Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, June 9, 2024

HẠ CŨ TRƯỜNG XƯA - Thơ Đoàn Trung Phong


Nhà thơ Đoàn Trung Phong

 

Đoàn Trung Phong

HẠ CŨ TRƯỜNG XƯA 

 

Rồi một ngày hạ cháy ở trong ta 

Mười tám ư? Tinh khôi tà áo trắng 

Và bụi phấn thôi rơi trên bục giảng 

Lũ ve sầu vẫn điệp khúc miên man.

 

Chẳng dám nói lời yêu bởi chữ "cậu" thật gàn 

Vệt khắc năm xưa bao lần ai thắc thỏm

Ánh mắt sân trường lũ học trò lì lợm 

Bối rối gì? Cây phượng khóc đỏ hoe. 

 

Xin chầm chậm một lần mà khắc lại say mê 

Dòng mực tím chỗ ngồi thân thuộc

Lời Thầy Cô dệt bao điều mơ ước

Năm học hết rồi trên ô cửa màu xanh. 

 

Kỷ niệm ơi! Lời yêu dấu dụm dành 

Như chưa thể hạ năm nào đánh thức

Để sớm nay tiếng trống trường vọng vào lồng ngực 

Dẫu xa rồi… mười tám tinh khôi.

 

Đ.T.P.

<gammayoto@gmail.com>

 

READ MORE - HẠ CŨ TRƯỜNG XƯA - Thơ Đoàn Trung Phong

Chùm ảnh HOA AMARILIST ĐỎ - Chu Vương Miện

 







READ MORE - Chùm ảnh HOA AMARILIST ĐỎ - Chu Vương Miện

KHI RỜI BOSTON - Thơ Nguyễn An Bình

 


NGUYỄN AN BÌNH


KHI RỜI BOSTON



Đêm còn ở lại Boston

Ta đi quanh mấy con đường lá rơi

Mưa khuya làm buốt lòng người

Gió từ biển rộng hát lời hải âu.


Đại Tây Dương sóng rì rào

Ngồi trên bến cảng nơi nào quê hương

Bữa ăn cuối khi lên đường

Chìm trong tĩnh lặng nỗi buồn quạnh hiu.


Rồi trong nắng sớm mưa chiều

Con đường gởi lại ít nhiều dấu chân

Đời vui đếm được mấy lần

Bàn tay vẫy biệt ngại ngần trông theo.

 

N.A.B. 

 luongmanh2106@gmail.com



READ MORE - KHI RỜI BOSTON - Thơ Nguyễn An Bình

TẢN MẠN VỀ CAM LỘ - Lê Quang Thái

 

Nhà nghiên cứu Lê Quang Thái (1940-2020)

Lê Quang Thái

TẢN MAN VỀ CAM LỘ

 

Bước vào thềm năm mới, tôi nhớ lại câu:

Mã đề dương cước anh hùng tận,

Thân Dậu niên lại khiết thái bình

Đất nước đã thống nhất và hòa bình. Bây giờ cầu gì hơn là cầu thái bình, nghĩa cầu cho nước giàu dân mạnh, dân giàu nước mạnh. Những tháng ngày giáp Tết, người dân Cam Lộ khấp khởi mừng vui khi được biết huyện nhà lập lại và đang bắt tay vào việc tiếp tục khai phá một vùng đất trù phú, đầy triển vọng theo đúng quy hoạch đất có bề dày văn hóa lâu đời.

Thật thế, có một nền văn minh Cam Lộ, không nói ngoa theo lối đao to búa lớn đâu. Một số nhà khảo cổ, nhà sử học, nhà nhân chủng học, nhà địa chất đã chỉ trỏ từ lâu rồi. Đó là: Linh mục L. Cadière, Khâm sứ Trung kỳ A. Laborde, Linh mục A. Delvaux (cố Văn), ký giả Henri Le Grauclaude, R.PH de Pirey; gần đây là Linh mục La Fontaine, học giả Hàn lâm viện Pháp Trần Minh Tiết (người Cam Lộ), Giáo sư Thái Công Tụng, Giáo sư Lê Trọng Vinh, giáo sư Sơn Hồng Đức, nhà ngôn ngữ Nguyễn Bạt Tụy.

 

1. Lịch sử hình thành đất Cam Lộ (một chút sử liệu)

Từ đời Lê cho đến đời Nguyễn, Cam Lộ có một quá khứ vàng lụa. Xa xưa lắm, đất này không dính líu nhiều đến chuyện tình của công chúa Huyền Trân. Người Cam Lộ không thừa hưởng sính lễ của Chế Mân dâng hai châu Ô - Lý để nàng công chúa nước Việt về thành Đồ Bàn (nay thuộc tỉnh Bình Định). Tuy vậy, Cam Lộ vẫn nhận hệ quả ít nhiều của mối tình Chiêm - Việt. Hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng mới là đất Ô châu.

Nguyên xưa đất Cam Lộ là của người Man. Bờ cõi biên cương nước ta tiếp giáp với nước Xiêm, nước Vạn Tượng...

Theo sách Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Quảng Trị), nguồn Cam Lộ xưa gồm hai châu: Sa Bồn và Thuận Bình. Châu Sa Bồn có 11 trang, 60 sách và châu Thuận Bình có 19 sách, 10 động. Đất Cam Lộ ngày xưa bao gồm cả đất Hướng Hóa ngày nay. Giáo sư Phan Khoang, tác giả sách Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777, lại nói châu Sa-bôi và châu Thuận Bình. Châu Sa-bôi gồm 10 tổng, 68 xã; châu Thuận Bình có 6 tổng, 26 xã theo bản đồ Thiên Nam dư hạ tập. Ở phần chú tác giả ghi đậm nét: ““Xa-bôi [Sa-bôi], Thuận Bình là đất thượng nguồn Cam Lộ, nguồn Sái, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị ngày nay, dân cư là người Man” Do phiên âm tiếng người Man, người nói Sa Bồn, người nói Sa-bôi.

Các triều Lê, Nguyễn có chính sách cai trị riêng đối với người dân tộc. Người Man gọi người Kinh là Cà-lơ chợ và họ tự xưng Cà- lơ động. Cà-lơ là danh từ chung có nghĩa là người (tiếng Pháp để nguyên là Les Cà-lơ). Người Man có tâm hồn chất phác. Buổi ban sơ người Man (tiền thân của người dân tộc Tà Ôi, Vân Kiều, Pa Hy) rất chơn chất. Sau này vì giao tiếp trong thương trường mà giữ “ngón nghề” và cũng biết “sơn quét” nên dần dần trở thành “lịch lãm”, giảm tính chân thật cho khỏi thiệt thòi quyền lợi trong buôn bán, giao tiếp.

Người bản địa biết giữ lễ nghĩa đối với triều đình và vua quan. Hàng năm họ giữ lễ cống trang trọng. Sách Đại Nam thực lục chép: “Tháng Hai năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807), bảy sách Man ở đạo Cam Lộ vào cống. Bộ Lễ tàu xin cho Thổ tù làm Sách trưởng các sách để thống nhiếp nhau và giữ việc tuế cống hàng năm”.

Trong quá khứ rất gần quân dân Cam Lộ đánh trả quân Xiêm (năm 1941 đổi thành Thái Lan) sang gây hấn, xâm phạm bờ cõi của châu Tầm Bồn dưới triều vua Minh Mạng. Thống chế binh Tượng Phạm Văn Điển, Vệ ủy đạo Cam Lộ là Lê Văn Thụy đã chỉ huy cuộc đánh trả vào các năm 1828 và 1834 (sách Quốc triều chánh biên).

Cam Lộ trở thành đạo từ đầu niên hiệu Gia Long (1802). Đứng đầu có Quân đạo, giúp việc có Hiệp thủ. Theo Thực lục, tháng 11 năm Gia Long thứ 7 (1808) lấy Tri bạ Nguyễn Văn Ngôn làm Hiệp thủ đạo Cam Lộ. Cùng thời điểm này triều đình Huế cũng đặt chức Hiệp thủ Cửa Eo tức là cửa Thuận An ngày nay. Nói thế để mà thấy rõ tầm quan trọng về mặt quốc phòng của đất Cam Lộ. Từ nơi đây có đường đi thông ra bốn phương, tám hướng, ra Bắc vào Nam, đi khắp cùng Đông Nam Á.

Khoảng đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XIX, Nguyễn Văn Tường, người làng An Cư, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong đã giữ chức Tri huyện Thành Hỏa, tức huyện Cam Lộ ngày nay. Đến năm 1867, Nguyễn Văn Tường lại được triều đình Huế giao lãnh chức Bang biện Cam Lộ, sang chức Khâm sai Kinh lý Cam Lộ.

Bang biện là lưu quan (chức quan do nhà nước cử đến) do vua sai phái để làm nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng và ngoại giao.

 

2. Từ Nha sơn phòng Quảng Trị đến chiến khu Tân Sở Quảng Trị

Vì tính cách trọng yếu về mặt quốc phòng, năm 1867 triều đình Huế thiết lập Nha sơn phòng Quảng Trị.

Theo biên chế nhà nước, cơ sở cấp nha là thuộc quyền quản nhiệm của trung ương. Nha sơn phòng Quảng Trị được lập năm 1867 trước sơn phòng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Bình và Hà Tĩnh. Vẫn theo sách Đại Nam nhất thống chí, nguyên Khâm sai Kinh lý Cam Lộ là Nguyễn Văn Tường xin đặt Nha Kinh lý ở xứ Động Mão. Năm Tự Đức thứ 29 (1876) cải làm Sơn phòng nha quản hạt Cam Lộ, gồm hai huyện Thành Hóa (nay là Cam Lộ) và Hướng Hóa.

Sách Đại Nam thực lục (đệ ngũ kỷ, quyển 11) cho biết rõ về chiến khu Tân Sở hình thành từ tháng Chạp năm Quý Mùi (1883) như sau: “Di chuyển Nha đóng ở sơn phòng Quảng Trị cùng với Nha ở phủ Cam Lộ. Nguyên Nha sơn phòng và phủ Cam Lộ trước đặt ở địa phận xứ Động Ngang, huyện Thành Hóa. Quan mật viên lý chỉ ông Nguyễn Văn Tường] tâu rằng: “Sơn phòng của Quảng Trị có thể làm hậu lộ cho kinh đô. Chuẩn cho quan sơn phòng này xem xét tượng tận lại, tăng thêm kinh lý. Quan nối theo coi sơn phòng này cho rằng, địa thế ở đây chật hẹp, đã khảo sát được nơi liền với chỗ đất cũ này là ở trên địa phận xã Bảng Sơn”.

Vua chuẩn lời y tấu của vị đạo thần. Tương truyền từ trong dân gian rằng xưa kia ở địa điểm mới, có con cầu hoạt động. Cầu là một loại rồng có hai ngà nên gọi là lang cầu. Địa thế nơi đây rộng rãi, có thể thiết lập thành một căn cứ quân sự chuẩn bị phòng khi kinh thành Huế hữu sự.

Một nhiệm vụ khác không kém phần quan trọng của sơn phòng là lo khai hoang lập ấp theo chính sách đồn điền đã có từ thời chúa Nguyễn.

Ban đầu, Nha sơn phòng Quảng Trị vào năm Tự Đức thứ 29 (1876) có đặt Chánh phó sứ, Nha thuộc, viên dịch và cơ lính Định Man (10 đội; 456 viên danh). Năm Giáp Thân (1884) lại đặt thêm Tham biện và quan Lãnh binh. Như thế mới biết tầm quan trọng về quân sự, quốc phòng của Tân Sở lớn lao như thế nào. Theo quan chức chế thì chỉ ở bộ mới có chức Tham biện, ở tỉnh mới có chức Lãnh binh hoặc Đề đốc.

Đến đời vua Thành Thái, thực dân Pháp đã “thành công” trong việc đặt nền bảo hộ, Nha sơn phòng Quảng Trị bị bãi bỏ. Còn ai phá chiến khu Tân Sở lần đầu tiên? Đại úy Le Pepit phá hủy san bằng vào tháng Chín năm Ất Dậu (1885). Pepit là quan cấp thấp nhưng dám triệt hạ Tân Sở theo De Courcy, không làm thì lột loong quan ba Tây như chơi.

Ôi! Xứ Của “ngọt mít thơm dâu”, nơi có chiến khu Tân Sở, ngày nay thuộc xã Cam Chính, huyện Cam Lộ. Tết này, tôi đăng ký trước xin xã cho ăn Tết để đi tám làng Tân Sở, Tân Lâm, Tân Trúc, Tân Trại... May ra tìm được sắc phong của ông Nguyễn Văn Tường làm khai khẩn. Nơi đây dân có lập đền thờ Kỳ Vĩ bá quận công - Quận công trước tước vị cao nhất vì:

Tước hữu ngũ (công, hầu, bá, tử, nam) sĩ cư kỳ liệt Dân hữu tứ (sĩ, nông, công, thương) sĩ vi chi tiên

 

3. Quê hương là rừng mít ngọt!

Từ miệt đồng bằng phủ Triệu Phong, ở Cửa Việt, Cửa Tùng nông dân, hào kiệt, sĩ phu vọng về Tân Sở, hướng đến Của, đến nguồn Cam Lộ:

Ai lên nhắn với họ nguồn

Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên

Cam Lộ có măng giang, có mít nài. Đặc sản thì nhiều xin kê đơn món mít rất ngọt ngào tình thương. Cây mít có từ xứ Tây Trúc bên Ấn Độ. Chữ madhu là cây mít lan tỏa khắp năm châu thế giới.

Năm 1967, tôi tìm thăm học giả thượng thặng về ngữ học là Giáo sư Lê Ngọc Trụ. Thầy Trụ nói về từ mít. Nào là Việt Nam có tiếp vị ngữ “ít” như (bọ) xít, (nước) xít, (chân) rít, xa (tít). Riêng từ mít thì gốc gác nó như sau: “Tiếng cổ Slave là MEDU, cổ Anh ngữ là ME(O)DU, cổ Đức ngữ miền Nam là METU, tiếng Ải Nhĩ Lan là MID, và do gốc MELI của Hy Lạp và MEL, MEDLIS của La Tình mà tiếng Pháp có MEIL (mật ong), MEILLÉ (pha mật), MIELLEUX (ngọt ngào, lời đường mật) và tiếng MÉLASSE (mật mía); tiếng Ý có MEILLE MELASSE, tiếng I Pha Nho có MIEL, MILOZA, tiếng Cao Ly có MIL, tiếng Nhật có MITU.

Tàu có MẬT, tiếng Quảng Đông là MẠCH; giọng Quan Thoại là MÍ, giọng HAKKA (tức nước Hạ) là MÍT. MẬT tiếng Hán Việt được Việt hóa, âm thanh và có ý nghĩa không biến đổi” (Cour ngữ học của thầy Lê Ngọc Trụ).

Ngày Tết thì có thèm chăng, thèm cả xơ mít, nước mắm mít, cộ mít. Cộ mít là loại bánh có bỏ mít múi khô vào bột, đường mỡ rồi nén cho thành khúc bánh, xong đem cắt thành từng lát. Nếu đem chiêu đãi khách đến mừng tuổi sau khi đã cúng ông bà rồi thì tuyệt. Lẽ tất nhiên, đó chỉ mới một món, còn nhiều món nữa mặn lạt đều có. Người Cam Lộ hiếu khách lắm.

Viết cà dê kê ngỗng, lời quê chắp nhặt quá nhiều, làm độc giả mất thời gian du xuân, hưởng xuân bất tận. Cầu cho quốc thái dân an và đầu xuân Nhâm Thân như lời trích từ Kinh Thi:

Lạc thổ lạc thổ

Viên đắc ngã sổ

Dịch là:

Đất đạo đức, đất yên vui

Là nơi ta đã được thích lòng

(Nguyễn Văn Mại)

Khí vận mới đã về với đất Cam Lộ, cho hay trời phải chiều người vì DÂN LÀ GỐC NƯỚC. Việc còn lại là làm sao cho huyện Cam Lộ giàu mạnh.

Chú thích:

1. -Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777, (Sài Gòn, 1969), 115.

(Tạp chí Văn hóa Quảng Trị. Số 04.1992)

 

READ MORE - TẢN MẠN VỀ CAM LỘ - Lê Quang Thái

Saturday, June 8, 2024

Chùm ảnh HOA THANH NGỌC 2 MẦU - Chu Vương Miện

 





READ MORE - Chùm ảnh HOA THANH NGỌC 2 MẦU - Chu Vương Miện

CỒN HOA VÀNG (Trường thi) – Lê Minh Hiền

 

Chi tiết tin - Quảng Bình

 

CỒN HOA VÀNG

(Trường thi)

Lê Minh Hiền 

                     …Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia,

                                                          (Nguyễn Du


Phần 1:  MỘNG NGUYÊN THU

1.

Mùa Xuân xuống Cồn Hoa Vàng

thương ai từ độ nụ hườm nguyên sơ

buồn ơi xin vẫy tay chào

Nguyên Xuân khởi sự ngọt ngào Nguyên Thu

2.

Thiên thai một nụ sa mù

chiều xuân mát rượi ngàn ru miên trường

đêm qua hoa bưởi dậy hương

mưa về phố nhỏ bước hồn xanh sao!

3.

Tây hiên đọng giọt sương mờ

trà thơm lan tỏa nét thơ lụa là

tình đầu cát bụi mù xa

yêu ai tình cuối nghe ra vô thường

4.

Trùng trùng ngăn cách người thương

tết mang cố quận xuôi miền Bolsa

đì đùng pháo nổ gần xa

xuân về phố nhỏ thật thà thương Thu

5.

Nửa khuya tỉnh giấc mơ hồ

đêm dài đứt khúc chồn chờ thương ai

ngập rung động mùa phôi phai

29 Tết nhỏ chưa nói gì

6.

Cho xe xuống phố hoang hoài

ngày xuân rõ mặt cúc mai rộn ràng

xứ người nay đã quê hương

trước thềm năm mới nghe hồn nao nao

7.

Đêm 30 xa lắc lơ

nhỏ hay lỗi hẹn giả vờ cong môi

nụ hườm pha nét liêu trai

cầu mơ lỗi nhịp lỡ mai đoạn trường!

8.

Nửa khuya tỉnh giấc hoàn hồn

tình đầu trầm tích mưa nguồn xa xưa

hẹn nhỏ trong đêm giao thừa

mưa bên cố quận đây mùa chiêm bao

9.

Mùng 1 cùng nhỏ đi chùa

ngập ngừng tín hiệu lưa thưa mưa phùn

nụ hườm thơm ngọt môi hôn

cho xe xuống phố nghe hồn vào xuân

10.

Mùi… thì con gái lúa non

nõn nà da thịt phấn hồng ngực thơm

mùng 2 tết bên nhỏ ngoan

mưa xuân rắc hột khe nguồn truông mê

11.

Mùng 3 tết mai vàng hè

hửng tình phát tiết ngày về liên hoan

Thu ngoan bước xuống vườn hoang

hỏi nhỏ: “Nhỏ có lỡ thương một người!?”

 12.

Tháng Giêng ghé phố loay hoay

ngập đường xác pháo người đi sao người

hồn xuân đó còn chần chừ

xin thưa ươm nụ sa mù xuân sang

13.

Một năm rồi sẽ một năm

nụ hườm chớm nụ lá non chớm cành

nhỏ về còn nhớ ta không

ta về còn giữ một hồn chiêm bao

14.

Phương Đông nắng sớm vườn đào

xôn xao phố thị sắc màu phôi pha

ta về giữ ngọc gìn hoa

nhỏ còn ngơ ngác một mùa ngây thơ

15.

Có người nứt mộng ngu ngơ

bước cao bước thấp bên bờ lao xao

sợi buồn quấn cuộn hư hao

may mà gặp nhỏ qua cầu làm quen

16.

Xuân về ươm hạt tinh sương

cho nhỏ mặc áo dài ngoan ngoan hiền

sáng nay tính đã giữa giêng

y trang xếp lại dễ chừng sang năm

 17.

Nhỏ mộng mị nhỏ hồn nhiên

ai về giũ áo bên đường tà huy

chút hồn lang bạt cuồng say

chút hồn chân thật mưa mây xuống chiều

18.

Thương ta mấy thuở bạc đầu

con tim khờ dại bên cầu thiên thu

đường đời tinh thể ngây ngu

đa mang mắt biếc yêu màu môi non

19.

Xuân hồng ghé bến tương giang

vân hạ thấp thoáng đông hàn ướt vai

thu vàng lá rụng xuống tay

cơn mưa chưa ngớt phố ngày vắng em

20.

Ta như một dòng dung nham

tràn qua cõi thực xuống thềm ngẩn ngơ

bốn mùa thay áo tiểu thơ

chân dài sóng lụa qua bờ nhân gian

21.

Chợt nghe đời rất bình yên

trông ra bão rớt một cơn mưa chiều

phố buồn người có vui đâu

thương nhau ngày tháng nhuộm màu vô tư

22.

Ngã mình phòng vắng đêm sâu

chiêm bao người cũ cội sầu vàng cây

thú đau thương vết phôi phai

trở mình trầm cảm một thời ngông nghênh

23.

Thức nửa khuya buốt lạnh hồn

chiêm bao thuở ấy bên cồn hoàng hôn

biển xanh cát trắng thùy dương

ai đi về cõi vô cùng thời gian

 24.

Giật mình buông giấc man miên

trở về mát lạnh bên dòng sông ngoan

nhỏ hư thực nhỏ phân thân

dáng kiều ngồn ngộn cồn hoang mơ huyền

25.

Một ngụm trà sáng tinh sương

yêu ai từ độ cồn làng khe mây

ngoảnh đầu ngày tháng mơ phai

ngoài hiên nắng mới nối lời Nguyên Thu


Feb. – Sept. 2023


READ MORE - CỒN HOA VÀNG (Trường thi) – Lê Minh Hiền

Thursday, June 6, 2024

THUỞ BAN ĐẦU - Thy Lệ Trang

 


 Thy Lệ Trang

THUỞ BAN ĐẦU


 

Ngày đầu bước vào ngưỡng cửa Trung học của tôi không được đẹp và dễ thương như các nhà văn đã miêu tả. Tuy nhiên nó vẫn cho tôi nhiều kỷ niệm khó quên.

 

Sau gần một ngày chờ đợi trước cỗng trường để nghe đọc tên những thí sinh trúng tuyển vào đệ Thất trường Trung Học công lập Ngô Quyền. Tôi trở về nhà với nỗi buồn vô tận. Thật uổng công tôi miệt mài đèn sách luyện thi - ở lớp luyện thi tôi được xếp hạng hai - và uổng công tôi hy vọng tràn trề trong ngày thi, thày giám thị phòng thi đã đọc bài luận của tôi và khen khá lắm. Sợ tôi buồn vì thi rớt, ba tôi luôn an ủi, vỗ về: “Học tài thi phận con ạ!”.

 

Thủa nhỏ chưa biết ham chơi, tôi dẹp nỗi buồn và xin vào trường tư thục Khiết Tâm. Đang học ở đây được gần hai tuần -Mai Hữu- cô bạn nhỏ học cùng lớp nhất ở trường tiểu học Tân Thành chạy đến nhà tôi báo tin: -"Tao thấy tên mày trong danh sách lớp Thất ba trường NQ, vô đi kẻo trễ.” Rồi Trần Thị Châu cũng báo cho tôi hay kèm theo dặn dò: -"Nhớ gặp cô Giám thị Giàu.” Thế là tôi chuẩn bị vào trường một mình bởi vì ba tôi bận đi làm xa.

 

Người chị bà con cấp tốc đặt may thưởng cho tôi ba chiếc áo dài: một chiếc gấm màu xanh và hai chiếc phin trắng. Lần đầu tiên mặc áo dài, tôi cảm thấy rất ngượng ngập, khó chịu. Tôi vốn nhỏ con, ốm yếu lại không được xinh gái chiếc áo dài lại rộng phùng phình làm tôi có cảm tưởng dị hơn. Trường lúc này không khí rất nhộn nhịp, bận rộn. Tôi phải chờ hơn nửa tiếng mới gặp được cô Giàu. Sau khi nghe tôi trình bày - cô ngước lên nhìn tôi với cặp kiếng trắng kéo xệ ngang lỗ mũi: -"Danh sách ở lớp nào?” Chết thật! Tôi chỉ nhớ loáng thoáng con số ba Huệ báo cho tôi. Ở Khiết Tâm tôi đang học lớp Thất A một. Nghĩ là trường nào cũng giống nhau, tôi nhanh nhẩu trả lời: -"Dạ, lớp Thất A ba.” –“Ở đây không có lớp Thất A ba.” Cô nhấn mạnh và vội vàng bỏ đi. Lật đật chạy theo cô suýt nữa tôi vấp ngã vì chiếc ống quần vừa rộng, vừa dài. Tôi đưa cô số ký danh và họ tên nhờ cô xem lại. Cô dò vào tập hồ sơ "Lớp Thất ba." Sau đó, cô dẫn tôi lên dãy lầu thứ nhất... lớp cuối cùng. Lớp học lúc này chưa có giáo sư nên ồn ào như một bầy ong. Khuôn mặt người nào cũng hớn hở, tươi cười. Tôi nhìn thấy Huệ ở bàn đầu đang trò chuyện cùng các bạn mới. Cô Giàu dẫn tôi xuống bàn cuối cùng và bảo: -"Đây là chổ ngồi của trò lớp Thất ba ban Pháp văn.” Tôi buột miệng: -“Thưa cô con xin học ban Anh văn." –“Lớp Anh văn không còn chỗ trống chỉ còn lớp Pháp văn thôi." Nói xong, cô bỏ đi. Đang ngỡ ngàng thì một bàn tay kéo tôi ngồi xuống và đẩy tôi vào bên trong, "ngồi đi còn chọn lựa gì nữa". Nhiều giọng nói khác chen vào: -"Tui cũng xin ban Anh văn nè, rốt cuộc cũng vào đây." -"Ban nào cũng được miễn vào trường công là ngon rồi."

 

Sau khi ổn định được chổ ngồi, tôi được biết cô bạn to con kéo tôi ngồi xuống là Trần thị Lưu, nước da ngâm đen nhưng có duyên. Kế bên là Trần Lệ Dung miệng mồm liếng thoắng, tóc cột đuôi ngựa trông có vẽ tinh nghịch hơn. Phan thị Hà ốm yếu như tôi có chiếc mũi xinh xinh và chiếc răng sún. Cô bạn ngồi bàn trên hay cúi xuống nhìn tôi cười có tên đẹp cũng như khuôn mặt đẹp là Nguyễn Thu Xuân.

 

Từ nhà tôi đến trường NQ bằng xe lam phải đi hai chuyến: một chuyến từ nhà đến chợ và một chuyến từ chợ đến trường. Tôi quyết định đi học bằng xe đạp. Chưa bao giờ đạp xe đi xa nên tôi rất hoang mang, lo sợ thứ nhất là sợ đi qua vòng cua Công trường Sông Phố. Những tuần lễ đầu tôi phải ngừng xe ở trước trường Mỹ nghệ, dẫn xe đạp qua bên kia đường rồi mới dám chạy tiếp. Thứ hai là sợ vạt áo dài bị cuốn vào dây sên, dù tôi đã cẩn thận ràng vạt áo sau vào ba ga còn vạt trước cầm trong tay. Chiếc xe đạp của tôi loại "cà tàng" nên hay bị sút sên, do đó tay tôi thường dính dầu nhớt và ống quần thường bị sên "cạp" te tua. Trong nỗi khổ cũng có niềm vui nho nhỏ. Mỗi lần tan trường, bọn học trò nhỏ chúng tôi cho xe đạp thả dốc tự do - con dốc dài từ trường NQ dẫn đến rạp hát Biên Hùng. Có bạn gan dạ còn buông cả hai tay như làm xiếc. Từ từ quen dần, tôi biết quẹo qua đường Hưng Đạo Vương ngang chùa Tịnh Độ để đến trường, tránh qua công trường Sông phố lúc nào cũng ồn ào, náo nhiệt. Giờ ra chơi, bọn tôi hay la cà đến các lớp đàn anh, đàn chị. Dưới mắt chúng tôi các anh chị ấy là thần tượng. Nhỏ Lưu lanh lợi nên biết nhiều... Anh X này làm trưởng lớp. Anh A có vợ một con. Chị B là con ông Z giàu có tiếng ở Biên Hòa. Đến các bậc giáo sư nó cũng biết nhiều điều mới lạ. Lưu chỉ tôi vợ chồng thày Nguyễn Xuân Hoàng, nó thì thầm vào tai tôi -"Mày biết không các chị lớp lớn tương tư thày còn các anh trồng cây si cô như điên." Nhỏ Lưu hay thổi phồng câu chuyện cho hấp dẫn nhưng điều này tôi tin là có thật. Bỡi vì vợ chồng thày Hoàng rất đẹp. Một hôm, vừa tan học, Lưu kéo tôi chạy xuống lầu "theo tao đến lớp...các anh chị làm liên hoan tiễn thày Tôn Thất Long đi Pháp.” Chúng tôi là những vị khách không được mời chỉ đứng ngoài cửa sổ dòm ké. Hôm đó, tôi về nhà thật muộn, báo hại mẹ tôi phải ra ngoài ngõ đứng chờ.

 

Vốn yêu thích thơ văn từ nhỏ nên tôi hay tìm đọc báo chí của trường. Tôi đã đọc vỡ kịch Công chúa Huyền Trân của thày Quýnh và ao ước sẽ viết được vỡ kịch như thế trong tương lai. Lưu bảo tôi thày Quýnh đạo diễn cho các anh chị lớp đệ nhất diễn vỡ kịch đó ở rạp hát Biên Hùng trong dịp Tết. Tôi không được xem nên không biết lời nó đúng hay sai. Bấy giờ, trước văn phòng trường có một bảng đen dùng để báo cáo những hoạt động của trường: từ học tập-văn nghệ-thể thao đến báo chí. Những bản tin ngắn có kèm theo hình ảnh thật sống động. Thấy tôi dán mắt vào những tấm ảnh về buổi lễ trao giải thưởng văn chương của trường -giải thưởng được trao cho một người con gái có khuôn mặt đẹp và nụ cười rạng ngời-, Lưu vội reo lên: -"Tao biết chị này con ông trung úy Công, nhà có ba người con gái Dung, Ngôn, Hạnh." Sau đó, tôi có gặp chị Dung vài lần ở cổng trường. Tôi lén nhìn chị và âm thầm ngưỡng mộ chị mà không ai hay.

 

Bây giờ, dù đang sửa soạn bước vào ngưỡng cửa sáu mươi tôi vẫn nghe lòng mình trẻ lại mỗi khi nhớ về thủa ban đầu vào trường Ngô Quyền. Hình ảnh con bé ốm yếu với chiếc xe đạp cũ -giọng cười ríu rít như như chim của một đàn tiên áo trắng- tiếng guốc khua vang trên thang lầu quen thuộc và con dốc dài thân thương thủa nào...Tất cả dường như còn quanh quẩn bên tôi. Và cho dù nhiều năm sau này trường Ngô Quyền có nhiều người đẹp nỗi tiếng -tôi vẫn không bao giờ quên được nét đẹp của chị Dung... Ôi! nét đẹp thật hồn nhiên, ngây thơ, man dại...

 

 THY LỆ TRANG NGUYỄN THỊ CÚC

 MASSACHUSETTS

 

THƯƠNG QUÁ... NGÔ QUYỀN...

 

Như hoa hồng ngậm giọt sương mai

Tinh khiết em trong áo lụa dài

Thành phố nồng nàn hương bưởi tỏa

Sân trường rực rỡ lá cờ bay

Màu xanh* gấm mịn còn tươi thắm

Sắc trắng* tơ mềm khó úa phai

Mấy chục năm rồi hồn vẫn nhớ

Ngô Quyền một thuở tiếc thương hoài!


Thy Lệ Trang

* Trường trung học Ngô Quyền Biên Hòa ngày xưa con gái mặc áo dài xanh vào ngày thứ hai, áo dài trắng vào những ngày còn lại.

 

TÌNH HỌC TRÒ

THỂ NGŨ NGÕN -YẾT HẬU

 

Sân trường lá rụng đầy

Áo lụa dài bay bay

Em má hồng, môi đỏ

Say!

Ta lạc vào vườn thơ

Tình yêu đến bất ngờ

Nhìn hoa vàng bướm trắng

Mơ!

Tặng em một nụ hồng

Ngước mặt, mỏi mòn trông

Chu mỏ, nàng quay bước

Xong!

                  Thy Lệ Trang

 


READ MORE - THUỞ BAN ĐẦU - Thy Lệ Trang