HƯƠNG MẸ
Kính tặng quý bà, quý chị nhân ngày 20-10
Mẹ gánh con vạn nẻo đường
Oằn lưng trĩu trái yêu thương
Thoảng trong hương gió say hương mẹ
Chiều ấy người về lặng lẽ
Bên đời bóng mẹ thênh thang.
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
HƯƠNG MẸ
Kính tặng quý bà, quý chị nhân ngày 20-10
Mẹ gánh con vạn nẻo đường
Oằn lưng trĩu trái yêu thương
Thoảng trong hương gió say hương mẹ
Chiều ấy người về lặng lẽ
Bên đời bóng mẹ thênh thang.
![]() |
| Nhà thơ Nguyễn Văn Trình |
Hoa tháng mười
Nguyễn Văn Trình
Tặng em một
đóa hoa hồng
vào ngày phụ
nữ, vào đông một ngày
bông hồng
mượn gửi tình này
để trao
tình cảm tỏ bày duyên ta
Tặng em một
đóa hoa hồng
gửi bao
trìu mến, gửi lòng yêu thương
dẫu trời
mưa rét bất thường
hoa hồng
thơm ngát, vấn vương tháng ngày
Tặng em một
đóa hoa hồng
cho thêm
say đắm, cho nồng ái ân
mãi còn
chăm sóc ân cần
dẫu đời là
thoáng phù vân thôi mà…
Tặng em một
đóa hoa hồng
chúc em vững
bước giữa dòng nhân sinh
hoa hồng
còn mãi tươi xinh
tình ta còn
mãi, duyên mình dài lâu…
Đông
Hà, 2022
N.V.T.
MỘT THỜI ĐÃ XA
Hình như trời đã chuyển mùa
Em về đan áo... gió đùa đông sang
Thu đi rụng chiếc lá bàng
Cành cây trơ trụi bàng hoàng bên
song
Dã quỳ bông trổ đồng đồng
Vàng khung trời nhỏ mênh mông chân
đồi
Ngày xưa hai đứa chung đôi
Kết vòng hoa dại ta ngồi bên nhau
Cài hoa bên một mái đầu
Ngây thơ rượt bắt trên cầu suối mơ
Rồi qua cái tuổi dại khờ
Em thành thiếu nữ ngẩn ngơ anh nhìn
Thẹn thùng em đứng lặng thinh
Vân vê tà áo lung linh nắng chiều
Dường như ta bắt đầu yêu
Vắng nhau một buổi buồn hiu cả ngày
Tan trường hai đứa chia tay
Rưng rưng mắt lệ thấm đầy trang thơ
Bao năm xa cách nào ngờ
Trở về chốn cũ ... bơ vơ... một
mình...
Hiệp Kim Áo Tím
Dalat 10/10/2018
THU THIÊN TAI
Hết phạt Trung Kỳ đến Bắc phương
Mấy miền dân chịu lắm tang thương
Kinh hoàng bão lũ vùi thôn bản
Tàn khốc thiên tai dập phố phường
Tiếng nấc bi ai ngày khổ nạn
Lời than thống thiết tối thê lương
Toàn dân chia sẻ niềm thương cảm
Cả nước cùng đau nỗi đoạn trường.
BÍ BẦU MÁU CHẢY RUỘT MỀM
Thái Nguyên Thanh Hóa Nghệ an
Lạng Sơn Phú Thọ Cao Bằng Bắc Ninh...
Dân tình khốn đốn điêu linh
Bão lũ cướp bất thình lình hỡi ôi!
Phải chăng lấn biển san đồi
Lấp sông phá rú đất trời chẳng thương
Thiên tai kim cổ vốn thường
Kinh hồn thảm họa mịt đường Bắc Trung
Nghẹn ngào trước nỗi đau chung
Chút tình dân tộc lệ cùng ứa tim
Cầu trời sớm được bình yên
Bí bầu, máu chảy ruột mềm hỡi ai!
10/10/2025
QUÊ TÔI TRÀ GIANG
Quê tôi miền Trung sao đầy thiên tai người ơi!
Lo toan mưu sinh dân lành nghèo như truyền đời
Bao năm bôn ba nay về thăm quê vàng rơi
Con chim vàng oanh bên thềm mưa tuôn im lời
Đêm thu trăng tan tơi bời phong ba ầm vang
Trà Giang hiền nhu gầm gào dâng cao kinh hoàng
Chiều vàng mưa qua lang thang xa sông
Hoa màu đang xanh điêu hoang mênh mông
Sinh linh phơi thây đầy đồng
Đâu thiên thai đâu đời hồng
Diều hâu vây quần trên không.
12/10/2020
Lưu Lãng Khách
TÔI TÔI THƯƠNG MIỀN TRUNG
Tôi thương miền Trung bao đời thiên tai tang thương
Sông Lam - sông La - Ngàn Sâu - sông Hàn hung hăng triều cường
Mưa như gươm đao găm vào xương da người dân
Đau bao làng quê nhà chìm trôi trong dòng ngầu
Từ đồng bằng lên trung du
Nhà nhà sầu đau thương ru
Đời cần lao qua xuân thu
Tương lai chìm trong âm u
Ôi sông Sa Lung mưa cuồng trong cơn triều dâng
Sông Hương - sông Gianh - sông Chu - sông Trà bao dòng châu tràn
Hanh khô triền miên mưa dầm sanh cơn cuồng điên
Thê lương làm sao xui nghèo đeo hoài dân hiền
Trời cao xin thương miền Trung
Muôn người trăm ngàn lao lung
Lênh đênh lao đao dù oai hùng
Tôi thương miền Trung không còn lời
Sao đời chưa sang trang người ơi!
Về đâu bao đêm trăng rằm
Rào Thanh- Thu Bồn- Đà Rằng
Sông Rinh - sông Tang kêu than ngàn năm
Tôi thương miền Trung trâu bò chơi vơi dòng sâu
Ngô khoai mùa đang hư tàn lương dân ưu sầu
Thương sao gà heo lều bều trôi sông tàn hơi
Ôi quê miền Trung! Người ơi! Thiên tai ngàn đời.
Luu Lãng Khách
| From: | Nguyễn Duy Toàn <luulangkhach@gmail.com> |
THÁNG BẢY
Tháng 7 chớm về sao đã Ngâu
Mưa đâu vội rắc ấm chân cầu
Hương Thu rỏn rẻn men bờ giậu
Giục Cúc Họa Mi vội trổ mầu.
*.
Hà Nội, 04 tháng 08-2024
(Mồng Một tháng 7 âm lịch)
ĐXX
ĐÊM VẮNG
Ơ hay đêm vắng còn chưa ngủ
Mải đứng dòm khuya mãi gật gù
Ờ nhỉ tháng Mười giăng ngõ cũ
Xáo xác cuối vườn tiễn gió Thu.
*.
Làng Đá, 03:26/13-11-2023
ĐXX
THÁNG CHÍN
Tháng Chín cuộn tròn hương sữa đêm
Gió Thu vê rối lọn tóc mềm
Tiếng cười rúc rích thi thoảng điểm
Sương Thu run rẩy rót xuống thềm.
*.
Hà Nội, 11 tháng 11/2023
(đêm 28 tháng 9 âm lịch)
ĐXX
THU NĂM NAY LẠ THẾ
Thu năm nay lạ thế
Heo may vàng ngõ quê
Đêm cựa mình tiếng dế
Xới vang cả góc trời.
,
Ồ rúc rích ai cười
Rộn ngõ quê đến lạ
Mà như là trong lá
Thì thầm lời triền đê.
,
Ai hát khúc tình quê
Dặt dìu câu giã bạn
Kìa hàng cây xòe tán
Vươn cao nhiều hơn xưa
,
Chợt nghe khúc đò đưa
Giữa đồng quê bát ngát
Lúa se mình mẩy hạt
Nắng suộm vàng rẻo đê
,
Thu năm nay lạ thế
Heo may vàng ngõ quê
Đêm cựa mình tiếng dế
Thì thầm lời triền đê!
*.
Làng Tám, 16 tháng 8-2023
ĐXX
THU MỚI
- tặng NTT -
Em đi gom lại mùa thu cũ
Trả lại vườn xưa tiếng Cu gù
Sớm nay nắng ấm về trú ngụ
Lảnh lót trong vườn hương sắc
Thu.
*.
Hà Nội, 10G25 ngày 20-02-2021
ĐXX
HỎI
Sao cứ tìm ta trong giấc ngủ
Để ngày lãng đãng giọt mưa Thu
Đã bảo tim ta đừng trú ngụ
Mà còn gài bẫy tiếng cu gù.
*.
3G45, 29 tháng 12-2020
ĐXX
CHÚT YÊU...
Có chút Thu về trong nắng say
Có mùi Sen dịu thoảng nhẹ bay
Có người trai ấy chiều hôm đấy
Vun một miền yêu nhẹ dâng đầy.
*.
Hà Nội, ngày 20.08.2018
ĐXX
THU LẠNH
Người đã đi rồi, đi quá xa
Bỏ ta ở lại với quê nhà
Hôm nay về lại thăm làng
Đá
Ngơ ngẩn chiều tà ta với ta…
,
Giếng nước còn trong, bậc đã rêu
Chênh chao chiều vọng tiếng cu gù
Tháng chín thôi mà... sao đã lạnh
Thu vàng vồi vội rải nắng hanh.
,
Ừ, trách gì đâu, chỉ nhớ thôi
Người đi thì cũng đã đi rồi
Nào ai biết được duyên mà đợi
Mây tím lưng trời, thôi, cũng thôi.
*.
Hà Nội, chiều 20 tháng 10.2017
ĐXX
SẮC THU
Tiếng cười trong veo, ngọt lịm
Ngác ngơ, chim Ngói gật
gù.
Ngõ nhà ai hoa tim tím
Dịu dàng níu khách lãng du.
*
Làng Đá, 17 tháng 09.2016
ĐXX
THU SỚM
Em hỡi! Mùa thu đã đến chưa?
Có nghe se lạnh gió chuyển mùa?
Có nghe thoang thoảng thơm cốm mới?
Có thấy nhà bên rúc rích cười?
,
Em nhỉ. Mùa thu đến thật rồi
Sương chiều bảng lảng rắc muôn nơi
Diều ai dìu dặt chòng chành nắng
Vắt vẻo em cười. Ơ ... đã thu.
*
Làng Đá, Hưng Yên 18.09.2015
ĐXX
HƯƠNG THU
Ô kìa chiều
Ai thả nắng vương cây
Tóc rối ai bay
Mòn ai đuôi mắt
Điệu lý buông lơi tính tang khoan
nhặt
Da diết bổng trầm xao xác sông xưa
,
Ta hỏi chiều
Thu đã về chưa
Mà lá vàng rơi khẽ nghiêng thật nhẹ
Mà gió mơn man vuốt ve thật khẽ
Biêng biếc trời chiều
Man mát hương sen.
,
Ta hỏi chiều
Sao rất đỗi thân quen
Tí tách bếp ai dẻo thơm cốm mới
Câu lý giao duyên ngập ngừng bối rối
Bồng bềnh người ơi
Mây tím lưng trời.
*.
Hà Nội, chiều 07 tháng 08 năm 2014
ĐXX
CHIỀU THU
Bảng lảng chiều
Em thẩn thơ nhặt nắng
Tiếng chim kêu lảnh lót sau vườn
Chiếc lá mỏng cuộn mình rơi khẽ
Gió liu riu
Run rẩy khóm cúc vàng
,
Ngơ ngác nắng
Em thẩn thơ nhặt nắng
Hoa cúc vàng se sẽ trổ bông.
*
Hà Nội, đêm 12 tháng 09 năm 2013
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
GIỮA HOANG MẠC TINH THẦN
TÌM LẠI TÂM KINH
Mùa Nobel đang nở rộ với các giải thưởng danh giá nhất trong nhiều lĩnh vực chuyên môn như Vật Lý, Hóa Học, Y Khoa, Văn Chương, Hòa Bình đang lần lượt được công bố. Sự thú vị tuyệt vời trong mùa phát giải Nobel là hầu hết người trúng giải đều thật sự xứng đáng là những nhân vật tinh hoa thời đại. Giải Nobel Văn Chương năm nay đang xoáy vào đề tài “hoang mạc tinh thần” hay “sa mạc vô tâm”... nói đến thân phận con người giữa vòng xoáy của sự cô độc trong cơn tuyệt vọng gần như tận thế của tâm hồn. Trước nỗi tuyệt vọng đầy cuồng nộ của phương Tây và nhẹ nhàng hơn ở phương Đông mình thử làm người cưỡi ngựa xem hoa, đi tìm vài giọt sương Thu trong cơn khát cháy...
![]() |
Ảnh của Janos Marjai/EPA. (https://www.upi.com/Top_News/World-News/2025/10/09/stockholm-hungarian-laszlo-Krasznahorkai-nobel-prize-literature/3631760015489/)
Khôi nguyên Nobel Văn chương 2025
Giải thưởng văn chương cao quý nhất thế giới – giải Nobel Văn học – năm 2025 đã được viện Hàn lâm Thụy Điển công bố. Người thắng giải là nhà văn Hungary László Krasznahorkai (LK). Anders Olsson, chủ tịch Ủy ban Nobel, đã đưa ra lời nhận định về tầm nhìn tiên tri của nghệ thuật:
“Vì sự nghiệp sáng tác đầy sức cuốn hút và mang tầm nhìn tiên tri của ông – ngay giữa cơn kinh hoàng tận thế, vẫn khẳng định sức mạnh cứu rỗi của nghệ thuật.”
Và Olsson nhìn về khía cạnh văn chương:
László Krasznahorkai là một đại văn hào mang phong cách sử thi của truyền thống Trung Âu, nối dài từ Kafka đến Thomas Bernhard, đặc trưng bởi chủ nghĩa phi lý và sự phóng đại mang tính bi hài. Tuy nhiên, ông không chỉ dừng ở đó; ông còn hướng về phương Đông, tiếp thu một giọng văn tĩnh lặng, chiêm nghiệm và tinh tế hơn, thể hiện chiều sâu của tâm linh và suy tưởng trong thế giới hỗn loạn.
Tác phẩm xuất bản đầu tay của Krasznahorkai là The Melancholy of Resistance (phản kháng trầm luân). Tác phẩm này, ra đời năm 1989, là một ẩn dụ về xã hội Đông Âu tan rã, nơi niềm tin tập thể mất dần, người dân rơi vào một sự hoang vu tâm hồn với tinh thần trống vắng tột cùng như viễn khách trên chính quê hương của mình giữa cõi đi về không định hướng.
Khái niệm “hoang mạc tinh thần”
(spiritual dessert) lan tỏa trong suốt cả bốn tác phẩm đưa tác giả lên đài danh
vọng văn chương. Krasznahorkai viết nó như hành giả tụng kinh thiền hành giữa tận
thế: ngôn từ dài, xoắn, tối, nhưng mang sức gợi về khả năng hồi sinh của tâm hồn
– rất gần với tinh thần “vô minh dẫn tới giác ngộ” trong Phật học.
Tuy Krasznahorkai có lối hành văn rất khác thường so với văn chương truyền thống với câu văn có cấu trúc rắc rối, dài lê thê, dồn dập và nội dung diễn đạt đen tối, u sầu, nhưng Anders Olsson - Chủ tịch Ủy ban Nobel – đã ca ngợi “ Văn xuôi của Krasznahorkai đã phát triển theo hướng cú pháp trôi chảy. Các câu dài, quanh co không có dấu chấm tạo nên thương hiệu của ông. Krasznahorkai là nhà văn sử thi vĩ đại..." Và cũng chính László Krasznahorkai từng nói với Guardian: "Nếu có độc giả nào chưa đọc sách của tôi, tôi không thể gợi ý cho họ bất cứ điều gì để đọc. Thay vào đó, tôi khuyên họ hãy ra ngoài, ngồi xuống đâu đó, chỉ im lặng như đá. Rồi họ sẽ gặp được người đã đọc sách của tôi". Lời tự bạch “tâm vô sở trụ” nầy làm người ta nhớ thi hào Nguyễn Du với kinh Kim Cang trong lần đi sứ cuối đời: Ngã độc Kim Cang thiên biến linh. Kim Cang vô tự thị chân kinh – (Kim Cang ta đọc nghìn lần. Kim Cang thật sự tự thân không lời.)
Hoang mạc tinh thần và một thoáng Tâm Kinh
Sự “hoang mạc tinh thần” là hậu quả của văn minh lý trí bởi con người biết rất nhiều cách sống, nhưng quên mất ý nghĩa của sự sống. Sự tuyệt đối hóa lý trí khiến con người cô độc, hoài nghi và lạc hướng giữa vô vàn thông tin nhưng thiếu minh triết. Đây là bối cảnh mà Kafka, Beckett, Bernhard và nay Krasznahorkai đã diễn tả cái trống rỗng của hiện hữu trong thế giới mù Tâm. Khuynh hướng tìm về Phật lý là con đường trở lại “Tâm nguyên”.
Khi con người ý thức rằng mọi nỗ lực bên ngoài không còn cứu rỗi được sự bế tắc bên trong, họ quay về tìm đạo lý nội tâm. Phật lý – với nguyên lý Duyên khởi, Vô ngã, Vô thường và Trung đạo – chính là phản đề của hoang mạc tinh thần:
Duyên khởi chỉ ra rằng mọi hiện tượng tương liên, phá vỡ cô đơn của “cái tôi biệt lập”.
Vô ngã giúp ta thoát khỏi chấp thủ, cái gốc của khổ đau.
Trung đạo mở lối quân bình giữa hư
vô và cực đoan, giữa cảm xúc và lý trí.
Từ đó, Phật lý trở thành “dòng suối mát” tưới tẩm hoang mạc tâm linh, giúp con người nhận ra rằng: cứu rỗi không đến từ bên ngoài mà từ sự tỉnh thức nội tâm.
Khi nghệ thuật trở thành con đường
giác ngộ
Với Krasznahorkai, nghệ thuật không chỉ là phản ánh hiện thực mà là phương tiện để trở về với im lặng là gốc của chính mình, nơi con người chiêm nghiệm sự tan rã của thế giới và sự tồn sinh của Tâm. Giữa khi đó, trong “hoang mạc tinh thần”, người nghệ sĩ đi tìm thể tánh – bản lai diện mục chính mình – là hành trình trở về với bản thể của sáng tạo, nơi chữ nghĩa chỉ còn là hơi thở và tư tưởng trở thành vắng lặng vô ngôn.
Để so sánh “sự chiêm nghiệm về tâm lý hoang mạc” và cách “giải quyết” (nếu có) bằng thiền định hay quan niệm nhân sinh giữa hai thế giới Đông Tây, trước hết ta cần làm rõ cách hiểu “tâm lý hoang mạc” (desert psychology / desert mind) trong ngữ cảnh triết học, tâm lý, rồi xem mỗi tác giả hoặc tư tưởng mà ta so sánh diễn đạt nó ra sao và họ có giải pháp hay hướng đi nào để tự mỗi người hướng tâm, khai trí.
1. “Tâm lý hoang mạc” – khái niệm và hình ảnh
Khái niệm “hoang mạc” (desert, emptiness, wasteland) thường mang tính biểu tượng: cô lập, khô cằn, mất chiều sâu gắn kết, nơi mọi cấu trúc quen thuộc bị bóc trần. Trong tâm lý học, nó cũng có thể ám chỉ trạng thái nội tâm rỗng không, hoang mang, tuyệt vọng, mất mát liên kết tinh thần, nơi “không có chỗ bám”.
Nếu xem “tâm lý hoang mạc” là hình ảnh
hay ẩn dụ cho trạng thái tinh thần nơi con người hoang mang đối diện với vô
nghĩa, thì ta có thể xem thử có chăng một giải pháp để “cứu chữa” tâm lý bế tắc
cùng cực này.
Thử tìm một nhân vật đối ứng với nhà văn Krasznahorkai trong hai thế giới Đông – Tây; có lẽ Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một trong những hình ảnh tiêu biểu.
Trong văn chương hiện đại, László Krasznahorkai, là kẻ lữ hành lang thang giữa hoang mạc ấy.
Trong đời sống tâm linh hiện đại, Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người gieo hạt trên cánh đồng khô cằn, chỉ ra con đường trở về.
2. Thích Nhất Hạnh: từ “hoang mạc”
đến chánh niệm và giao cảm
Mặc dù Thầy Nhất Hạnh không dùng cụm từ “tâm lý hoang mạc” thường xuyên như một khái niệm chính thống, nhưng trong nhiều bài giảng và sách viết, ta thấy rõ Thầy nhìn thấy những vùng “cằn cỗi” nội tâm – những tâm lý sợ hãi, cô đơn, tổn thương – và dẫn dắt con người ra khỏi nó bằng chánh niệm, thiền định, lòng từ bi và “interbeing” (tương thuộc).
Thầy nhấn mạnh rằng, nhiều khổ đau nội tại không đến từ hoàn cảnh bên ngoài mà từ cách mình không lắng nghe, không hiểu mình là chính. Do vậy, nếu biết lắng nghe và hiểu được cảm xúc nội tại của chính mình sẽ làm vơi đi niềm đau nỗi khổ đang đè nặng trong ta (Listening to and understanding our inner sufferings will resolve most of the problems we encounter.)
Tức thị rằng vùng đất “hoang mạc” (nỗi khổ, sầu muộn, cảm giác bị bỏ rơi) cần được lắng nghe hơn là đàn áp, tự áp chế.
Thầy Nhất Hạnh nói về chánh niệm (mindfulness) như một năng lượng, một con đường, không chỉ một phương tiện: (Mindfulness is not a tool … True mindfulness is a path, an ethical way of living.)
Chánh niệm giúp người ta “ở với” khổ đau, nhìn rõ chúng mà không phản ứng tự động, từ đó có thể chuyển hóa.
Lắng nghe, nói lời thương yêu – ái ngữ – (deep listening, compassionate speech) là một phần của nghệ thuật chữa lành: vấn đề nội tâm không tách rời cộng đồng – để vượt hoang mạc, người ta cũng cần trà trộn, giao cảm, lắng nghe người khác.
Quan niệm “interbeing” (tương thuộc) là mấu chốt: mọi sự sống liên đới, không có cái tôi độc lập tuyệt đối. Khi ta cảm thấy “cô độc trong hoang mạc”, Thầy Nhất Hạnh sẽ nhắc nhở rằng cái tôi cô độc đó vốn là ảo tưởng; trong khi ta thực sự “liên-hữu” với mọi người và mọi sự vật.
Và trong thực hành: tâm nằm trong hơi thở, bước đi, ăn uống – mọi hành động đời thường đều là dịp để thực tập chánh niệm – khơi lại tương thuộc và chữa lành những vùng “cằn cỗi” trong lòng.
Vậy, “giải quyết hoang mạc tâm linh” theo Thầy Nhất Hạnh không phải bằng việc thoát khỏi nó ngay lập tức, mà bằng cách bước vào nó trong chánh niệm, lắng nghe, mở rộng lòng từ bi để nhận ra rằng ta không thực sự đơn độc, đó là tiến trình dần hồi sinh mạch kết nối với mình, với người, với sự sống.
3. Krasznahorkai: cái hoang mạc nhân sinh và hư vô kéo dài bất tận
Khác với nhà thiền, Krasznahorkai là nhà văn hiện đại/ hậu hiện đại và cách “chiêm nghiệm” của ông là thông qua văn chương – mô tả trạng thái, giọng nói, cấu trúc câu – chứ không đề xuất một phương pháp giải quyết rõ ràng. Ở ông, ta dễ thấy “tâm lý hoang mạc” ở cấp độ nhân sinh: sự kiệt quệ của ý nghĩa, sự cạn kiệt của thời gian, sự căng thẳng giữa khát vọng và thực tại bất định.
Có thể nói: Thích Nhất Hạnh là người chữa lành hoang mạc; Krasznahorkai là người làm cho ta thấy nó rõ mồn một và để ta tự mang nó trong mình.
Thích Nhất Hạnh là tâm ảnh phương Đông – mở đường thoát khỏi “sa mạc” bằng việc buông bỏ, hòa tan, an trú.
Krasznahorkai là ảo ảnh của phương Tây – dấn thân vào “sa mạc” để nhìn tận cùng vô nghĩa, để nghệ thuật còn lại như “bằng chứng con người từng tồn tại”.
Tuy hai hướng khác nhau, cả hai gặp nhau ở điểm cốt lõi:
“Không ai có thể thật sự thoát khỏi hoang mạc nếu chưa đi xuyên qua nó.”
Thích Nhất Hạnh đi qua bằng hơi thở; Krasznahorkai đi qua bằng chữ nghĩa.
Một người “đem nước từ bi tưới mát”, người kia “giữ lại tro than của nhân loại để soi vào đó ánh sáng.”
Có chăng ánh sáng của Krasznahorkai là ánh sáng của trí tuệ và nghệ thuật phát ra từ bóng tối của tuyệt vọng. Sự giao thoa đầy lý tính của phương Tây về trí tuệ và nghệ thuật là một hứa hẹn “giải phóng hoang mạc tinh thần” thấp thoáng đâu đó cuối đường hầm. Mong rằng, thế hệ Trí tuệ Nhân tạo và khoa học công nghệ sẽ giúp phát ra tia sáng.
Sacramento mùa Thu 2025
Trần Kiêm Đoàn
trankiemdoan@gmail.com
CHỜ
Tôi gửi tặng Em một chữ Chờ
Bao mùa mưa nắng đẹp tình thơ
Chia tay đêm ấy trăng đầu ngõ
Hai đứa lồng nhau một bóng mờ
Sông Ngàn
LỜI GIỚI THIỆU:
Gửi chút hương thu trong nắng mới đang về (*)
Tôi đang cầm trên tay bản thảo tập thơ: “Hương Thạch Thảo” của Hoàng Phương Bắc. Tập thơ khá dày dặn có khoảng trên 100 bài thơ, gói trọn cả hồn thơ đầy nữ tính của chị. Tôi thật sự bồi hồi, xúc động khi bắt gặp một hồn thơ dịu dàng, nồng ấm, và đầy ắp những ký ức, hoài niệm về những gì đã qua, về những gì đã từng trải trong cuộc sống, trong công tác của chị. Tôi cũng được biết Hoàng Phương Bắc làm thơ khá sớm, từ thời còn cắp sách đến trường, nhưng chị ít khi đăng thơ lên mạng xã hội, rải rác chị mới gửi thơ đăng trên một số báo và tạp chí. Bởi theo tâm nguyện của chị, làm thơ chỉ để cho riêng mình, cho những người thân yêu ruột thịt, cho quê hương và bạn bè thân thuộc… nhằm tấu lên những khúc nhạc tâm hồn đầy rung cảm của chị. Nói như Voltair:“ Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”...
![]() |
| Nhà thơ Hoàng Phương Bắc |
Hoàng Phương Bắc sinh ra và lớn lên ở miền quê chân sóng, một miền quê nghèo, hiếu học và giàu truyền thống cách mạng. Quê hương, gia đình và tư chất văn chương vốn có sẵn từ nhỏ, là học sinh giỏi văn từ thời cấp 2, tất cả những yếu tố đó đã hun đúc nên hồn thơ của Hoàng Phương Bắc.
Đọc “Hương Thạch Thảo” của Hoàng Phương Bắc, ta mới cảm nhận hết hồn thơ của chị, một hồn thơ tinh tế, nhẹ nhàng, nhạy cảm mà lắng đọng sâu xa qua mỗi vần thơ chị viết. Hoàng Phương Bắc viết khá nhiều, khá phong phú và cũng rất đa dạng về nhiều nội dung chủ đề, như: Viết riêng cho mình (Tự bạch), Viết về quê hương - đất nước, Viết về gia đình - bạn bè - đồng nghiệp, Viết về hình ảnh người lính. Đặc biệt là chủ đề về tình yêu thời tuổi trẻ sôi nổi, đầy thơ mộng. Mảng thơ này chị viết tuy không nhiều, nhưng đã để lại khá ấn tượng khó quên trong lòng người đọc. Trong bài thơ “Tự bạch”, bài thơ này dường như đã gói trọn toàn bộ nội dung của tập thơ, chị bộc bạch tâm sự:“Gửi chút hương thu trong nắng mới đang về/ cho trang thơ lấp lánh/ miền thanh xuân đã qua từ lâu lắm/ hiện hữu mùa đông đời người”. Gửi chút hương thu cũng chính là gửi chút hương của hoa thạch thảo. Bởi hoa thạch thảo nở và tỏa hương vào mỗi mùa thu trong năm. Mùa thu cũng là mùa mà chị đã cất tiếng khóc chào đời nơi miềm quê chân sóng, nên mùa thu và hoa thạch thảo luôn là nguồn cảm hứng rất dạt dào trong thơ chị. Hoa thạch thảo biểu tượng của nét đẹp mỏng manh, thanh tú, thủy chung và đầy nữ tính. Hoa thạch thảo dẫu gợi lên vẻ mỏng manh, nhưng trong mình lại mang ý nghĩa chính chắn, sang trọng và quý phái. Hoàng Phương Bắc chọn nhan đề cho tập thơ:“ Hương Thạch Thảo” với đầy đủ ý nghĩa đó, và cũng là thông điệp tập thơ của chị muốn gửi đến bạn đọc để cùng chia sẻ, cùng đồng cảm. Trong bài thơ “ Hương thạch thảo” bài thơ lấy làm nhan đề cho tập thơ, chị đã trải lòng: “Ta viết bài thơ tháng mười/ khi mùa thu đã sang quá nửa/ tìm ngọn heo may ẩn mình phía sau cánh cửa/ chờ đưa hương thạch thảo vào đêm”.
Mảng thơ Viết riêng cho mình là một mảng thơ được chị viết khá nhiều bài trong tập thơ này. Nói như Nhà thơ Tố Hữu:“Thơ là tiếng lòng” của người thơ. Hãy lắng nghe tiếng lòng của Hoàng Phương Bắc qua một số bài thơ tiêu biểu của chủ đề này, như các bài:“ Viết cho mình, Chiều cuối năm, dở hơi, gió lạnh đầu đông, Lục bát tuổi thơ tôi…”. Trong bài thơ “Viết cho mình” Hoàng Phương Bắc chia sẻ:“Người đàn bà ngót bảy mươi năm, vẫn còn nhiều mơ mộng/…/ tìm niềm vui mỗi sớm mai lên/ người đàn bà ấy phải biết vượt khó khăn/ chấp nhận những khổ đau hy sinh cho con cái…”. Trong tiếng lòng sâu thẳm, mình đối diện mình, ai bảo chị chỉ là một người đàn bà nhiều mơ mộng, mà chị còn là một người mẹ tần tảo, đảm đang chịu nhiều gian khổ hy sinh để nuôi dạy con cái mình khôn lớn trưởng thành. Cũng với tiếng lòng nức nở ấy trong bài “ Chiều cuối năm” chị quặn lòng bật ra lời thơ đầy thao thức:“Chiều cuối năm sao ta thấy quặn lòng/ một nỗi nhớ chơi vơi ngày xuân cũ/ làn gió đông chiều nay như trốn ngủ/ để đêm về thao thức nỗi nhớ mong”. Hoàng Phương Bắc là một người thơ có vẻ bề ngoài hồn nhiên, yêu đời, đôi khi nhiều mơ mộng, nhưng đêm về khi chỉ còn mình đối diện mình, lòng chị quặn thắt, thao thức về một nỗi nhớ mơ hồ trong ký ức, hoài niệm xa xưa như còn đang hiện hữu đâu đây.
Hoàng Phương Bắc không chỉ viết thơ riêng cho mình, chị còn dành cả một mảng thơ đáng quý, đáng trân trọng, đó là mảng thơ chị viết về quê hương - đất nước, bạn bè - đồng nghiệp và gia đình nhỏ thân yêu của chị.
Quê hương - đất nước luôn có một vị trí đặc biệt trong lòng của mỗi người. Ai cũng có một miền quê để thương để nhớ, để gắn bó và để đi về. Viết về quê hương - đất nước cảm xúc của Hoàng Phương Bắc luôn căng đầy những ký ức, hoài niệm, và lòng biết ơn về nguồn cội, về nơi chôn rau cắt rốn của mình. Quê hương trong thơ chị là miền quê chân sóng, là đất mẹ dịu hiền, yêu thương đến lạ:“Tôi lớn lên nơi miền quê chân sóng/có ngọn gió nồm những chiều lặng biển êm/ nghe sóng biển xa vỗ gềnh đá đêm đêm/ đất mẹ dịu hiền yêu đến lạ” (Thăm nghĩa trang quê). Quê hương trong hồn thơ Hoàng Phương Bắc đôi khi chỉ là một nỗi nhớ quay quắt, sâu nặng về một ngày đông lạnh của quê nhà:“Những ngày này quê mình đã sang đông/ trời đất vẫn oi nồng, không thấy lạnh” (Nhớ ngày đông lạnh). Có khi trong thơ chị hiện lên những mảng màu quê hương chứa đựng một hồn quê thương nhớ, trong dáng mẹ hao gầy, đôi quang gánh quặn lòng trên bờ đê:“Ta tìm về ký ức xưa/ quê hương ngày hạ nắng trưa đỏ đồng/ gió nồm chiều dạt bến sông/ thương đôi quang gánh quặn lòng bờ đê”(Hồn quê)
Trong mảng thơ chị viết về gia đình, bạn bè - đồng nghiệp cũng đầy xúc cảm, đã làm xao xuyến biết bao trái tim người đọc. Hoàng Phương Bắc viết về hình ảnh người mẹ của mình giàu lòng nhân từ, tần tảo chịu thương chịu khó nuôi con khôn lớn trưởng thành, với một giọng thơ đằm thắm, yêu thương và đầy lòng biết ơn:“Chiếc đòn gánh miền trung gánh hai đầu đất nước/ mẹ gánh trên vai các cháu các con/ mấy tháng qua con biết mẹ mỏi mòn/ ngóng vô miềm Nam, lại thương ra miền Bắc.”(Thư gửi mẹ). Công cha nghĩa mẹ cũng là nỗi nhớ nhung day dứt khôn nguôi, là nghe chát mặn giọt mồ hôi tần tảo của mẹ, của cha trong thơ chị:“Xót bát cơm mùa vừa mới gặt/ nghe nôn nao hương đất quê nhà/ ruộng cha cày phơi ải bữa qua/ nghe chát mặn giọt mồ hôi của mẹ”(Mùi hương gạo mới). Hoàng Phương Bắc cũng dành khá nhiều tình cảm, tâm sự với con, bằng một giọng thơ trầm ấm, da diết yêu thương và đầy tự hào về con mình:“Mẹ sinh con vào một ngày đầu hạ/ nắng trải vàng khắp mọi nẻo đường quê/ …/ mong mai sau đời con bớt khó khăn/ chim Vàng Anh quyết tìm đường thoát đói/ dù cuộc đời có bao nhiêu đắng đót/ mẹ vẫn tự hào… nghe tiếng hót Vàng Anh”(Viết cho chim Vàng Anh) và chị cũng luôn mong mỏi con mình vượt qua mọi thác ghềnh của cuộc sống để luôn cất cao “tiếng hót” giữa cuộc đời này:“ Mẹ lại viết cho con bài thơ mừng sinh nhật/ giữa những tháng ngày này trên mảnh đất quê hương/ …/ mong ước con mỗi sớn mỗi chiều/ là chim Vàng Anh luôn cất cao tiếng hót”(Gửi cánh chim ở phương Nan). Tình bạn - tình đồng nghiệp cũng là nguồn cảm hứng chân thành, trước sau như một, thủy chung trong hồn thơ của chị. Bởi mỗi hành trang trong cuộc sống, ai cũng cần có những người bạn thân thiết, yêu thương để cùng đồng hành, cùng sẻ chia niềm vui nỗi buồn:“Ta hạnh phúc được về bên bạn/ ngày đầu đông mưa gió bủa tứ bề/ vượt dặm xa để thỏa những đam mê/ Thanh Tân ấy nơi ta về hội ngộ”(Ngày vui bên bạn). Viết về tình cô trò, tình đồng nghiệp chị cũng có những vần thơ rưng rưng niềm nhớ về những kỷ niệm đẹp, về mái trường xưa thân thương:“Tạm biệt mái trường bên dòng Kiến Giang năm ấy/ trải bốn mươi bảy năm rồi, biết mấy yêu thương/ ngày hôm nay cô được trở về trường/ nhắc kỷ niệm thân thương cùng trò yêu và đồng nghiệp”(Ngày trở về mái trường xưa).
Những vần thơ Hoàng Phương Bắc viết về hình ảnh người lính, dưới góc nhìn của một cô giáo dạy Văn, đã một thời từng bình những bài thơ hay về người lính, với tâm trạng sẻ chia đồng hành của một người vợ lính và với cảm quan của một người từng tham gia công tác chính trị, từng giữ các chức vụ trọng yếu trong chính quyền cấp tỉnh, thì hình ảnh người lính trong thơ chị luôn hiện lên thật đáng yêu, tươi trẻ, hồn nhiên, lạc quan yêu đời. Họ sẵn sàng hiến dâng cả tuổi thanh xuân và máu xương của mình cho Tổ quốc, để Tổ quốc ta có được hòa bình, được vẹn tròn to lớn và được thống nhất độc lập như ngày nay:“Những người con sinh ra ở muôn quê/ giờ yên nghỉ nơi đất thiêng Thành Cổ/ sông Thạch Hãn ráng chiều in sắc đỏ/ như máu đào còn quyện giữa dòng xanh”(Về bên Thành Cổ). Trong những người lính ấy, có những người thân yêu của chị vốn là sinh viên sư phạm đang ngày đêm miệt mài học tập, rèn luyện trên giảng đường đại học. Nhưng theo tiếng gọi của non sông đất nước, họ đã gác lại giấc mơ trở thành thầy cô giáo trong tương lai, để sẵn sàng lên đường ra trận đánh đuổi giặc thù:“Ngày ấy có những chàng sinh viên sư phạm/ rời Vĩnh Linh ra học tận Thủ đô/ …/ rồi một ngày rợp trời hoa phượng đỏ/ anh lên đường trở lại quê hương/chẳng phải tìm về gặp lại người thương/ mà cùng với ngàn sinh viên ra trận”(Nửa thế kỷ tình yêu)
Hoàng Phương Bắc mặc dù đã bước qua tuổi “Thất thập cổ lai hy”, nhưng hồn thơ của chị trong“ Hương thạch thảo” vẫn chan chứa một tình yêu nồng cháy của thời tuổi trẻ, một tình yêu hồn nhiên, chân thật và với một niềm tin tuyệt đối vào tình yêu của mình:“ Em yêu anh thật nhiều/ nhưng chẳng hề lo sợ/ tình yêu luôn là thế/ khi lòng tin trao nhau”(Tình yêu và niềm tin). Tình yêu trong thơ của chị cũng luôn kết thúc có hậu, có sự đắp bồi, có sự kết duyên giữa mùa hoa cau nở:“Anh nào biết trái tim nàng đau nhói/ nỗi niềm thương như được đắp bồi thêm/ rồi ước mơ giản dị đã gọi tên/ họ kết duyên giữa mùa hoa cau nở…”(Nửa thế kỷ tình yêu)
Có thể khẳng định rằng: Đọc những vần thơ trong:“ Hương Thạch Thảo” của Hoàng Phương Bắc, ta mới cảm nhận hết được những vần thơ chị viết trong tập thơ này thực sự là những “tiếng lòng” của chị được chưng cất lên từ một hồn thơ dịu dàng, tha thiết yêu thương cùng bắt nhịp nồng cháy, bền bỉ với đất mẹ, với quê hương, và với tình yêu cuộc đời. Hồn thơ ấy đã làm nên cái khắc khoải, cái đau đáu trong mỗi bài thơ chị viết trong tập thơ này để gửi đến bạn đọc. Trong bài thơ:“ Viết cho mình” chị tâm sự với “ cõi vắng xa xăm” nơi ấy hình như đang có ai đó, như mơ hồ như ảo ảnh đang chở che phù hộ, đang dỏi theo từng hành trình thơ của chị:“ Nếu được viết bài thơ trên chặng đường đi tiếp/ vẫn nguyện viết về mùa thu ấy hàng năm/ gửi đến phương trời nơi cõi vắng xa xăm…”. Với khuôn khổ giới hạn của một bài viết giới thiệu tập thơ, tôi cũng chỉ chọn thẩm qua một số bài thơ tiêu biểu cho các chủ đề của tập thơ, mong gửi đến quý độc giả gần xa cùng chia sẻ, cùng đồng cảm với hồn thơ của Hoàng Phương Bắc, một hồn thơ đầy nữ tính, dịu dàng và đa cảm. Tôi rất hy vọng:“Hương Thạch Thảo” của chị sẽ tạo được dấu ấn, sẽ có chỗ đứng vững chắc trong lòng người yêu thơ trên khắp mọi miền đất nước và hồn thơ ấy sẽ còn vọng mãi cùng trời xanh mây trắng…
Viết tại Đông Hà, Ngày 12 tháng 8 Năm 2025
Nhà thơ NGUYỄN VĂN TRÌNH
Hội VHNT tỉnh Quảng Trị