời đại văn minh càng ngày càng xa với những dụng cụ cổ truyền. Về quê thấy có làng văn hóa, có bảo tàng địa phương ... Mà phần nhiều chỉ nói về thời chiến tranh. Quê mình có hằng trăm năm thanh bình, thịnh vượng với nền văn minh lúa nước. Biểu tượng của làng quê phải là thanh bình.




Nên chăng mỗi làng ở quê mình lập một nhà bảo tàng (có thể ngay ở đình làng) để lưu lại những dụng cụ ngày nay không còn dùng nữa như cối xay lúa, xe đạp nước, cày bừa, gàu tát nước ...v..v...Để thế hệ trẻ nhớ về một thuở nhà nông của cha ông mình. Sợ đến một ngày nào đó lớp trẻ chẳng biết gì về đời sống vùng quê xưa .. ..




Những người trên 50 tuổi hôm nay vài mươi năm nữa sẽ "ra đi" như câu ca dao buồn của người thôn nữ tiễn "chàng" về quê :



Chàng về thì đục cũng về
Dùi cui ở lại mần nghề chi ăn .


Vâng, những dụng cụ cần nhau như chàng, đục, dùi cui ... Như con người của quá khứ , hiện tại và tương lai cùng cần nhau lắm lắm.





Nguyễn Đặng Mừng.




Nguồn: Trang Nguyễn Đặng Mừng - chân trần - art2all.net
READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - TẢN MẠN QUÊ NHÀ

Wednesday, December 15, 2010

VÕ VĂN LUYẾN – VẦN THÁNG GIÊNG



Tháng giêng vào ta, gió lộng trăng ngà đồng xanh sương trắng.

Cúc áo nở bông bèo vẫn trên sông mẹ ta lưng còng gậy cong tay nải.

Này người em gái mà mắt thị thành mà áo phong phanh ngó sen ngơ ngác.


Tháng giêng vào ta, cò ơi bay xa tìm về với mẹ.

Tuổi thơ thỏ thẻ, chuyền năm chuyền ba, cỏ gấu cỏ gà chơi trò đánh bắt,

mượn thuyền khoan nhặt câu hát vu vơ, mượn chuyện sông hồ hồn thơ ngụp lặn.


Tháng giêng vào ta, mắt ướt mi ngoan xúng xính đỏ vàng đồng tiền một lúm.

Mấy nụ tươi thắm nở giữa trong veo buồn chi giàu nghèo xuân cho tất cả.


Tháng giêng vào ta, có mẹ có cha có ông có bà có con cá bống.

Có vườn ươm nắng nhả ngọc bầu trời có cả chuỗi cười kết thành tràng hạt.

Câu kinh lạc mất ở phía niết bàn, người gánh đa đoan chất miền trần thế.


Tháng giêng vào ta, bão gần bão xa triều cường lũ cuốn.

Tháng giêng vào ta, hoa cưới phố làng.

Tháng giêng vào ta, lúa cóng bên sông.

Tháng giêng vào ta, mơ ước đòng đòng...



READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN – VẦN THÁNG GIÊNG

Tuesday, December 14, 2010

Trần Kiêm Đoàn - THƠ GIỮA ĐỜI



Nhà văn là nhà thơ không thành!

Chiều trên thành phố cổ Sacramento, Nguyễn Đỗ – làm thơ, dịch giả – đã vẽ chân dung nhà thơ như thế bên dòng sông American River. Không biết sóng nước có đồng tình không, còn Hoàng Hưng và tôi thì im lặng. Im lặng thường mang ý nghĩa đồng tình, đồng ý. Nhưng cũng có khi im lặng vì hai bờ đối đãi đúng sai cũng chỉ là một, vì cả hai đều không có lời giải đáp.

Đỗ Phủ nhìn trời, rồi kêu lên: “Thiên thượng phù vân như bạch y. Tu du hốt biến vi thương cẩu…” (Mây nổi trên trời như áo trắng. Thoắt biến thành hình con chó xanh). Đời thường như mây trắng và thơ như con chó xanh trên trời. Bạch vân – Thương cẩu là chuyện đời của Thực và Hư tương tác, tương sinh. Thực đến từ hư và hư đến từ thực. Cho nên, chân trời thi ca không có điểm khởi đầu mà cũng chẳng có điểm kết thúc.

Thơ không có một thực tại nắm bắt được. Và, thơ cũng chẳng có điểm kết thúc tận cùng nào cả.

Đoạn trường tân thanh có một kết cấu và một kết thúc về câu chuyện. Kiều có nhảy xuống sông Tiền Đường hay Kim Kiều tái hợp; nhưng cái hồn thi ca chẳng đi về đâu mà cũng chẳng đến từ chốn nào. Đó là trường thơ lục bát của Nguyễn Du có ánh sáng riêng của một dải Ngân Hà thi ca tư tưởng. Khách yêu thơ đành im lặng vì không biết nói sao, bởi xưa nay… “văn chương tự cổ vô bằng cớ” nên dẫu có nói rằng, nhà thơ là nhà văn không thành – hoặc thiền sư là thi sĩ không thành – thì cũng thế thôi! Duyên khi nào cũng sinh; lửa lúc nào cũng đỏ nhưng duyên có hợp, lửa có bén mới thành cơ sự.

Thi sĩ là người sáng tác những vần thơ, nhưng không phải là người khai sáng ra thơ. Thơ có trước con người. Sự im lặng thâm viễn và miên trường ẩn dấu của vũ trụ là thơ không lời trước khi con người sinh ra. Ánh sáng, bóng tối, núi xanh và mây trắng là những ấn tượng thi ca trước khi con người có mặt. Thi ca là sản phẩm hồn nhiên và tinh túy nhất của sinh vật địa cầu có tư tưởng và cảm xúc. Rồi những lời nói chắt lọc, những ý tưởng gợi hình tròn trịa phát khởi từ nhu cầu ca ngợi, tôn xưng và chia sẻ là những câu thơ, bài thơ sớm nhất. Nó là Kinh Thi, là Áo Ngữ của Vệ Đà; là ba đào một thời đã lặng, ghi dấu tâm thức của con người đã xuất hiện cả vạn, cả nghìn năm trước khi có ký hiệu thành văn gọi là chữ viết. Con người đem thơ ra giữa dòng sống rất lâu trước khi các đấng giáo chủ, thần linh, thị hiện giữa đời để tạo ra ý, ra lời thành kinh, thành thuyết giáo tiên tri. Rốt cuộc, thơ giữa đời không là thơ của ai cả; mà chỉ là… nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!

Thơ từ đâu tới?

Chẳng từ đâu tới hay về đâu cả. Thể tánh của thơ là như như vắng lặng.
Ai có duyên với thơ thì nắm bắt và cảm nhận được thơ ngay trong lòng mình. Kẻ không duyên với thơ thì thơ vắng bóng trong toàn vũ trụ. Ngôn từ thi ca đích thật nhất là một loại mật ngữ cảm nhận chứ chẳng bao giờ hiện hữu để ca ngâm. Cho nên, tinh túy của Thơ là sự im lặng tuyệt vời và những câu thơ tuyệt bút.

Nó là những cơ duyên, có điều kiện tự phát khởi, níu kéo, hòa quyện, kết hợp nhau mà thành. Không thời, không hạn; chẳng từ vô trước, chẳng tới vô sau:

Quan quan thư cưu
Tại Hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu.

Kinh – kinh Thi – có trước khi Phật và Chúa ra đời.

Văn tự hội ý của Trung Hoa thời cổ đã quan niệm rằng, Thi = Ngôn + Tự (Thơ = Lời + Chùa).

Thơ có từ khi thơ là cảm xúc dâng trào từ suối nguồn cuộc sống. Thơ là ngôn tự, là tiếng nói, là âm hưởng phát ra từ chốn thâm nghiêm thờ tự. Thơ là lời kinh. Thơ là tiếng tâm kinh. Thơ vang vọng từ chốn thiền môn rỗng lặng của những “con chim đến từ núi lạ ngứa cổ hát chơi”. Và sứ mệnh cao viễn nhất của thơ cũng chỉ là “thơ thẩn” vì kẻ tạo ra thơ coi nghìn thế giới như hạt cát và hạt cát như nghìn thế giới; một sát na tâm có khi là vĩnh cửu:

To see a world in a grain of sand,
And a heaven in a wild flower,
Hold infinity in the palm of your hand,
And eternity in an hour.
(William Blake)

Thấy thế giới từ trong lòng hạt cát
Và thiên cung trong một nụ hoa đồng
Nắm vô hạn trong lòng tay của bạn
Và vĩnh hằng trong một thoáng hư không

Và có lần, tôi băng đồng chỉ sá đi tìm một vang vọng của thơ. Thơ không phải chỉ nỗi buồn mà còn là một sự phản kháng – như nhà thơ Lê Đạt : “Chết là hết, hết đau hết khổ. Nhưng cũng hết vầng trăng soi sáng trên đầu…”

*

Mùa Hè năm 2007, từ Huế chúng tôi chuẩn bị ra thăm Hà Nội lần đầu. Trên ga Huế, chờ chuyến Tàu Đỏ xuyên Việt buổi chiều, nghe một người bạn chưa bao giờ gặp là anh Văn Thanh nói trong điện thoại: “Cậu hên quá! Mình phải gọi báo ngay cho cậu một tin vui. Hà Nội đang nắng gắt bỗng dưng hôm qua lại có gió mùa Đông Bắc. Bây giờ Hà Nội như mùa Thu.” Nhìn mái tóc trắng phau của thằng bạn cùng lớp thời sư phạm Huế giờ đã về hưu, vẫy tay trên sân ga khi tàu chuyển bánh, tôi mường tượng một hình ảnh mùa Thu tuổi đời, mùa Thu trong lòng người và mùa Thu cảm xúc thi ca. Tôi gần gũi với một Hà Nội băm sáu phố phường qua thơ văn nhiều hơn là sử sách. Nhẹ nhàng thì có nỗi nhớ u ẩn của Bà Huyện Thanh Quan. Hiện thực xã hội thì có nhóm Tự Lực Văn Đoàn và các nhà văn Tiền Chiến. Nhưng ấn tượng sâu về một Hà Nội đậm lửa và thơ với dư âm nhân sĩ Bắc Hà đã ghi dấu trong riêng tôi phải đợi đến những ngày lộng gió thi ca của Nhân Văn-Giai Phẩm.

Sau một đêm thức trắng, nói chuyện mưa nắng và kinh nghiệm du lịch đó đây với cặp vợ chồng người Anh cùng ở chung khoang tàu tới du lịch Việt Nam lần đầu, tôi không nghe mệt mỏi khi tàu tới bến ở ga Hàng Cỏ mà cảm thấy vui vui vì nghe người xứ khác nói những điều ưu ái về cảnh thiên nhiên tươi đẹp của đất nước mình.

Rời tàu, tới Cửa Bắc đợi chuyến đi “tua” thăm vịnh Hạ Long khi trời mới mờ mờ sáng, chúng tôi ăn tô phở Hà Nội đầu tiên nơi quán phở đầu hẻm. Tô phở nước trong, không rau, không giá, thoát lớp điểm trang bởi tiêu hành ớt tỏi. Tô phở nhỏ xíu so với tô phở xe lửa Bolsa ở Cali, thường to gấp ba, bốn lần. Quán hẻm vô danh nhưng phở lại thơm, ngọt và tươi tắn bất ngờ. Tôi cười một mình khi cô hàng phở, chìa tô phở đầu nước nhỏ nhắn cho khách, răn đe một cách dễ mến với giọng nữ Hà Nội dẻo mềm như luyến láy: “Các bác đừng ham của lớn Hà Nội. Nhỏ như cháu thế mới ngon!” Tự xét mình, tôi chẳng ham “của to” bao giờ, nên cũng tạm yên tâm.

Đêm đầu tiên, gặp người bạn Hà Nội đầu tiên là Văn Thanh. Anh là thư ký ban biên tập báo Tia Sáng. Mấy năm trước một người bạn văn cho biết, Tia Sáng là một tờ báo nhỏ nhưng được xem là có tiếng nói trung thực nhất của giới trí thức trong nước. Bởi vậy, tờ báo thường xuyên đứng giữa phong ba. Thỉnh thoảng tôi đóng góp bài vở trong mục “góc nhìn trí thức” cùng với các cây bút trong và ngoài nước. Đây là nơi quy tụ phần lớn là những tay bút tự trọng, can đảm, khéo léo nói lên quan điểm khai phóng của mình về chính trị, xã hội, khoa học, kỹ thuật và văn học nghệ thuật. Tôi không ngạc nhiên khi được tin Tia Sáng đã bị đóng cửa.

Hẹn gặp ở quán nước lộ thiên bên bờ hồ Hoàn Kiếm, hai chàng cùng lứa tuổi lục tuần nhâm nhi chai bia bên dĩa đậu phụng. Mới mỗi người một chai mà khí phách nam tử hán đã lâng lâng. Nắng vừa tắt, mặt hồ đã chờn vờn sương khói. Hỏi ý kiến riêng của Văn Thanh những gì mà anh thích nhất khi giới thiệu về Hà Nội, câu trả lời bất ngờ của anh làm tôi ngạc nhiên. Anh nói, điều anh thích nhất là màn sương mù buổi sớm và buổi chiều quanh hồ Hoàn Kiếm. Điều anh thích thứ hai là Hà Nội nhỏ; khi cần, bạn bè hú nhau một tiếng, cưỡi xe máy loanh quanh tìm nhau năm mười phút là gặp được nhau liền. Nếu anh nói là thích những gì mà báo chí và loa công cộng ra rả khen vùi thì có lẽ anh không phụ trách Tia Sáng và cũng chẳng đèo tôi trên xe gắn máy đến nhà Lê Đạt.
Mấy năm gần đây, tôi có được chút duyên văn nghệ với một trong những hảo hớn của Nhân Văn-Giai Phẩm, qua sinh hoạt cùng viết lách trên báo Tia Sáng. Anh là thi sĩ Lê Đạt. Khi chưa gặp, tôi hình dung nhà thơ Lê Đạt có một dáng người khắc khổ, một cung cách ngang tàng, một ngôn ngữ đầy bạo liệt như thơ của anh thời Nhân Văn-Giai Phẩm. Đến nơi, tôi gặp một ông cụ chưa già như tôi nghĩ, dáng vẻ phương phi đẹp lão và cười vui dễ dãi. Đó là nhà thơ Lê Đạt. Cả buổi tối, nói chuyện văn chương, nhắc lại chuyện làm báo đầy sóng gió một thời trong lịch sử văn học cận đại; những hương hoa và gai góc về tình bạn văn nghệ; cuối cùng tôi hỏi anh về một lời khuyên cho thế hệ văn bút đàn em. Anh nói: “Nên chơi với người tử tế!”

Chỉ đơn giản thế thôi sao? Tôi tự hỏi mình và đưa mắt ngầm hỏi người đối diện. Anh quàng vai tôi, cười hề hề và kể rằng, có một một người nữ phóng viên nổi tiếng (mà anh quên tên) gặp Henry Miller phỏng vấn. Miller chỉ trả lời đơn giản: “Cô đã gặp tôi rồi. Cô muốn viết gì thì viết.” Sau đó, đọc lại nội dung bài phỏng vấn, Miller phải kêu là ý nghĩ của cô phóng viên còn hay hơn là điều ông nghĩ được. Tiếc thay, tôi không có tài để “đối diện đàm tâm!” Nhưng sau khi gặp nhà thơ Lê Đạt, chẳng biết vì đâu tôi liên tưởng đến thiền sư Huyền Giác trong Chứng Đạo Ca (Bài ca của người đã được chứng đạo). Tư tưởng mà tôi cho là nổi bật nhất của Huyền Giác là thổi nâng ý nghĩa sâu thẳm của đời người bay bỗng nhẹ nhàng trong khái niệm về “chơi”: Sống chơi, tu chơi, làm thơ chơi và đến một ngày nào đó: Cũng “chết chơi” luôn! Phải chăng đó cũng là ý nghĩ “chơi với người tử tế” của Lê Đạt?! Thiền sư chứng đạo và thi sĩ thành danh có một điểm đứng và điểm nhìn tương tự là nhìn đời “như chính nó”. Có chăng hướng nhìn từ chân tâm rỗng lặng. Không dính mắc hay dính mà không mắc mới mong còn được một không gian nội tâm để thiền định và làm thơ.

Chiều hôm sau, anh Văn Thanh mời Lê và tôi đến quán chả cá Lã Vọng dùng bữa chiều với hai anh Lê Đạt và Nguyên Ngọc. Tuy cùng thế hệ, nhưng trong dòng văn học trải dài theo cuộc chiến dài 30 năm, nhà thơ Lê Đạt nổi tiếng trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm giữa thập niên 50 và nhà văn Nguyên Ngọc, được giới văn bút kính trọng với khuynh hướng phản kháng sự cột trói của nhà cầm quyền đối với nghệ sĩ và trí thức thời hiện tại.

Trong bữa ăn, nhìn quanh, thấy nhiều khách da trắng chẳng rõ là gốc Tây hay Mỹ, không chấm cuốn gỏi cá vào chén mắm nêm điệu nghệ như dân ta mà húp những chén mắm nêm đã pha ấy với vẻ mặt hân hoan đầy khoái trá. Tôi nắm hai tay mình lại. Mấy anh em đưa mắt dò hỏi. Tôi trả lời: “Cầu cho mắm ruốc đừng dính vào mấy chùm râu rậm rạp của những người bạn dễ thương ấy!” Suốt bữa ăn, các anh nhắc chuyện những tâm hồn ăn uống sành điệu đã đến quán nầy trong những thời điểm quá khác nhau của mảng lịch sử hơn trăm năm sau cùng của Hà Nội. Dĩ nhiên nhà văn Nguyễn Tuân vẫn đứng đầu sổ “vang bóng một thời” về nghệ thuật ăn uống. Khi nói đến các loại thịt cá làm gỏi chả ở Lã Vọng, người thì nói cá anh vũ, người nói cá lăng, cá nheo, cá ngạnh, cá quả… nhưng không ai quyết đoán được loại cá nào là ngon nhất. Anh Lê Đạt kết luận: “Cái này thì phải tìm hỏi Nguyễn Tuân mới được.” Tưởng nói chơi, thế mà năm sau, Lê Đạt đã bươn bả đi tìm Nguyễn Tuân thật, mang theo lời hứa đãi người anh em phương xa tô phở Bát Đàn.

Năm sau, chưa quên lời của nhà thơ Lê Đạt hứa đãi tô phở Bát Đàn cho biết miếng ngon Hà Nội, chúng tôi trở lại nơi nầy. Thực lòng, Lê và tôi chưa đủ lãng mạn… bạt mạng kiểu Hollywood để đi từ San Francisco về Hà Nội mất 17 giờ bay mà ăn một tô phở Bát Đàn. Nhưng nhân dịp về lo việc gia đình ở Huế, chúng tôi rủ nhau về Trúc Lâm Yên Tử. Khi vừa ra khỏi phi trường Nội Bài thì nghe tin nhà thơ Lê Đạt vừa mất. Chúng tôi lặng người trước cảnh vô thường và chẳng còn muốn gọi ai. Sớm từ giã Hà Nội, chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là đến giờ bay, tôi giục người lái taxi: “Anh cho chúng tôi đến quán phở Bát Đàn càng nhanh càng tốt. Vui lòng đợi cho chúng tôi ăn xong tô phở rồi chở ngay lên phi trường cho kịp giờ.”

Trước quán phở số 49 phố Bát Đàn, sau chuyến xếp hàng mồ hôi nhễ nhại, chúng tôi mới tới được bếp phở lửa nóng rần rật. Khi bưng tô phở Bát Đàn trên tay, mùi thơm lạ lùng mà thân quen bốc khói. Nhưng cảm giác thèm ăn lắng xuống khi nỗi nhớ về một người bạn quý vừa mất dâng lên.

Silverton, Đông 2009
© 2010 Trần Kiêm Đoàn
READ MORE - Trần Kiêm Đoàn - THƠ GIỮA ĐỜI

HOÀNG CÔNG DANH - XUÂN QUÊ




Lá ôm mùa than thở
Trăng nghiêng vai trở mình
Gánh hàng rong mẹ quẩy
Ra chợ đón mùa xuân.

Hạt mầm gieo đồng xanh

Son môi em hồng đỏ
Đường làng như kẻ chỉ
Nếp nhà xếp bánh chưng.

Cha nhâm nhát mứt gừng

Tháng năm còn cay đắng!
Trâu nằm im phơi nắng
Thương ôi kiếp nhà nông.

Cái kén kết tơ tằm

Giêng hai quây tròn nống
Áo quần ai xống xếnh
Cả làng đi chơi xuân.


2007

HCD
READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH - XUÂN QUÊ

Sunday, December 12, 2010

HỒ SĨ BÌNH: CÀ PHÊ - MỘT ĐỜI


Tạp bút

Đã có một văn hoá cà phê Việt, nghĩa là đã hình thành, lưu giữ những giá trị tinh thần và thói quen đặc trưng, từ quy trình sản xuất, chế biến cho đến phong cách nề nếp, thưởng thức cà phê trong đời sống người Việt, một xứ sở sản xuất Cà phê đứng vào hạng thứ hai trên thế giới chỉ sau Brasil. Và mỗi người, mỗi thời, mỗi thế hệ đều có những thói quen thưởng thức cà phê theo phong vị khác nhau. Dấu ấn của thời gian bao giờ cũng mang theo một không gian tâm cảm ở mỗi người để góp phần tạo nên giá trị chung của văn hoá trên con đường cà phê Việt.

Tôi là người nghiện uống cà phê mấy chục năm, từ cái thời còn học trung học cứ tính sơ sơ mỗi ngày một cử mà nhân lên thì không biết bao nhiêu mà tính. Mỗi giai đoạn trong đời người nghiệm ra có một nhu cầu và cái thú, cái cách thưởng thức cũng khác nhau. Thời còn trẻ nhiều khi cà phê như một liều thuốc kích thích hưng phấn cho đỡ buồn ngủ để học thi. Thời sinh viên thì cà phê như một không gian lãng mạn tình tự của trai gái hay cái kiểu nghĩ suy cà phê một mình, thích đếm từng giọt đắng ở cái tuổi còn mơ mộng đầy trời. Thời trước người ta thích uống cà phê phin chứ không như bây giờ, do cuộc sống hối hả, cuốn hút hơn với công việc nên nhiều người thích chọn lối pha sẵn, nhanh mà tiện lợi. Bởi thế mới có cái từ “nhâm nhi”,cũng do cái thú nhìn và đợi từng giọt rơi xuống đáy cốc thích dây dưa tâm tình, cũng như thích mùi thơm bốc ra từ cái phin.

Thời ở Huế trước năm 1975, bọn sinh viên chúng tôi vẫn thường tụ họp, túm tụm ở quán chị Giang sau lưng Tổng Hội sinh viên Huế. Nơi ấy có giàn hoa giấy cao lớn toả bóng mát cả một khoảng sân sau. Nhiều người đến ngồi đây thời gian còn nhiều hơn ngồi ở thư viện, giảng đường

Nhưng chính trong một không gian chật hẹp của giới trẻ thời đó, theo từng nhóm đặc biệt là nhóm văn khoa anh em được tiếp thu nhiều điều không có trong sách vở nhà trường mà chỉ có trên cái bàn vuông vức đủ mấy người ngồi với những câu chuyện văn chương nghệ thuật đầy hơi thở ngột ngạt cuộc sống của một đô thị vùng tạm chiếm. Thời đó, thỉnh thoảng tôi mò đến mấy nơi mà một số danh sĩ Huế thường có mặt như Trịnh Công Sơn, Ngô Kha, Đinh Cường, Lê Thành Nhơn, Lê Khắc Cầm, Bửu Ý..nào là quán cà phê Dung, quán trước Đại Nội trước trường Mỹ thuật, quán mệ Tôn, Lạc Sơn… Thời đó giới nhà giáo và văn nghệ sĩ là những người thích ngồi quán nhất. Những câu chuyện thời cuộc , văn chương sáng tác cả những chuyện trên trời dưới đất, mình đến cũng chỉ ngồi nghe lóm để học thêm một vài điều. Huế là vùng đất của cà phê nên cái thú ngồi quán là một thói quen không thể thiếu. Nhiều đêm mất ngủ, lang thang một chặp lại mò ra bến xe nơi vẫn còn hiu hắt, chập chờn suốt đêm mấy ngọn đèn hàng quán.

Thói quen ấy mang theo vào Đà Nẵng, những đêm mơ về sáng lại lọ mọ vào chợ Cồn ngồi cà phê Xướng nhìn xem chợ búa tinh mơ khởi động. Người ta nói đúng, muốn tìm hiểu văn hoá của một vùng đất, trước tiên cứ đến cái chợ. Ở chợ Cồn trước khi vào cà phê Xướng, bạn đã ngửi thấy mùi của hải sản được tập kết vào chợ khi mọi người chưa nhìn rõ mặt nhau, cái mùi tanh của tôm cá còn tươi ròng hơi hướng của trùng khơi chỉ có ở một thành phố biển. Lên Ban Mê thuột cũng thế, trời chưa sáng ngồi thu lu bên chợ nhìn những chiếc xe thồ chở đầy cây trái, đồ lơ ghim còn thơm mùi đất đai cây cỏ. Hình ảnh những người phụ nữ Ê Đê, Mơ Nông gùi măng rừng, chuối, bắp đứng túm tụm một góc chợ tạo nên nét hoang dã của núi rừng. Cái cảm giác đó được mang theo vào Sài Gòn, chao ôi ngồi ở ngã tư Bảy Hiền nhìn những chiếc xe ngựa thồ cuối năm mang theo những sản phẩm từ đất đai Nam bộ lọc cọc tiếng lạc ngựa trên đường về trung tâm thành phố.

Sau này vì nghề nghiệp hay xuôi ngược đây đó, cứ đến một nơi lạ, trời chưa sáng đã vùng dậy bay ra khỏi khách sạn tìm cho được một quán cóc để ngồi để cảm nhận cái cảm giác tinh khôi bàng bạc mơ hồ nơi thành phố lạ như một khám phá bước đầu. Bởi thế đôi khi khó chịu, nhất là ở các tỉnh ở miền Bắc (từ Quảng Bình trở ra) gần khách sạn ít khi có quán nào mở sớm, chỉ biết lang thang chờ người ta mở cửa.

Lên Đà Lạt, mê một bài thơ của Phạm Công Thiện mà phải đi bộ lên dốc đến cà phê Tùng và có lần đêm mưa nằng nặc với người bạn học Chính trị kinh doanh Đà Lạt vào cho được Lục Huyền Cầm của Lê Uyên và Phương. Ở xứ ngàn hoa, trong sương lạnh những ông già ăn bận theo kiểu công chức thời thuộc địa còn sót lại , mũ phớt với áo blouson, áo vest mang dày láng ngồi yên lặng ở một góc quán, ta như gặp lại ký ức của một thời xưa cũ. Lần đầu vào Sài Gòn cũng mon men tìm đến La Pagode, Brodard, Givral chiêm ngưỡng mấy nhà văn học đòi các nhà văn Pháp như Jean Paul Sartre, Andre Gide.. ngồi viết tiểu thuyết ở cafeteria; hay lên cà phê Nắng Mới ở dốc cầu Trương Minh Giảng, nơi ngồi đồng của sinh viên Vạn Hạnh cùng các thi sĩ trẻ mới nổi ở Sài Gòn quần cư tụ hội. Mới đây lên Blao cũng bắt đứa bạn cùng khoá ở Huế đưa đến nơi mà ngày xưa Trịnh Công Sơn ngồi ở quán ông già Tây nhìn đàn bò vào thành phố. Bạn cười mày là thằng lãng mạn lỡ thời, bây giờ còn đâu, thôi đi nhậu đi…

Từng dạy học ở Tây nguyên những năm đầu mới Giải phóng. Nói nghe buồn cười, vương quốc, thủ phủ của cà phê mà quán xá lại ít, mấy cửa hàng quốc doanh thì bán gì gì toàn đậu xanh bắp rang pha tạp chẳng có mùi vị gì cả. Thời bao cấp, cà phê được gọi là vàng đen là hàng quốc cấm dành để xuất khẩu . Nhưng đúng vào thời điểm khó khăn đó tôi lại được uống những tách cà phê ngon nhất trong đời. Lúc ở Buôn Hồ, vào mấy nhà phụ huynh có rẫy cà phê, từng làm việc với mấy chủ đồn điền Pháp thời trước chiêu đãi. Ly cà phê được pha chế một cách nhà nghề thơm phưng phức. Hương đậm đà lan toả cả không gian đủ làm thức dậy những nỗi niềm. Cà phê cũng như trà đạo, có những người sành điệu thưởng thức cà phê như một cái đạo. Quy trình pha chế công phu đến từng công đoạn. Cà phê hạt phải thuộc loại nhất ( loại chín đỏ đều khi hái), đem rang trên một cái chảo nhỏ, mỗi khi chỉ một nhúm, lửa phải đỏ rực, tay phải trộn đều cho đến khi 2 cổ tay nóng bỏng mới thôi. Phải biết canh lửa thật kỹ. Khi cà phê chín toả mùi hương mới đổ bơ và một ít rượu chát khuâý đều. Hạ chảo xuống đổ ngay vào một tấm vải hoặc giấy báo ủ lại, theo kiểu ém mùi thơm. Muốn cà phê ngon thì chỉ khi nào uống mới đem xay rồi mới pha chế. Chén, tách phải là đồ gốm sứ, sau khi bỏ cà phê vào phin tráng qua một chút nước sôi cho đủ ngấm, lúc đó mới chế nước sôi vào, chế đầy mặp phin để giữ độ nóng vì thế chỉ cần lượng cà phê lọc ra vừa đủ là uống. Dân ghiền coi cái thứ vàng đen là đạo rồi thì họ còn muốn nghe cái ẩm thanh nhỏ giọt lóc bóc trong tách, thi thoảng mở nắp phin để nghe dậy ngát lên mùi thơm. Nghe nói cà phê trước Bưu điện Huế, người ta còn trộn xay thêm xác cau cho đậm đà, một số nơi khác người ta trộn thêm vơ ni cho thơm, có nơi lại trộn thêm nước mắm nhĩ để tăng mùi, hay muối, đậu xanh để cho ra những hương vị khác nhau. Nhưng những ai đã coi là đạo rồi thì cà phê nhất định phải thuần hương vị tự nhiên nên họ không chịu nổi. Lần đầu nếm cà phê chồn mới biết con chồn là loại siêu hạng, sành điệu hơn mọi thứ sành điệu. Đơn giản là mùa cà phê chín, chồn tinh ranh leo lên cây và chọn những quả chín nhất, ngọt nhất để ăn rồi tiêu hoá thành một sản phẩm hảo hạng mà thôi. Nhiều buổi sáng mờ sương ở Tây nguyên, ngồi trên chòi nhìn xuống đồi cà phê, cứ theo dõi mấy con chồn chạy nhảy trên cành cây tức thì sau đó chạy xuống tìm dưới gốc cây là có cà phê chồn. Những lần về xuôi trong ba lô luôn có những món quà đặc sản này để mời với bạn bè. Sau này khi cà phê trở thành đại trà, chế biến theo kiểu hàng loạt, đến quán chỉ như một thói quen, thèm một không gian quen, một chỗ ngồi thân thuộc. Có người bạn, mấy chục năm chỉ quen một chỗ ngồi ở quán cóc đầu ngõ, không chịu di dời đi một chỗ nào khác. Thế mà định cư ở nước ngoài, lạ ghê có bao điều để nhớ lại thắc thỏm bồi hồi về cái chỗ ngồi thường nhật ấy.

Đã thành thường lệ, chiều 30 cuối năm, sau khi sắp xếp xong công việc chuẩn bị Tết nhất trong nhà , một mình kiếm góc cà phê nhâm nhi nghĩ ngợi mông lung, chuyện được mất của một năm. Có khi trống vắng quá, chạy ra bến xe ngồi uống cà phê nhìn người ta nôn nao hối hả lên xe về quê rồi bỗng dưng như Đỗ Trung Quân lại bùi ngùi phản tỉnh mình quê quán đâu mà trở về…

Cà phê Việt Nam chủ yếu có 2 loại chính : Abubica và Robusta. Thổ nhưỡng, khí hậu của Buôn Mê Thuột phù hợp để gieo tròng giống thứ hai này.Và cà phê Buôn Mê Thuột chiếm tới 90 % tổng sản lượng của cả nước. Ngay nay vì phát triển thương hiệu cà phê Việt phù hợp với cuộc sống hiện đại và xuất khẩu nhiều công ty sản xuất cho ra nhiều thứ cà phê uống nhanh, đóng lon chế sẵn. Dù chưa dễ để hội nhập thi thoảng tôi vẫn dùng loại cà phê pha sẵn này, uống từ một mặc cảm bởi từ trước đến giờ thứ vàng đen của xứ sở đã bị những doanh nghiệp nước ngoài xây dựng thương hiệu và kiếm lời bằng thứ nguyên liệu từ công sức lao động của người Việt. Uống, trong nỗi tự hào vì ngày nay trên con đường cà phê Việt, chúng ta đã thực sự xây dựng một thương hiệu mạnh dựng dậy quyết tâm ‘cái gì của Caesar hãy trả lại cho Caesar’ nhưng đôi khi trong vị giác vẫn còn quyến luyến bồi hồi cái không gian tâm cảm từ một hương vị thuần khiết, đậm đà đặc quẹo của cà phê Việt một thời đầy sương khói.


HSB

READ MORE - HỒ SĨ BÌNH: CÀ PHÊ - MỘT ĐỜI

CA SĨ ANH THƯ



Ca sĩ Nguyễn Hoàng Anh Thư

CHỈ CÒN NỤ HÔN NHẠT NHÒA
Nhạc và lời: NGUYỄN AN
Biểu diễn: ANH THƯ


Sinh ngày 26/7
Là ái nữ của nhạc sĩ Nguyễn An
Quê quán: Quảng Trị
Dòng nhạc sở trường: Nhạc Nhẹ

Anh Thư tham gia ngành ca hát từ năm 13 tuổi tại Nhà Thiếu Nhi Q1, là thành viên trong đội Sơn Ca Nhà Thiếu Nhi Q1, Nhóm Tuổi Hồng Đài Truyền Hình TpHCM, đã tốt nghiệp trung cấp thanh nhạc Nhạc Viện TpHCM

Hiện tại đang lưu diễn tại các phòng trà ca nhạc trong TP, các tụ điểm sân khấu...

Anh Thư hát được các thể loại, chuyên về nhạc Trẻ, thể hiện dòng nhạc nhẹ có hồn, và nhạc truyền thống.
Một điểm nổi bật ở Anh Thư mà các nhạc sĩ rất thích là vấn đề nhạy cảm trong âm nhạc, Anh Thư có thể nhìn văn bản để tự xướng âm, cũng có thể tự soạn và hát bè, tiếp thu giai điệu rất nhanh và hát rất chuẩn.
Liên lạc: Email: a_thusinger@yahoo.com
READ MORE - CA SĨ ANH THƯ

Saturday, December 11, 2010

LÊ QUANG THÁI – ÁI TỬ QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

Chùa Sắc Tứ

Địa danh Ái Tử đã được ghi vào chính sử cho đến nay đã được 577 năm, đánh dấu một cái mốc lịch sử quan trọng trong đấu tranh của người dân từ các tỉnh phía Bắc, kể từ đèo Ngang trở ra, đến đây theo từng triều đại để dựng tỉnh lập nước sau đám cưới của Huyền Trân công chúa năm Bính Ngọ (1306).

Sử chép rằng, năm Mậu Ngọ 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hoá đóng tại gò Phù Sa, xã Ái Tử thuộc huyện Đăng Xương (đời Lê là Võ Xương) tức huyện Triệu Phong ngày nay. Sau đó người bình dân bản địa quen gọi là Ái Tử bằng cái tên sâu lắng tình quê hương là KHO CÂY KHẾ (1).

Năm Giáp Tý, 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng hiệu là Võ Xương, chia xứ Đằng Trong ra làm 12 dinh, Ái Tử trở thành Cựu Dinh và Phú Xuân trở thành Chính Dinh. Địa danh Ái Tử nghiễm nhiên được nâng cấp và gắn liền với tên gọi mới là Dinh Cát, thủ phủ của một đơn vị hành chính thời phong kiến ngang hàng với Phú Xuân. Chắc rằng thời kỳ này là thời hưng dậy, đắt giá của Ái Tử. Dinh Cát mang tên mới Phủ TOÀN THẮNG khi đã dời sang địa điểm ở làng Trà Bát. Nhiều giai thoại mang tính huyền sử đã gắn liền với tên gọi mới này. Biên cương của tổ quốc dưới thời các chúa Nguyễn dần dần đến Cà Mau dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Đất cũ đãi người mới. Tình đất ở đó mà nói theo cách dân giã là Ái Tử có ngạch đất tốt: trung dũng, hiếu học, tảo tần, tu hành,...

Theo sử gia Trần Trọng Kim, năm Canh Ngọ 1570, Thuỵ Quận Công là Nguyễn Phúc Nguyên con trai thứ 6 của Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng dời dinh sở về đóng ở làng Trà Bát, phía đông giáp hai làng Đâu Kinh (nay là Đâu Kênh) và Hoa La (sau đổi thành Bích La). Trà Bát được đổi thành Trà Liên vì kỵ huý, ở đây còn di tích của Phủ cũ TOÀN THẮNG uy nghi một thời gắn liền quyền uy của phủ chúa với những truyền thuyết mang tính chất sử thi. Nhờ nữ thần hoặc nhân dân giúp kế mà chúa Nguyễn đánh tan quân Trịnh. Thời kỳ này các chúa Nguyễn đã dùng chiến thuật tình báo để chống lại đối phương vốn không được lòng dân.

Ngày nay, con cháu của các vị tổ khai canh của các họ Trịnh, họ Bùi vẫn sinh sống, con cháu sây cành sum sê mặc dù cho bom đạn đã trút xuống và những điều kiện khó khăn xã hội bức bách người dân phải tìm đường đi khắp mọi miền đất nước để lập cơ nghiệp mới. Những vị tổ đầu tiên này là những người góc ở Tống Sơn, Thanh Hoá; Nghệ Tĩnh và các tỉnh ở Bắc Hà theo cùng với quân sĩ của Nguyễn Hoàng từ buổi đầu xuôi buồm thuận gió về Nam.

Về cuối đời của chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Thuần con thứ 16 của Võ Vương mới 12 tuổi lên kế vị, quốc phó Trương Phúc Loan chuyên quyền, lộng hành làm bậy, lòng tham vô đáy cố vơ vét cho đầy túi. Gieo gió gặp bão, tháng 9 năm Giáp Ngọ, 1774, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 34, Trịnh Sâm cử nội thần là Quốc Lão Việp quận công Hoàng Đình Việp tức Hoàng Ngũ Phúc làm Thượng tướng kéo ba vạn tinh binh tiến đánh miền Nam (2).

Trước bức thế của quân Nam triều bàn nhau bắt quốc phó gian ác đóng cũi đưa lên xe, giải đến nơi đóng quân của Hoàng Ngũ Phúc ở Quảng Bình dâng nộp. Quân Trịnh thừa thắng tiến vào đất Thuận Châu một cách dễ dàng, Hoàng Ngũ Phúc đóng quân ở Võ Xá truyền hịch đi khắp miền vào tận Phú Xuân. Lúc đại binh chuyển vào đóng ở đất Ái Tử, có một thầy đồ già, người huyện Đăng Xương tên là Trần Duy Thông đón đường rước quân và dâng thơ rằng:

Cùng truyền đống trập oanh lôi dạ

Mãn địa khô miêu đắc võ thì

Nguyện chỉ Phú Xuân thôi tiến phạt

Binh cơ quý tộc bất nghi trì


Dịch:

Sâu co gặp sấm vừa vang tiếng

Lúa héo chờ mưa đã được thì

Xin thẳng Phú Xuân mà tiến tới

Việc binh nên chóng chớ nên trì (3)

Bản lĩnh chơn chất, tính nết thuần lương của người dân Thuận Châu được bộc lộ rõ nét qua thần khí của tứ thơ. Có thể xem vị đồ già thức thời, vì dân mà đóng đúng vai trò của kẻ sĩ, mạnh dạn đứng lên nói hết thảy tâm tư nguyện vọng chính đáng của người dân đã quá chịu đựng áp bức bấy giờ:

“Quân Nguyễn không quen đánh bộ, chỉ thuỷ quân là giỏi. Đại quân ở xa tới xin đừng tranh ở chỗ sở trường của họ” (4)

Trước thái độ chính trực, căm ghét bạo tàn của vị đồ già, Thượng tướng Hoàng Ngũ Phú đáp lễ bằng cách xin giữ thầy lại ở trong quân ngũ và sau cùng là làm chức Câu kê.

Lê Quí Đôn, chứng nhân thời cuộc một thời, lúc giữ chức Tham hiệp trấn quân cơ trấn Thuận Hoá, bên gác Triêu Dương cạnh bờ sông Hương ở xã Kim Long, đã ghi lại dấu tích còn lại của Ái Tử sau 218 năm ngày Nguyễn Hoàng chon cuộc đất Ái Tử làm điểm dừng chân tiến về Nam:

“Dinh Cát ở đầu núi xã Phúc Toàn do Thuỵ quận công lập ra. Trấn dinh cũ của họ Nguyễn ở phía tây sông Ái Tử, từ dinh mới ra đường cái, sang cầu Ái Tử đi về tay trái nữa khắc là đến nới, nhà quân lính vẫn còn, tức là chỗ dinh của Đoàn quốc công Nguyễn Hoàng khi mới vào trấn. Phía đông sông ấy là hai xã Đâu Kinh và Hoa La...” (5)

Từ giữa thế kỷ 16 trở đi, Ái Tử bắt đầu đi vào thời kỳ xây dựng dinh phủ, các chúa Nguyễn đặt quan chức cai trị theo cơ cấu hành chính riêng biệt khác hẳn với nền hành chính ở phía bắc đèo Ngang.

Nền hành chính đương thời là nên hành chính của một xã hội văn hoá nông nghiệp, quyền lực tập trung về một mối nhưng biên chế dân sự không nặng nề:

“Đoàn quốc công đóng ở Dinh Cát, sau sai quan đóng giữ gọi là Dinh cũ, ở xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, chỉ có một lệnh sử, Câu kê, Cai hợp một chức một người, Thủ hợp một người, Lại viên 20 người, giữ viện từ tụng văn án, sổ hộ khẩu và binh suất do một viên Ký lục và viên Thư ký đứng đầu; lại thu tô ruộng hai huyện Hải Lăng, Đăng Xương, xét hỏi việc từ tụng của quân dân” (5)

Thuở ấy ngoài chuyện lo chăm chút công việc đồng áng, chăn nuôi, người dân xã Ái Tử đã biết nấu được đường trắng và đường đen. Công nghiệp bước đầu gắn liền việc trồng mía để lấy mật đường chi dùng và nước đường để trộn với hồ xây dựng thành trì, kho tàng, dinh thự. Các làng bên cạnh bờ sông Thạch Hãn là Xuân Yên, Trung Kiên có lò vô hàu; An Đôn, Thượng Phước cung cấp gỗ từ thượng nguồn sông Thạch Hãn đổ về.

Trên đồi thoai thoải ở phía tây bắc giáp Nại-Cửu thường thuận lợi cho việc chăn nuôi bò. Và bò bê Ái Tử đã nổi tiếng một thời, lai buôn từ phương xa đến bán buôn, trao đổi, chon giống.

Đầu niên hiệu Gia Long, vua đổi Cửu dinh thành dinh (doanh) Quảng Trị và lại chọn đất phường Tiền Kiên (so với thời điểm bấy giờ là một làng mới) để xây dựng thành trì. Năm Gia Long thứ 18, 1809 mới dời tỉnh lỵ về địa điểm mới ở làng Thạch Hãn, huyện Hải Lăng.

Ái Tử trở thành tổng kho chứa lương thực dự trữ. Mục lục châu bản triều Nguyễn còn ghi rõ ràng của kho Ái Tử qua một bản lệnh truyền thời Gia Long , ngày 20 tháng giêng năm thứ 4,1805:

“Công đồng truyền=dinh Quảng Trị đặng rõ: Kho Ái Tử có 5 toà, cộng 126 gian bỏ trống, đổ đầy lúa hết 88 gian, chỉ con 38 gian bỏ trống, nay nên làm thêm hai toà công khố, mỗi toà 22 gian để tiện trữ lúa năm nay” (7)

Ái Tử là trung tâm của dinh Quảng Trị, nơi thuận lợi cho việc tập trung lúa là tổng kho dự trữ. Việc vận chuyển lương thực, hàng hoá về tổng kho theo đường bộ và đường sông khá tiện lợi - bổi lẽ Ái Tử nằm trên đường thiên lý.

Ngày nay trên dãi đất trải dài dọc bờ bắc sông Thạch Hãn vẫn còn những kỳ tích do bàn tay của các nghệ nhân và công sức đóng góp lớn lao của dân chúng vì lòng ngưỡng mộ đạo lý và nghĩa khí của tiền nhân.

Thuở mới vào lập nên xứ Đằng Trong, các chúa Nguyễn đã cho dựng chùa Tịnh Quang ở đất Ái Tử và sau đó chẳng bao lâu được phong là SẮC TỨ TỊNH QUANG TỰ mà ngày nay biển gạch vẫn còn nét vàng son. Dân gian quanh vùng và cả tỉnh quen gọi là chùa SẮC TỨ ( có nghĩa là chùa được vua ban sắc dụ làm Quốc Tự).

Cũng liền theo dãi đất toạ nên cơ cuộc vuông tròn buổi đầu này, chúa Nguyễn cho dựng Văn miếu ở làng An Đôn, năm Gia Long thứ 13,1814 dời đến xã Thạch Hãn, huyện Hải Lăng, năm Minh Mạng thứ 21,1840, lại dời về chốn cũ (8)

Lại có đền thờ thần TRẢO TRẢO LINH THU PHỔ TRẠCH TƯỚNG HỰU PHU NHÂN ( trảo trảo là tiếng nước xao dòng sông). Cứ theo sự tích thì buổi đầu Đoan quận công đến trấn giữ Ái Tử, tướng nhà Mạc là Lập Bảo đem quân đánh đuổi. Năm 1572 Nguyễn Hòang đóng quân trên bờ sông Ái Tử, ban đêm ở dưới sông có tiếng nước động nghe “TRẢO TRẢO”. Đêm ấy Đoan quốc công mộng thấy một người đàn bà đẹp xin định “mỹ kế”. Khi thức giấc, nhớ lời thần bảo lấy “mỹ kế” thì phải chăng khiến dùng mỹ nhân kế để đánh lại. Tức thì có lệnh khiến nàng hầu là Ngô thị qua dụ Lập Bảo mời sang bàn luận giảng hoà. Lập Bảo vốn hiếu sắc thấy nàng có sắc đẹp liền mê say nhận lời nên bị phục binh dàn sẵn giết chết (9)

Hơn 200 năm sau sông nước Ái Tử vọng nghe tiếng dậy sấm: Tháng 5 năm Bính Ngọ niên hiệu Cảnh Hưng 47 (1786), Nguyễn Huệ đánh chếm Phú Xuân, các tướng sĩ đóng ở các đồn Cát Doanh (Ái Tử) và Động Hải (Đồng Hới) điều khiếp sợ và tan rã hàng ngũ.

Đến năm Thiệu Trị thứ 2,1842 vua ngự giá Bắc thành đã đi qua sông Ái Tử có đề thơ, sau này được chạm vào bia đá dựng ở phía tả bờ sông. Tháp tùng đoàn hộ giá, vua Thiệu Trị có cử hai con trai (con thứ 10 và 12 của vua Minh Mạng) là hai nhà thơ lớn Tùng Thiện Vương, Tương An quận vương (quê ngoại huyện Gio Linh, con bà Hồ An Tân) đều đươc sung chức Ngự tiền hộ giá (10)

Đối với lịch sử đạo Công giáo thì Dinh Cát là hạt Dinh Cát Cựu dinh Ái Tử tức tỉnh Quảng Trị sau này, các Linh mục giòng Tên đã đến truyền giáo khoảng đầu thế kỷ 17. Trụ sở hạt Dinh Cát ở gần dinh Ái Tử và Trà Bát. Tháng 12 năm 1689, linh mục Cô sơn cô Lân được chính thức cử làm cha sở hạt này. Trước đó 5 năm, ngày 7-2-1694, Linh mục Lân đã trình với Thánh bộ truyền giáo rằng: “Họ Nhu Lý, xứ Dinh Cát có 50 người Công giáo” (11)

Chỉ riêng Họ Nhu Lý (gần Cửa Việt có 50 dân giáo, không rõ toàn hạt Dinh Cát có bao nhiêu tín đồ Công giáo. Gần Dinh Cát có trụ sở của giáo xứ Đồng Giám. Có thể xem Dinh Cát là trung tâm Công giáo đầu tiên trên đất Quảng Trị.

Cạnh xã Ái Tử về phía thị xã Quảng Trị là làng Nhan Biều có một bãi cát trải dài và rộng lan ra tận bờ sông. Dưới thời nhà Nguyễn, Nhan Biểu là bãi chém, chỗ hành hình tội nhân. Trông qua bờ Nam sông Thạch Hãn là bến Hộ, bến Vườn Hoa thuộc xã Thạch Hãn, đò Nhan Biều sớm hôm đưa khách sang sông đi chợ thị xã Quảng Trị.

Bên cạnh làng Ái Tử là làng Phước Toàn, sau đổi thành Phước Mỹ. Có thuyết nói rằng vì sau giấc mộng được giang thần sông Ái Tử mách kế diệt được tướng nhà Mạc là Lập Bảo nên Phước Toàn được đổi thành Phước Mỹ. Ngày nay vẫn còn duy trì bến đò An Mô đưa dân miệt đồng bằng phủ Triệu sang sông Thạch Hãn để thâu ngắn đường đi Ái Tử, Đông Hà.

Năm Thành Thái thứ 18, 1906 vẫn còn bến đò Ái Tử: tả ngạn là làng Ái Tử, Hữu ngạn là làng Phước Mỹ. Đường xe lửa chạy qua địa phận làng song song với đường bộ quốc lộ I, cầu sắt Ái Tử có trước năm 1906 dài 41 thước 20 thông qua làng Hà Xá tiến ra ga Đông Hà.

Đông Hà - Quảng Trị, hai thị xã, hai tỉnh lỵ, mới và cũ cách nhau chưa đầy 12 cây số nằm trên quốc lộ I. Ái Tử chưa nằm hẳn ở vị trí trung tâm của hai tỉnh lỵ cũ và mới, mà lại nằm chếch hướng và thị xã Quảng Trị, từ trên máy bay trông xuống, Ái Tử và thị xã Quảng Trị chỉ cách nhau một giòng sông, vốn là thủ phủ đầu tiên của xứ Đằng Trong.

Quốc lộ I ngày nay có tiền thân là Thiên lý lộ đời Trần đã vạch đôi làng Ái Tử thành hai phần mất cân đối, phía Đông Nam là cả một bãi cát trải dài ra đến tận bờ sông Thạch Hãn, phía Tây Bắc là khu dân cư ăn thông với triền đồi thoai thoải giáp Nại Cửu phường.

Ái Tử, Đông Hà xưa kia đều là làng xã cả, kéo dài từ phía bên kia bờ Bắc sông Thạch hãn cho đến địa giới giáp ranh với các huyện Cam Lộ, Gio linh thuộc tổng An Đôn nổi tiếng là xứ có núi rú: Rú An Đôn, cồn Bái Thượng. Sau này qua bao biến đổi, xã Đông Hà được tách ra nhập vào huyện Cam Lộ và từ đó cơ ngơi đi lên dần dần. Và trong khoảng 50 năm trở lại, Đông Hà trở thành một đơn vị hành chính nhảy vọt khá nhanh. Từ làng xã lên thị trấn, lên quận, lên thị xã, lên tỉnh lỵ. Đất Đông Hà có cánh đi lên như diều gặp gió nhưng tiếc thay là còn thiếu sân bay theo đúng nghĩa của nó.

Dưới tiêu đề TUẦN LỄ DÀI NHẤT CỦA SƯ ĐOÀN TRỪNG GIỚI, Lê Hiếu Ánh trong báo Tuổi trẻ chủ nhật số 1690 ra ngày 29-4-1990 viêt:

“Năm 1971...Theo lệnh Bộ Quốc phòng, quân đoàn 1 gấp rút hình thành Sư đoàn 3 Bộ binh với thành phần chắp vá. Riêng binh lính đại đa số là lao công đào binh và quân phạm hoặc thuộc thành phần vô kỷ luật. Tất cả được đưa về Ái Tử để sớm thành sư đoàn cuối cùng của quân đội Sài Gòn”.

Cũng trong năm đó, một số binh sĩ trung đoàn 56 (đầu hàng ở cụm căn cứ Tân Lâm) do Trung tá Phạm Văn Đính làm Trung đoàn trưởng đã đào hầm phía sau chùa Ái Tử, gặp hầm chôn xác một con voi. Theo tìm hiểu sơ bộ cho biết xác con voi này được chôn thừ thời chiến tranh Trịnh Nguyễn (1627-1672). Và về sau trung đoàn này lấy quân hiệu VOI TRẮNG.

Từ tháng 3-1972 Ái Tử - Quảng Trị đã sớm được giải phóng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười phụ trách xây dựng đã đến thăm nhân dân Quảng Trị.

Thời đó và tiếp tụ sau này người ta đã “làm thịt” sân bay, căn cứ Ái Tử, phân tán đi bốn phương tám nẻo; chủ thể làm thịt là dân có, bộ đội có, cơ quan nhà nước cũng tham dự chia phần. Nguyễn Quận, người Hải Lăng dưới triều Lê Thánh Tôn vào đánh Chiêm Thành chỉ lấy một cây cờ lớn. Mấy ai nghĩ tới gương sáng của cố nhân lúc chia phần này.

Đau lòng vì thấy những phi đạo có giá trị bị phá, đồng chí Đỗ Mười đã phê phán, đại thể nói rằng: có lẽ các đồng chí và nhân dân cứ đinh đinh rằng không bao giờ ta sử dụng sân bay trên đất Quảng Trị này.

Vâng, ngày nay Quảng Trị đang ở thời kỳ xây dựng tập trung cao điểm, không biết các cấp lãnh đạo có hướng đầu tư lâu dài thiết thực để cho Quảng Trị mang tính cách chiến lược, lịch sử, kinh tế và văn hoá chưa. Lẽ nào bước vào năm 1990 (đã hết quý II) nói chuyện năm du lịch mà không đặt vấn đề cho rõ là QUẢNG TRỊ CẦN CÓ PHI TRƯỜNG (dù là nhỏ đi nữa) một khi công nghiệp du lịch của tỉnh Quảng Trị có thể tạo ra tiền của để xây dựng tỉnh to đẹp hơn, đàng hoàng hơn.

Lẽ nào cứ để vùng đất này thanh bãi cát để “cuốn theo chiều gió.”.

L.Q.T

Nguồn: Tạp chí Cửa Việt.

___________

(1) Trần Trọng Kim, Việt Nam sủ lược, Sài Gòn, Tân Việt (in lần 6) 1958, trang 288.

(2) Bùi Dương Lịch, Lê quí dật sử, Phạm Văn Thắm dịch, nxb KHXH – Hà Nội 1978, trang 28.

(3),(4) Lê Quí Đôn, phủ biên tạp lục nxb KHXH, Hà Nội, 1977, trang 313.

(5) Lê Quí Đôn,sđd, trang 109.

(6) Lê Quí Đôn,sđd, trang 145

(7) Mục lục châu bản triều Nguyễn, tập thứ I, Triều Gia Long, UB phiên dịch sủ liệu viện Đại học Huế, 1960, trang3. Cộng đồng triền là các đạo mệnh lệnh hành chính truyền đi.

(8) Đại Nam nhất thông chí, tỉnh Quảng Trị, tập số 9, Nguyễn Tạo dịnh, Sài Gòn, 1961, trang 49.

(9) Xem Trần Trọng Kim, Sđd tr.288 và Đại Nam nhất thống chí, Sđd tr.49,50. Về sau Nguyễn Hoàng được tôn trọng là Thái Tổ nên mới gọi là vua.

(10) Hoàng Trọng Thược, Hương Bình thi phẩm, Đà Nẵng, 1962 tr.9 và 41.

(11) Nguyễn Văn Ngọc, Lịch sử giáo xứ Như Lý, Huế, 1970, tr.6.

READ MORE - LÊ QUANG THÁI – ÁI TỬ QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ