Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, November 15, 2024

NHỚ MÃI THẦY ƠI - Lưu Lãng Khách

 

Tac giả Lưu Lãng Khách

NHỚ MÃI THẦY ƠI


Tôi được sinh ra trong một gia đình mấy đời thanh bần, chẳng có gì đáng nói, ngoài cụ cố Nguyễn Phú nhà tôi văn võ song toàn, được tuyển chọn phục vụ trong cẩm thị vệ hoàng cung, suốt từ thời vua Tự Đức, cho tới khi vua Thành Thái gần thoái vị ( 1865- 1906). Đến đời cụ nội nhà tôi, là lý trưởng Nguyễn Vinh, gia sản đã đến hồi khánh kiệt. Khá khen thay, nội vẫn gắng nuôi chú bác tôi ăn học, trở thành những ông giáo. Bác Tám nhà tôi tên Nguyễn Đức Hòa (ông giáo Hòa), là một nhà giáo yêu nước, đã vào Nam tham gia kháng chiến từ thời 9 năm. Ông đã hoạt động bí mật, khắp các tỉnh quanh Sài Gòn, đã từng bị đày ra côn đảo, và đã hy sinh dưới hầm bí mật, cùng hai đồng chí của ông, nơi miền đất thép Củ Chi, vào cuối năm 1969. Thủ tướng Phan Văn Khải, từng là cấp dưới của ông. Nên sinh thời, thủ tướng nhớ ngày kỵ cơm bác tôi, thường về Củ Chi, thắp cây hương cho người thầy yêu kính của mình. Con trai của bác Tám, là anh Nguyễn Đức Thuận ( Trần Văn Thuận, Bảy Thuận), nguyên là Chủ tịch hội đồng quản trị tổng công ty thương mại TPHCM. Dù không nối gót cha giảng dạy, nhưng anh luôn tôn trọng, và biết ơn, những người làm nghề cao quý như cha mình. Thứ đến, là bác Chín của tôi tên Nguyễn Tuất, nguyên là hiệu trưởng trường tiểu học Hổ Thanh, suốt 20 năm, gần đến ngày giải phóng mới nghỉ hưu. Chú Út tôi là ông giáo Út, trước khi vào Nam lập nghiệp, cũng đã nhiều năm dạy học ở quê. Duy chỉ có ba tôi mạnh khỏe, năng nổ nhiệt tình, tự nguyện ở nhà, đứng ra gánh vác gia đình, khi nội mỗi ngày một yếu đi. Dân địa phương, mỗi khi nhắc đến những người con của nội tôi, đều tỏ lòng tôn kính và quý mến, dù ba tôi chẳng giống anh em mình. Bấy nhiêu ấy, về những chú bác trong gia đình, kể cũng đủ cho một đứa trẻ, từ độ tuổi mới lên mười, đã ấp ủ ước mơ, trở thành một nhà giáo tương lai. 

Thuở ấy, bác Chín tôi làm hiệu trưởng, và chỉ dạy học trò lớp nhứt (lớp 5 bây giờ). Chẳng biết do thiếu giáo viên hay sao, mà năm lên lớp ba, bác dạy lớp tôi mấy tháng. Bác tôi viết vẽ rất đẹp, giảng dạy rất hay, đã trở thành thần tượng số một của tôi lúc ấy. Bác có hay chăng ngày ngày, thằng cháu ruột luôn bắt chước, từ cách cầm viên phấn, rồi viết theo từng nét, trên cái bảng con, hay luôn học đưa từng nét bút vào trang vở, sau khi đứng nhìn bác viết, còn luôn học nói, theo giọng giảng bài của bác, mới ghê chứ. Thật không ngờ, chỉ mấy tháng trôi qua, tôi đã tiến bộ vượt bậc, khiến người nhà và bè bạn, phải hết sức ngạc nhiên, khi thằng nhóc lớp ba, viết vẽ như bản sao của bác nó, dù non kém hơn nhiều. Bác Chín tôi là người thầy, luôn nhắc nhở câu khẩu hiệu TIÊN HỌC LỄ HẬU HỌC VĂN, cho lũ học trò, chỉ đứng sau nhất quỷ nhì ma.  Cuối năm 1974, thầy trẻ Nguyễn Kỳ về làm hiệu trưởng, thay bác tôi đã già sắp nghỉ hưu. Thầy Kỳ là họa sĩ, chơi đàn guitar rất cừ, hát rất hay. Hình như thầy giỏi cả cầm kỳ thi họa. Thấy tôi có năng khiếu viết vẽ, thầy đã dạy cho tôi làm báo tường, và cho tôi xem, hầu như toàn bộ tranh ảnh thầy đã họa. Thầy bảo tôi hãy chăm đọc sách, để bồi bổ kiến thức. Và kỳ thi vào đệ thất (lên cấp 2, lớp 6 bây giờ), thầy báo tôi đã đậu nhì trường Hổ Thanh, chỉ sau bạn Phạm Văn Cổ. Rất tiếc, duyên thầy trò chỉ đến đó rồi thôi. Và từ khi lên lớp 6, thầy Đương chủ nhiệm, tôi đã được bầu làm trưởng ban bách báo. Cái chức vụ cỏn con bé tí dễ thương ấy, đã đi theo tôi đến hết lớp 12. 

Tôi ở một thôn, có thể gọi là nghèo nhất xã, một xã có lẽ nghèo nhất huyện. Trường cấp hai tôi học thuở ấy vừa giải phóng, có tên gọi là trường Xuân Quang Nam. Trường chỉ có 5 phòng học, cùng văn phòng trường, dành cho ban giám hiệu, và một phòng cho thầy cô giáo thôi. Mà sáng chiều trường phải chứa, học sinh cả bốn xã trong khu vực. Đất thì thừa, mà kinh phí không có, nên nhà trường đã huy động, tất cả phụ huynh học sinh chung tay góp sức, dựng lên gần đó, một trường tranh vách đất 5 phòng, vào những năm khốn khó thiếu đủ thứ. Lũ chúng tôi học cấp 2, mà thậm chí có đứa, đi chân đất suốt mùa mưa, khi đường bùn lầy lội. Phần lớn học sinh không đồng phục, thiếu bảng tên, vì mẹ cha quá khổ quá nghèo.

Năm lên lớp 7, vào một sáng thứ 2, trước lúc chào cờ, học sinh tập trung dường đông đủ trên sân. Bỗng tất cả trố mắt nhìn, một người cao lớn có vầng trán thông minh, vận bộ đồng phục màu xanh của trường kỹ thuật, ngồi trên chiếc sprint, đang êm ái nhả làn khói trắng, từ ngoài cổng đến trước văn phòng. Học trò chúng tôi mấy trăm đứa, phần lớn thuộc con nhà bần nông, đi chiếc xe đạp cũng chẳng ra hồn, nói chi là đến xe máy. Tất cả đều trố mắt nhìn không chớp, cùng chờ đón nghe để biết, về nhân vật chính sáng hôm ấy, và thấy mình thật nhỏ bé thấp hèn, trong ý nghĩ trẻ thơ. Khi ngọn cờ được kéo lên tới đỉnh, bài quốc ca vừa kết thúc, thầy hiệu trưởng liền long trọng giới thiệu, trước toàn trường. Rằng, đó là thầy giáo mới Lê Trọng Dũng, sẽ dạy hai môn toán lý. Hơn nữa, thầy sẽ là giáo viên chủ nhiệm mới của lớp tôi, thay cho thầy Đương trước đó. Ban đầu tôi cứ nghĩ, thầy thuộc tầng lớp tiểu tư sản thành thị, chẳng muốn gần chi. Nhưng không, thầy đã đổ mồ hôi cùng học sinh, trong nhiều ngày lao động, không ngại góp của góp công, vào những việc có ích cho lớp cho trường. Thầy giảng bài rất cuốn hút. Là người bên Tự nhiên, thầy lại rất am hiểu về xã hội, và có năng khiếu văn thể mỹ. Cùng với Vũ sư Sơn cọ, thầy đã dạy cho học sinh múa hát. Thầy là người đệm đàn guitar, suốt những đêm văn nghệ của trường. Thầy cảm nhận thơ văn rất tốt, đã hướng dẫn và cung cấp chọn lọc bài ảnh, cho tôi làm báo lớp. Bấy nhiêu điều đã khiến tôi, dần rất mực quý yêu thầy. (Một sáng mùa thu, trong những ngày đầu niên học mới, khi chúng tôi đang đùa nghịch trên sân, thì thầy Trọng Dũng chở cô Thuận, lượn một vòng ngoạn mục quanh sân, trong tiếng reo hò của lũ học trò. Hình ảnh ấy ấn tượng đến nỗi, giờ đây đã quá lục tuần, chú nhóc trong tôi vẫn còn nhớ như in, cái hình ảnh sống động, của thời xa ngái ấy). Thầy Văn Dũng dạy văn người Bình Định, thầy Trương dạy sử, thầy Thảo thể dục rất dễ gần. Thầy Hiệp, thầy Mãn, thầy Ký, thầy Trân, thầy Nuôi, thầy Giao, thầy Hùng, thầy Cầu, cô Thuận, cô Nguyệt, cô Trâm, cô Kiều, cô Mai, cô Cúc, đều đáng kính đáng yêu. Nhưng có lẽ, lũ chúng tôi yêu quý nhất, là thầy Trọng Dũng của tôi thôi. Hình như năm ấy, tôi đã sáng tác bài thất ngôn tứ tuyệt Kẻo Thầy Chê, đăng lên tờ báo TIẾN THỦ do thầy chọn đề thì phải. Bốn câu thơ, của cậu học trò 13 tuổi ấy, chẳng những được thầy khen trước lớp trước trường, mà còn đọc cho các khóa đàn em nghe, được chúng kể lại với tôi. Sau bác của tôi, đến thầy Kỳ, và nhất là thầy Trọng Dũng, là người đã mớm nuôi ước mơ tôi ấp ủ, thành nhà giáo ngày một lớn dần theo năm tháng. Nhưng, tôi đã phụ lòng mình, phụ lòng thầy, khi học hành ngày một sa sút. Từ một học sinh giỏi từ cấp 1, tôi dần trụt xuống hạng trung bình. Chỉ vì, mới mười ba tuổi đầu, tôi phải trở thành lao động chính, khi chị tôi sang chiến trường K, ba tôi thì đau bịnh quanh năm. 

Lên cấp 3, vào học trường trung học Trần Quốc Tuấn Quảng Ngãi, tôi may mắn được thầy Phúc chủ nhiệm dạy văn, để ý đến thơ tôi. Thầy rất thích chuyện trò, cùng đàm luận văn chương, và cho tôi mượn sách đọc. Lên lớp 11 và 12, tôi lại được thầy Quang dạy văn chủ nhiệm, dạy cho tôi thuyết trình, và tổ chức những ngày lao động gây quỹ lớp rất vui. Và thơ tôi ít nhiều, đã có tiếng trong trường. Có lẽ, thầy Phúc, thầy Quang, thầy Mỹ, thầy Một, thầy Sử, thầy Dũng Tiến, thầy Châu, thầy Hồng Anh, thầy Hội, cô hiệp..., đều nghĩ, tôi sẽ trở thành một nhà giáo tương lai. Nhưng không! Ước mơ xưa tôi từng ấp ủ, đã vỡ vụn dưới chân tôi, từ trước tuổi trưởng thành, vì nhiều lẽ. Tôi đành ngậm ngùi chọn cho mình, một hướng đi, khó mà mong chí toại danh thành, hầu trả nợ áo cơm. 

Với tôi, câu : “ NGHỀ GIÁO LÀ NGHỀ CAO QUÝ NHẤT TRONG NHỮNG NGHỀ CAO QUÝ”, với hàng chữ in hoa thật lớn, mãi chẳng phai mờ trong ký ức, mỗi khi nhớ về tuổi học. Vậy mà ước mơ trở thành nhà giáo, đành vỗ cánh bay đi! Nhưng, những hình dáng đứng đi, những nụ cười ánh mắt, của quý thầy cô giáo qua từng niên học, luôn sống mãi trong tôi, ấm áp tự thuở ấy đến giờ. Còn gì vui hơn, khi mấy năm trước, sau bao năm tôi trở về quê, đúng dịp kỷ niệm 40 năm ngày ra trường TRẦN QUỐC TUẤN. Niềm vui xen lẫn nỗi buồn, khi nhận tin, quá nhiều thầy cô đã cưỡi hạc quy tiên. Mấy trăm cựu học sinh chúng tôi, chỉ còn được cung kính, vui cùng một số thầy cô ít ỏi. May thay trong số đó, vẫn còn thầy Dũng Tiến dạy văn, tôi đã dành nhiều thiện cảm và tôn kính, từ thuở ấy xa xưa. Vui thay, bấy giờ thầy trò chụp ảnh chung, hai mái đầu đều bạc trắng như nhau, và thật giống hai anh em. Niềm vui được nhân đôi, khi chiều ấy bất ngờ, cháu và em tôi đi họp lớp họp trường, nhân kỷ niệm 35 năm gọi về. Thật không ngờ, ở đầu bên kia là giọng thầy Lê Trọng Dũng. Thầy liền đọc một hơi, bài thơ tôi viết ngày nào : 

Sáng đông gió bức lạnh lùng ghê

Trống giục trường xa vọng lướt về

Sách vở tay cầm chân rảo bước

Kịp giờ đến lớp kẻo thầy chê.

Mừng quá! Tôi liền mời thầy quá bước đến tệ xá, và hai thầy trò đã hạnh phúc bên nhau, ngồi cạn chén tương phùng, sau bốn mấy năm trời. 

Phần lớn các thầy cô, giờ tuổi hạc đã cao như núi. Cầu ơn trên cho quý thầy cô, đã dạy dỗ hay chưa từng dạy dỗ tôi, được bình an mạnh giỏi, sống vui sống khỏe bên con cháu, trong những tháng năm còn lại của đời mình. 

Nếu có thể ngược thời gian, quay về khoác áo thư sinh, được chọn hướng cho tương lai đời mình lần nữa, tôi sẽ xin chọn nghề giáo, để được làm người lái đò đưa lớp lớp qua sông, như những thầy cô quý kính của tôi. Thời gian không trở lại! Trong bóng xế đời mình, tôi vẫn luôn nhớ đến quý thầy cô giáo, nhất là những thầy cô, đã từng đứng trên bục giảng lớp mình. Tôi mong rằng, mình sẽ làm được điều gì đó khi có thể, để ít nhiều thể hiện lòng tôn sư trọng đạo, thương kính quý yêu, những con người phải vượt qua bao lao khổ nhọc nhằn, tận tụy hy sinh, khi đã chọn cái nghề cao quý nhất.

Sài gòn cuối thu 2024

Lưu Lãng Khách


READ MORE - NHỚ MÃI THẦY ƠI - Lưu Lãng Khách

Thơ Khaly Chàm - CHỢT TỈNH TRỞ VỀ THỰC TẠI

 


khaly chàm

chợt tỉnh trở về thực tại


chẳng để ý nhận ra mùa đông trắng và gió lạnh

em nói, tôi ỡm ờ cợt nhã với hoài nghi

lũ sẻ nâu sà xuống mái phố thinh lặng

có thể, chúng nghĩ về giấc ngủ hồn vía mộng du đêm qua

những cánh bướm lảng vảng đánh hơi mùi nắng ấm


người trên đường lướt nhanh cùng gió thổi

trong mỗi suy nghĩ đều có ngôn ngữ không lời

từng cá thể hoài thai sự mưu sinh tất bật đời thường

tôi đang lắng nghe tiếng gọi tên mình nhắc nhớ


những câu thơ của mùa xanh trở về gõ cửa

chúng phóng túng cùng thời gian sáng ngày lên chiều xuống

ai đó nói, nếu ta chỉ biết bước đi loanh quanh

làm sao thấy được bầu trời biếc xanh trong veo mới mẻ


thỉnh thoảng biết rằng tôi đang sống

nhưng chưa bao giờ thấu hiểu chuyện thống hối là bí tích

ban cho người đã vô thức với tình cảm thiêng liêng

sáng nay tâm tưởng kéo tôi về thực tại

chợt tỉnh, hình như thấp thoáng bóng ngày xuân ẩn hiện 


muadong 2024

khalycham1954@gmail.com

 





READ MORE - Thơ Khaly Chàm - CHỢT TỈNH TRỞ VỀ THỰC TẠI

QUA MÙA HƯ ẢO – Thơ Lê Minh Hiền

 

 

QUA MÙA HƯ ẢO


Hồn ta, chú cá vàng tội nghiệp 

em là chim bói cá vô tâm 

em gắp hồn tôi mùa lá rụng 

mặt hồ xao động vòng tâm loang 

về nghe trong gió lời chánh niệm 

lần bước đi về cõi thiên thu

về nghe tinh thể chiều vô lượng 

nhớ tiếng chuông chùa cố quận xưa 

một mai ai đó còn chút nghĩa 

tình đã lìa cành còn vương thương 

sương đọng lá xanh đêm mấy khúc 

bước nhẹ ra vườn rũ bụi mê 

ngỡ lạc thiên thai thương Lưu Nguyễn 

ta về quán trọ chờ lai sinh 

nắng xuống chiều lên đêm tuyệt tận 

cuộn mình hư ảo thực hay mơ 

Trang Chu thuở ấy phân thân lạ 

đêm giữa đời thường mộng cố nhân 

ngày xưa tình đầu lưu luyến mãi 

tình cuối sao đành vội chóng quên 

lối xưa thu thảo hồn thơ dại* 

nghìn trùng khơi lạnh hồn ngu ngơ 

em gắp hồn tôi mùa lá rụng

ta về toan tính bước vô ưu 

thời gian không tím... màu xanh ngắt 

chiếc lá cuối cùng rơi nhẹ tênh 

buốt lạnh đông ngâu mùa trở giấc 

mặt hồ đời trở lại ngày xưa 

cá vàng một thuở hồn phiêu dạt

chim lộng trời xanh đã sang sông  

 

(2:29 khuya lạnh)  

Stanton Nov. 15th, 2024

*Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương (trong bài thơ Thăng Long hoài cổ, Bà huyện Thanh Quan.) 

Lê Minh Hiền

 hienlehuong@gmail.com



READ MORE - QUA MÙA HƯ ẢO – Thơ Lê Minh Hiền

KHIÊU VŨ VỚI THỜI GIAN - Thơ Song Phố

  

Nhà thơ Song Phố


KHIÊU VŨ VỚI THỜI GIAN

 

Chỉ có khoảnh khắc này ở Hội An thôi

Không thể một nơi nào khác

Anh chạy theo ánh nắng mặt trời

Tôi cầm tay khiêu vũ với thời gian

Nhịp chân bước điệu đàng như thuở trước

Say cồn cào chất giọng Quảng Nam

 

Cả một khoảng trời yêu thương đầy nắng

Cát vàng ...

Biển xanh!

Và hun hút mắt em nhìn

 

Ngọn gió đi chậm trước ngôi nhà cổ kính

Hỏi thềm rêu có nhớ không?

Con đường men theo bờ sông hóng chuyện

Em về trải gió lên đồng

 

Lối đi hẹp vòng quanh nỗi nhớ

Cầu Chùa đón bước chân qua

Gió còn quen thuộc như mình nghĩ

Đợi chờ nhau đến bao giờ?

 

Sông Hoài ôm khư khư miền kỉ niệm

Đêm khuya ngồi ngắm trăng rằm

Tiếng cười ướt đẫm giấc mơ đẹp

Lồng đèn giăng màu ánh sáng lung linh

 

Ở ngoài kia sóng biếc trần tình

Cửa Đại dang vòng tay đón mặt trời buổi sáng

Cù Lao Chàm lãng mạn

Đưa tay vẫy cánh buồm xa

 

SONG PHỐ

 <songpho.0505@gmail.com>

 

READ MORE - KHIÊU VŨ VỚI THỜI GIAN - Thơ Song Phố

HẸN GẶP NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT MÙA ĐÔNG -Thơ: Hoàng Thị Bích Hà - Sáng tác nhạc & trình bày: Hà Lan Phương




Nhà thơ Hoàng Thị Bích Hà


HẸN GẶP NGƯỜI 

TRONG TIỂU THUYẾT MÙA ĐÔNG

 

Đông lại về ão não những cơn mưa

Khóc tỷ tê bên nhành hoa thạch thảo

Còn đâu nữa nắng thu vàng rất ngọt

Màu mật ong - màu kỷ niệm mùa thương

 

Ta với người- chuyện tiểu thuyết dài chương

Ta đã viết - viết hoài… chưa ngưng nghỉ

Năm tháng ấy vẫn còn vương hoài niệm

Rắc tơ lòng lên câu chữ thành thơ

 

Ta với người gom kỷ niệm trời mơ

Ướp hương bưởi, hương cau, cả mùa thu thạch thảo

Màu áo tím ngày xưa - thời hoa mộng

Xin trả cho người… một thuở còn nhau

 

Viết đôi dòng cất giữ lại mai sau

Tháng năm trôi, rãi ký ức lên từng trang giấy mỏng

Thu đi rồi, tôi giữ Mùa Đông lại

Xin hẹn gặp người trong Tiểu Thuyết Mùa Đông.


Ngày 06/11/2023

Hoàng Thị Bích Hà

 

READ MORE - HẸN GẶP NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT MÙA ĐÔNG -Thơ: Hoàng Thị Bích Hà - Sáng tác nhạc & trình bày: Hà Lan Phương

Thursday, November 14, 2024

Trang thơ Nguyễn Văn Trình - PHÚT NẶNG LÒNG | CHIỀU NGHĨA TRANG | CÓ CHI MÔ

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình

Phút nặng lòng       

 

Phút nặng lòng, anh bỗng nhớ về em

nhớ về cái nhìn đầu tiên đắm đuối

tuổi mơ tiên và duyên ngầm sâu thẳm

má ửng hồng và sắc thắm giai nhân

 

Phút nặng lòng, anh mới hiểu về em

về đức hy sinh, về tình yêu em có

thật hồn nhiên như cây cỏ mùa xuân

như hoa trái ngọt lành ngày hái quả

 

Phút nặng lòng, anh hiểu ra tất cả

dẫu đường đời còn có nhiều vất vả

nhiều gian nan, quen lạ đã từng

đi bên em, thêm niềm tin vững bước

 

Phút nặng lòng, anh ước những xa xôi

rồi mai đây dù đường đời có lạnh

lửa tình em mãi sưởi ấm tuổi già

để vượt qua những ngày đông giá rét…

 

                                Vũng Tàu, 2023                 

 

 

Chiều nghĩa trang               

 

Nghĩa trang chiều muộn phân vân

hàng ngang hàng dọc, mộ phần các anh

cùng đi viếng mộ cỏ xanh

chênh vênh đồi dốc, mông mênh gió lồng

 

Chơi vơi mộ giữa đồi thông

hoa sim tím biếc, trang bông đỏ hồng

mênh mông sương khói hư không

rưng rưng giọt lệ, cho lòng quặn đau

 

Cùng đi viếng mộ bên nhau

nghe chiều cô quạnh, nghe đau tim mình

theo hàng bia mộ lặng thinh

hương trầm nghi ngút, im lìm mộ xây

 

Trời xanh, mây trắng là đây

nghĩa trang chiều muộn, hàng cây con đường

nhớ anh, viếng mộ thắp hương

để rơi dòng lệ, giọt sương đầm đìa…

                                

                             Đông Hà, 7/2021

 

 Có chi mô (1)   

 

Biết đời là cõi tạm

vạn vật đều vô thường (2)

 

Sao vẫn cứ sân si

sao vẫn cứ tranh giành

sao không đành bỏ bớt

cho nhẹ gánh sầu bi ?!

 

Một mai đi về đất

cát bụi có chi mô… ?!

                 

    Đông Hà, tháng 4/ âm lịch

                     2017

 

Ghi chú:

1) Dẫn ý của thiền sư Thích Nhất Hạnh: “Trong này không có gì, ngoài kia cũng không có gì.” (Có chi mô - tiếng Quảng Trị.)

2) Bài thơ đề cập đến một triết lý nhân sinh của đạo Phật: Đời là cõi tạm, vạn vật đều vô thường.

 

READ MORE - Trang thơ Nguyễn Văn Trình - PHÚT NẶNG LÒNG | CHIỀU NGHĨA TRANG | CÓ CHI MÔ

ĐÀ LẠT DỊU DÀNG NHƯ CÔ GÁI MƯỜI TÁM - Thùy Vy

 


 

Đà Lạt dịu dàng như cô gái mười tám

 

Cái cách Đà Lạt ôm vào lòng tất cả là tiết trời se se lạnh, nắng mà không nóng, người Đà Lạt thân thiện, giọng nói nhẹ nhàng.

Sớm và chiều sương mù bao phủ, mây sà xuống hoà vào những rặng thông xanh.

Những cung đường mềm như lụa với những ngôi nhà chênh vênh vách nửa gần nửa xa, điều ấn tượng nơi đây là kiến trúc rất tuyệt, người Đà Lạt biết tận dụng từng tí không gian, địa hình nhấp nhô không làm khó được họ, nhiều con hẻm con ngõ như tranh vẽ, toàn hoa và dốc.

Tôi đến Đà Lạt lần ba, tôi thích cafe một mình bên phố, thích ngồi trên cao nghe cái lạnh thấm vào da thịt mà ngắm nhìn đèn màu, dãy nhà nhấp nhô cung đường sáng tối...

Đà Lạt dịu dàng nhẹ nhàng như cô gái mười tám, đông mà không loạn, không ồn ào tấp nập, khí hậu ôn hòa dễ chịu, cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, lãng mạn. Đà Lạt cũng chính là mơ ước của những tín đồ đam mê du lịch cả du khách trong và ngoài nước.

Nếu quá mệt mỏi, đến với Đà Lạt, tất cả nhẹ tênh hiền hòa đến lạ.

 

Thùy Vy

READ MORE - ĐÀ LẠT DỊU DÀNG NHƯ CÔ GÁI MƯỜI TÁM - Thùy Vy

ĐÔI TRANG NHÂN DỊP NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM - Lưu Lãng Khách

Tác giả Lưu Lãng Khách


ĐÔI TRANG NHÂN DỊP NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 


Cứ mỗi lần sắp đến NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM, có lẽ, trong mỗi chúng ta, lại quay trở về tuổi học, với cả tấm lòng thương yêu quý kính, về những thầy cô giáo, đã dạy dỗ chúng ta, tự thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, từ lớp học trường làng, cho đến khi lên trường tỉnh, và hơn thế nữa. Rồi bao kỷ niệm buồn vui, tình cảm kính yêu dành cho thầy cô, có lúc tưởng chừng nhạt phai nơi  miền ký ức, trong khung trời dĩ vãng mang dấu ấn học đường, lại ùa về sống động, dâng chật cứng tâm tư, khi ngày lễ đã đến gần.

Lòng thiết nghĩ, hai chữ TRI ÂN, luôn tỏ mờ hiện hữu trong mỗi chúng ta. Không nhất thiết chúng ta, phải học hành đỗ đạt, trở thành ông kia bà nọ, mới tỏ ra biết tôn sư trọng đạo, mới biết uống nước nhớ nguồn, mới ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Mà truyền thống tốt đẹp “TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO”, đã bén rễ trong ta, từ buổi mới cắp sách đến trường, học được những gì tốt đẹp nhất, cùng kiến thức, thầy cô giáo đã truyền thụ cho chúng ta, với khẩu hiệu “TIÊN HỌC LỄ HẬU HỌC VĂN”. Và thầy cô giáo, như là những thiên sứ, thực thi sứ mệnh chắp cánh ước mơ, cho chúng ta bay cao bay xa, dưới bầu trời tương lai đang rộng mở, từ khi ta còn là những cô chú nhóc thơ ngây. Những người được sinh ra và lớn lên trước 1975, có lẽ sẽ quen thuộc hơn, tình nghĩa hơn ít nhiều thế hệ trẻ bây giờ, khi đón nhận câu “Nhất tự vi sư - Bán tự vi sư”, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Quả đúng vậy! Một chữ cũng là thầy – nửa chữ cũng là thầy. Cuộc đời trong mỗi chúng ta, từ mẫu giáo cho đến lúc trưởng thành, được biết bao thầy cô giáo, góp công sức dạy dỗ ta nên người. Và mỗi thầy cô, ít nhiều, luôn để lại cho chúng ta, những điều tốt đẹp khó phai, khi quý thầy cô truyền thụ kiến thức cho chúng ta, với tình cảm từ trái tim, cống hiến cả tâm lực và trí lực, cho sự nghiệp trồng người cao cả. Quý thầy cô phải hy sinh biết bao điều, trong cuộc sống cá nhân, phải luôn là những tấm gương mẫu mực, khi đã chọn cái nghề cao quý nhất, trong những nghề cao quý. Ngày ngày quý thầy cô, phải đổ bao giọt mồ hôi trên bục giảng, phải khàn đau cả cổ họng, mong chúng ta được thành nhân trước khi thành danh, mang niềm vui đến cho gia đình và xã hội. Thầy cô giáo như những người lái đò, đưa lớp lớp qua sông suốt mấy chục năm nghề, có thể quên những người khách, đã từng bước lên đò. Nhưng, chúng ta không được phép quên quý thầy cô giáo, đã từng tổn hao tâm sức, dày công dạy dỗ mình. Cái lỗi ấy khó mà tha thứ được, khi chúng ta lớn lên, trong một đất nước được giáo dục, biết tôn trọng thầy cô giáo từ tấm bé, biết giữ đạo thầy trò, trong cuộc sống mỗi người, với cả những thầy cô không trực tiếp dạy, hoặc chỉ dạy được cho mình, những điều nhỏ bé nhất mà thôi.

Thầy cô dạy chúng ta mỗi ngày, phải chăng là vì công việc phải giảng dạy, vì cuộc sống cơm áo phải lo toan? Rằng, không hoàn toàn như thế! Quý thầy cô vì cái lớn lao hơn, là kế tục sự nghiệp trồng người, hết lớp đến lớp, hết thế hệ này đến thế hệ khác, luôn thực hiện trọng trách, của cái nghề cao quý nhất. Quý thầy cô phải thức khuya dậy sớm chuẩn bị giáo án, phải vắt óc soạn những bài giảng cho thật hay, cho thật dễ hiểu, hầu để cho những cô cậu học trò chậm tiêu nhất, cũng có thể lĩnh hội được. Ta nghĩ lại chẳng thấy thương sao, khi thầy cô bỏ công giảng giải đổ mồ hôi hột, mà đôi khi chúng ta,còn nói chuyện hay nghịch ngợm trong lớp, chẳng ngoan ngoãn tập trung lắng nghe. Làm thầy cô cố gắng công sức mấy, cũng như nước đổ đầu vịt, phải thất vọng, không vui nổi, bởi trò không chăm thì thầy cũng bó tay. Nên ngay từ khi còn ngồi ghế nhà trường, nếu chúng ta biết nỗ lực phấn đấu, học hành chăm ngoan, là phần nào, đã đền đáp công ơn, cho những người đã dạy dỗ mình rồi đó. Ta không thấy quý sao, khi những năm đói khổ sau giải phóng, đồng lương giáo viên không đủ sống. Mà quý thầy cô, vẫn không bỏ học trò, dù chỉ vài tiết học, khi khốn khó trăm bề, luôn vây bủa từ mọi phía. Ấy là vì lẽ gì? – Là vì quý thầy cô, yêu nghề quá sâu nặng, thương học trò, lo cho thế hệ mai sau. Và thầy cô luôn đặt niềm tin vào chúng ta, những cô cậu học trò, sắp bước vào tuổi lớn, sẽ làm được những gì, có ý nghĩa cho mai sau. Nên quý thầy cô, chẳng nệ công sớm tối, dạy dỗ rèn giũa, đào tạo chúng ta, bằng cả khối óc và trái tim. Hầu mong chúng ta hết lớp này đến lớp khác, sẽ thành tài, góp phần không nhỏ vào công cuộc, đưa Việt Nam từ một nước đói nghèo, vượt lên chính mình, trở nên ngày càng giàu mạnh, dù không dám sánh với cường quốc năm châu.

Tự cổ, con người ta đã rất đề cao, vai trò của người thầy, trong các mối quan hệ cộng đồng, xã hội. Công ơn quý thầy cô, quả cũng lớn tày non bể, qua sự phân thứ bậc “Quân-Sư- Phụ” của người xưa. Có nghĩa là sau vua, người thầy được đề cao, trên cả cha mẹ chúng ta. Và ngoài câu : “Con ơi nhớ lấy câu nầy. Ơn cha nghĩa mẹ công thầy chớ quên”, trong tục ngữ ca dao, còn có rất nhiều câu hay, như những lời khuyên bảo vàng ngọc, nhắc nhở chúng ta, phải luôn biết giữ đạo sư đồ. Lời người xưa đã dạy: “Phi phụ bất sinh. Phi sư bất thành. Phi quân bất vinh”, vẫn còn rất bổ ích, cho con người trong xã hội hiện đại của chúng ta, khi ta biết tiếp thu những tinh hoa, trong đạo lý thầy trò của Nho gia, giữ gìn truyền thống tôn sư trọng đạo của nước nhà. 

Người ta đã nói: “Tình thầy trò là một trong những tình cảm thiêng liêng, cao đẹp nhất trong xã hội”. Mỗi chúng ta phải biết, trân trọng giữ gìn tình cảm ấy. Vui làm sao, khi sau bao năm bôn ba, chúng ta bị trói trong nỗi lo cơm áo gạo tiền, bỗng một ngày nọ, tình cờ được gặp lại thầy cô, được tay bắt mặt mừng, được ôm nhau thân mật ấm áp, sau tháng ngày xa cách. Và cô cậu học trò của thuở ấy trong ta, đôi khi đứng mừng vui rơi nước mắt, trong hình hài đã nhuộm lắm thời gian. Trong phút giây, ta ngây ngất lâng lâng, trên đôi cánh hoài niệm, đưa ta về bên trường cũ thầy xưa, của những ngày xa ngái chốn học đường. ÔI thời gian! Làm sao ta tránh khỏi, quy luật tự nhiên của tạo hóa. Có những người trong chúng ta, đã bóng xế vòng đời, huống hồ chi là quý thầy cô của chúng ta, những người thuộc thế hệ trước đó, chẳng già yếu đến nơi, chẳng gần đất xa trời. Dẫu biết thế, vẫn cầu mong cho quý thầy cô giáo được mạnh khỏe, sống an vui trong những tháng năm còn lại của cuộc đời. 

Nay thường nghe đó đây hay ngao ngán, cho đạo đức của học sinh chốn học đường, đang xuống cấp trầm trọng. Truyền thống tôn sư trọng đạo, có lẽ mai một dần theo năm tháng, để lại nỗi lo buồn lớn cho ngành giáo dục. Nhưng không, chúng ta hãy lạc quan rằng, thời nao cũng có học sinh cá biệt, cũng có những học trò khá giỏi chăm ngoan, biết kính thầy yêu bạn, không phụ lòng thầy cô, đã bao năm dạy dỗ. Chúng ta hãy tin vào con em của chúng ta, những thế hệ tương lai, vẫn mãi kế tục truyền thống “Tôn sư trọng đạo” tốt đẹp của cha ông, trong xã hội nước nhà. Chúng ta luôn biết đối nhân xử thế, giữ đạo sư đồ, kính trên nhường dưới, tương ái tương thân, gắn kết cộng đồng, mở lòng ra với thế hệ trẻ, làm gương cho chúng, góp phần giữ gìn truyền thống tốt đẹp “Tôn sư trọng đạo”. Là coi như, chúng ta đã ít nhiều, trả được công ơn cho thầy cô rồi vậy. Chứ không nhất thiết phải túc trực chăm nom giúp đỡ, những thầy cô đã từng dạy dỗ mình, mới xứng nghĩa tri ân. Nhân sắp đến ngày NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM, xin gửi nơi đây một lời chúc sức khỏe, một tình cảm thiêng liêng trân trọng nhất, đến quý thầy cô, cùng tất cả mọi người. Mong tình sư đồ mãi gắn bó, nồng ấm trong mỗi chúng ta, nhất là trong dịp lễ HIẾN CHƯƠNG. 

                    Sài GÒN 09/11/2024

               Duy Toàn – Lưu Lãng Khách  

luulangkhach@gmail.com



READ MORE - ĐÔI TRANG NHÂN DỊP NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM - Lưu Lãng Khách

Truyện ngắn và thơ MỘT CHUYỆN TÌNH LÃNG ĐÃNG (Kỳ 3/5) - Quách Như Nguyệt

 

Tác giả Quách Như Nguyệt


Truyện ngắn và thơ

MỘT CHUYỆN TÌNH LÃNG DÃNG 

(Kỳ 3)  



Tôi biết Tuấn nói thật lòng nên cảm thấy nghèn nghẹn, thấy mình cảm động, 

cố  gắng ngăn lại giòng nước mắt...


Khi thân thiết với nhau hơn, Tuấn tâm sự cho tôi biết là trước khi gặp tôi, anh đã có người tình. Hai người yêu nhau tha thiết và đã làm đám hỏi. Ai dè, người yêu xinh đẹp của anh thích được nổi tiếng, muốn dự thi hoa hậu, anh giúp đỡ fiancée tận tình để cho cô đoạt được giải nhưng khi đã thành hoa hậu rồi thì thế giới của cô ấy thay đổi cùng với tình yêu của hai người!  Vì sự thay lòng đổi dạ của người yêu sắp cưới, Tuấn trở nên đau buồn chán nản rồi đưa đến quyết định hủy bỏ chuyện hôn nhân với cô ta. Tuấn thất tình, xuống đến mười mấy pounds, bù đầu vào công việc làm ăn để quên đi tình hận, cho đến khi bất ngờ gặp tôi trong buổi tiệc mấy tháng trước! 

Tuấn bảo: "N. đúng là ân nhân của anh vì nhờ có N. mà anh thấy đời đáng sống trở lại! Nhờ em mà anh tìm lại được niềm vui.  Cám ơn em!"

Thời gian thấm thoát trôi qua...

Tôi và Tuấn vẫn hẹn nhau đi ăn tối, điểm hẹn thường ở trong phạm vi vùng Orange County hoặc Los Angeles County. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác hoan hỉ, an vui, yêu đời khi cùng Tuấn ngồi từ trong nhà hàng trên đồi cao ngắm cảnh hoàng hôn trên mặt biển, xa xa có những cánh bườm nhấp nhô trên mặt sóng lăn tăn... Chúng tôi nhìn mặt trời đỏ ối và những cụm mây đủ màu tím thẫm, xám đậm, hồng cam giăng mắc rải rác toả sáng một góc trời.  Có những lúc ngồi nhìn qua cửa kiếng thấy bãi biển cong cong, bọt biển trắng xóa; khi thì nhìn xa xa, thấy một dẫy sailing boats như một bức tranh thật đẹp.  Có nhiều nhà hàng thật trang trọng và nổi tiếng ở quận Cam và “thành phố thiên thần”.  Nhà hàng như tòa lâu đài nằm ngay trên một đỉnh núi thấp, thung lũng xa xa phía dưới lập lòe, nhấp nhánh đèn đủ mầu thật đẹp. Tại một nhà hàng Pháp, có người đánh đàn vĩ cầm, đại hồ cầm cho chúng tôi nghe. Lần đầu tiên tôi được nghe, được biết bản nhạc so romantic “La Vie En Rose” là từ nhà hàng đó.

La Vie En Rose ( Édith Piaf ) - THÙY DUNG

https://www.youtube.com/watch?v=j_axe6Hr9GU



Nhà hàng Mễ thì có 5, 6 anh chàng đánh đàn tây ban cầm, tiếng đàn reo vui, rộn rã.  Một số nhà hàng có khu vườn rộng trồng hoa thật đẹp; chúng tôi ăn xong, đi dạo vòng vòng ngắm lá hoa, cây cỏ. Không khí trong lành, mùi hoa nhài Mỹ (không phải hoa nhài của Việt Nam mình) thơm phưng phức, ngào ngạt cả không gian. 

Chỗ mà Tuấn thích nhất là nhà hàng ăn ở Bonaventure Hotel. Toà nhà chọc trời Bonaventure lúc đó còn cao nhất thành phố Los Angeles, một địa điểm rất nổi tiếng lúc bấy giờ.  Nhà hàng này tọa lạc trên tầng cao nhất, tự nó, nó có thể xoay từ từ một vòng 360 độ để thực khách có thể nhìn thấy những tòa nhà khác thấp hơn và nhìn xuống thảm ánh sáng tuyệt đẹp chung quanh chỗ mình ngồi. 

Có một hôm, hai chúng tôi đang ngồi im lặng để nghe nhạc, nhìn ánh nến lập lòe, nhìn bầu trời trong vắt đầy sao, ở phía dưới là thành phố về đêm, đèn đủ mầu lấp la lấp lánh như kim tuyến; hai ly rượu đắt tiền được đặt ngay trước mặt thơm ngào ngạt; tôi thấy Tuấn chăm chăm nhìn tôi say đắm.  Khi bị bắt gặp đang trộm ngắm nhìn tôi, Tuấn nhanh nhẫu bào chữa: "N. ơi, tối nay nhìn N., anh chợt nhớ đến một câu thơ của thi sĩ Đinh Hùng! N. có biết câu đó là câu gì không?!"

Tôi cười to, lanh chanh đáp lại liền: "N. không nhớ tác giả là Đinh Hùng hay Vũ Hoàng Chương, có phải câu đó là ‘Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời!’ không?" 

Tuấn trố mắt tỏ vẻ khâm phục sao tôi lại có thể đoán được ý nghĩ của Tuấn, sao tôi còn biết cả câu thơ này... rồi chúng tôi cùng bật cười sảng khoái!


Hai chúng tôi lúc đó không khác nào hai đứa trẻ vừa mới lớn!  Nói thật lòng, tôi yêu thích những buổi chiều tối như thế lắm, thích quá chừng những lúc ngồi đối diện với Tuấn, được nghe nhạc hay, được ăn ngon mặc đẹp, tha hồ nói cười thoải mái.

Một địa điểm khác là Laguna Niguel Hotel. Chà chà, hihihiii... nghe thấy
chữ Khách San, Hotel; chắc các bạn...giật mình, tưởng N ‘zô’ hotel ‘làm gì’
mí Tuấn rồi chứ nhỉ, hhihiiiiii. Hổng phải đâu, hổng có đâu là hổng có 
đâu,chúng tui vưỡn giữ được tình bạn tong tắng đó các bạn à .


Bên trong Laguna Niguel Hotel, đi sâu vào là một nhà hàng nằm sát ngay cạnh biển. Tôi nhâm nhi uống trà thơm, Tuấn uống rượu, gió thổi tung bay mái tóc tôi; tiếng nhạc quyện vào tiếng sóng, sóng biển có khi tràn vào bờ nhẹ nhàng nghe ầm ì, rù rì, có khi ập vào như vũ bão. Có một lần sóng đập vào mạnh quá, nước biển bắn lên tung tóe làm ướt tóc, ướt mặt tôi; anh đã vội vàng lấy khăn lau cho tôi, cử chỉ nâng niu, cẩn trọng.   

Chắc có lẽ được sanh ra từ Vũng Tàu nên tôi rất mê những thành phố biển! Thành phố nào gần sát ngay biển cũng rất đỗi dễ thương đối với tôi.  Tuấn và tôi thường đi dạo dọc theo bờ biển hoặc tản bộ trên Pier.  Tôi vẫn nhớ mãi một buổi tối trời thật đẹp, không khí mùa hè vào ban đêm mát rượi, gờn gợn lạnh.  Anh cởi áo ngoài, khoác cho tôi. Hai đứa tôi tai nghe tiếng sóng vỗ,mũi ngửi thấy mùi biển mặn, trên đầu chúng tôi lấp lánh vạn vạn ánh sao trời.  Trăng đêm hôm đó tròn vành vạnh.  Ở California rất hiếm khi có một bầu trời trong vắt để thấy thật rõ trăng, sao như thế.


Biển Đêm, Trăng và Em

*Ban đêm em ra biển
Nhìn sóng vỗ bập bềnh
Hỡi người xa miên viễn
Người còn nhớ em không?

*Biển đêm gờn gợn lạnh
Sóng lành vờn gót chân
Em nhớ người, nhớ lắm!
Người xa xôi phương nào?

*Chớp chớp vạn vì sao
Trăng như khóc nghẹn ngào
Rù rì nghe tiếng sóng
Sóng tình vỗ lao xao              


*Biển đêm và riêng em

Nỗi nhớ và riêng em
Đời thường xa xa lắc
Người đi mất phương nào
Người đi quên giã biệt
Biển đêm, trăng, và em
Như Nguyệt


Tuấn đã chỉ tay về phía mặt trăng:
“Nguyệt kìa, hôm nay mặt Nguyệt sao tròn xoe!  Mấy ông thi sĩ cứ vẽ vời bảo Nguyệt thơ mộng lắm, cứ ca tụng mãi mặt trăng là tình tứ, là đẹp tuyệt vời nhưng mấy ổng quên mất rằng thực tế rất phủ phàng, hahaha… chị Hằng bị mặt rỗ!”

Nói xong, Tuấn cười to ha hả, có vẻ thích chí lắm.  Những lúc như thế, nhìn anh thật trẻ con, thật dễ thương, không còn một chút gì là chủ nhân ông của một công ty lớn.  Chúng tôi im lặng đi bên nhau như muốn tận hưởng những giờ phút tâm hồn bình thản, tự tại, an lạc, nhẹ nhàng.  Thế giới như muốn thu nhỏ lại để chỉ có anh và tôi.  Khi mình đã thật sự thân và hiểu một người nào đó, tôi nghĩ cả hai chẳng cần phải nói năng gì. Vì thế, nhiều lần ngồi trong xe bên cạnh nhau, chúng tôi đã chẳng nói năng chi.  Tôi lắng nghe tiếng tim mình đập, thở đều, thu nhận trọn vẹn một niềm vui tuyệt vời, khó tả. 


(Còn tiếp.)

Quách Như Nguyêtj


READ MORE - Truyện ngắn và thơ MỘT CHUYỆN TÌNH LÃNG ĐÃNG (Kỳ 3/5) - Quách Như Nguyệt