Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, May 15, 2010

HỌA SĨ LÊ BÁ ĐẢNG







































































































Lê Bá Đảng sinh ngày 26 tháng 7 năm 1921 tại làng Bích La Đông, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sang Pháp năm 1939, đã tham gia vào những đội quân chống phát xít của nước Pháp, bị Đức quốc xã bắt làm tù binh. Học tại Học viện Nghệ thuật Toulouse và trở thành một hoạ sĩ nổi tiếng ở châu Âu. Triển lãm đầu tiên ra mắt tại Paris năm 1950. Năm 1989 nhận giải thưởng "Nghệ sĩ có tài năng lớn và tư tưởng nhân đạo" của Việt Quốc tế Saint-Louis của Mỹ; Năm 1992 được Trung tâm tiểu sử quốc tế thuộc Đại học Tổng hợp Cambridge của Anh đưa vào danh mục những người có tên tuổi của thế giới; năm 1994 được Nhà nước Pháp tặng "Huân chương Văn hóa nghệ thuật Pháp". Được giới nghệ thuật đánh giá là bậc thầy của hai thế giới Đông - Tây.

Năm 2005, Hoạ sĩ được nhận huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước và nhận danh hiệu Vinh danh nước Việt do báo điện tử Vietnam Net phối hợp với UBMTTQ Việt Nam trao tặng.

Năm 2006, hoạ sĩ cùng với UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế xây dựng Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng tại 15 Lê Lợi, Thành phố Huế.

Nguồn: vi.wikipedia.org
Sóng từ trường
Không gian Lê Bá Ðảng

Tác giả: Thụy Khuê

Ý niệm về không gian không mới. Ý muốn biểu dương không gian, cũng không lạ. Nhưng ý thức được tính cách tương đối của sự vật trong vũ trụ, trong không gian, thì hình như chỉ Trang Chu mới thật sự đặt vấn đề. Nào chim bằng, cá côn, nào ao trời, gió lốc... Trang Chu "tạo hình" cho ta thấy cái vô cùng của tạo vật và cái lẽ tương đối ở đời.
Hội họa Tây phương, giàu kỹ thuật, nhiều tiến bộ. Nhưng thiên về biểu dương hiện thực, vẽ những gì thấy được, nắm bắt được, những "hiện thực cụ thể" (kể cả khi phá thể như lập thể, trừu tượng), dường như hội họa Tây phương chưa thật tình thám hiểm thế giới siêu hình, tâm linh, vần vũ về lẽ sống, chết, lý tương đối ở đời.

Hội họa phương Ðông nghiêng về Ðạo, về triết lý sống, nhưng lại chưa tìm ra những phương pháp tân kỳ để diễn tả một cách đa nguyên, đa dạng.
Hiếm hoi là những nghệ sĩ nhuần nhuyễn kỹ thuật phương Tây và triết lý phương Ðông, để có thể tạo một con đường nghệ thuật phức âm, đa nghĩa, rọi ánh sáng và chiếu nhiều góc độ vào những trăn trở của con người về cõi sống, cõi chết, cõi biết, cõi không, về hư vô và cực lạc, về cái Ðạo của con người, ở chỗ Tâm và Vật không còn giới hạn phân chia.
Một vài họa sĩ gốc Á Ðông, thấm nhuần cái học phương Tây, dường như đã tìm được con đường tiến đến sự hòa đồng Tâm-Vật, Âm-Dương, Hữu Hạn-Vô Hạn. Lê Bá Ðảng là một.


*

Trong hành trình sáng tác, ông đã đi từ con mèo, con ngựa, con trâu đến... con người, và ở mỗi "con", ông đều cố gắng đào sâu đến nguồn ngọn, cỗi rễ của chúng. Ông biết rõ tâm can của chúng đến độ có thể chế tạo những "đầu-trâu-tâm-phật", "hình người-dạ thú", "khẩu phật-tâm xà"... Qua hơn nửa thế kỷ sống với nghệ thuật tạo hình, ông đã thuộc lòng cái thế giới "nhân vật cầm thú" mà ông tạo ra, ông cũng lại quá quen với khoảng không gian tầm thường của cái học hàn lâm, với lối nhìn "viễn cận" chưa hề thay đổi từ hơn 20 thế kỷ. Lê Bá Ðảng muốn tìm kiếm, muốn thám hiểm cõi sống chết của con người, ngoài hội họa.
Không gian Lê Bá Ðảng là sự phản kháng những không gian ba chiều đã bước vào tuổi hoàng hôn, là sự chống lại quan niệm lỗi thời của hội họa trường ốc, biểu dương lối nhìn một chiều: Vẽ những gì thấy trước mắt. Nghệ nhân có thể hồi khứ, ngoái lại dĩ vãng, nhưng vẫn phải moi ký ức ra khỏi óc, để nó lên bàn, trước mặt, mà vẽ.
Hội họa lập thể mở rộng hơn: Ðối tượng vẽ, không im lìm, không "chết", nó có quyền chuyển động. Hội họa lập thể mở thêm chiều thứ tư: Chiều chuyển động cho tác phẩm.
Hội họa trừu tượng phá thể để ngòi bút tự do phân tích đối tượng, xé nát đối tượng, tiêu tùng hình thái. Mỗi nghệ sĩ tạo một lối vẽ, lối nhìn riêng về đối tượng; và người xem cũng có quyền có cái nhìn riêng về họa phẩm, theo ý mình, độc lập với nghệ sĩ.
Hội họa trừu tượng phá bung những định kiến, những hàng rào ngăn cách, để con người tự do thưởng ngoạn, tự do tưởng tượng và nghệ sĩ tự do sáng tác. Mối tương quan cố định về "đối tượng bức tranh" và sự cảm nhận của người xem không còn nữa. Hội họa trừu tượng lấy tự do làm đối tượng, và chính ở chỗ "tự do" ấy, con người mới thấy cái "giới hạn" của chính mình.
Lê Bá Ðảng muốn thoát ra khỏi tất cả những ràng buộc về quy luật của nghệ thuật cổ điển, và cả cái "tự do giới hạn" của hội họa trừu tượng, để mở ra một cõi ta của riêng ông. Ông sáng tạo Không Gian Lê Bá Ðảng.


*

Không Gian Lê Bá Ðảng là gì?
- Về mặt kỹ thuật, đó là sự gặp gỡ giữa nhiều ngành nghệ thuật: Kiến trúc, điêu khắc, hội họa... Lê Bá Ðảng không chỉ vẽ, ông tạo hình.

- Về mặt nội dung, đó là mối tương quan giữa người, vật và vũ trụ. Nhân sinh quan của Lê Bá Ðảng có gì trùng hợp, gặp gỡ cái lẽ tương đối của Trang Chu: Cái nhỏ có lý của cái nhỏ, cái lớn có lý của cái lớn, phải cũng là lẽ vô cùng và trái cũng là lẽ vô cùng: Cứ lấy ánh sáng soi thì sẽ thấy cái tương đối ấy bật nẩy ra, và ông thể hiện cái lẽ tương đối ấy trong Không Gian Lê Bá Ðảng. Cái nhìn của ông không còn là cái nhìn một chiều, hướng về trước mặt, mà nó biến đổi không ngừng.

Ở những mô hình Không gian thực tiễn, ông nhìn từ không trung, bằng con mắt loài chim, hay nhìn từ mặt trăng xuống đất. Tôi gọi đó là viễn cận "vạn lý". Với cái nhìn này, Không Gian Lê Bá Ðảng thể hiện những nứt nẻ trên trái đất, những đỉnh cao, vực sâu, trong lòng đất, lòng biển; những đại dương mênh mông, những hỏa diệm sơn bừng cháy, đến cả những con kiến li ti là sinh mệnh và định mệnh của con người. Trong không gian thực tiễn, với viễn cận "vạn lý", Lê Bá Ðảng có thể gồm thâu vũ trụ địa chất và thế giới nhân sinh trong một chiều kích không quá một thước dài, hai thước rộng.

Ở Không gian ảo tưởng, ông tạo không khí siêu hình, giữa cõi sống và cõi chết. Ông "vẽ" cái hoang vu của hư vô, ông "vẽ" cái không và cái có. Từ kỹ thuật, chất liệu, cách sắp xếp đến mỗi hình thức trong không gian Lê Bá Ðảng dường như muốn cấu tạo nên một thế giới, một vũ trụ ngoài màu sắc. Màu sắc chỉ là cái cớ để lưu lại với hội họa. Ông hay dùng sắc nâu, sắc xám, toàn trắng, toàn đen, màu đất nung, chấm phá những điểm son như những mốc, để tư tưởng, trí nhớ và tâm linh có thể trụ lại giữa khoảng vô thỉ, vô chung.
Ðứng trước những tác phẩm này, người xem cảm thấy hoang mang, lạc loài, như mình là chứng nhân cái hữu hạn của cuộc đời đang giao lưu cùng cái vô hạn của vòng tử sinh, luân hồi, truyền kiếp.

Trong loại không gian thứ ba, Không gian lịch sử-địa tầng, người xem mường tượng thấy ý niệm thời gian liên kết với không gian: Con đường xuyên suốt quá khứ-tương lai, giao thoa với viễn cận xuyên địa, từ cung trăng xuống địa cầu, xuyên xuống những lớp địa từng, địa đạo. Tác giả cho ta cảm tưởng ông muốn hình ảnh hóa cả một thời kỳ lịch sử của dân tộc, xuyên qua những thửa ruộng khô, những cánh đồng cháy, những bãi cát dài, những ngôi cổ mộ, những lớp địa tầng, vào trung tâm trái đất. Ở một cái khung lơ lửng, mơ hồ, rêu phong kia, dường như thấp thoáng có hồn Trọng Thủy đang tìm dấu Mỵ Nương qua vết lông ngỗng xác xơ, tan tác... Ở một khoảng tối này, có phải Diêm Vương đang hành hình lũ tội đồ? Ở một không gian u ám trên kia, Hằng Nga đang cô đơn, giá buốt trên cung Quảng?...

Mỗi lần xem Không Gian Lê Bá Ðảng là một lần khám phá. Tác phẩm của ông có nét hãnh tiến về tương lai, kèm nỗi khổ đau, trầm luân trong hiện tại và nỗi u hoài, nhớ về quá vãng.

Nghệ thuật của ông thoát hài, đập vỡ cổ kính để tạo ra không gian phi thời gian, gồm thâu quá khứ, vị lai, địa tầng, địa chất, cõi này, cõi khác trong khoảnh khắc một cái nhìn. Nó độc đáo, nhưng cô đơn. Ông cô đơn trên con đường sáng tạo của mình; nhưng chính sự cô đơn đó là đốm lửa soi đường cho Không Gian Lê Bá Ðảng.

Yên Cơ, 1-1-1997

Nguồn: thuvien.maivo.com

Mời các bạn bấm vào đường link để

ĐỌC THÊM
Trang web của Hs Lê Bá Đảng
READ MORE - HỌA SĨ LÊ BÁ ĐẢNG

Wednesday, April 21, 2010

GS-TS HỒ NGỌC ĐẠI

Giáo sư Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại


- Ông sinh ngày 3-4-1936 tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
- Hồi trẻ ông học nghề sư phạm tại Nam Ninh, Trung Quốc.
- Năm 1968, ông sang Nga học ngành Tâm lý học và năm 1976 hoàn thành luận văn Tiến sĩ về Những vấn đề tâm lý trong giảng dạy Toán học hiện đại cho học sinh cấp 1.
- Năm 1978, ông thành lập và là giám đốc Trung tâm Công nghệ Giáo dục (CGĐ) để tiến hành thực nghiệm công nghệ giáo dục, công nghệ phát triển con người (cả về lý thuyết lẫn thực tiễn).
- Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại là một nhà khoa học giáo dục, một nhà tổ chức thực tiễn hoạt động giáo dục, một nhà giáo tràn đầy nhiệt huyết, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, trước hết là giáo dục tuổi thơ và một nền công nghệ hóa giáo dục; một người "chịu thua tất cả chỉ để được công nghệ giáo dục". Tấm lòng của người thầy và trí tuệ của nhà khoa học được thể hiện trong từng bài viết. (NXB Lao Động).


Quan điểm sáng tác

- Những bài viết của Hồ Ngọc Đại cho ta thấy cả chiều sâu và bề rộng của trí tuệ và tâm hồn một người cầm bút.
- Chiều sâu: Cả đời Hồ Ngọc Đại nhất quán một nỗi băn khoăn Giáo Dục. Cần có một nền Giáo dục mới. Một nền Giáo dục buộc phải mới tận nguyên lý của nó. Một nền Giáo dục tất yếu phải trở thành sự Cứu Nguy cho dân tộc, nơi trẻ em là những Anh hùng Thời đại. Và một nền Giáo Dục không bị thần bí hóa bằng lời hô hào "sáng tạo" suông. Mà là một nền Giáo dục công ghệ hóa, có thể triển khai theo cái mẫu được các nhà khoa học tạo ra bằng thực nghiệm, như một Hồ Ngọc Đại cùng các cộng sự đã làm ra, kể từ năm học 1978-1979.
- Bề rộng: Bạn đọc sẽ thấy cả một gam rộng lớn những điều Hồ Ngọc Đại quan tâm. Không phải sự quan tâm tiện đâu nói đấy, cái gì cũng can dự. Mà đây là một con mắt sắc sảo dõi theo những băn khoăn của người đời để rồi chủ động dùng trí tuệ và tấm lòng của mình cùng giọng văn dễ đọc mà tìm cách thuyết phục sao cho mọi người cùng sáng lòng và đều có thể sống hạnh phúc. Vì thế mà, chẳng hạn như trước nỗi buồn Liên Xô tan rã, Hồ Ngọc Đại có bài viết về vấn đề đó. Rồi anh cũng có những kiến giải về "Tự do", về "Dân chủ", về "Hôn nhân", về "Gia đình", về... nhiều mặt chộn rộn chuyện đương thời.


Các sách chuyên đề đã xuất bản
- Những vấn đề tâm lý học trong việc giảng dạy Toán học hiện đại ở các lớp cấp I (Luận án tiến sĩ tâm lý học, tiếng Nga, Matxcơva, 1976)
- Bài học là gì? (1985)
- Giải pháp giáo dục, NXB Giáo dục, 1991
- Đổi mới giáo dục, Trung tâm Công nghệ Giáo dục, 1995
- Tâm lý học dạy học, NXB Đại học Quốc gia, 2000
- Hồ Ngọc Đại Bài báo, NXB Lao Động, 2000
- Cái và cách, NXB Đại học sư phạm, 2003
- Chuyện ấy, NXB Lao Động, 2009

Nguồn: chungta.com


Nhân loại hạnh phúc vì có nhà văn
An ninh thế giới cuối tháng
Thứ bảy, 04/07/2009



"Về bản chất nhà văn thời nào cũng thế thôi. Thời nào cũng thế, lúc nào cũng thế, chế độ nào cũng thế, bản chất của họ là cao cả. Không có nhà văn của tầng lớp này, tầng lớp khác đâu. Đã là nhà văn thì đó là hình tượng đẹp của nhân loại. Nhà văn là một thành tựu, một kết tinh, một biểu tượng của nhân loại", Giáo sư Hồ Ngọc Đại chia sẻ.
- Thưa giáo sư Hồ Ngọc Đại, nhân cách con người và nhân cách của một nhà văn có gì khác biệt?
- Về bản chất thì không khác nhau. Nhà văn là một con người trên khía cạnh nào đó họ rất nhạy cảm. Nhà văn là con người nhạy cảm nhất trong những người nhạy cảm. Họ nhạy cảm tức là những cái biểu cảm nhận được về bản chất là có thực nhưng mà theo cách nhìn nhận của họ thì có thể chỗ này phóng lên, chỗ kia thu lại nhưng rồi cuối cùng tất cả những sự thật ấy đều qua nhà văn và trở thành tác phẩm, chứ nó không từ hiện thực thực tế mà nó đến tác phẩm.


- Sự nhạy cảm của nhà văn là cảm nhận được những cái không bình thường. Từ những cái mà theo con mắt nhà văn không bình thường thì sẽ thành tác phẩm. Độc đáo của nhà văn là ở chỗ đó. Tức là về bản chất nhà văn rất thành thật. Bản chất của nhà văn dù có như thế nào đi chăng nữa, nếu là nhà văn thì là lương thiện.

-Văn là người. Đọc văn sẽ nhận ra người, tác phẩm biểu hiện nhân cách lớn? Xã hội đang đặt ra vấn đề nhân cách của nhà văn hiện nay?
- Nhà văn phải có tác phẩm. Nhà văn mà không có tác phẩm thì không là gì cả, không thành nhà văn được. Tác phẩm là gì, là những gì tinh túy nhất của nhà văn. Nhà văn là một con người thuần túy, thuần túy nhất về tinh thần, quan tâm nhất tới những vấn đề thuộc về tinh thần. Ví dụ như đạo đức là tinh thần, tất cả những đau khổ, vui sướng của con người đều là tinh thần, và tuyệt đối trung thành với tinh thần ấy.

- Bản chất của nhà văn là vậy. Cũng như cái anh nói dối biết rất rõ sự thật và lời nói là thống nhất nên anh ta mới nói dối. Cũng như cái anh đạo đức giả là anh ta biết rõ nhất về đạo đức. Nhà văn cũng biết đích thực điều mà anh ta hướng tới, sự cao đẹp mà anh ta thể hiện.

- Vậy bản chất nhân cách của nhà văn là gì?
- Đã là nhà văn là cao cả. Có thể có những nhà văn hèn hạ, viết ra những tác phẩm yếu kém. Những kẻ như vậy không thể đáng gọi là nhà văn. Đó là buôn chữ thôi. Tôi xin nhấn mạnh lại đã là nhà văn là cao cả. Những kẻ làm hàng giả mượn chữ để mua chữ và bán chữ để đổi chác, những kẻ đó không phải là nhà văn. Nhưng những kẻ đó là ngoại lệ, là ít ỏi, cá biệt và không đáng gọi là nhà văn.

- Nhưng không thể đánh lừa được đôi mắt tinh tế và nhạy cảm của độc giả?
- Trong cuộc đời tôi thấy rằng, anh có thể đánh lừa được một người, một trăm người, một triệu người nhưng anh không thể đánh lừa được cuộc đời.

- Vậy nhân cách của nhà văn chính là trung thành với sự thật?
- Trung thành với cuộc sống thực ấy. Cuộc sống thực này nó như thế nào thì anh phải trung thành với nó. Tức là anh trung thực với cuộc sống thực ấy, chứ không phải trung thành với một ai cụ thể cả. Bất cứ một ai thì cũng phải lấy cuộc sống thực ấy làm căn cứ.
Nếu anh trung thành với một người nào đó mà không phải cuộc sống thực thì có khi anh sẽ gián tiếp xuyên tạc sự thực. Cho nên nhà văn phải vượt qua tất cả mọi quản ngại để anh đến với cuộc sống thực. Cuộc sống thực ấy là cuộc sống của toàn dân, của cả một thời đại, một dân tộc, một lớp người.

Cuộc sống bao giờ cũng thật, nếu không thật không tồn tại được. Muốn giả thì cũng phải có cái thật trước đã mới giả được. Nhân cách của nhà văn đầu tiên và cuối cùng phải gắn với cuộc sống thực.

- Tài năng và nhân cách có mâu thuẫn nhau không? Hay nó là hai phạm trù có thể tách bạch?
- Cũng không đáng kể, cũng có thể tách bạch ra được, tương đối được. Có những người họ không biết một chữ nào cả, nhưng nhân cách rất đáng kính trọng; họ không nói được một câu nên lời nào cả, nhưng cuộc sống của họ rất tốt đẹp, cao quý.

Và ngược lại có những người biết rất nhiều chữ nhưng nhân cách lại rất đáng khinh. Tôi nhắc lại đó là những người giả, đội lốt, vì bản chất của nhà văn là cao cả. Tất nhiên muốn có tác phẩm lớn là phải có tài năng, nhưng có một tài năng chưa chắc đã có một nhân cách lớn.

- Nhân cách nhà văn xưa và nay có gì khác nhau không?
- Về bản chất nhà văn thời nào cũng thế thôi. Thời nào cũng thế, lúc nào cũng thế, chế độ nào cũng thế, bản chất của họ là cao cả. Không có nhà văn của tầng lớp này, tầng lớp khác đâu. Đã là nhà văn thì đó là hình tượng đẹp của nhân loại. Nhà văn là một thành tựu, một kết tinh, một biểu tượng của nhân loại.

Còn những cái hèn hạ thì không chấp, ở đâu cũng có, ngành nào cũng có, lĩnh vực nào cũng có. Riêng về nhà văn thì phải giữ được cái thiêng liêng của nhà văn, đó là niềm hạnh phúc của nhân loại, nhân loại hạnh phúc vì có nhà văn.

- Xin cảm ơn giáo sư!
READ MORE - GS-TS HỒ NGỌC ĐẠI

Wednesday, April 14, 2010

VÕ THỊ NHƯ MAI- Chùm thơ về gia đình của VÕ VĂN HOA



CHÙM THƠ
VỀ TÌNH CẢM GIA ĐÌNH
CỦA VÕ VĂN HOA

Võ Thị Như Mai,
Tây Úc


Một buổi sáng đẹp trời đi lạc vào vườn thơ của Võ Văn Hoa, tha thẩn một hồi đến quên cả lối ra, rồi tự bảo, nhẩn nha thêm tí nữa, thêm tí nữa, cho đến khi chạng vạng, mới giật mình quay về với thực tại. Khu vườn mênh mông đó đưa tôi qua nhiều tầng cảm xúc khác nhau, dẫn tôi đến những địa danh khác nhau trên cả nước và gặp được rất nhiều người, từ những em bé mới chào đời, đến các cô thôn nữ miệng cười chúm chím, các O, các mệ, các ôn, các chú, các nhà nho, nhà giáo, thầy thuốc và những người làm các ngành nghề khác nhau trên mọi miền tổ quốc. Tôi tìm lại mình qua những vùng đất ngày xưa tôi đã dừng chân ở một miền quê hương Quảng Trị nắng, gió, mưa, bão, lụt lội. Tôi thấy tôi đi qua làng An Thơ, nơi có con sông Ô Lâu, tôi thường đi theo chị đi đò từ sông Mỹ Chánh về ở lại chơi đến chiều lại lên. Tôi thấy tôi dạo chơi qua các đình làng, xem các bé con đánh bi dưới cây ngô đồng. Tôi thấy tôi qua Bến Đá, Cam Lộ, Khe Sanh, Diên Sanh, Hải Thành không theo một trật tự không gian hay thời gian nào cả. Ký ức bềnh bồng, mênh mông khiến tôi trở nên mộng mị, và có một khao khát mãnh liệt muốn trở về lại trên mảnh đất ấy, để hoà mình vào thiên nhiên, nói chuyện với những người dân bình dị, sống ở đó một thời gian chứ không phải chỉ dạo qua như một người khách du lịch. Tôi chưa từng biết ai viết nhiều, viết hay, cặn kẽ và bao quát về nhiều địa danh be bé trên mảnh đất Quảng Trị này như thế, có chăng là khi bạn tập hợp lại các bài viết của các tác giả khác nhau, may ra bạn có một cái nhìn tổng thể.
Đã có quá nhiều người viết về thơ của Võ Văn Hoa, có quá nhiều người họa thơ anh, ca ngợi vẻ đẹp trong thơ anh và phân tích thế giới thơ bao la của anh. Đặc biệt, thạc sĩ Bùi Như Hải đã có hai bài viết rất cặn kẽ, thấu đáo và ngùn ngụt cảm xúc về rất nhiều phương diện trong thơ Võ Văn Hoa qua hai bài “Ở Một Chân Trời Yêu Thương” và “Thế Giới Thơ Võ Văn Hoa”. Mọi người viết về anh với một lòng ngưỡng mộ và kính trọng sâu sắc, một Tri Âm Các bề thế, một nhà thơ giàu lòng nhân ái, một nhà quản lý giáo dục được mọi người xung quanh ngấm ngầm yêu thương, qúy mến và nể trọng. Với tôi, thơ Võ Văn Hoa có thể được ví như một cô gái nhu mì, hiền lành và duyên dáng. Cái đẹp trong cô không làm các chàng trai phải lòng ngay cái nhìn đầu tiên, nhưng một khi đã tiếp xúc, khó ai có thể quên cô được, bởi vì cô không những dễ thương, trẻ trung, đằm thắm mà còn rất sắc sảo, thông minh và hài hước.
Với thời gian hạn hẹp và với cảm nhận của một độc giả yêu thơ, hôm nay tôi xin giới thiệu với mọi người một phần thế giới thơ dịu dàng, sâu lắng dành cho gia đình của Võ Văn Hoa. Cùng cảm nhận với tôi nhé. Tôi cố ý không phân tích từng đoạn vì tôi có quan niệm rằng đôi khi “phân tích là hũy hoại tính thống nhất”

1.
Vào một ngày hội Làng, nhà thơ nghĩ đến người mẹ dấu yêu của mình. Tác giả mượn Làng Văn để nói về mẹ. Mẹ cũng như các dì, các cô gái làng Văn nói chung, rất đẹp và nền nã. Đó là những cô gái đứng đắn, thùy mị, khiến bao chàng trai ngẩn ngơ, trong đó đặc biệt có một người, yêu đến “cháy lòng”. Qủa là một cái nhìn thật mỹ miều.
CON GÁI LÀNG VĂN
Mẹ ngày xưa chắc đẹp lắm
Con gái làng Văn đi lấy chồng
Có kẻ phong trần ngơ ngẩn tiếc
Từ đây vắng bóng một bông hồng.

Con lại về thăm quê ngoại ta
Hội làng vừa mới được mở ra
Các dì – con thấy đều xinh cả
Tuổi trẻ tình yêu đẹp mọi nhà

Con gái làng Văn bạn biết không ?
Đoan trang tính cách, má môi hồng …
Ruộng lúa, biền ngô … xanh tiếng hát
Ấm lòng bè bạn những chiều đông !

Hội làng khép lại… hẹn mùa trăng
Giã bạn bây giờ biết nói năng…
Con lại soi mình về thuở …bố
Cháy lòng bên mẹ cội làng Văn

2.
Người bố trong anh là một người thầy mẫu mực, đáng kính từ từng cử chỉ, từng lời khuyên răn. Nhờ bố, các con đã nên người, đã sống thực xứng đáng. Nhờ bố, con học được bài học làm người, giữ nếp đạo lý gia phong, giữ cái tâm trong sạch.
Bố – người thầy đầu tiên của con
Truyền dạy cho con những Minh tâm Bửu giám …
Lên chút nữa , qua truông dài rú rậm
Bố dắt con mỗi sớm đến trường
Thời gian khó, nhà đong từng bữa gạo
Nếp gia phong từ mũi chỉ đường kim
Bố răn dạy học văn, học lễ
Để mai sau con mãi kiếm tìm
Con đã lớn : Lập ngôn, lập chí
Bố vui sao những đứa con mình
Củng cố đời con, đời bố hy sinh
Con thấy bố – người “trồng người” hạnh phúc
Giờ sang tuổi tám mươi tai lãng, mắt mờ
Tâm vẫn sáng, nếp nhà xưa vẫn giữ
Ngày đi xa, con càng thêm hiểu bố
Bố mãi là người thầy trong trái tim con

3.
Một người rất quan trọng làm nên một Võ Văn Hoa toàn diện, đó là người bạn đời của anh, người luôn thấp thoáng trong rất nhiều câu thơ rải rác khắp nơi của Võ Văn Hoa, tôi tìm thấy bóng dáng chị trong bài thơ anh post gần đây:
ĐÊM NÓI GÌ CÙNG TA
Tiễn em về phố xóm
Ánh đèn mãi lung linh
Để rồi đêm huyễn hoặc
Chất sâu nặng ân tình
Tố Nga con đã ngủ
Vương ông mãi thức hoài
Chú Thạch Sùng di trú
Chắt lưỡi hoài không thôi
....................
4.
Nhắc đến Võ Văn Hoa thì mọi người không thể không nhắc đến người em trai cũng không kém phần tài hoa của anh, thạc sĩ, giảng viên CĐSP Quảng Trị, nhà thơ Võ Văn Luyến, người cho rằng “Tôi gieo chữ trên cánh đồng hạn hán, con chữ khô cong thành dấu hỏi quay về”. Hai anh em cùng nhau ngồi đàm đạo, khề khà về những ngày tháng cũ, cùng nói chuyện thơ văn, tất cả được khắc hoạ rất chi tiết qua bài “Lai Rai Cùng Chú Em Võ Văn Luyến”
LAI RAI CÙNG CHÚ EM VÕ VĂN LUYẾN
Ly này
Nhớ về tuổi thơ
Anh em ta trong mái ấm gia đình
Nghèo khó thương yêu!
*
Ly này
Nhớ ngày đến trường
Mẹ thổi cơm sớm
Cha đưa các con qua truông Cu Hoan hằng năm trời
Mong con học cái chữ làm người!
*
Ly này
Nhớ con sông chảy qua làng Thi Ông
Những chiều hè anh em tập bơi, tập lặn
Sông đi vào thi ca!
*
Ly này
Nhớ những năm chiến tranh
Đỗ Đại học, em xếp bút nghiên
Đất nước bình yên
Trở về giảng đường yêu mến
*
Ly này
Tạ ơn tổ tiên, ông bà, mẹ cha…
Đã hun đúc, sinh thành chúng ta
Phù hộ độ trì cháu con thành đạt!
*
Ly này
Mừng thế hệ sau bước tiếp
Kế thừa truyền thống cha ông
Thắp ước mơ hồng…
*
Và ly này
Ngưỡng vọng bà con bạn bè
Động viên và chia sẻ
Con đường xanh tiếng ve…

5.
Với con gái Võ Hoàng Phương, Võ Hoàng Yến, và cậu con trai giống ba như giọt nước, nhà thơ thể hiện tình yêu thương qua những trang thơ thật cảm động.
THƠ TẶNG CON GÁI VÕ HOÀNG YẾN
Ra trường về Gio Linh
Con làm bên “Chia sẻ”
Có bao điều mới mẻ
Tiếng Anh bao ngọt ngào!
*
Quê nhà những ước ao
Lại về nơi cố quận
Thế giới trong “Tầm nhìn…”
Niềm tin vào thông tấn
*
Rồi đến một ngày kia
Mùa xanh cây trĩu quả
Đường hoa thơm cỏ lạ
Sóng vui vỗ quanh đời!
*
THƠ TẶNG CON GÁI VÕ HOÀNG PHƯƠNG
Học hành lập nghiệp xong
Thiên chức người phụ nữ
Ngày con đi lấy chồng
Thơm hương mùi hoa sữa
*
Kê tính đã một năm
Ba mừng sắp lên ngoại
Quê chồng không xa ngái
Nên được gặp con luôn
*
Ba tâm tình việc lớn
Nhỏ nhẻ mẹ bảo ban
Trong đời thường bận rộn
Yêu thương con dâng tràn !
*
GỬI CON TRAI
Ba theo dõi bản tin thời tiết
Hà Nội mấy hôm đã trở mùa
Con trai ba chưa quen cái rét
Ở tầng 3 nhớ tránh gió lùa !
*
Đi học phải quàng khăn kín cổ
Năm đầu tiên rồi sẽ thích nghi
Mọi thách thức chỉ là trước mắt
Tự vượt lên mình nuôi chí nam nhi
*
Hà Nội ngoài trái tim cả nước
Trong ba còn một trái tim…

6.
Niềm vui cuộc sống gia đình chỉnh chu của nhà thơ còn được bồi đắp bằng tiếng cười trẻ thơ của cháu ngoại trong hai bài thơ “Yêu Thương Dành Cho Cháu Win” và “Cháu Tôi”
YÊU THƯƠNG DÀNH CHO CHÁU WIN
Hoãn chuyến tham quan Hà Nội*
Đưa con “vượt cạn” khuya này
Chuẩn bị lên làm ông ngoại
Bên ngoài mưa gió bay bay…
14h 35 cháu khóc!
Nội ngoại vang tiếng cười
Mai ngày cháu khôn lớn
Yêu thương dành cho đời!
*
CHÁU TÔI
*Cho Nhật Minh ngoại tôn
Ngoại đi công tác Hải Hoà
Cháu về quê nội, ngoại nhoà lệ thương!
Thấm thoắt đã mấy tháng trường
Ấm êm tay mẹ, ngọt đường bà ru
Canh chầy từ …gió mùa thu
Ngủ ngoan cháu nhé, chim gù ngoài kia
Ngoại đi rồi ngoại sẽ về
Tối nay vắng cháu bốn bề lắng yên
Nhớ cháu tiếng khóc ngoan hiền
Căn phòng lửa ấm xanh miền dấu yêu
Giờ còn khoảng trống bao nhiêu
Rộng thênh nỗi nhớ…
bao điều …cháu con!
Đêm nay ngoại ngủ không tròn…
*
Võ Văn Hoa đi đứng ra thơ, thở ra thơ, nói ra thơ và gủi gắm tình cảm của mình qua thơ. Bất cứ phút giây nào, đi đâu, gặp ai, nghe gì, đọc gì, cảm gì và nghĩ gì anh cũng trải dài trên trang giấy thành những vần thơ sóng sánh, bình dị, trong trẻo và êm dịu. Gửi đến anh những lời chúc tốt lành nhất của một người yêu thơ anh nhân kỷ niệm sinh nhật nhà thơ 15/4/2010.
VTNM
14/4/2010


READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI- Chùm thơ về gia đình của VÕ VĂN HOA

Saturday, April 10, 2010

LINH ĐÀN - GẶP TRƯƠNG QUÂN

Ảnh nghệ thuật của Thái Phiên



GẶP TRƯƠNG QUÂN


Bút ký của Linh Đàn


Năm ngoái tôi không nhớ ngày tháng nào, dường như cuối mùa mưa, vào một buổi chiều Lê Ngọc Phái gọi tôi xuống nhà chơi, người bạn lâu năm của tôi ngồi ngoài ghế đá, thấy tôi đến Phái vào lấy bình nước trà ra rót. Chúng tôi nói chuyện một hồi rồi Phái đưa cho tôi bài thơ đã vi tính sẵn, nói thơ của Trương Quân mời họa; Phái lật đật đi chở cháu còn tôi ngồi một mình đọc thơ, bài thơ có cái đề duy nhất một chữ “SỐNG”, tôi sực nhớ! Thôi chết rồi! Bài thơ này Trà Kim Long đưa mình cả tháng nay, hôm ở Chân Quê thi hội, nhét vào túi áo rồi quên lững đâu mất, tôi tự thấy mình có lỗi với Trà Kim Long nhưng may thay hôm nay Phái lại đưa tiếp. Tôi ngồi đọc đi đọc lại một hồi, bài thơ có cái gì đó mà làm tôi quá dễ thuộc, lát sau Phái chở cháu về rồi ngồi nói chuyện tiếp: Sao! bài thơ này anh thấy có dễ họa không? Tôi chưa kịp trả lời, Phái nói thêm: Chắc bài họa khó có thể theo kịp bài xướng, tôi thấy Phái nói đúng ý tôi, hay dở thì chưa dám nói đến, nhưng trong bài thơ này có cái “hào khí” riêng của tác giả, nên bài họa cũng là điều thử thách. Câu chuyện đang dở dang thì Phái lại có điện thoại, rồi tiếp theo mấy người khách tới chơi thành ra nói chuyện khác. Trong bữa cơm tối hôm ấy Phái rót cho mấy ly rượu khá ngon nốc sạch nên lúc về thấy lừng khừng, nhưng cũng đạp xe về, đường lúc này hết giờ cao điểm không kẹt xe nữa, thong thả cho mình vừa đạp xe vừa họa thơ, về đến nhà lấy giấy viết ghi vội thế là được sáu câu, còn hai câu kết mai sẽ hoàn thành…rồi đi ngủ. Thế mà mai lại viết được câu bảy mất câu tám, rồi cứ thế, không những một hôm mà đến hôm sau mới tạm ổn. Phái lại gọi đem bài họa của Linh Đàn đến để gửi cho Trương Quân, chờ anh sáng mai đến tám giờ, tôi không nhớ gọi điện thoại cho Phái ghi hay đem bài hoạ xuống nhà, miễn đưa cho Phái rồi thế là xong. Đến gần tết Phái gọi tôi xuống nhà Phái nhận tập thơ của Trương Quân gởi tặng, tôi lật ra trong đó có bài họa của tôi thế là đem về bỏ vào hộc tủ.


Cuối tháng 9 năm nay, trời Sài Gòn mưa hoài, lụt bão miền Trung đưa tin tới tấp, bà xã hoảng quá về quê thăm ngoại, ở nhà buồn thật, đường sá lầy lội nên cũng nhác đi chơi cờ tướng, chẳng có chi vui, vào kéo hộc tủ lựa quyển thơ nào mỏng đem ra đọc, còn đọc quyển dày sợ ngán.


Thế là tập thơ “SỐNG” của nhiều tác giả họa thơ Trương Quân đến nay mới được giở ra, đầu tiên đọc lời tựa thấy Trà Kim Long viết xưng với Trương Quân là anh, mình tự hỏi không biết tác giả có bà con gì mà xưng dễ dàng như thế, nhưng rồi thôi việc đó không quan trọng, chỉ cần đọc thơ. Linh Đàn bấy lâu nay đọc thì đọc phớt phớt thôi, nhưng hôm nay mới chịu đọc kỹ hơn một tý, tìm thơ người quen đọc trước rồi thơ người lạ đọc sau, hôm ấy đọc thơ chữ quốc ngữ mà đọc như chữ Hán, đọc sau đọc tới, chẵng mấy chốc gặp một cái tên thật hay: Mộng Thùy Trang, mà cái đề bài họa cũng khá linh động “Sống Đẹp” suy ngẫm mấy lần thấy hơi thơ quá lạ nên không biết Mộng Thùy Trang là phái nào, tuổi tác ra sao, cái tên nghe thật nữ sĩ mà dạn miệng đến mức, trước đây bắt gặp bài “Tháo rào” của Thuỷ Hương cũng đã không kém, thì tác giả bài họa này chắc là…(?). Do vậy tôi viết một bức thư gởi Mộng Thùy Trang ngay, đem đến cho chị Trần Lệ Khánh đọc trước rồi gởi sau, chị cũng thấy quá lạ lùng, nên điện thoại hỏi Kim Hoa, rồi trao điện thoại cho tôi nghe, Kim Hoa trả lời rất thoải mái: “Anh muốn biết đực hay cái anh đến gõ cửa là biết ngay thôi” Kim Hoa cười một cái thật dài rồi tắt máy. Trước khi gửi thư, Linh Đàn không quên photo một tờ để làm kỷ niệm và một tờ gửi cho cụ Trương Quân còn bản viết tay gửi cho Mộng Thùy Trang ở mãi An Khê xa thẳm.


Lâu quá thư gửi đi chẳng thấy hồi âm, sáng nay quyết định đi thăm cụ Trương Quân,xem cụ trả lời như thế nào. Trên đường đạp xe đi trong đầu đặt ra biết bao câu hỏi: Không biết cụ Trương Quân có vui tính không? nhất là người Huế nếu thuộc dòng vọng tộc đa phần khó thưa trình lắm, vì mình ở Huế lâu năm mà bồ nhiều lần dẫn vào các nhà quan lại ngày xưa: cách ngồi, cách nói, cách đi cái nào cũng có cái khuôn của nó, nhưng thôi cứ đi, gặp trường hợp nào cũng được; có ai làm chết chi mình đâu mà sợ, cứ hỏi đường Đặng Văn Ngữ mà đến, đi một khoảng ngó bên dãy số lẻ đã thấy số nhà 47B, dừng lại dẫn xe đạp vào dựng phía trong rồi bước lên thềm, thấy một cụ bà ngồi ở phòng khách, tôi cung kính chào mà chẳng thấy cụ trả lời chi hết, trong bụng mình nghĩ: Mình đoán đúng rồi nhà quan!, nhưng thôi cứ nán chờ, một lát sau thấy phía trong nhà có ông cụ đẩy xe ra (chiếc xe thay gậy) tôi cũng cung kính một lần nữa: Con là Linh Đàn xin được yết kiến cụ, ông cụ ngạc nhiên mà khuôn mặt thật vui nói: - Ồ, Linh Đàn đây à! Thôi mời ngồi xuống đây, cụ nói tiếp có chi đâu mà lễ phép dữ vậy. - Ngồi nói chuyện một lát người nhà mang ra một tách cà phê thật nóng chị vừa đặt xuống bàn thì có một người đàn ông mũi cao, cỡ tuổi bằng tuổi tôi bước vào, cụ mời ngồi vào ghế ngoài rồi giới thiệu ngay: Đây là nhà thơ Nhất Chi và giới thiệu tôi với người khách. Nhất Chi bắt tay tôi, lần đầu tiên tôi biết Nhất Chi, rồi cụ cũng giới thiệu tiếp, cụ chỉ vào cụ bà: Đây là nhà tôi, yếu lắm đi đứng không được và nói cũng không được nữa. Tôi một lần nữa cúi chào và tự hối trong lòng rồi tiếp tục đam đạo thơ, tôi vẫn giữ lễ, cụ bảo rằng: Linh Đàn đến đây là quý lắm rồi, cụ bắt xưng anh em cho gần gũi, có lớn hơn nhau bao nhiêu tuổi đâu mà phải xưng cụ cụ con con cho nó mất cái ấm cúng của tình thơ. Tôi mới vỡ lẽ Trà Kim Long xưng anh là như thế. Thôi bây giờ là anh em rồi, chẳng ngờ anh Trương Quân tế nhị đến thế.


Ngồi thêm không quá nửa giờ, tôi uống xong ly cà phê, rồi hỏi về Mộng Thùy Trang nhưng anh cũng không biết gì về người nữ sĩ ấy, lát sau anh Trương Quân mời qua quán nước đối diện bên kia đường, Nhất Chi dẫn Trương Quân còn tôi dẫn xe đạp đi theo, qua đến đó đã thấy có mấy người ngồi chờ, tôi chỉ có biết Điền Đăng, rồi Hoàng Duyên cũng họp mặt, anh Trương Quân ngồi gần tôi nói chuyện hết sức thân mật, tất cả dự đoán trên đuờng đi đều được giải toả mà còn lại một cái tình thật ấm áp trong lòng, lát sau có Trà Kim Long và Kim Hoa cùng tới, bầu không khí trở nên vui vẻ lạ thường.


Người thơ dường như xoá bỏ cái ranh giới tuổi tác, hè năm 1959 tôi cũng bắt gặp tại nhà nữ sĩ Tương Phố ở Nha Trang một lần, hồi ấy các cụ các bà gọi bà Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan và bà Hồ Xuân Hương bằng chị, có một lần khác tại sàn thơ Lan Đình-Bà Rịa, Phong Hồ rót ba chén rượu để giữa khay: Mời anh Lý Bạch, anh Cao Bá Quát và anh Tản Đà về dự đêm thơ với chúng em, đêm đó chẳng ai gọi Phong Hồ là ngông quá chén.



Tại quán nước ấy sáng nay để lại một dấu ấn khó phai, rồi khi chào ra về dường như có sợi dây thân tình nào đó muốn níu lại.


Viết dưới đêm mưa 12/10/2006


Linh Đàn


Bài xướng

SỐNG

Lối xưa vời vợi bước thăng trầm

Vẫn nhích dần lên đỉnh một trăm

Hồn cảm hoa cười trong sắc dịu

Dòng say trăng dậy giữa hương thầm

Qua mùa bạc thếch sầu sương khói

Đến lúc xanh dờn mộng tháng năm

Cát bụi nên hình vui cuộc sống

Ngại chi cây thọ chẳng cao tầm.

1/10/2005

TRƯƠNG QUÂN


Bài họa

BÓNG CẢ

Sương gió dễ đâu nhạt khói trầm

Phúc phần ngoái lại đã kề trăm

Men đời vị đắng càng am hiểu

Tuổi ngọc tình xanh mãi nhớ thầm

Trong cuộc trần hoàn ngang vạn nẻo

Giữa dòng nhân thế dọc ngàn năm

Nào ai nhấc nổi hương và sắc

Chỉ có thanh cao vượt quá tầm


Linh Đàn



SỐNG ĐẸP

Bản nhạc bài thơ câu bổng trầm

Anh thì tài đức vẹn bằng trăm

Giữ màu vọng tưởng ôm thương trộm

Tự nhủ ấp yêu khéo sớt thầm

Bởi trót si tình trai tám chín

Em đành chuốc nợ khoảng mười năm

Duyên tằm vấn vít chờ cây tổ

Phú Nhuận An Khê xa khuất tầm

Mộng Thùy Trang



LINH ĐÀN

READ MORE - LINH ĐÀN - GẶP TRƯƠNG QUÂN

Thursday, April 1, 2010

VÕ THỊ NHƯ MAI



Võ Thị Như Mai,
Master of Education

Sinh ngày: 18/3/1976

Nguyên quán: Mỹ Chánh - Hải Chánh - Hải Lăng - Quảng Trị

Nghề nghiệp: Giáo viên

Nơi cư trú: Tây Úc

Email: mai.vo@det.wa.edu.au




MỘT NGÀY TRỜI TRỞ LẠNH

Ở xứ người có loài kan- ga- roo

Cứ mỗi sáng chúng nhảy lui nhảy tới

Thảo nguyên trải dài vời vợi

Mơ quê hương ở cuối chân trời

.

Một chiếc lá cong khô chao rơi

Đã bắt đầu yêu nơi dừng chân này anh ạ

Chỉ sợ cuối thu gom mưa về nhiều quá

Mỗi giọt rơi là một nỗi nhớ người

.

Hôm qua trời trở lạnh không hay

Đi làm vội quên mang theo áo ấm

Ghé can- teen nhâm nhi tách trà nóng

Nghe tình ca thấy nhẹ hẫng cả lòng

.

Anh có thể dõi theo em mãi không

Sẽ còn những mùa thu sau nữa

Rất nhiều người ra đi, không ai nhớ

Ngày trở về, tóc đã trắng như bông

.

Ở nơi này giữa thảo nguyên mênh mông

Có bầy kan- ga- roo cứ nhảy lui nhảy tới





CHUYỆN NHỮNG CÂY CẦU



Chiều ơi

Sao mà nắng vàng như thế

Ngày mai ơi

Sao mà mây trôi thênh thang

Và tôi ơi

Những cây cầu bắt ngang

Chần chừ làm chi

mà không sang bên ấy?

.

Những câu chuyện vui tôi dành cho em đấy

Hoa hồng dịu dàng tôi giấu vào tim

.

Những giấc mơ đêm

Ôi những giấc mơ đêm

Sẽ chỉ cần vài giây

Mình nắm tay nhau băng qua phố vắng

.

Xá chi những lời trách mắng

Xá chi những lời điêu ngoa

Tôi bận viết nốt bản tình ca

Để mình nhìn nhau mà hát

.

Em như những nốt nhạc

Tung tăng trên cánh đồng

Đôi mắt nhìn mông lung

Tôi lặng người mà ngắm

.

Mình yêu nhau

ôi mình yêu nhau say đắm

Gần như là cuộc sống

Gần như là giấc mơ

.

Nhưng

tôi phải trở về

trong những chiều bơ vơ

Để lặng yên nhớ em

Để mỗi đêm nghe trái tim biết khóc

Để ngày qua ngày bạc thêm màu tóc

Để em là người cuối cùng

Trong quãng vắng đời hoang




BÀI THƠ VỀ HẠNH PHÚC

Tất cả điều em muốn

Tất cả điều em mong

Là ánh mắt anh trong

Nhìn về em trìu mến.


Khi nụ cười anh đến

Yêu thương em lại về

Trăm ngàn con sóng quê

Vỗ về lên bờ cát.


Lắng nghe chiều gió hát

Biển vẫn ôm lấy bờ

Anh đừng nghĩ vẫn vơ

Yêu anh không thể dứt.


Biển yêu bờ là thật

Em yêu anh thì sao

Giữa ngàn sóng lao đao

Tình yêu thành cổ tích.


Con chúng mình tinh nghịch

Nụ cười vang khắp nhà.

Anh mà có đi xa

Chỉ một hôm là nhớ




KHOẢNG CÁCH MỸ HỌC

Có thể gầy như que diêm
Anh lỡ ném xuống bàn sau khi châm thuốc
Có thể chỉ tiếng chân em quen thuộc
Khi anh trầm ngâm giải một phương trình


Khoảng cách giữa chúng mình
Là một chút ưu tư, là một chút bất bình
Khi anh lỡ quên
Tặng em chiếc hôn trước một ngày ra đi vội vã


Cái khoảng cách không là khiếm nhã
Khi anh ngồi tư lự bên sông
Viết tặng em bài thơ, với tình cảm rất nồng
Em nghĩ về những ngày xưa khi không có anh ở đó


Cái khoảng cách đôi khi rất nhỏ
Nhưng đủ để em vẫn là em
Dịu dàng như cái lần mình gặp nhau trước ngõ
Đủ để anh vẫn là anh
Ngại ngùng khi được nắm tay em lần đầu


Rồi con chúng mình cũng sẽ lớn mau
Cu Tí, cái Tèo
Chúng nó sẽ xinh như em
Và cùng nhau đọc mấy bài thơ của bố


Cái khoảng cách mỹ học
Có thể đôi lần làm em khổ
Nhưng sẽ giữ cho ta
Vẫn mãi yêu nhau như buổi hẹn ban đầu




Mời đọc tiếp thơ và sáng tác khác của Như Mai trên:


READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI

Tuesday, March 30, 2010

NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU BA






Tiểu sử Nhạc sư Nguyễn Hữu Ba
(1914-1997)

Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, nhà nghiên cứu cổ nhạc và là bậc nhạc sư về ngành cổ nhạc Việt Nam, bút hiệu Đạo Tâm, quê làng Đạo Đầu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Thuở nhỏ ông học ở Huế, đến năm 8 tuổi bắt đầu học đàn. Năm 16 tuổi (1930), ông đã hoà nhạc cổ truyền vào dĩa hat Beka của Đức phát hành rộng rãi tại Việt Nam thời đó. Năm 1932, ông lại áp dụng hệ thống ký âm pháp Tây phương vào cổ nhạc Việt Nam được giới âm nhạc tại Huế rất tán thưởng.

Năm 1938 ông đoạt giải nhất đàn nhị huyền tại Hội chợ Huế.Năm 1940, ông viết cuốn "Tự học đàn nguyệt". Ông tiếp tục nghiên cứu và từng bước hoàn chỉnh ký âm pháp Việt Nam.

Năm 1938, ông đậu Thủ khoa về đàn nhị, được triều đình Huế tặng thưởng Huy chương Long Bội Tinh và vinh tặng Hàn Lâm viện Đãi chiếu vào năm 1950.

Là người yêu nước, Nguyễn Hữu Ba ra vùng căn cứ sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai.

Sau Việt Minh lên nắm chính quyền vào tháng 8-1945, ông đã lui về sống ở Quảng Trị cho đến năm 1950 thì vào lại Huế lập Viện Tỳ Bà nhằm phục hưng nền quốc nhạc Việt Nam.


Ngày nay, những nghiên cứu của ông được dùng giảng dạy ở các nhạc viện và được phổ biến ở nhiều nước .

Một thời gian sau, ông được phép trở lại nội thành Huế, tiếp tục hoạt động âm nhạc . Năm 1948 ông thành lập "Tỳ bà Viện" và được bổ nhiệm làm Giám đốc Trung tâm phục hưng Quốc nhạc Việt Nam.

Ở Huế, ông dùng nhạc phẩm làm vũ khí đấu tranh và động viên lòng yêu nước của nhân dân vùng bị giặc chiếm. Bài Thu khói lửa, tiếp theo là một loạt bài , trong đó có bài Tình người miền Nam tiễn đưa người ra Bắc tuyên truyền động viên và kêu gọi đồng bào miền Nam đấu tranh đòi nguỵ quyền thi hành Hiệp định Geneve, hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Vì những bài hát "Tuyên truyền" ông bị bắt vào nhà tù hai lần (1952 và1955).

Từ năm 1960, ông giảng dạy tại trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn. Ông tham gia phong trào hoà bình ở Sài gòn - Chợ Lớn do các trí thức Nam Bộ thành lập.

Tại Sài Gòn, ông là Trưởng khoa ngành Quốc nhạc tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn (1957), hợp tác với nhạc sĩ Trần Văn Khê thực hiện đĩa nhạc dân tộc Việt Nam cho UNESCO (1969). Ông giảng dạy lý thuyết âm nhạc tại các Viện Đại học Huế, Sài gòn, Vạn Hạnh.

Trong thời kỳ chống Mỹ, ông là Ủy viên Ủy ban Trung ương mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (với tên là Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tứ). Năm 1966, ông là thành viên Ban Chủ tịch Lực lượng Bảo vệ văn hoá dân tộc, giảng dạy âm nhạc tại Nhạc viện Thành phố cả sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, tổ quốc thống nhất. Ông là cố vấn của Ban Khoa giáo Thành uỷ về giáo dục âm nhạc trong trường học. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba được nhà nước tặng thưởng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.



Nguyễn Hữu Ba là một vị nhạc sư bậc thầy, một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam sắc nét, ông đã sử dụng nhuần nhuyễn 2 loại tân nhạc và cổ nhạc, tác phẩm của ông đều có giá trị nghệ thuật sâu sắc.

Ông mất ngày 14-7-1997, thọ 83 tuổi. Các tác phẩm chính của ông có thể được liệt kê như sau:

-Tự học đàn nguyệt (tự xuất bản 1940);
-Bản đàn tranh (cổ nhạc), Viện Tỳ Bà xuất bản, 1951;
-Vài thiên kiến về âm nhạc (lý thuyết), Viện Tỳ Bà xuất bản, 1950;
-Nhạc pháp Quốc học, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1960;
-Bản đàn tranh, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Đàn Tỳ Bà, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Đàn độc huyền, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Đàn nhị huyền, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Bài ca Huế, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Phương pháp học đàn tranh, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Dân ca Việt Nam, BQGGD xuất bản, 1961;
-Dĩa nhạc Việt Nam I, UNESCO thu âm và phát hành, 1969;

Loại tân nhạc:
-Quãng đường mai, tự xuất bản, 1940;
-Xuân xuân, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1947;
-Lửa rừng đêm, Viện Tỳ Bà xuấn bản, 1947;
-Thu khói lửa, Tinh Hoa xuất bản, 1950;
-Tiếng hát quân Nam, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1950;
-Ánh dương trời Nam, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1951
..........................


Một trong những hoạt động của những đoàn thể học sinh, sinh viên, thanh niên, hướng đạo... Khi đi cắm trại với nhau, là được tham dự những đêm họp mặt quanh đống lửa. Không có gì thích hơn, tất cả anh chị em tụ họp với nhau ca hát, ngâm thơ, kể chuyện, bàn luận...

Thường những trại lửa là một dịp để mọi người quây quần:
Bạn cùng ta, nắm tay múa ca
Cho đời bừng sống dưới màn sương đông
Máu nồng thêm hăng, bên lửa đêm bập bùng
Tùng tùng tịnh tùng
Bình bùng bình bùng, tang tình tang tình tình...

Ðó là phần mở đầu của bài hát Lửa Rừng Ðêm viết theo điệu Rumba của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba. Cách đây hơn một nửa thế kỷ, nhạc sĩ Ba đã sáng tác những bài Tân Nhạc kêu gọi lòng yêu nước, dấy động ý chí quật cường, khuyến khích hoạt động thanh niên Việt Nam.

Tiến, một bản Tân Nhạc khác của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, được viết như một câu chuyện. Vào đoạn mở đầu là tiếng kèn thúc quân, qua đoạn giữa với lời người chỉ huy và đoạn cuối cùng khi quân dân cùng tiến bước ra sa trường.

Một bản nhạc khác, Tiếng Hát Quân Nam, nguyên là bài Liên Hườn, một khúc hành quân xưa trầm, hùng được ông Ba đặt lời mới và thêm vài cung cho hợp với nhạc cụ Tây Phương.

Ða số những người Việt Nam biết đến Nguyễn Hữu Ba vì Quảng Ðường Mai (lời của Sơn Tùng) và Lửa Rừng Ðêm, hai bản Tân Nhạc nổi tiếng nhất của Nguyễn Hữu Ba. Hai bản nhạc này đã được ghi âm vào đĩa hát 78 vòng ở Paris, do hãng đĩa ORIA phát hành ở Sài Gòn thập niên 1950. Ca sĩ Hải Minh tức nhạc sĩ Trần Văn Khê, người sau trở thành giáo sư tiến sĩ âm nhạc của trường Ðại Học Sorbonne ở Paris, đã trình diễn hai bản nhạc của nhạc sĩ Ba.

Nhưng di tặng (legacy) lớn lao của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba lại ở Cổ Nhạc Việt Nam.

Thông thạo nhạc cổ truyền, Nguyễn Hữu Ba có tiếng về tiếng đàn nhị tại Huế. Thêm nữa, ông chuyên cả độc huyền cầm và đàn tỳ bà. Chính nhạc sĩ Ba đã dùng tài nghệ trình diễn những loại đàn dân tộc này, để mưu sinh trong một thời gian ở Ðất Thần Kinh.

Ðộ một năm sau Hiệp Ðịnh Genève 1954, ông vào miền Nam trở thành giáo sư Cổ Nhạc ở trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Sài Gòn, cho đến khi ông quay lại miền sông Hương núi Ngự làm giám đốc viện Âm Nhạc Huế. Tỳ Bà Trang của Nguyễn Hữu Ba có tàng trữ rất nhiều cây đàn cổ nhạc Việt Nam quý giá và những tài liệu thu thanh, cũng như sách vở về âm nhạc.

Giáo sư nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba có công rất lớn trong việc bảo lưu nhạc cổ truyền dân tộc nhất là nhạc Miền Trung và Dân Ca Việt Nam. Công trình về Cổ Nhạc Việt Nam của ông có thể chia thành sáu phương diện khác nhau: trình diễn, khảo cứu, sáng tạo, cổ động và giáo dục. Học trò âm nhạc của ông rất nhiều và rất nhiều nhiều người ngày nay đã thành danh như các nữ nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan (Sài Gòn), Phương Oanh (Paris), Quỳnh Hạnh (Paris)...

Những nét đại cương về thành quả của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba như sau:

* 1940: xuất bản quyển sách Tự Học Ðàn ở Huế.
* 1950: xuất bản quyển Vài Thiển Kiến Về Âm Nhạc tại Huế. Quyển sách này viết về sự thành lập Tỳ Bà Trang và quan niệm, hoài vọng cùng lý tưởng đối với tiền đồ nhạc Dân Tộc.
* 1956: viết quyển Ca Huế Cổ Truyền có ghi ký âm cho 10 bài Ngự, còn gọi là Thập Thủ Liên Hoàn, theo ký âm nhạc Tây Phương trên khuôn nhạc 5 dòng.
* 1961: viết quyển sách Nhạc Pháp Việt Nam.
* 1963: xuất bản các tập nhạc nhỏ về bài bản đàn tranh, bài tập cho đàn độc huyền, đàn nhị và tập nhạc Pháp cùng nhạc Việt Nam.
* 1966: thu thanh tài liệu Nhạc Huế (các loại Nhạc Cung Ðình và Nhạc Phật Giáo), Ca Huế để giao cho cơ quan UNESCO thực hiện thành đĩa 33 vòng VIETNAM 1. Ðĩa nhạc này kèm theo bài viết do giáo sư Trần Văn Khê khảo cứu biên soạn bằng 3 thứ tiếng Pháp Anh Ðức chú trọng về phân tích âm nhạc đã được hãng đĩa Barenreiter Musicanhon phát hành năm 1969. Ðĩa nhạc VIETNAM 1 đoạt giải thưởng Deutscher Schallplatten Preis và thêm giải Academie du Disque Francais.
* 1971: đĩa VIETNAM 2 xuất bản, cũng do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba cung cấp tài liệu.
* 1998: cả hai đĩa VIETNAM 1 và VIETNAM 2 được hãng đĩa Rounder Records ở Hoa Kỳ tái bản dưới hình thức CD.

Hai đĩa nhạc VIETNAM là công trình rất to tát, rất có giá trị của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba.

Giáo sư Nguyễn Hữu Ba, người nhạc sĩ đã hiến dâng gần như trọn cuộc đời mình cho Cổ Nhạc Việt Nam, đã âm thầm từ giã cõi đời, vài năm trước năm 2000.

Theo Phạm Anh Dũng (dactrung.net)


LỬA RỪNG ĐÊM
READ MORE - NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU BA

Thursday, March 25, 2010

LÊ THIÊN MINH KHOA



LÀ TÔI


Có khi như là dã thú
Dẫn nhau về chốn đồi hoang
Cắn nhau như nhai thịt sống
Nuốt nhau như uống sữa tươi

Có khi như là Phật sống
Nói năng như một hiền nhân
Ăn uống như tu khổ hạnh
Đứng ngồi ra dáng thanh cao

Có khi cũng là tác giả
Làm thơ viết truyện lung tung
Có mấy bài thơ cọc cạch
Học trò phải học thuộc lòng

Là tôi, trong ngoài có vậy
Khuyết điểm: là không có ưu
Ưu điểm: biết mình nhiều khuyết
Suốt đời, tìm mình không ra.

Bà Rịa, 01/2006
L.T.M.K



EM ĐI LÀM GAÍ

Bố đi rồi em đi làm gái
Thức bán đêm dài cho khách chơi
Hiên nhà mẹ chong đèn đứng đợi
Cái điếm em thua điếm sự đời!

Nhà khổ quá em đi làm gái
Tiền trao cháo múc cháo thịt người
Xẻo thịt ra mua quà gởi bố
Mua tặng năm em những tiếng cười

Người đi ngủ em đi làm gái
Lúc đêm về điểm phấn tô son
Trần thân cho đâm ngang xẻ ngược
Để mai về xác mỏi thân mòn

Nghe kể chuyện em đi làm gái
Bán sự đời mua cái sự đời
Thôi em!
Hãy mặc xiêm y lại !
Về!
Kẻo em chờ!
Kẻo mẹ trông!


NGỌN ĐÈN DẦU

(Kính tặng quí thầy cô vùng sâu)

Ngọn đèn dầu lập lòe soi đêm Ch’ro
soi lối mòn cho em đến lớp
soi mắt học viên long lanh giờ tập viết
soi lòng em thương dân Ch’ro …

Ngọn đèn dầu đo sớm, đo khuya
thức cùng em mòn đêm rừng im vắng
trang giáo án cũng từ trang giấy trắng
có dáng thân thương nho nhỏ ngọn đèn dầu

Cái xã miền rừng đêm ở rất lâu
cái mầm sáng mọc lên từ bóng tối
ơi mầm sáng đã bao năm chờ đợi
sống trong lòng người dân Ch’ro…

Lửa trại bập bùng soi đêm Ch’ro
trong “Hội xóa mù” sao mắt em lại ướt?
điệu la-vân(*) mượt mà trai gái hát
em có biết là để tặng riêng nhau?

Trong lửa trại bập bùng soi đêm Ch’ro
có dáng thân thương nho nhỏ ngọn đèn dầu..


(Cánh buồm ngược gió, biên khảo, Nguyễn Bá Hoàn, NXB Văn Hóa SG, 9.2008, p.306-307)

(*) la-vân (tiếng Ch ro): hát giao tình



TRONG QUÁN CÀ PHÊ

Trong quán cà phê chúng tôi nói chuyện đời thường
vợ mang nặng đẻ đau chuyện về thời quá độ
chuyện thời giá, đồng lương
chuyện người ta bỏ xứ
xen chuyện trời nắng, trời mưa…

Trong quán cà phê chúng tôi nói chuyện tâm tình
người bạn nghèo cứ hẹn dần với người yêu ngày cưới
người bạn vong niên đàn con thơ dại
chiếc quần dài cắt tả lót cho con

Trong quán cà phê chúng tôi nói chuyện cuộc đời
có người hỏng thi, có người thành đạt
đời vẫn thế, cứ là phức tạp
giản đơn thôi đâu gọi là đời!
người bạn nhà thơ như tay già thợ mộc
giấu sự đời sau rối nét hoa văn
người họa sĩ vẽ chân dung kiếm sống
những bức tranh úp mặt vào vách
những bức tranh ngửa mặt lên trời –
nhà giáo chín chắn nói ra điều mình chưa từng suy nghĩ
và có cuộc đời cứ “mòn đi rĩ ra”

Trong quán cà phê chúng tôi góp chuyện ngắn thành dài
và chuyện dài rồi cũng ngắn
khi người chủ nhắc khéo giờ đóng cửa
vuốt đồng trinh lại băn khoăn giá cả
dù càphê mới uống có hôm qua

Câu chuyện trong quán cà phê
không dứt được cả trong giấc ngủ
sớm mai lại lao vào công việc
để gặp lại mỗi ngày
trong quán cà phê.


Sài Gòn_ Bà Rịa, 1980.
(Người Và Việc: Những Người Nổi Tiếng, Tập1, NXB Hội Nhà Văn, 2006, p.260 - 262)



THỊ TRẤN TÔI

Bên núi bên sông bên biển cả.
Cũng ồn ào suốt ngày Vắng lặng canh khuya
Đằng sau vài ba dãy phố
Là cánh đồng êm ả cò bay...

Thị trấn tôi những hàng cây không cao
bình thường như người dân ở đó.
những cánh chim từ rừng những cánh chim từ bể
sóng gió bạt ngàn lặng lẽ về đây.

Con đường bò giữa hai hàng cây
mặt sỏi đá từng xước da em nhỏ
cứa bàn chân mẹ lưng còng gánh nặng
trăn trở oằn cong khuất nếp ngói xưa

Thị trấn tôi đêm đêm
những chiếc xe bò đóng bánh xe hơi lăn qua
mèo hoang khóc giữa đám dân hè phố
khấp khểnh vào đêm, khấp khểnh tìm ngày

Sông núi là vợ chồng tên gọi trùng nhau
chồng là núi chiều đỏ gay men rượu
hai bên sườn xương xẩu xanh xao
vợ là sông khi trong khi đục(*)
khi mặn nồng, khi ngọt, khi chua

Thị trấn tôi là nơi tôi ở
tất tả bao cuộc đời xuôi ngược lướt qua
thị trấn tôi như là quán trọ
mà tôi xa lại gọi tôi về...


(*)DỊ BẢN: Khi dạy trong trường Phổ Thông:
vợ là sông khi ròng khi rặc


GẶP HAI LOÀI HOA Ở ĐÀ LẠT

Tím bìm bìm hoang dại
Lặng lẽ chốn phồn hoa
Tím ti-gôn quý phái
Lạc bên suối hoang sơ.


MÙ SƯƠNG

Suối lặng lẽ chảy vào mù sương
Sương lững lờ trôi theo gió thổi
Anh lặng lẽ chảy về em mòn mỏi
Em thành mù sương, em trôi…


THẾ THÔI!


Ta yêu nhau đâu phải chuyện vô tình

Mà gặp nhau sao tình cờ đến thế

Khi hiểu ra anh là người đến trễ

Và ngày xưa đến sớm, thế thôi!




Và ngày xưa đời thong thả trôi

Đâu biết được lòng ai e thẹn

Đâu biết được đời không hò hẹn

(muốn hẹn hò có dám nói ra đâu!)




Chuyện ngày xưa nhắc lại thêm đau

Rồi ngày mai, ngày sau vẫn thế!

Khách đến sớm còn tàu thì trễ

Tàu vào ga, khách đã bỏ đi rồi...

Để giờ đây giữa vắng vẻ ga đời

Tàu vẫn đợi người khách xưa trở lại.




VỀ XƯA


Thế rồi mưa nắng dâng cao

Hình như còn đó ngọt ngào xa xưa

Ngoảnh nhìn lối cũ đong đưa

Tóc mây mấy lọn ngẩn ngơ em về.






ĐỌC TIẾP :

Nhà Thơ-Nhà giáo Lê Thiên Minh Khoa- Cây rụng lá để nở muôn hoa


Nỗi niềm hoài hương Quảng Trị trong thơ LTMK


Phỏng vấn LTMK về nghề Thơ


Phỏng vấn LTMK về nghề dạy học

READ MORE - LÊ THIÊN MINH KHOA

Wednesday, March 24, 2010

HOÀNG NGUYÊN



Hoàng Nguyên (1932 - 1973) là một nhạc sĩ tên tuổi, tác giả các ca khúc nổi danh như Ai lên xứ hoa đào, Cho người tình lỡ.

Ông tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 1 1932 tại Đông Hà, Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên có tham gia kháng chiến nhưng rồi từ bỏ quay về thành phố.

Lên ở Đà Lạt, Hoàng Nguyên dạy học tại trường tư thục Tuệ Quang, thuộc chùa Linh Quang, khu số 4 Đà Lạt, do Thượng tọa Thích Thiện Tấn làm Hiệu trưởng. Thầy giáo Cao Cự Phúc dạy Việt văn lớp đệ lục. Trong ở đó, ông là thày giáo dạy nhạc cho Nguyễn Ánh 9, người sau này trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng đồng thời là nhạc công chơi đàn dương cầm.
Năm 1956, trong một đợt lùng bắt ở Đà Lạt, do trong nhà có cả bản Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, Hoàng Nguyên bị bắt và đày ra Côn Đảo khoảng năm 1957.

"... Ở Côn Sơn, thiên tình sử của người nghệ sĩ Hoàng Nguyên mở đầu với cảnh tình éo le và tan tác. Là một tài hoa đa dạng, người tù Hoàng Nguyên được vị Chỉ Huy Trưởng đảo Côn Sơn mến chuộng nên đã đưa chàng ta về tư thất dạy Nhạc và Việt văn cho ái nữ ông, tên H. năm đó khoảng 19 tuổi... Mối tình hai người nhóm lên vũ bảo. Trăng ngàn sóng biển đã là môi trường cho tình yêu ngang trái nầy nẩy nở.

Chợt khi người con gái của Chúa Đảo mang thai. Mối tình hai nhịp so le bị phát giác. Để giữ thể thống cho gia đình. Vị Chúa Đảo giữ kín chuyện nầy và chỉ bảo riêng với người gây ra tai họa là nhạc sĩ Hoàng Nguyên: ông ta đòi hỏi Hoàng Nguyên phải hợp thức hóa chuyện lứa đôi của hai người với điều kiện vận động cho người nhạc sĩ được trả tự do..." (Lâm Tường Dũ - Tình Sử Nhạc Khúc).
Hoàng Nguyên được trả tự do, trở về Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học ở trường tư thục Quốc Anh. Năm 1961, Hoàng Nguyên theo học tại Đại học Sư Phạm Sài Gòn, ban Anh văn. Trong thời gian theo học đại học, Hoàng Nguyên có quen biết với ông Phạm Ngọc Thìn, thị trưởng thành phố Phan Thiết. Bà Phạm Ngọc Thìn là nữ diễn viên Huỳnh Khanh, mến mộ tài năng của Hoàng Nguyên đã nhận ông làm em nuôi. Hoàng Nguyên dạy kèm cho Ngọc Thuận, con gái ông bà Phạm Ngọc Thìn. Hai người yêu nhau và Hoàng Nguyên trở thành con rể ông bà Phạm Ngọc Thìn. Trước đó Hoàng Nguyên có ý định quay lại với cô gái ở Côn Sơn, nhưng cô đã đi lấy chồng. Ca khúc Thuở ấy yêu nhau ra đời trong khoảng thời gian đó.
Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau đó chuyển về Cục Quân Cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng và được giao quản lý ban nhạc Hương Thời Gian của Anh Việt. Hương Thời Gian xuất hiện trên truyền thanh và truyền hình Sài Gòn đã thu hút khá đông khán thính giả.

Ngày 21 tháng 8 năm 1973 ở Vũng Tàu, Hoàng Nguyên mất do một tai nạn xe hơi.


Tác phẩm

Ai lên xứ hoa đào
Anh đi mai về
Anh đi về đâu
Bài tango cho riêng em
Bài thơ hoa đào
Cho người tình lỡ
Đường nào em đi
Đường nào lên Thiên Thai
Duyên nước tình trăng
Em chờ anh trở lại
Lá rụng ven sông
Lời dặn dò
Lời người ở lại
Sao em không đến
Tà áo tím
Thuở ấy yêu nhau
Tiếng hai đêm
Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia


HOÀNG NGUYÊN – Cung Đàn Tài hoa Bạc mệnh
Nguyễn Ánh 9


Hoàng Nguyên vĩnh viễn ra đi đã gần phần tư thế kỷ, gửi lại cho đời không ít những tác phẩm đáng trân trọng, bởi nét nhạc tài hoa và ca từ thấm đậm, buồn man mác. Có lẽ trong long những người yêu nhạc sẽ mái mái vang vọng những giai điệu đầy kỷ niệm của thời kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp … “Nếu hiểu rằng anh đi vì lũ giặc tham tàn, thì em ơi, em chớ sầu thương chi ! Em thấy chăng khói súng của giặc thù còn mịt mùng và còn che khuất mờ …”. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết ca khúc Anh Đi Mai Về này ở tuổi 20 tràn đầy nhiệt huyết trong bối cảnh cả dân tộc đang trường kỳ kháng chiến. Bài hát tức khắc được đón nhận nồng nhiệt và phổ biến rộng khắp. Hiếm có những nhạc sĩ trẻ xưa nay tìm được thành công dứt khoát ngay tác phẩm đầu tay của mình và nhanh chóng thành danh như anh.
Với tôi, Hoàng Nguyên như vẫn còn ở đâu đó quanh đây và những kỷ niệm với anh còn như mới hôm qua … Anh Hoàng Nguyên – Cao Cự Phúc của tôi. Tôi gặp anh lần đầu tiên cách nay hơn 40 năm, khi đang học Trường Yersin ở Đà Lạt, thành phố thơ mộng sau này đã đi vào các tác phẩm vượt thời gian của anh. Dạo đó, biết tôi là một chú học trò mê âm nhạc có chút năng khiếu, Hoàng Nguyên đã để tâm chăm sóc. Chủ Nhật hàng tuần, anh vào trường nội trú đón tôi ra ”nhà” anh chơi và ân cần truyền đạt cho tôi những kiến thức ban đầu về âm nhạc. “Nhà” anh ở thật ra chỉ là một căn phòng đơn sơ, trong khuôn viên Trường Bồ Đề Đà Lạt, nơi anh đang dạy Anh văn cho các lớp trung học. Một chiếc giường đơn, một bàn viết bằng gỗ thông và một cây đàn guitar treo trên vách. Thời gian đó, Hoàng Nguyên còn phụ trách các buổi phát thanh của Hội Phật giáo trên làn sóng Đà Lạt. Một hôm, tôi rất bất ngờ và hạnh phúc được anh “mời” tham gia ban nhạc phát thanh của anh. Đó là lần đầu tiên tôi bước vào “nghề ca nhạc”, năm 1956.
Năm đó, Hoàng Nguyên đang phác thảo ca khúc Bài Thơ Hoa Đào:
“Chiều nào dừng chân phiêu lãng,
Khách đến đây thấy hoa đào vương lối đi…”


Tôi hân hạnh là người ái mộ đầu tiên được anh đàn và hát cho “nghe thử” những âm điệu lời ca lãng đãng sương khói núi đồi của Bài Thơ Hoa Đào. Tôi vẫn nhớ như vừa ra khỏi giấc mơ còn tươi rói: chúng tôi ngồi co ro trong căn phòng nhỏ của anh; bên ngoài trời cao nguyên xam xám và mưa nhỏ. Đằng kia, những cánh hoa đào vừa lìa cành theo cơn gió bất chợt … Hỏi “Chắc anh đã chọn Đà Lạt làm quê hương ?”. Đôi mắt u hoài sau cặp kính trắng của anh hình như chợt xa khuất hơn: “Không, anh chỉ ghé chân để tạm mưu sinh và tìm cảm hứng …”.
Vâng, Hoàng Nguyên chỉ “ghé chân” – như anh viết “dừng chân phiêu lãng” nơi phố núi mù sương này một quãng thời gian ngắn nhưng cũng đủ để anh viết nên hai ca khúc tiêu biểu về một vùng đất thơ mộng dễ yêu: Bài Thơ Hoa Đào và Ai Lên Xứ Hoa Đào, hai ca khúc bất hủ đã làm rung động trái tim nhiều thế hệ người yêu nhạc, mãi mãi gắn chặt nghệ danh của anh với địadanh nổi tiếng này.
“Ai lên xứ hoa đào, dừng chân bên hồ nghe chiều rơi.
Nghe hơi giá len vào hồn người, chiều Xuân mây êm trôi.
Thông reo bên suối vắng, lời dìu dặt như tiếng tơ …”


Bẵng đi một thời gian, chúng tôi gặp lại nhau ở Sài Gòn khảng đầu thập niên 70. Lúc ấy, tôi đã đi vào lĩnh vực ca diễn và Hoàng Nguyên đã bị động viên vào binh chủng Quân cụ chế độ cũ. Như một số các nghệ sĩ khác cùng thời, buổi sáng anh thường đến uống cà phê ở nhà Thanh Thế, đường Nguyễn Trung Trực. Nghe nói dạo đó tình cảm gia đình anh gặp chuyện không vui. Anh trở nên u uất hẳn và có lẽ vì thế anh đã rất thích bài hát Summertime có âm sắc blues-jazz trầm mặc đang thịnh hành và được phát thường xuyên ở nhà hàng Thanh Thế. Tác phẩm Cho Người Tình Lỡ của anh ra đời khoảng thời gian đó, chịu phần nào âm hưởng khắc khoải của Summertime.
“Nhớ mà chi, đau thương qua rồi
Thương mà chi, xót xa cũng đắng cay …”


Năm 70, bài Không của tôi được Khánh Ly thu vào đĩa 45 vòng do Hàng đĩa Tình Ca Quê Hương sản xuất, mặt sau có bài Cho Người Tình Lỡ do Thanh Lan hát. Ngày hãng đĩa trao tặng đĩa hát nói trên cho chúng tôi, Hoàng Nguyên thân mật vỗ vai tôi, thì thầm:”Mau quá Ánh hỉ ? Mới ngày nào ở Đà Lạt, anh em mình nói chuyện âm nhạc nhập môn, bây giờ Ánh đã có bài thu đĩa với anh…”. Vẫn là ngôn phong của một người anh ân cần, trìu mến !
Hoàng Nguyên còn để lại một tác phẩm khác, được yêu mến không kém các ca khúc đã có của anh, mà anh viết về xứ Huế, quê anh: Tà Áo Tím.
“Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang
Tôi đã gặp một tà áotím, nhẹ thấp thoáng trong nắng vương
Mầu áo tím sao luyến thương …”



Hoàng Nguyên đột ngột chia tay với không gian âm nhạc của chúng ta một buổi sáng năm 1973 trong một tai nạn giao thông khi anh từ Vũng tàu trở về Sài Gòn. Ở độ tuổi 50 chín muồi rung động và từng trải cuộc đời.
Tôi thầm nghĩ, nếu Hoàng Nguyên chưa vội ra đi chắc chắn ca mục của anh sẽ còn nối tiếp bằng những ca khúc dịu dàng, thanh thoát trong đó nỗi u hoài được nâng lên thành những vần thơ trong vắt …


Nguồn: Tuổi Trẻ Chủ Nhật 1995

NGHE CA KHÚC CỦA HOÀNG NGUYÊN


AI LÊN XỨ HOA ĐÀO

ANH ĐI VỀ ĐÂU

BÀI TANGO CHO RIÊNG EM

CHO NGƯỜI TĨNH LỠ

TÀ ÁO TÍM
READ MORE - HOÀNG NGUYÊN

Sunday, March 21, 2010

LINH ĐÀN - BÀI THƠ ĐIỆP TỪ


BÀI THƠ ĐIỆP TỪ

Linh Đàn


Trên con đường xuyên Việt , đèo Hải Vân là đề tài bất tận muôn thuở của thơ ca, tản mạn trong nhân gian, chắc hẳn rằng cảnh quan ở đây cũng tương xứng với một núi thơ, một biển thơ, một trời thơ, không chỉ của người Việt Nam, mà còn cả người ngoại quốc, thi nhân hay người yêu thơ qua đây không nhiều thì ít cũng để lại cho đời những vần thơ, trong đó có nhà nho Nguyễn Hy Lượng (1882 – 1953), quê ở Lan Đình, Gio Linh, Quảng Trị, nhân chuyến đi thăm con trai làm việc ở sở hỏa xa Đà Nẵng, vào năm 1950 lần đâu tiên qua đèo Hải Vân, Cụ có cảm tác bài thơ :

QUÁ HẢI VÂN SƠN

Sơn sơn liên hải, hải liên thiên
Sơn xuyết thanh thiên, thiên đới* thuyền
Lộ tự trường xà - xa tự điểu
Vân yên tà tịch – nịch vân yên

Nguyễn Hy Lượng
*(đới là đội = âm Bắc gọi là đái)


Chỉ bốn câu thơ điệp từ thôi, mà không có bút mực nào tả hết cái sơn cùng thủy tận của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, tuy là thơ chữ Hán, nhưng những âm Hán ấy đã Việt hóa, rất gần gũi với văn chương Việt Nam.


Chúng ta thử cùng đi sâu vào từng câu một của bài thơ

Sơn sơn liên hải hải liên thiên : chúng ta thấy núi non chồng chất, biển trời bát ngát mênh mông, cảnh vật bao la trùng điệp, non sông cẩm tú lạ thường, nếu là văn xuôi, chúng ta tả cảnh đèo Hải Vân, cho tương xứng câu thơ trên cũng phải mất khoảng vài trăm từ ngữ trở lên, để có độ trùng điệp cân bằng như thế, nhưng xét về mặt hình thức, thì nó không phải cầu kỳ, nắn nót công phu, câu thơ rất tự nhiên. nhưng chỉ vỏn vẹn có bảy chữ thôi, mà ta thấy và thâu suốt luôn cái hùng vĩ của cảnh quan, đúng thế : thơ chính là ở “ý tại ngôn ngoại”.

Sơn xuyết thanh thiên thiên đới thuyền : từng ngọn núi cao chọc trời xanh, mắt nhìn ra xa xa giống như trời đang đội ghe thuyền trên biển cả, câu thơ nầy Lê Đình Lộng Chương hồi ở Bà Rịa có nhận xét : Qua đèo Hải Vân vào buổi chiều, lúc nắng yếu, sương chiều quyện vào mây, biển trời liền nhau, hình ảnh trời đội ghe thuyền, đúng là tác giả có mắt nhìn, hồi đó Lộng Chương không đồng ý chữ “ sơn triệt thanh thiên thiên đới thuyền” và nói với tôi anh phải nhìn lại chữ triệt, sau tôi về Đà Nẵng, ông Nguyễn Duy Ngân (con ông Nguyễn Hy Lượng) cho xem bản chính là chữ xuyết, khi đó mới biết Lộng Chương với kiến thức Hán Văn uyên bác, và từ đó đến nay cũng chưa nói được điều gì với Lộng Chương

Lộ tự trường xà - xa tự điểu : đường quốc lộ ngoằn ngoèo như rắn lượn, xe cộ giống như chim bay bên sườn núi, thật là ngoạn mục,

Vân yên tà tịch - nịch vân yên : mây khói bóng chiều lãng đãng trôi, cùng phản chiếu xuống nước, thật là cảnh vật lênh đênh huyền ảo.

Chúng ta còn phát hiện thêm câu đầu của bài thơ có 2 chữ “HẢI” và câu kết có 2 chữ “VÂN”, như thế ta tin chắc chắn rằng : tác giả không phải tả một cảnh nào khác rồi gán ghép cho Hải Vân,……. và thêm một điều lý thú nữa là cách thả vần lững hết sức độc đáo trong mỗi câu thơ, chữ thứ 4 và chữ thứ 5 đồng âm : câu 1 (2 chữ hải), câu 2 (2 chữ thiên) đồng vần : câu 3 (xà, xa),câu 4 (tịch, nịch) mà chúng ta thấy đó cũng là một nghệ thuật rất riêng, rất tài tình của tác giả.

Xét về hình thức thơ điệp từ, xưa nay người ta chỉ làm một hay vài câu trong một bài thơ, hoặc tự nhiên mạch thơ phải đi như thế, phần nhiều là thơ chữ Hán mà chúng ta thường bắt gặp trong những câu thơ tuyệt tác …như vài thí dụ dưới đây :

Dương Tử giang đầu dương liễu xuân,
Dương hoa sầu sát độ giang nhân.....
Quân hướng Tiêu Tương thiếp hướng Tần
.........của Trịnh Cốc (?).

Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa......... của Đỗ Mục,

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ.
Phương thảo thê thê anh vũ châu
..... của Thôi Hiệu, chẳng hạn. còn trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn vừa trùng từ vừa điệp từ thì không sao kể hết như :

Lang cố thiếp hề Hàm Dương
Thiếp cố lang hề Tiêu Tương
Tiêu Tương yên cách Hàm Dương thụ
Hàm Dương thụ cách Tiêu Tương giang
Tương cố bất tương kiến
Thanh thanh mạch thượng tang
Mạch thượng tang, mạch thượng tang
Thiếp ý……………

Đoàn Thị Điểm dịch :

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mây ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng…….

Hoa tiền nguyệt chiếu nguyệt tự bạch.
Nguyệt hạ hoa khai hoa tự hồng
Nguyệt hoa hoa nguyệt hề ảnh trùng trùng
Hoa tiền nguyệt hạ hề tâm sung sung

Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm
Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau…..VV

Nói về bài thơ qua đèo Hải Vân của cụ Nguyễn Hy Lượng, thì chắc rằng chẳng mấy ai biết tới, vì tác giả làm ra thơ rồi bỏ trong rương khóa lại, 60 mươi năm dài đằng đẳng trôi qua bài thơ vẫn chưa được chào đời. thì nói gì chê khen phân tích, nhưng chúng ta thấy phần nhiều có “đèo là có thơ điệp từ” ví như bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan : Cỏ cây chen đá lá chen hoa,…Một mảnh tình riêng ta với ta. Hay Qua đèo Ba Dội của Hồ Xuân Hương : Một đèo, một đèo…lại một đèo, thì bài thơ của cụ Khóa Lượng cũng có cái giá riêng về mặt điệp từ của nó.

Vào thời gian 1950 người làm thơ chữ Hán được gọi là hiếm. thơ Đường Luật chỉ còn thoi thóp của những nhà khoa cử còn sót lại, nên bài thơ nầy cũng ở vào thời kỳ suy vong của thơ luật, nhưng chính nó có một hình thái như thời cực thịnh của thơ Đường.

Xét về cảnh quan để có thơ cũng không phải nơi nào cũng có được, ai cũng hiểu rằng từ cảnh quan nhập vào nhãn quan để rồi phát ra tiếng ra lời, ngôn từ của người ban tặng cho thiên nhiên, chắc có khác thiên nhiên ban tặng cho cảnh quan để có ngôn từ, ở đây cả hai đều hội ý, phần xác và phần hồn cái nào cũng hòa quyện lẫn nhau, vì thế nó tự đào thải những ngôn từ thiếu trung thực ra ngoài, còn lại cái cốt lõi của chữ nghĩa là công bằng, là bản năng của hiện thực, nhưng phần nghệ thuật bài thơ nầy lại vượt quá xa, tác giả đã làm được điều đó.

Nhưng dù sao lớp người sau, phần hiểu thơ chữ Hán vẫn không được như người xưa, hơn nữa đây là một bài thơ điệp từ, nên chúng tôi rất mong được sự góp ý, phê phán chân tình của độc giả, để chúng ta thấy thêm nét đẹp của thơ chữ Hán, mà hồi xưa nó chiếm địa vị độc tôn của nền văn học Nước Nhà. Và nét đẹp riêng của dòng thơ điệp từ mà xưa nay vẫn cho là của hiếm.


LINH ĐÀN
Saigon đầu năm Canh Dần 2010
-------------------------------------------------------------------------------------
Xin tạm dịch Thơ:

Bài dịch 1

QUA ĐÈO HẢI VÂN

Núi liền biển – biển liền trời
Núi đâm trời thủng cho trời đội ghe
Đường là rắn – chim là xe
Khói mây bóng xế nước đè khói mây

LINH ĐÀN

Bài dịch 2


Núi non liền biển, biển liền trời
Núi chọc lên trời, thuyền đẩy trôi
Xe chạy giống chim, đường giống rắn
Chiều tà biển cuốn, khói mây vùi

HOÀNG ĐẰNG

READ MORE - LINH ĐÀN - BÀI THƠ ĐIỆP TỪ

Friday, March 5, 2010

HỒ SĨ BÌNH - NHỪNG CUỘC "CHƠI CHO VUI"

Họa sĩ Võ Xuân Huy
Photo từ trang: www.thethaovanhoa.vn


Tạp bút



Vừa rồi tôi có về dự một cuộc triển lãm sắp đặt với chủ đề Tháp lúa của hoạ sĩ Võ Xuân Huy tại Thành Cổ, Quảng Trị. Huy vốn là trưởng khoa sơn mài của Đại học mỹ thuật Huế, từng triển lãm rất nhiều nơi trong, ngoài nước và đã có nhiều giải thưởng. Một hoạ sĩ của đất Quảng Trị đã thành danh .Tranh của Huy dù ở những chất liệu nào cũng là sự hoà hợp và kết tinh giữa trí tuệ và cảm xúc được thể hiện bằng một ngôn ngữ hội hoạ hiện đại của trào lưu trừu tượng. Nói như thế để hiểu rằng, lượng người xem để có thể đồng cảm ắt là hạn chế trong khi cái mặt bằng văn hoá trên đất Quảng Trị vẫn còn khiêm tốn. Thế nhưng trong vòng nửa tháng, Huy đã tổ chức 2 cuộc triển lãm ngay trên mảnh đất nhau rốn của mình, trước đó đã cùng những nông dân bày biện, sắp đặt trên những cánh đồng ở Vĩnh Linh, quê anh. Những cuộc chơi mà đối với những người tính toán hơn thiệt, có thể cho là mất công tốn kém, vô ích chẳng đem lại một lợi lộc nào cả. Theo cách nói của những người trong nghề là chơi cho vui. Đúng là chơi cho vui vì chẳng để mang lại điều gì cả. Thế nhưng thật lạ lùng, đã có những cuộc chơi nghệ thuật cho vui như thế đã diễn ra trên mảnh đất Thành Cổ này. Hoạ sĩ Trương Bé sau khi nghỉ hưu cũng về đây triển lãm tranh trừu tượng. Nhà danh hoạ Lê Bá Đảng sau gần 70 mươi năm xa xứ, lần trở về Việt Nam đầu tiên cũng bày biện tranh và đá ngay tại đình làng Bích La. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng thế, khăn gói ra Thành Cổ, tổ chức một tạp chí Cửa Việt đình đám ngay trên mảnh đất còn bời bời cỏ tranh. Nghe nói nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ những ngày trước khi mất cũng muốn một lần tổ chức đêm nhạc của mình trên ngôi làng Bích Khê, nơi sinh thành dòng nhạc dân tộc trữ tình Gạo trắng trăng thanh ngày xưa.

Cả đạo diễn Lê Cung Bắc cũng thế, ao ước một đời làm đạo diễn là được thực hiện một bộ phim máu thịt trên vùng đất này… Và còn nhiều người nữa cũng mang một mong ước như thế. Ai cũng muốn cơm đùm gạo bới lặn lội về quê để làm một cái gì đó ra mắt với bà con, gặp gỡ giao lưu với anh em văn nghệ ở cố hương. Xâu chuổi tất cả những cuộc chơi cho vui ấy mới thấy rằng tất cả những người hoạt động nghệ thuật sinh ra trên vùng đất khắc nghiệt này đều có chung một khát vọng có tính chung thẩm là được trở về dù một lần trong đời đem những tác phẩm của mình về với công chúng quê nhà. Có thể những gam màu trong biến thể của Huy, những vỏ trứng, sơn ta trong sơn mài của Trương Bé, đá, cát, bột cưa…trong tác phẩm của Lê Bá Đảng chưa hẳn đã hấp dẫn đông đảo người xem, nhất là đối với mảng nghệ thuật mang hơi hướm hiện đại nhưng tất cả đều có chung mong ước cháy bỏng. Ai cũng biết người già thường sống bằng ký ức nhưng đối với những người hoạt đông nghệ thuật thì ký ức và cảm thức quy hồi luôn là một ám ảnh bức bối đến thao thiết.

Gần đây tôi có đọc một bài phỏng vấn và tranh luận của anh Nguyễn Hữu Liêm với một số nhà văn, bạn đọc ở hải ngoại. Anh Liêm là tiến sĩ triết học, từng chủ biên một tạp chí triết học ở hải ngoại, là luật gia, hiện là chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Mỹ. Vì thế nên đã có nhiều người gọi anh là triết gia theo nhiều ý nghĩa. Trong những ý kiến phát biểu và đối thoại kể trên, dù cách nhìn nhận vấn đề có thể còn khoảng cách nhưng đằng sau những đóng góp để xây dựng đất nước đều có một tâm ý cùng nhau trở về. Tôi thực sự xúc động khi đọc những dòng cuối của anh, đại ý : Có lẽ sẽ có lúc tôi bỏ hết trở về dựng nhà bên sông Thạch Hãn chỉ để nửa đêm …nghe tiếng gọi đò. Với một người mà cả đời đắm mình trong những suy tưởng đa đoan của triết học, đầu óc thiên về thuần lí thế mà sâu thẳm trong tâm thức lại nặng nghĩa nặng tình với quê nhà như thế thì không còn là cuộc chơi cho vui nữa rồi.Và hình như, với những người lưu xứ nơi đất khách, trong tâm hồn luôn trầm sâu đối diện với một ý thức vô trú nhiều khi đến nghẹt thở.

Trong đề dẫn khai mạc triễn lãm của Huy, tác giả lấy lại cái phát biểu của một nhà văn Nga : nếu đi tận cùng cái làng của mình sẽ bắt gặp nhân loại. Có lúc, trước những cuộc chơi nghệ thuật trên chính quê nhà của những người đã thành danh ở nước ngoài hay trong nước, tôi chợt muốn thêm một vế trong câu nói của nhà văn Nga, rằng nếu đi hết thế gian, ta sẽ gặp lại ngôi làng của ta .Vâng nơi ấy ta sẽ gặp lại chính mình vì nghệ thuật là một cuộc hành trình không hề mệt mỏi để lên đường và trở lại của đời người. Điều đó giải thích về những cuộc chơi cho vui để trở về trên con đường sáng tạo ấy là một cách tạ ơn với nơi chốn sinh thành mà đối với những người hoạt động nghệ thuật đều trở thành khát vọng. Cho dẫu chỉ một lần, những cuộc chơi nghệ thuật …cho vui ấy mà.

READ MORE - HỒ SĨ BÌNH - NHỪNG CUỘC "CHƠI CHO VUI"