Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 16, 2026

HANG ĐỘNG BRAI - "VIÊN NGỌC ẨN" GIỮA ĐẠI NGÀN TRƯỞNG SƠN - Youtube và tổng hợp từ báo chí

 


 

Hang động Brai 

“Viên ngọc ẩn” 

giữa đại ngàn Trường Sơn 

(Tổng hợp từ báo chí và các trang quảng bá du lịch)

 

Hang động Brai nằm tại thôn A Xóc, xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị – nơi giao thoa giữa rừng núi dãy Trường Sơn hùng vĩ và những dòng sông uốn lượn. Được phát hiện và biết đến nhiều hơn từ năm 2012, nơi đây thu hút du khách bởi vẻ đẹp hoang sơ, kỳ bí và những dãy thạch nhũ nguyên thủy chưa bị khai phá nhiều.

Brai là một hang động khô lớn với cửa hang hình tam giác rộng – đủ chào đón mọi du khách tò mò muốn bước vào khám phá. Bên trong, du khách sẽ bị mê hoặc bởi những khối thạch nhũ đủ hình dáng, màu sắc – từ trắng tinh khiết đến vàng lấp lánh, kéo dài từ trần xuống nền hang. Những thạch nhũ này được kiến tạo qua hàng triệu năm, tạo nên cảnh quan kỳ ảo và đầy bất ngờ. Không chỉ có nhũ đá, phía sâu bên trong hang Brai còn xuất hiện những dòng suối nhỏ chảy róc rách, nước trong vắt len lỏi qua các bãi đá ngầm, mang lại cảm giác thư thái và lạnh mát ngay khi đặt chân vào không gian này.

 

1.Lịch sử và ý nghĩa

Ban đầu, hang động Brai được người dân và bộ đội địa phương biết đến từ thời chiến tranh để trú ẩn khỏi bom đạn. Sau này, khi được khảo sát lại vào khoảng năm 2012, nó dần trở thành điểm đến hấp dẫn của các phượt thủ, nhà thám hiểm thiên nhiên và những người yêu thích khám phá hang động.

Chính quyền tỉnh Quảng Trị đã phê duyệt quy hoạch phát triển khu du lịch sinh thái Brai – Tà Puồng rộng khoảng 170 ha, nhằm bảo tồn và khai thác tiềm năng thiên nhiên nơi đây, kết hợp với du lịch cộng đồng, sinh thái và nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, do khu vực này còn hoang sơ và chưa được tổ chức khai thác chuyên nghiệp, một số thạch nhũ đã bị xâm hại và phá hoại bởi con người, gây tổn thất giá trị thiên nhiên quý giá. Điều này khiến công tác bảo tồn ngày càng trở nên cấp thiết.

 

2. Hướng dẫn di chuyển từ Đông Hà đến hang Brai

+ Từ thành phố Đông Hà

Hang Brai cách thành phố Đông Hà khoảng 150 km về phía Tây, đi theo tuyến Quốc lộ 9 qua Khe Sanh rồi tiếp tục vào sâu bên trong huyện Hướng Hóa.

+ Lộ trình gợi ý

Đông Hà → Khe Sanh: khoảng 65–70 km theo Quốc lộ 9, bạn có thể đi bằng xe máy, ô tô hoặc xe khách tuyến Đông Hà – Khe Sanh.

Khe Sanh → Xã Hướng Lập: tiếp tục khoảng 50–60 km theo các tuyến đường huyện và Quốc lộ 9 để đến khu vực xã Hướng Lập.

Đi bộ vào hang: từ điểm đến gần hang, du khách thường phải đi bộ theo dòng sông nhỏ hoặc đường mòn rừng sâu khoảng 1 km để đến cửa hang – trải nghiệm này khá phù hợp với những ai yêu thích mạo hiểm và trekking.

* Lưu ý: vì đường đi vào khu vực hang chủ yếu là đường đồi núi, nên di chuyển bằng xe máy hoặc ô tô gầm cao để thuận lợi hơn, nhất là trong mùa mưa.

 

3. Lưu trú và dịch vụ quanh khu vực

Khu vực Hướng Hóa (như Khe Sanh và Lao Bảo) – là 2 thị trấn chính gần hang Brai – có nhiều lựa chọn về lưu trú, ăn uống và cà phê cho du khách trước hoặc sau khi khám phá hang:

 

+ Khách sạn, nhà nghỉ

-Khe Sanh Luxury Hotel – khách sạn khá tiện nghi ở trung tâm Hướng Hóa.

-Green Hotel, Hải Đăng Hotel – lựa chọn giá trung bình tại TT. Khe Sanh.

-Sepon Hotel, Bảo Ngọc Hotel – lưu trú giá rẻ ở Lao Bảo.

-Homestay Bảo Nguyên Xanh, Năm Mùa Bungalow – homestay/hotel view đẹp và yên bình.

-Retro Khe Sanh – homestay phong cách nghỉ ngơi giữa thiên nhiên.

-Khách sạn Thành Đô & Khách Sạn Mây Hồng – lựa chọn tốt khác tại Khe Sanh.

 

+ Quán cà phê & giải khát

-Homi Coffee – quán cà phê nổi tiếng theo phong cách miền núi.

 -Corner Cafe, Aloha Coffee, Cafe MILANO – nhiều lựa chọn cà phê chill tại Khe Sanh.

-Phuoc Dat Coffee Roaster – cà phê rang xay đặc sản.

-Bốn Phương coffee, Windmills coffee – quán nhỏ xinh giữa làng.

-Triệu Mẫn Garden – quán cà phê vườn tại Hướng Hóa.

 

+ Nhà hàng ăn uống

-Ngõ Garden – nhà hàng không gian đẹp tại Hướng Hóa.

-SaKe Beer – quán ẩm thực nhẹ & bia tươi tại Khe Sanh.

 

+ Ngoài ra, vùng này còn có nhiều quán ăn ven đường và khu chợ địa phương phục vụ các món đặc sản miền núi như cơm lam, gà nướng, các loại rau rừng… phục vụ nhu cầu cơ bản của du khách.

 

4. Cắm trại – Trải nghiệm thiên nhiên       

Tại khu vực huyện Hướng Hóa và ven các khu homestay, farmstay, bạn có thể cắm trại giữa núi rừng hoặc bên suối để trải nghiệm thiên nhiên. Một vài homestay như Retro Khe Sanh hay Farm Stay Vườn Nhiệt Đới có không gian thoáng, phù hợp cho cắm trại và dã ngoại.

 

 Khi cắm trại, nhớ mang theo lều, túi ngủ, đèn pin và vật dụng cá nhân cần thiết; đồng thời tôn trọng môi trường, rác thải được gom lại theo đúng quy định.

 

- Nên đi vào mùa nào?

Mùa khô (tháng 3 – tháng 9): thời tiết thuận lợi, đường núi ít trơn trượt, thích hợp cho hiking, trekking và khám phá hang.

 

Tránh mùa mưa (tháng 10 – tháng 2): vì đường rừng có thể trơn trượt và nguy hiểm, dễ gây lầy lội và khó đi lại.

 

- Hành lý và vật dụng cần chuẩn bị

️ Giày trekking hoặc giày thể thao chắc, độ bám tốt.

️ Đèn pin đội đầu và pin dự phòng – hang tối hơn nhiều khi vào sâu.

️ Đồ dùng chống nắng, thuốc chống côn trùng, nước uống và thức ăn nhẹ.

️ Túi ngủ, lều cắm trại nếu định qua đêm.

️ Trang bị sơ cứu cơ bản (băng, thuốc sát trùng) – hữu ích khi leo núi và đi rừng.

 

5.  Kết luận

Hang động Brai là một điểm đến đầy mê hoặc cho những ai yêu thích thiên nhiên hoang sơ, mạo hiểm và cảnh quan núi rừng hùng vĩ. Mặc dù chưa được khai thác du lịch chuyên nghiệp như các hang lớn khác, chính sự nguyên sơ ấy lại là sức hút riêng biệt, thu hút du khách muốn “đi xa hơn”, “khám phá sâu hơn”.

 

Kết hợp giữa khám phá hang đá, nghỉ dưỡng núi rừng, trải nghiệm cộng đồng bản địa và thưởng thức ẩm thực địa phương, hành trình đến Brai hứa hẹn là một chuyến đi đáng nhớ dành cho những ai mê xê dịch.


Nguyễn Khắc Phước tổng hợp từ báo chí và các trang quảng bá du lịch.

READ MORE - HANG ĐỘNG BRAI - "VIÊN NGỌC ẨN" GIỮA ĐẠI NGÀN TRƯỞNG SƠN - Youtube và tổng hợp từ báo chí

ÁNH SÁNG GIỮA TUYẾT - Tác giả: Trần Thị Lan Anh


 ÁNH SÁNG GIỮA TUYẾT

Trần Thị Lan Anh,   

Aschaffenburg, Germany

 

Mùa đông năm ấy, tuyết phủ kín từng lối đi. Những dấu chân cũ trên hè phố bị xóa trắng. Chị đứng trước cửa sổ, trán chạm vào lớp kính lạnh, hít sâu hơi sương của Aschaffenburg, một thành phố nhỏ nằm ở phía tây nam nước Đức . Ngoài kia, đèn Noel đã sáng, những vòng tay ấm đang đi qua nhau, còn chị – lặng lẽ – đối diện với một đời đã đi qua.

Hai mươi lăm năm trước, chị gặp anh cũng vào một mùa đông như thế. Chị khi ấy là một người phụ nữ trầm tĩnh, sáng từ bên trong, đẹp không phô trương nhưng đầy sức hút. Xung quanh chị không thiếu những người thành đạt: tiến sĩ, kỹ sư, giáo sư trẻ, giàu có, danh vọng, những lời hẹn hò đẹp đẽ và viễn cảnh vững vàng. Nhưng ánh mắt hoang hoải của anh – một kẻ lạc loài giữa thành phố xa lạ – đã khiến chị không thể quay đi.

Anh tốt nghiệp tiến sĩ hạng ưu, nhưng gia đình nghèo, áo quần cũ nhàu, đôi giày bong đế, nỗi cô độc lấp đầy ánh mắt. Căn bệnh hoang tưởng kéo anh ra khỏi quỹ đạo bình thường, những người yêu rời đi sau mỗi lần bệnh tái phát. Chị nhìn thấy một con người bị bỏ rơi, một linh hồn vừa rơi khỏi quỹ đạo đời mình, và chị không thể ngoảnh mặt.

Chị đưa anh vào viện. Một tháng dài giữa mùi thuốc sát trùng, những cơn mê sảng, lời nói không đầu không cuối. Có lúc anh xua đuổi chị, có lúc anh nắm chặt tay chị như kẻ sắp chìm. Khi ra viện, anh hỏi: “Em có dám lấy anh không?” Chị gật đầu, như bước vào một canh bạc mà ngay từ đầu đã biết phần thua nhiều hơn. Không đám cưới, chỉ một buổi sáng lạnh ngắt ở Berlin, ký tờ giấy hôn thú mỏng manh như chính số phận.

Thuốc giữ anh lại với thực tại. Nhưng cũng chính thuốc lấy đi phần đàn ông trong anh. Cuộc hôn nhân trôi đi trong nhịp sống khô cằn: anh ăn, rồi ngủ, thức dậy, lại ăn. Nhưng trời thương, một lần gần gũi hiếm hoi, ngắn như một hơi thở, chị mang thai. Rồi thêm lần nữa. Hai đứa trẻ lớn lên giữa những vỉ thuốc im lặng của cha và đôi vai còng của mẹ.

Chị đi làm, kiếm tiền, xây nhà cho gia đình bên chồng, nuôi em chồng ăn học. Sau đó, chị mở văn phòng thuế, kế toán, tài chính, gây dựng từ con số không. Đồng tiền chị kiếm được đều đổ vào hai chữ: gia đình. Chị còn cùng anh dựng nên một công ty phần mềm, để anh đứng tên, nắm toàn quyền – như cách chị đã trao cả cuộc đời mình vào tay anh.

Bệnh trong anh lùi dần, nhưng nghi kỵ, ghen tuông, kiểm soát và bạo lực lớn lên. Những trận cãi vã nối tiếp, lời chửi rủa, cú đánh. Chị ngồi co mình trong góc tối, lắng nghe tiếng thở của con để chắc rằng chúng còn bình yên. Hai mươi năm. Một văn phòng thuế. Một công ty phần mềm. Hàng trăm khách hàng. Một đời người dựng lên bằng mồ hôi, nhẫn nhịn và sợ hãi.

Chị giao tất cả cho anh bằng lòng tin của một người vợ, và anh đe dọa xóa sạch tất cả. Chị sợ, và nhẫn. Cho đến khi các con lớn, ra nước ngoài học thạc sĩ và giờ đều thành tài. Chính lúc này, trong chị xuất hiện một khe sáng nhỏ mà chính chị cũng không ngờ. Chị thuê nhà, mở văn phòng mới, nhờ con trai lớn lấy lại dữ liệu, rồi dắt con út rời đi trong một buổi sáng tuyết phủ trắng lối. Anh không giữ chị lại – anh giữ tài sản.

Hai năm sau, chị sống một đời khác. Không yên bình, nhưng không còn đòn roi, không còn nhục mạ. Chỉ còn một nỗi đau câm lặng: đứa con út không còn cha. Hai năm không cuộc gọi, không quà, không tiền nuôi dưỡng. Một lần đứa bé sốt mê man mười ngày, chị gọi trong tuyệt vọng, số bị chặn, email không hồi đáp. Như thể đứa trẻ ấy chưa từng tồn tại. Còn anh, khỏe mạnh, sẵn công ty, nhà to, tiền bạc, người đàn bà mới. Quá khứ nghèo hèn, bệnh tật của anh được gấp lại gọn gàng như tờ giấy cũ.

Giờ đây, mùa đông lại đến. Chị đứng trước cửa sổ. Tuyết rơi dày. Sau lưng chị, đứa con út ngồi học, cúi đầu giải một bài toán khó, đôi mắt trong veo. “Mẹ ơi, tuyết rơi dày quá…” – chị quay lại, mỉm cười. Ừ, mùa đông đó con. Chị không kể về người cha đã biến mất trong tuyết. Có những điều, nói ra chỉ làm lòng trẻ con lạnh thêm. Ngoài kia, Noel đang đến, đoàn tụ, nhưng trong căn phòng nhỏ này, chỉ có bàn tay bé xíu nằm gọn trong tay chị. Tuyết vẫn rơi, trắng và lạnh.

Nhưng trong căn phòng ấy, có một ánh sáng rất yếu mà bền bỉ – ánh sáng của một đứa trẻ vẫn tin vào ngày mai. Chị khép cửa sổ lại. Ngoài kia là mùa đông. Ở đây, là hai mẹ con. Chị không còn trẻ nữa, nhưng ở tuổi năm mươi hai, chị vẫn đẹp – không phải vẻ đẹp của thanh xuân, mà là vẻ đẹp của một người đã đi qua tận cùng đổ nát mà vẫn giữ được lòng nhân hậu.

Trần Thị Lan Anh

 From: Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de

 

READ MORE - ÁNH SÁNG GIỮA TUYẾT - Tác giả: Trần Thị Lan Anh

TẢN MẠN VỀ CAM LỘ - Lê Quang Thái

Di tích Tân Sở tại Cam Ranh, Cam Lộ, Quảng Trị

Ảnh từ bachhoaxanh.com


 

TẢN MẠN VỀ CAM LỘ

Lê Quang Thái 


Bước vào thềm năm mới, tôi nhớ lại câu:

Mã đề dương cước anh hùng tận, Thân Dậu niên lai khiết thái bình

Đất nước đã thống nhất và hòa bình. Bây giờ cầu gì hơn là cầu thái bình, nghĩa cầu cho nước giàu dân mạnh, dân giàu nước mạnh. Những tháng ngày giáp Tết, người dân Cam Lộ khấp khởi mừng vui khi được biết huyện nhà lập lại và đang bắt tay vào việc tiếp tục khai phá một vùng đất trù phú, đầy triển vọng theo đúng quy hoạch đất có bề dày văn hóa lâu đời.

Thật thế, có một nền văn minh Cam Lộ, không nói ngoa theo lối đao to búa lớn đâu. Một số nhà khảo cổ, nhà sử học, nhà nhân chủng học, nhà địa chất đã chỉ rõ từ lâu rồi. Đó là: Linh mục L. Cadière, Khâm sứ Trung kỳ A. Laborde, Linh mục A. Delvaux (cố Vân), ký giả Henri Le Grauclande, R.P.H de Pirey; gần đây là Linh mục La Fontaine, học giả Hàn lâm viện Pháp Trần Minh Tiết (người Cam Lộ), Giáo sư Thái Công Tụng, Giáo sư Lê Trọng Vinh, giáo sư Sơn Hồng Đức, nhà ngôn ngữ Nguyễn Bạt Tụy.

1.Lịch sử hình thành đất Cam Lộ (một chút sử liệu)

Từ đời Lê cho đến đời Nguyễn, Cam Lộ có một quá khứ vàng lụa. Xa xưa lắm, đất này không dính líu nhiều đến chuyện tình của công chúa Huyền Trân. Người Cam Lộ không thừa hưởng sính lễ của Chế Mân dâng hai châu Ô - Lý để nàng công chúa nước Việt về thành Đồ Bàn (nay thuộc tỉnh Bình Định). Tuy vậy, Cam Lộ vẫn nhận hệ quả ít nhiều của mối tình Chiêm - Việt. Hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng mới là đất Ô châu.

Nguyên xưa đất Cam Lộ là của người Man. Bờ cõi biên cương nước ta tiếp giáp với nước Xiêm, nước Vạn Tượng…

Theo sách Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Quảng Trị), nguồn Cam Lộ xưa gồm hai châu: Sa Bôi và Thuận Bình. Châu Sa Bôi có 11 trang, 60 sách và châu Thuận Bình có 19 sách, 10 động. Đất Cam Lộ ngày xưa bao gồm cả đất Hướng Hóa ngày nay. Giáo sư Phan Khoang, tác giả sách Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777, lại nói châu Sa-bôi và châu Thuận Bình. Châu Sa-bôi gồm 10 tổng, 68 xã; châu Thuận Bình có 6 tổng, 26 xã theo bản đồ Thiên Nam dư hạ tập. Ở phần chú tác giả ghi đậm nét: “Xa-bôi [Sa-bôi], Thuận Bình là đất thượng nguồn Cam Lộ, nguồn Sái, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị ngày nay, dân cư là người Man”¹. Do phiên âm tiếng người Man, người nói Sa Bôi, người nói Sa-bôi.

Các triều Lê, Nguyễn có chính sách cai trị riêng đối với người dân tộc. Người Man gọi người Kinh là Cà-lơ chợ và họ tự xưng Cà-lơ động. Cà-lơ là danh từ chung có nghĩa là người (tiếng Pháp để nguyên là Les Ca-lơ). Người Man có tâm hồn chất phác. Buổi ban sơ người Man (tiền thân của người dân tộc Tà Ôi, Vân Kiều, Pa Hy) rất chơn chất. Sau này vì giao tiếp trong thương trường mà giữ “ngón nghề” và cũng biết “sơn quét” nên dần dần trở thành “lịch lãm”, giảm tính chân thật cho khỏi thiệt thòi quyền lợi trong buôn bán, giao tiếp.

Người bản địa biết giữ lễ nghĩa đối với triều đình và vua quan. Hàng năm họ giữ lễ cống trang trọng. Sách Đại Nam thực lục chép:
“Tháng Hai năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807), bảy sách Man ở đạo Cam Lộ vào cống. Bộ Lễ tâu xin cho Thổ tù làm Sách trưởng các sách để thống nhiếp nhau và giữ việc tuế cống hàng năm”.

Trong quá khứ rất gần quan dân Cam Lộ đánh trả quân Xiêm (năm 1941 đổi thành Thái Lan) sang gây hấn, xâm phạm bờ cõi của châu Tầm Bôn dưới triều vua Minh Mạng. Thống chế binh Tượng Phạm Văn Điển, Vệ úy đạo Cam Lộ là Lê Văn Thụy đã chỉ huy cuộc đánh trả vào các năm 1828 và 1834 (sách Quốc triều chánh biên).


¹ Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777, (Sài Gòn, 1969), 115.

 

Cam Lộ trở thành đạo từ đầu niên hiệu Gia Long (1802). Đứng đầu có Quan đạo, giúp việc có Hiệp thủ. Theo Thực lục, tháng 11 năm Gia Long thứ 7 (1808) lấy Tri bá Nguyễn Văn Ngôn làm Hiệp thủ đạo Cam Lộ. Cùng thời điểm này triều đình Huế cũng đặt chức Hiệp thủ Cửa Eo tức là cửa Thuận An ngày nay. Nói thế để mà thấy rõ tầm quan trọng về mặt quốc phòng của đất Cam Lộ. Từ nơi đây có đường đi thông ra bốn phương, tám hướng, ra Bắc vào Nam, đi khắp cùng Đông Nam Á.

Khoảng đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XIX, Nguyễn Văn Tường, người làng An Cư, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong đã giữ chức Tri huyện Thành Hóa, tức huyện Cam Lộ ngày nay. Đến năm 1867, Nguyễn Văn Tường lại được triều đình Huế giao lãnh chức Bang biện Cam Lộ, sang chức Khâm sai Kinh lý Cam Lộ.

Bang biện là lưu quan (chức quan do nhà nước cử đến) do vua sai phái để làm nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng và ngoại giao.

2. Từ Nha sơn phòng Quảng Trị đến chiến khu Tân Sở Quảng Trị

Vì tính cách trọng yếu về mặt quốc phòng, năm 1867 triều đình Huế thiết lập Nha sơn phòng Quảng Trị.

Theo biên chế nhà nước, cơ sở cấp nha là thuộc quyền quản nhiệm của trung ương. Nha sơn phòng Quảng Trị được lập năm 1867 trước sơn phòng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Bình và Hà Tĩnh. Vẫn theo sách Đại Nam nhất thống chí, nguyên Khâm sai Kinh lý Cam Lộ là Nguyễn Văn Tường xin đặt Nha Kinh lý ở xứ Đồng Mão. Năm Tự Đức thứ 29 (1876) cải làm Sơn phòng nha quản hạt Cam Lộ, gồm hai huyện Thành Hóa (nay là Cam Lộ) và Hướng Hóa.

Sách Đại Nam thực lục (đệ ngũ kỷ, quyển 11) cho biết rõ về chiến khu Tân Sở hình thành từ tháng Chạp năm Quý Mùi (1883) như sau:
“Di chuyển Nha đóng ở sơn phòng Quảng Trị cùng với Nha ở phủ Cam Lộ. Nguyên Nha sơn phòng và phủ Cam Lộ trước đặt ở địa phận xứ Đồng Ngang, huyện Thành Hóa. Quan mật viện lý chỉ ông Nguyễn Văn Tường tâu rằng: ‘Sơn phòng của Quảng Trị có thể làm hậu lộ cho kinh đô. Chuẩn cho quan sơn phòng này xem xét tường tận lại, tăng thêm kinh lý. Quan nói theo coi sơn phòng này cho rằng, địa thế ở đây chật hẹp, đã khảo sát được nơi liền với chỗ đất cũ này là ở trên địa phận xã Bảng Sơn”.

Vua chuẩn lời ý tấu của vị đạo thần. Tương truyền từ trong dân gian rằng xưa kia ở địa điểm mới, có con cầu hoạt động. Cầu là một loại rồng có hai ngà nên gọi là lang cầu. Địa thế nơi đây rộng rãi, có thể thiết lập thành một căn cứ quân sự chuẩn bị phòng khi kinh thành Huế hữu sự.

Một nhiệm vụ khác không kém phần quan trọng của sơn phòng là lo khai hoang lập ấp theo chính sách đồn điền đã có từ thời chúa Nguyễn.

Ban đầu, Nha sơn phòng Quảng Trị vào năm Tự Đức thứ 29 (1876) có đặt Chánh phó sứ, Nha thuộc, viên dịch và cơ lính Đinh Man (10 đội; 456 viên danh). Năm Giáp Thân (1884) lại đặt thêm Tham biện và quan Lãnh binh. Như thế mới biết tầm quan trọng về quân sự, quốc phòng của Tân Sở lớn lao như thế nào. Theo quan chức chế thì chỉ ở bộ mới có chức Tham biện, ở tỉnh mới có chức Lãnh binh hoặc Đề đốc.

Đến đời vua Thành Thái, thực dân Pháp đã “thành công” trong việc đặt nền bảo hộ, Nha sơn phòng Quảng Trị bị bãi bỏ. Còn ai phá chiến khu Tân Sở lần đầu tiên? Đại úy Le Pepit phá hủy san bằng vào tháng Chín năm Ất Dậu (1885). Pepit là quan cấp thấp nhưng dám triệt hạ Tân Sở theo De Courcy, không làm thì lột loong quan ba Tây như chơi.

Ôi! Xứ Cùa “ngọt mít thơm dầu”, nơi có chiến khu Tân Sở, ngày nay thuộc xã Cam Chính, huyện Cam Lộ. Tết này, tôi đăng ký trước xin xã cho ăn Tết để đi tắm làng Tân Sở, Tân Lâm, Tân Trúc, Tân Trại… May ra tìm được sắc phong của ông Nguyễn Văn Tường làm khai khẩn. Nơi đây dân có lập đền thờ Kỳ Vĩ bá quận công – Quận công tước vị cao nhất vì:

Tước hữu ngũ (công, hầu, bá, tử, nam) sĩ cư kỳ liệt

Dân hữu tứ (sĩ, nông, công, thương) sĩ vi chi tiên

 

3. Quê hương là rừng mít ngọt!

Từ miệt đồng bằng phủ Triệu Phong, ở Cửa Việt, Cửa Tùng nông dân, hào kiệt, sĩ phu vọng về Tân Sở, hướng đến Cùa, đến nguồn Cam Lộ:

         Ai lên nhắn với họ nguồn
          Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên

Cam Lộ có măng giang, có mít nài. Đặc sản thì nhiều xin kể dọn món mít rất ngọt ngào tình thương. Cây mít có từ xứ Tây Trúc bên Ấn Độ. Chữ madhu là cây mít lan tỏa khắp năm châu thế giới.

Năm 1967, tôi tìm thăm học giả thượng thặng về ngữ học là Giáo sư Lê Ngọc Trụ. Thầy Trụ nói về từ mít. Nào là Việt Nam có tiếp vị ngữ “ít” như (bọ) xít, (nước) xít, (chăn) rít, xa (tít). Riêng từ mít thì gốc gác nó như sau: “Tiếng cổ Slave là MEDU, cổ Anh ngữ là ME(O)DU, cổ Đức ngữ miền Nam là METU, tiếng Ái Nhĩ Lan là MID, và do gốc MELI của Hy Lạp và MEL, MEDLIS của La Tinh mà tiếng Pháp có MEIL (mật ong), MEILLÉ (pha mật), MIELLEUX (ngọt ngào, lời đường mật) và tiếng MÉLASSE (mật mía); tiếng Ý có MEILLE, MELASSE, tiếng I Pha Nho có MIEL, MILOZA, tiếng Cao Ly có MIL, tiếng Nhật có MITU.

Tàu có MẬT, tiếng Quảng Đông là MẠCH; giọng Quan Thoại là , giọng HAKKA (tức nước Hẹ) là MÍT. MẬT tiếng Hán Việt được Việt hóa, âm thanh và có ý nghĩa không biến đổi” (Cour ngữ học của thầy Lê Ngọc Trụ).

Ngày Tết thì có thêm chàng, thêm cả xơ mít, nước mắm mít, cộ mít. Cộ mít là loại bánh có bỏ mít múi khô vào bột, đường mỡ rồi nén cho thành khúc bánh, xong đem cắt thành từng lát. Nếu đem chiêu đãi khách đến mừng tuổi sau khi đã cúng ông bà rồi thì tuyệt. Lẽ tất nhiên, đó chỉ mới một món, còn nhiều món nữa mặn lạt đều có. Người Cam Lộ hiếu khách lắm.

Viết cả đề kể ngông, lời quê chắp nhặt quá nhiều, làm độc giả mất thời gian du xuân, hưởng xuân bất tận. Cầu cho quốc thái dân an và đầu xuân Nhâm Thân như lời trích từ Kinh Thi:

Lạc thổ lạc thổ Viên đắc ngã sở

Dịch là:

Đất đạo đức, đất yên vui Là nơi ta đã được thích lòng

(Nguyễn Văn Mại)

Khí vận mới đã về với đất Cam Lộ, cho hay trời phải chiều người vì DÂN LÀ GỐC NƯỚC. Việc còn lại là làm sao cho huyện Cam Lộ giàu mạnh.

(Tạp chí Văn hóa Quảng Trị. Số 04.1992)

 

 

 

READ MORE - TẢN MẠN VỀ CAM LỘ - Lê Quang Thái

Wednesday, January 14, 2026

XUÂN XUÂN 60 / XUÂN LAM ĐIỀN – Thơ Chu Vương Miện


 


XUÂN XUÂN 60
 
60 năm cuộc đời
Ngừơì chết không còn gì? để nói
chỉ để dành cho kẻ sống nói thôi?
mà nói cái chi? bây giờ
thiên hạ ghét nhất là cái tôi?
chỉ thích riêng mỗi cái nồi
nấu cơm cùng nấu cháo?
nấu hầm bà lằng và nấu xôi
người chết có khi khỏe cái thân
người sống bon chen nợ với nần?
tóc trắng trên đầu sao trắng quá?
nỗi sầu nản theo lá rụng đầy sân?
chả có ai? và cũng chả muốn gì?
mới ngày nào? chả biết cái chi chi *
bây giờ thời biết hết trọi
chờ mãi một chuyền xe đi?
kẻ soạn ra bản nhạc thời đã chết?
mà kẻ hát permanent cũng chả còn?
thiên hạ hầu như quên để ý
còn ta? thời chả làm sao quên?
60 năm cuộc đời?
Xào đi xào lại cũng thế thôi?
Đao to buá lớn tiền dông trước?
Không tiền đành đứng khóc thôi?
 
* Thơ Dương Khuê
 
 
XUÂN LAM ĐIỀN
 
Ngày xưa Bùi Hàng chỉ cần tới
Lam kiều (cầu bắc trên sông Lam)
Cùng mang theo chiếc chầy ngọc?
Là kết duyên vợ chồng với Vân Anh
thủ chiếc cối ngọc dùng giã thuốc
vốn căn là thần tiên? không cần tiền bạc?
sống theo hạc nội non ngàn? đồng xanh bát ngát
sống trọn đời già bỗng thành tiên?
bay về thiên thai trên lưng hoàng hạc?
bây giờ thời hậu hiện đại hình như có khác?
vác chầy gỗ chả ai? thèm nhòm
không tiền con ghế thủ cái cối quay đi chỗ khác
thành ra ôm nhịn đói thiếu ăn nằm chèo queo?
không chầy không cối? không còn ai giã thuốc
mậu dậu xìn bô xu chờ chết?
từ lâu văn thơ không ai mua không ai đọc?
chán thấy mồ? nên các thi văn hào bỏ viết?
tình hình khó khăn chung? không biết tính sao?
than sơ gì? cũng toàn thất nghiệp
chiều ly trà móc câu tẩm hoá chất?
hàng hiệu vừa thơm vừa buồn nôn?
nguyễn tố như viết trong kiều như vậy?
mà đúng y bơong sòng dời là như thế đấy?
chầy vồ để mốc meo? cối đành xếp xó?
xuân lam kiều bên tàu ngày nọ
còn thư sinh bùi hàng nghèo gặp tiên?
 
xuân này nghèo già? chỉ thiếu em?
 
chuvươngmiện

READ MORE - XUÂN XUÂN 60 / XUÂN LAM ĐIỀN – Thơ Chu Vương Miện

O ÁO TÍM - Thơ PhamPhanLang - Nhạc MộcThiêng - Ca sĩ Tâm Thư



O ÁO TÍM

O áo tím nì, chừ nghe anh hỏi
Em đi mô anh tìm mãi không ra
Đi mô tê thì mặc kệ người ta
Mắc cớ chi hỏi em hoài miết rứa

O ngúng nguẩy, bỏ vào nhà thiệt lẹ
Tui bên ngoài lớ ngớ biết mần răng
Lỡ yêu O từ thuở mới tròn trăng
Sao không hiểu lòng tui, O áo tím

Một ngày kia mưa giăng mờ Vỹ Dạ
Áo tím tui thương hớn hở sang sông
Pháo vu quy xác đỏ ngập sân hồng
Tui lặng lẽ khóc thầm, O áo tím

Bao năm qua tui vẫn hoài thương nhớ
Biết làm răng khi không thể quên người
Áo tím ơi, O còn nhớ đến tui
Người năm cũ vẫn thương O ghê rứa…

PhamPhanLang

READ MORE - O ÁO TÍM - Thơ PhamPhanLang - Nhạc MộcThiêng - Ca sĩ Tâm Thư

Tuesday, January 13, 2026

TRANG THƠ TRẦN THỊ LAN ANH - Cánh Bướm Mộng Du /' Nửa Chờ, Nửa Gửi / Thở, Bay, Trôi

 

Nhà thơ Lan Anh

CÁNH BƯỚM MỘNG DU

“Cánh bướm mộng du” không kể chuyện, mà gợi cảm xúc, để lại dư âm man mác về một tình yêu đẹp, mong manh và vĩnh viễn ở lại trong miền nhớ.


Bướm là một cánh mộng du
Bay qua miền nhớ, giữa trời vi vu
Mách cho tôi biết, em chờ quá lâu
Thu vàng lá rụng… lá về nơi đâu

Cánh rừng trải ắp nỗi sầu của em
Sương giăng lối cũ, chiều buồn rơi thêm
Tôi đi tìm bóng dáng êm đềm
Chỉ còn nghe lá gọi tên trong gió

Bướm ơi, nếu có bay ngang
Nhắn dùm tôi chút dở dang thu vàng
Một thời yêu, một thời mơ
Giờ chỉ còn tiếng gió hững hờ

Em như nắng cuối hoàng hôn
Tôi như chiếc lá trôi nguồn xa xôi
Tình là mây… tan giữa chân trời
Bướm là mộng, người là khói

Em ngồi đếm gió heo may
Thì thầm hỏi lá… bao giờ thu thôi rơi
Nếu còn gặp lại… xin em cứ cười
Để tôi còn được… mộng du cùng người

Lan Anh

 

NỬA CHỜ, NỬA GỬI

(Ghi lại nhịp rung rất khẽ của hai tâm hồn: không lời hứa, không hẹn ước lớn lao, chỉ là cùng đi chậm để duyên kịp nở.)

 

Em đứng ở giữa màn đêm

Nghe nhịp thơ thả rất mềm của anh

Gió đưa tiếng bước dịu thanh

Như mang một chút hơi anh trở về

 

Em chẳng giữ giấc ngủ mê

Chỉ giữ nhịp thở gửi về yên bình

Một đời em trải buồn thinh

Đủ sâu để biết chân tình mong manh

 

Anh nói bước nhẹ qua nhanh

Em nghe gió cũng nghiêng thành chở che

Nửa mùa em đã ngang che

Giờ thêm nửa nhịp gió se mở dần

 

Em từng gói lại bâng khuâng

Cất trong ngăn cũ mấy lần chớm đau

Đêm nay trăng xuống mái sau

Em soi thấy lại sắc màu lung linh

 

Nếu anh mang ánh bình minh

Em xin gửi lại chút tình nguyên sơ

Không trao vội nhánh mộng mơ

Trao làn tóc rối hững hờ nắng say

 

Anh không hứa buổi chiều nay

Em không hẹn những điều bay quá lời

Ta đi chậm giữa đêm vơi

Để duyên kịp nở một thời… biết thương

 

Nên này… một khẽ mở đường

Khi nghe hương gió nhắc vương tên mình

Em ngồi chờ giữa không thinh

Giữ cho anh nửa lòng mình… ghé sang

Lan Anh

 Aschaffenburg, Germany

 

 

THỞ, BAY, TRÔI

 

Em cười

sao rơi vỡ thành hàng nghìn giấc mơ,

trôi lơ lửng giữa mây tím.

Anh lạc

trái tim bay,

bướm mọc từ lời thì thầm của em.

Tình yêu không tuổi

chỉ là chúng ta,

vĩnh viễn trôi,

không ngày, không đêm,

chỉ là nhịp thở chung

của mây, gió và giấc mộng.

 

Trần Thị Lan Anh

Aschaffenburg

Germany

Email: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

 

READ MORE - TRANG THƠ TRẦN THỊ LAN ANH - Cánh Bướm Mộng Du /' Nửa Chờ, Nửa Gửi / Thở, Bay, Trôi

TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG - Đưa em qua phố mới / Có một tiễn đưa / Ta nhận ra nhau trong những điểm tương đồng / Cây sứ trắng ngọc ngà


Nhà thơ Lê Thanh Hùng


Đưa em qua phố mới


Một góc tình lặng lẽ trôi êm

Phố vắng, đèn khuya dựng bóng đêm

Im ắng quá, tầm cao phố mới

Ngọn gió đi rong, quẩn bên thềm

                     *

Phố của anh và phố của em

Ngổn ngang xen từng mảng trắng đen

Đang lẩn khuất, sắc màu sáng tối

Nước đọng còn nguyên những váng phèn

                     *

Phố cũ ngày xưa đã nối dài

Nhưng vẫn còn giật gấu vá vai

Khúc khuỷu, đường cong đầy sỏi đỏ

Khoát lên phố mới một hình hài

                     *

Anh nắm tay em, bước ngập ngừng

Ngượng ngùng chi? Mà chợt quay lưng

Em không nói, chỉ cười lỏn lẽn

Mắt gượng tìm môi, kìa bỗng dưng ...

                      *

Phố mới trẻ trung, đang dỡ dang

Tươi trong sức sống mới căng tràn

Nồng ấm một vòng tay bổi hổi

Vô tình đọng lại, gió thời gian


Có một tiễn đưa


Mấy bữa nay, người ta rì rầm bàn tán

Chuyện em ra ngoại quốc lấy chồng

Việc sướng, khổ sao mà biết được, chỉ có nỗi buồn xa xứ mênh mông

Mây trắng phương nào, cuối trời bay bãng lãng

                          *

Một bầu trời xanh trong rất thật

Đôi mắt mẹ già, ngong ngóng phía trời xa

Bên bầy em ngồi, đang nhấp nhổm nhấp nha

Em luống cuống trước bao điều được mất…

                          *

Giăng mắc một nỗi buồn lóng lánh trượt qua

Giã biệt cánh cò, đồng sâu đương thì son rỗi

Em lặng lẽ bước trên mặt cắt của xã hội

Vẫn đau đáu âm thầm, vọng tiếng trở mình của hạt phù sa

                          *

Mẹ cứ loay hoay đống hành lý, xem có quên gì không

Em mang theo những gì, khi quê hương để lại

Có hay không, một quãng đời gấp gãy

Xanh ngắt buổi hồng hoang, gió lộng bên sông ...

                           *

Rũ sạch váng phèn, anh vội vã đưa em đi một quãng đời

Đứng lóng ngóng bên cửa sân bay Tân Sơn Nhất

Anh lặng lẽ, trong buổi người đông đất chật

Thôi trái đất này tròn, cầu chúc em an lành hạnh phúc em ơi ...


Ta nhận ra nhau trong những điểm tương đồng


Sao lại không tôn trọng những điều mình khác biệt

Có những chuyện mà ai cũng biết


Mà cứ đắn đo, tỵ nạnh lần quanh

Dòng chảy cuộc đời, xuôi dòng trôi mãi

Vượt qua khó khăn, xây dựng cuộc sống mới an lành


Cây sứ trắng ngọc ngà


Đổ xuống hiên thưa, một vạt hoa long lánh

Những giọt sương khuya, như còn bịn rịn vỡ ra


Lặng lẽ loang tan theo nắng sớm

Có một nét môi cong, đong đưa sắc lạnh

Cho gã bên kia đường, đứng ngẩn ngơ xa…

     Lê Thanh Hùng

     Bắc Bình, Lâm Đồng

lethanhhung4625@gmail.com

    


READ MORE - TRANG THƠ LÊ THANH HÙNG - Đưa em qua phố mới / Có một tiễn đưa / Ta nhận ra nhau trong những điểm tương đồng / Cây sứ trắng ngọc ngà