Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, January 19, 2021

CHÙM THƠ THÁNG 12 CỦA CHÂU THẠCH


                     Nhà thơ Châu Thạch


HẠT THANH CHÂU EM HÁT
 
Trong dãy ghế tôi bình an tĩnh lặng
Trên bục thờ em hát bản Thánh ca
Bóng hồng âm bay vút lên cao xa
Và rơi xuống hạt thanh châu vọng tiếng
 
Tôi cảm thấy cõi bờ xa thánh thiện
Thấy dòng sông có cây trái chữa lành
Thấy thành vàng mây trắng dợn vòng quanh 
Mỗi cánh cửa là ngọc châu nguyên tảng
 
Em, có phải tâm hồn tôi lảng mạn
Không, em ơi đó là chốn ta về
Hai chúng mình nơi đó chính là quê
Em sẽ hát ở nơi miền vinh hiển
 
Nghe tiếng hát trong hồn tôi hiển hiện
Cõi vĩnh hằng không có mặt trời đâu
Sự vinh quang sẽ sáng mãi trên đầu
Ta ở đó với tình yêu tinh tuý
 
Tôi bỗng thấy em như hoa tuyệt mỹ
Tưởng thiên binh rải xuống một làn hương
Thơm rất thơm thứ nhuỵ ở Thiên Đường
Linh đầy dẫy và em đầy ân tứ!
 
 
ÔI ĐÊM THÁNH!
 
Ai đứng đó giữa màu xanh rừng tuyết
Chờ nôn nao giờ Thiên Chúa giáng trần
Cả hồn thơ nghe nhẹ đến lâng lâng
Ôi Đêm Thánh Vô Cùng, êm ái quá! 
 
Khuya đã đến muôn rừng tia lấp lánh
Vạn ngàn sao đồng vọng giữa càn khôn
Bài Thần Ca linh đến mỗi tâm hồn
Vinh danh Chúa và bình an dưới đất!
 
Ai đứng đó nghe đất trời đồng nhất
Tiếng kinh cầu bay theo tiếng chuông ngân
Lời trên ngôi đã giáng xuống dương trần
Để từ ấy Tin Lành theo cánh gió.
 
Ai đứng đó, chính là tôi đứng đó
Hồn nhân gian nên Thánh bởi ơn cao
Thấy trong tâm bông trái quá ngọt ngào
Tôi đã chết và tôi vừa sống lại!
 
 
THƠ KHUYA
 
Đêm ta ngồi thức trắng
Tại ly cà phê đắng tối nay
Chàng Lang Trương không mời uống ban ngày
Đêm mới gọi giữa khi trời rất rét
 
Ngồi với bạn vong niên thật dễ ghét
Mở miệng ra nó nạt nộ ào ào
Nạt kệ mầy tớ vẫn chẳng có sao
Miễn có bạn bên nhau thì hạnh phúc
 
Đêm thì trắng nhưng hồn ta thì đục
Càng về khuya càng thấy đời về khuya
Trần gian ơi rồi cũng đến chia lìa
Trời sẽ sáng và đêm dài sẽ hết
 
Ta sẽ đến Thiên Đàng không sự chết
Sẽ nhớ thương mòn mõi cõi trần gian
Ở trên cao không có lệ hai hàng
Thì đâu có dòng bi thơ trác tuyệt
 
Thì đâu có tình yêu em da diết
Đâu chia ly đâu hờn dỗi thất tình
Đâu có ngày để ngắm ánh binh minh
Đêm chẳng có để thơ thành dế gáy
 
Lạy Thượng Đế lòng con chưa muốn thấy
Linh hồn con về nơi chốn Cha ban
Xin vẫn còn nấn ná ở trần gian
Để được nếm vị sầu khuya nay có.
 
                                   Châu Thạch 

READ MORE - CHÙM THƠ THÁNG 12 CỦA CHÂU THẠCH

CUỐI NĂM – Thơ Trần Mai Ngân




CUỐI NĂM
 
Năm sắp hết... chúng mình ở giữa
Giữa chia ly giữa một nỗi buồn
Môi khép chặt... lòng tuôn tràn ý
Mà lặng im chẳng thốt điều chi...
 
Năm sắp hết mời nhau ly rượu
Whisky hương ấm sưởi chiều đông
Hai chúng mình nào muốn như không
Còn đầy lắm ngày xưa... hôm trước...
 
Năm sắp hết nhớ xuân nguyện ước
Mãi bên nhau dẫu có thế nào
Vậy mà không thể hiểu vì sao
Lại ở giữa đắng cay ly biệt...
 
Năm sắp hết trần gian vào hội
Ta về thôi hoà nhập mong manh
Buông nhau đi đời cố dỗ dành
Hạnh phúc đó chia về hai phía!

                        Trần Mai Ngân

READ MORE - CUỐI NĂM – Thơ Trần Mai Ngân

Sunday, January 17, 2021

TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG: ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN # 5, PHỤ LỤC 2 - Nguyên Lạc

 



DẪN NHẬP
 
Trước khi vào phần phụ lục 2, tôi xin tóm lược các phần trước đã nói để độc giả dễ theo dõi:
 
- Nguyễn Du dựa vào tích sử triều Minh, Vương Thúy Kiều của Dư Hoài (dài khoảng 3, 4 trang giấy), Tình sử Phùng Mộng Long, và các hý kịch/ hát bộ nhà Thanh- như Thu Hổ Khâu, ông thêm vào các nhân vật đệm sáng tác ra truyện thơ Đoạn Trường Tân Thanh/ Truyện Kiều. Xuất hiện sau Đoạn Trường Tân Thanh/Truyện Kiều => Kim Vân Kiều Lục => Các phóng tác Truyện Kiều (văn, thi, phú … tuồng Kim Vân Kiều, Đào Hoa Mộng Ký) => Thanh Tâm Tài Nhân Truyện => Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Tử => Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân(. Duy Minh Thị) => Kim Vân Kiều Truyện Thanh Tâm Tài Nhân (Tàu) – (Xem phần ghi chú ở cuối bài)
 
Sơ đồ biểu diễn sau đây cho dễ nhớ:
 
ĐTTT => KVKL=> TTTNT=> KVKT (DMT)=> KVKT (TÀU)
 
READ MORE - TRẬN CHIẾN CHƯA NGƯNG: ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH VÀ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN # 5, PHỤ LỤC 2 - Nguyên Lạc

PHÚT TĨNH LẶNG TRƯỚC XUÂN, NẮNG CHẠP VỀ... – Thơ Tịnh Bình


    Nhà thơ Tịnh Bình


PHÚT TĨNH LẶNG TRƯỚC XUÂN
 
Sân thiền đâu thấy bóng hoàng mai
Gió đông buôn buốt chạm vai gầy
Lối trúc hoang sơ mờ dáng núi
Vô âm trăng tỏa giữa trời mây
 
Gởi chút hương lòng hòa gió sớm
Nương giọt chuông thiền điểm mong manh
Trên mái nâu trầm sương lắng đọng
Khoan thai hơi thở nhịp thiền hành
 
Mấy độ hoa vàng cơn diễm mộng
Đầu non chớp bể lạnh mưa nguồn
Đường trần thôi đã phai mùi tục
Mặc cánh én về báo tin xuân...
 
 
NẮNG CHẠP VỀ...
 
Cúi nhặt tiếng chim gù thơ ấu
Bịt mắt trốn tìm suốt cả mùa Giêng
Vu vơ tháng Chạp ưu tư gió
Hoen mắt rạ rơm khói trắng miền
 
Mẹ gánh nước tưới bầy vạn thọ
Những mầm xanh nho nhỏ khiêm nhường
Leo lẻo tiếng chim nào thức sớm
Vội vàng mách mẹ chớm hơi xuân
 
Cúi nhặt ban mai màu tết cũ
Đường quê thong thả nắng Chạp về
Mùa đã phôi thai mầm lộc biếc
Bếp lòng nhen nhóm vạn tình quê...
 
                                 TỊNH BÌNH
                                  (Tây Ninh)

READ MORE - PHÚT TĨNH LẶNG TRƯỚC XUÂN, NẮNG CHẠP VỀ... – Thơ Tịnh Bình

Saturday, January 16, 2021

CHÙM THƠ “CƠN MƠ, CƠN MỘNG, CƠN SAY...” CỦA LÊ VĂN TRUNG


 


CƠN MƠ GIỮA MÙA ĐÔNG
 
Em trở về hiu hắt giữa cơn mơ
Theo chiều gió mùa đông ướt dầm câu thơ cũ
Tôi vẽ tiếp nỗi buồn lên dòng mưa
đang u trầm chảy qua khung trời mây úa
Chảy từ phương em mòn mỏi những mong chờ
Chảy từ phương tôi giấc mộng ủ tình xưa
Chảy thao thiết qua hồn chiều quạnh quẽ
 
Em trở về? Không! Chỉ là trăm dòng lệ
Tận phương buồn chảy tận bến hoàng hôn
Em trở về? Không! Chỉ là những sợi buồn
Như sợi máu chảy buồn trong da thịt
Như nước mắt của từng lời em hát
Năm mươi năm vàng úa dấu rêu tình
Năm mươi năm trôi mãi giữa bập bềnh
Câu thơ vấp trăm thác ghềnh giông bão
Em trở về? Không! Chỉ là cơn mộng ảo
Theo dòng mưa buồn suốt một mùa đông
Thơ ướt trong mưa, thơ chảy trăm dòng
 
Ai đứng giữa mùa đông cầm câu thơ bật khóc!
                                   
 
CƠN MỘNG DU TÌNH YÊU
 
Em
Người đàn bà thức dậy sáng nay
Sau một đêm trăn trở trong cơn mộng du tình yêu
Chợt thấy lòng mình đã khác
Người thi sỹ hôm qua
Và tình nhân hôm nay
Là hai thế giới
Mộng và thực
Mộng thì đẹp vô cùng
Nhưng cõi thực là cõi gần gũi hơn
Tình yêu trong cõi mộng.
Chỉ là những vòng hoa trang trí
Trong bữa tiệc tình yêu
Và sọt rác cuộc đời
Nơi lưu giữ những sắc màu trang trí của thế gian
Người đàn bà
Qua một đêm trăn trở trong cơn mộng du tình yêu
Chợt thấy mình
Đã âm thầm bỏ lại
Một vòng hoa
Ngày hôm qua
Nàng ngỡ như là tình yêu
Nhưng chỉ là cơn mộng.
        
 
CƠN MỘNG THẾ GIAN
 
Giữa cõi ta bà tôi bỗng gặp
Một tôi ngồi dưới bóng cây già
Mà ngỡ đất trời đang thiền định
Giữa vùng quỹ dữ với yêu ma
 
Mây trắng bên trời vẫn trắng bay
Lá úa ngàn năm vẫn rụng đầy
Gió vẫn ru đau niềm thiên cổ
(Em có về ru lòng tôi say ?)
 
Giữa cõi ta bà tôi bỗng gặp
Một tôi buồn quá ngồi hát ngao
Tôi ngỡ đất trời đang trẫy hội
Vui hội trần gian mà lệ trào
 
Em có về ngang MIỀN HIU QUẠNH
Thấy tôi ngồi dưới CỘI ĐIÊU TÀN
Tim tôi gõ nhịp HÒA VI DIỆU
Mà vỗ về CƠN MỘNG THẾ GIAN
 
Giữa cõi ta bà tôi bỗng gặp
Một tôi mệt mỏi giấc mê cuồng
Tôi ngỡ đất trời đang chếnh choáng
Rượu đời ai rót cháy tim gan
 
Thôi em đừng đến, em đừng đi
Em đừng ở lại, đừng quay về
Hãy tan vào tận MIỀN QUÊN LÃNG
Hãy chảy vào trăm DÒNG PHÂN LY.
 
                              
CƠN SAY DÀI VÔ TẬN
 
Năm mươi năm trước ta ngồi uống
Năm mươi năm sau lòng còn say
Chén rượu giang hồ bên quán chợ
Ta rót đời ta đã cạn ngày
 
Ta rót đời ta chảy thành sông
Ta rót vào ly đời đục trong
Em không về, mình ta ngồi uống
Em không về, ai phân ưu nỗi buồn
 
Em hương sắc
Một đời ta lận đận
Một đời ta bờ lở bến bồi
Em hương sắc
Mà ta hoài tay trắng
Giọt rượu buồn như lệ vỡ trên môi
 
Năm mươi năm trước ta ngồi uống
Mà say hoài, say suốt cuộc trăm năm
Ta rót cạn ly rượu đời vô vọng
Rượu cháy nồng mà lòng ta lạnh căm
 
Em hương sắc
Ta rót tình quên lãng
Năm mươi năm men rượu vẫn cay nồng
Ta rót mãi vào đất trời vô hạn
Ngọn lửa tình như một vệt sao băng.
 
                                   Lê Văn Trung

READ MORE - CHÙM THƠ “CƠN MƠ, CƠN MỘNG, CƠN SAY...” CỦA LÊ VĂN TRUNG

PHẢI DUYÊN CHỒNG VỢ - Thơ Huỳnh Tâm Hoài, nhạc Phan Ni Tấn, tiếng hát: Duy Khang.


                         Nhà thơ Huỳnh Tâm Hoài



PHẢI DUYÊN CHỒNG VỢ
 
Chắc duyên, chắc nợ mình ơi!
Xuôi mình lặn lội thăm tôi để rồi.
Hai đứa xếp lại một đôi,
Thiên duyên tiền định mình ngồi bên nhau.
Mình về tôi ở ruột bào,
Thương mình thương quá, chừng nào mới phai!
Tôi đây ở phía non Đoài,
Mình xa biển Bắc dặm dài lê thê.
Bao giờ chim nhạn bay về?
Cho cành khô héo vỗ về chân chim.
Chim kêu mấy tiếng kêu chiều,
Cành vui lắc lẻo cho mềm lòng chao.
Dây trầu quấn quýt thân cau,
Phải duyên chồng vợ bên nhau suốt đời.
 
                                   Huỳnh Tâm Hoài


  

Thơ: Huỳnh Tâm Hoài.
Nhạc: Phan Ni Tấn.
Tiếng hát: Duy Khang.
Hòa âm: Lê Hùng.

READ MORE - PHẢI DUYÊN CHỒNG VỢ - Thơ Huỳnh Tâm Hoài, nhạc Phan Ni Tấn, tiếng hát: Duy Khang.

NGƯỢC DÒNG | CHỜ | KIẾP TRAI | HOA ĐÊM - Chùm thơ độc vận của Đặng Xuân Xuyến

 

NGƯỢC DÒNG

 

Hôm nọ có người ghé bến sông

Nói chuyện nhà bên đã gả chồng

Từ độ ngược dòng đi xây mộng

Chả thấy một lần ghé bến sông.

 

Tôi biết người ta chẳng ngóng trôn

Chỉ mình tôi với mộng hư không

Chiều qua lạc bước về Kim Động

Tôi lại trắng đêm hứng gió đồng.

 

Tôi biết người ta đã gả chồng

Giờ là mệnh phụ giữa phố đông

Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng

Say mãi đò ngang khách má hồng.

 

Đã  mấy đông rồi, đã mấy đông

Bếp lửa nàng nhen có đượm hồng

Mỗi bận nàng ra cài then cổng

Có lạnh so người trước gió đông?

 

Nàng có còn quen nép cạnh chồng

Hững hờ dạo gót giữa phố đông

Lá vàng lả tả khi chiều xuống

Có thấm cô đơn bởi gió cuồng?

 

Tôi biết người ta chẳng đoái trông

Chỉ mình tôi với mộng hư không

Tôi buồn tôi giận tôi dại mộng

Lỡ cả chuyến đò khách sang sông.

 

Hà Nội, Ngày 29.11.2014

 

 

CHỜ...

 

“Tôi nghe” “Chuyện của gã khờ”

“Nhủ lòng” đời chẳng như “Mơ”

Thôi kệ “Chàng lùn nể vợ”

“Ngược dòng” về cõi “Ngu ngơ”.

 

“Đêm” nay “Người ơi... người ở”

“Thức” chờ “Tiệc rượu trong mơ”

“Tiếng khèn” nối dài nỗi “Nhớ”

“Người thơ” “Khờ” đến bao giờ?

 

Hà Nội, chiều 17 tháng 07.2018

 

-------

 (“...”): tên các bài thơ, truyện ngắn của Đặng Xuân Xuyến

 

 

KIẾP TRAI

(Tặng Trần Anh Quân)

 

Tưởng em là cô gái

Sao lại là chàng trai?

Ngỡ em là chàng trai

Sao lại là cô gái?

 

Cuộc đời nhiều ngang trái

Lặng thầm qua đời trai

Ôm kiếp đời tự ải

Thổn thức tình bi ai

 

Bao dè bỉu mỉa mai

Bao ánh nhìn thương hại

Em vẫn cứ trượt dài

Những ngu ngơ luyến ái

 

Cuộc đời nhiều oan trái

Lặng thầm qua đời trai

Câu thơ buồn tê tái

Nhức nhói suốt đêm dài...

 

Hà Nội, ngày 26 tháng 12-2012

 



 

HOA ĐÊM

 

Áo trễ vai trần rảo bước nhanh

Nhũ hồng e ấp áo mỏng manh

Gió khuya cong cớn từng cơn lạnh

Nhợt nhạt môi hường lúc tàn canh.

 

Giáp Bát, đêm 04 tháng 10.2018

 

 

XIN XĂM

(Với L.L)

 

Đầu xuân đi xin xăm

Coi cơ sự cả năm

Bốc que xăm tuyệt lắm

Duyên đẹp tựa đêm rằm.

 

Bấm Tiểu Vận của năm

Mưa sẽ trôi bụi bặm

Lộc năm GÀ đằm thắm

Ấm nồng trọn cả năm

 

Ngài phán tích Đức chăm

Chả cần đến nửa năm

Hương thơm lan trăm dặm

Phong lưu sẽ chắc đằm.

 

Giờ cũng sắp hết năm

Hương thơm vẫn xa xăm

Phong lưu còn xa lắm

Tích Đức mình còn chăm.!

 

Hà Nội, 11 tháng 11 năm 2017

Đặng Xuân Xuyến


READ MORE - NGƯỢC DÒNG | CHỜ | KIẾP TRAI | HOA ĐÊM - Chùm thơ độc vận của Đặng Xuân Xuyến

BAO LA | MƯỢN HỒN - Thơ Chu Vương Miện

 

Nhà thơ Chu Vương Miện


BAO LA

thơ chuvươngmiện


ngươì bệnh năm 1 chỗ

trên đầu là chai nước

ngang hông là ấm trà

vợ đi làm mờ sáng

con trai đi học xa

mắt lim dim thiếu ngủ

quay ngang ngửa vật vờ

tuổi già thêm mệt mỏi

bằng hữu cũng giả lơ

như rong bèo vớ vẩn

trôi trôi chả bến bờ

đứng lên rồi ngồi xuống

cũng chỉ mỗi mình ta

nhớ mẹ già em dại

lếch thếch 1 phương nhà

bao chuyến tàu chuyển bánh

để lại mấy sân ga

ta lữ hành tơí trễ

chờ lâu lại trở về

nhìn qua khung cửa sổ

mây hồng vội vã qua

cầm ly nước ngại uống

trùng dương nào bao xa




MƯỢN HỒN


con tôm mượn vỏ ốc

lang thang ngoài bãi ghành

gặp quá nhiều đồng loại

quay mặt rồi quay lưng

chỉ giống nhau cái vỏ

cái ruột khác trăm phần

ruột ốc và vỏ ốc

com tôm chỉ mượn hồn

loài tôm nhện sinh ra

tự nhiên không có vỏ

chỉ bơi và chỉ ngoi

quanh năm cầu sóng vỗ

chiu vào vỏ ốc hoang

bò chơi biển cát vàng

tự do và thoải mái

có thân chẳng có hồn

dưới nước mặn là tôm

trên bãi khô là ốc

lỡ cỡ tôm và ốc

lang thang trên mặt duyềnh



chuvươngmiện

READ MORE - BAO LA | MƯỢN HỒN - Thơ Chu Vương Miện

THÁNG CHẠP | NGỦ ĐÔNG... | CHIỀU - Thơ Trần Mai Ngân

 


THÁNG CHẠP

 

Tháng Chạp đốt lửa trên sân

Có vài sợi khói tần ngần chẳng bay

Vương vào đôi mắt mi cay

Khói thương tro hiểu những ngày mất nhau...

 

NGỦ ĐÔNG...

 

Giống như tôi đã ngủ đông...

Không lời, không tứ... lòng không nghĩ gì

Dường như chẳng muốn làm chi

Chỉ ngồi lẳng lặng... đôi khi... thở dài!

 

 

CHIỀU

 

         Chiều quyện hồn ta như cơn say

         Chiều xoá suy tư cuộc tình này

         Chiều mang đi hết ngày xưa ấy

         Chiều bỏ một mình ta ở đây

         Chiều thả trôi xa lời đắng cay

         Chiều rơi giọt sầu trên mi ai

         Chiều run rưng rưng là giọt lệ

         Chiều khóc một thời ta đắm say!

 

                          Trần Mai Ngân

READ MORE - THÁNG CHẠP | NGỦ ĐÔNG... | CHIỀU - Thơ Trần Mai Ngân

Thursday, January 14, 2021

NGƯỜI CON GÁI HUẾ - thơ Võ Thị Như Mai - nhạc Trần Thái Quang - CS Châu Thuỳ Dương (Bút tích bạn bè)

READ MORE - NGƯỜI CON GÁI HUẾ - thơ Võ Thị Như Mai - nhạc Trần Thái Quang - CS Châu Thuỳ Dương (Bút tích bạn bè)

NĂM SỬU NÓI CHUYỆN TRÂU - Nguyễn Đại Duẫn




Thành ngữ “con trâu là đầu cơ nghiệp” nói lên vị trí, vai trò quan trọng của trâu đã có từ lâu trong đời sống con người Việt với nền nông nghiệp lúa nước. Con trâu là con vật có vai trò quan trọng đến mức trước cả việc lập gia đình, làm nhà. Vậy nên trong tục ngữ ca dao Việt Nam có câu: “Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà” là thế.
 
Trong văn hóa phương Đông, trâu là một trong 12 con giáp được gọi là (Sửu), đứng ở vị trí thứ 2, đồng thời là con vật đứng đầu lục súc (gồm trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn). Về tính âm dương, 12 con vật được xếp thành hai cực âm và dương đan xen nhau, trong đó con trâu (Sửu) thuộc âm.
 
Từ khi được thuần hóa, trâu là một trong những con vật rất gần gũi với con người. Hình ảnh con trâu siêng năng, cần cù gắn liền với lũy tre làng thể hiện một nét văn hóa của người Việt. Trâu là một loài động vật thuộc họ Trâu bò, được nuôi để cày ruộng, kéo xe, lấy thịt và sữa. Ngoài ra da trâu còn được sử dụng để làm trống và sừng trâu dùng làm tù và…
 
Con trâu cũng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của con người trên nhiều phương diện văn học, hội họa, ca dao, tục ngữ, phong tục… Trong tín ngưỡng nông nghiệp, hình ảnh con trâu còn thể hiện trên nhiều lĩnh vực như tục thờ trâu trong các lễ hội truyền thống. Một số vùng nông thôn Việt Nam có tục lệ là làm lễ Tết Trâu. Con trâu này sẽ đem giết để cúng thần linh, cầu cho mưa thuận gió hòa… Người ta quan niệm trâu là thánh vật nên thường dùng làm vật tế lễ, là biểu tượng cho cầu nối giữa trời và đất; giữa người và tiên để cho thần tiên ban mùa màng bội thu, nhân gian an lành. Một số nhà chiêm tinh cho rằng, trâu được coi là tượng trưng cho sự tốt lành, ai mơ trâu vàng đến nhà là điềm phú quý; cưỡi trâu vào thành là có hỉ sự; trâu sinh nghé là tâm thành ý nguyện. Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng) cũng phần nào nói lên được ý nguyện mong muốn chiến thắng trong đời sống con người. Hình ảnh con Trâu gồng lưng kéo cày trên ruộng đồng trồng lúa, hay con trâu đang nhẫn nại gặm cỏ trên bờ đê, hoặc đầm mình trong vũng ao hồ nước là hình ảnh quen thuộc, gợi lên hình ảnh bản chất hiền lành, cần cù của con người Việt, biểu tượng cho sức khỏe lực điền.
 
Con trâu cũng góp phần xây dựng căn bản cho nền văn minh nông nghiệp lúa nước, đó cũng là hình ảnh ăn sâu vào đời sống trong dân gian Việt. Theo các sử sách chép lại cho hay, tượng Trâu bằng đất nung được tìm thấy trong di chỉ Đồng Đậu [1] cách đây hơn ba ngàn năm. Trên mặt trống đồng Bắc Lý (Hiệp Hòa, Bắc Giang) còn chạm khắc hình ảnh hội đâm trâu của người Việt cổ cũng đã nói lên con trâu gắn bó với người nông dân từ bao đời nay. Truyền thuyết thần thoại ở Việt Nam có sự tích hồ Trâu Vàng (hồ Kim Ngưu) – hồ Tây (Hà Nội).
 
Thời nhà Lý – nhà Trần, Nhà nước phong kiến rất quan tâm tới việc bảo vệ sức kéo của con Trâu. Năm 1123, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu nhắc nhở: “Trâu là con vật quan trọng cho việc cày cấy, lợi cho người. Từ nay cấm không được giết trâu ăn thịt. Ai làm trái thì trị tội theo pháp luật”. Theo lệ, vào đầu xuân, vua thân chinh làm lễ tế Thần nông [2] và cày ruộng Tịch điền [3].
 
Ngoài ra, nhiều đình chùa, miếu mạo đã chạm khắc và tạc tượng trâu, đó là tượng trâu bằng đá ở chùa Kim Ngưu (Bắc Ninh). Thời nhà Lý, chùa Phật Tích (Bắc Ninh) có cặp tượng trâu to bằng trâu thật, tạc trên đài sen ở sân chùa, nhìn xa cứ y như thật.
Hình ảnh con trâu còn hiện diện trong tranh dân gian và trong điêu khắc gỗ đình làng, những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc dân gian đẹp về con trâu ở thế kỷ XVII, XVIII cũng được rõ nét.

 

 Con trâu trong hội họa Việt Nam thể hiện từ những nét in khắc dung dị trên tranh Đông Hồ, được thể hiện với nhiều chất liệu từ tranh lụa, tranh sơn mài.  Đó là hình ảnh chú bé tóc để chỏm thổi sáo trên lưng trâu trên cánh đồng lúa chín vàng, hay có những con trâu được nghỉ ngơi nhai lại cỏ sau những giờ làm lụng vất vả bên lũy tre xanh là hình ảnh gần gủi, sát thực với cảnh sinh hoạt làng quê.
 
 Trong âm nhạc Việt Nam, có ca khúc “Đường cày đảm đang” của An Chung, ca khúc “Lý con trâu” của Lư Nhất Vũ, phỏng theo dân ca Nam Bộ và nhiều ca khúc khác cũng ca ngợi vẽ đẹp của con trâu luôn hiện diện với con người lao động.
 
 Trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ hình ảnh con trâu được khắc họa rõ nét, nó gợi tả cho ta những tiếng nói tâm tình, thủ thỉ giữa con người với con trâu như đang nói với người thân:
 
“Trâu ơi ta bảo trâu này:
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày giữ nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công.
Bao giờ cây lúa còn bông,     
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”
 
Nghề nông mà không có trâu thì cũng giống như muốn làm giàu mà không có thóc lúa: “Làm ruộng không trâu như làm giàu không thóc”. Cảnh trâu và người cùng đồng hành trong công việc nhà nông, trâu như là một thành viên trong gia đình đầm ấm, gắn bó tình cảm: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”
 
Nuôi trâu để phục vụ cho lao động sản xuất là sự ưu tiên lựa chọn hàng đầu của người nông dân. Muốn có trâu hay, cày khoẻ thì cần phải biết chọn trâu giống tốt. Chọn trâu phải dựa vào kinh nghiệm: “Tai lá mít, đít lồng bàn”. Trâu khoẻ và nhanh có ảnh hưởng đến hiệu quả công việc sản xuất: “Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa”.
 
 Nghề nông là một nghề vất vả nhưng là một nghề ảnh hưởng lớn đến đời sống của mọi người. Câu ca dao sau đây nói về sự lam lũ của nghề nông và lời nhắn gửi với mọi người đừng quên công lao nhọc nhằn của con trâu: “Bước chân xuống cánh đồng sâu/ Mắt nhắm mắt mở dắt trâu đi cày”.
 
Với văn hóa ẩm thực cũng có thành ngữ: “trâu chết gặp lúc khế rụng”. Trong câu thành ngữ này, nghĩa đen là ám chỉ sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng lại hợp quy luật âm dương ngũ hành trong ẩm thực; còn nghĩa bóng là “thời cơ” trùng hợp của công việc nào đó... Sự thông minh, trí nhớ của trâu cũng được thể hiện qua thành ngữ “…lạc ngõ bắt đuôi trâu”. Con trâu dù có lạc đồng, hay dắt đi xa trong một khoảng cách nhất định, trâu vẫn tìm được ngõ để về.
 
Bên cạnh sự cần cù chăm chỉ làm việc, con trâu cũng biểu tượng cho sự thông minh, bình tĩnh thể hiện trong truyện cổ tích “trí khôn của ta đây”. Trâu trở nên gan dạ, không run sợ trước con hổ là kẻ dũng mãnh. Con trâu siêng năng, cần cù là vậy nhưng vẫn bị mang tiếng oan. Thành ngữ, Tục ngữ: “Sáng tai họ, điếc tai cày” nhằm chỉ hiện tượng con trâu lười biếng khi cày ruộng. Ở miền Trung, người cầm cày hô họ tức là cho trâu dừng lại, thì trâu nghe rất tinh nhanh, ấy vậy, khi nghe hiệu lệnh cày thì chúng cứ đủng đà đủng đỉnh, như chẳng nghe thấy gì. Thiết nghĩ thành ngữ này để chỉ những con người hiểu biết về cuộc sống, về thế sự nhưng vì một lý do nào đó lại tỏ ra bàng quan, giả điếc như không hay biết gì. Như vậy dựa vào sự việc của con người  để đổ lỗi cho trâu thì thật oan uổng lắm sao? Vậy nên Nguyễn Khuyến mới có bài thơ “Anh giả điếc”:
 
Trong thiên hạ có anh giả điếc
Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây,
Chẳng ai ngờ sáng tai họ điếc tai cày.
 
Như vậy con trâu trong đời sống con người Việt không những phục vụ thiết thực đời sống vật chất cho con người mà còn được khắc họa trong đời sống tinh thần, đời sống tâm linh. Để rồi sau một vụ mùa con trâu được nghỉ ngơi và con người được chiêm ngưỡng nét văn hóa mà họ đã tạo ra nhằm phục vụ cho đời sống tinh thần của chính họ.
 
Đất nước ta đang đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Máy cày dần thay thế việc cày bừa, xe vận tải thay sức kéo của trâu…, do vậy hình ảnh con trâu kéo cày, chở xe giúp nhà nông có thể không còn nữa mà chỉ còn con trâu nuôi lấy thịt, lấy sữa mà thôi! Mặc dầu ở vị thế nào chăng nữa, tình cảm gắn bó giữa con người và con trâu luôn có thực và mãi mãi trong đời sống của chúng ta.
                                                         
Xuân Tân Sửu, 2021
Nguyễn Đại Duẫn
 
………….
 
[1] Di chỉ Đồng Đậu là một khu di chỉ khảo cổ học ở gò Đậu, thôn Đông, thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Những phát hiện đầu tiên chính tại đây về một nền văn hóa có niên đại khoảng 1.500 năm trước công nguyên,
[2] Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông để cầu mong được mùa và nghề nông phát đạt. Trên các quyển lịch cổ hàng năm, người ta thường vẽ một mục đồng dắt một con trâu. Mục đồng tức là vua Thần Nông, còn con trâu tượng trưng cho nghề nông.
[3] Lễ Tịch Điền là lễ nhà vua đích thân cày ruộng nhằm khuyến khích dân chúng chăm lo việc cày cấy, phát triển nông nghiệp.
 
Nguyễn Đại Duẫn
Hội NHNT Quảng Bình
51, Nguyễn Hữu Cảnh, thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
DĐ: 0977194533; TK: 53110000581134 BIDV

READ MORE - NĂM SỬU NÓI CHUYỆN TRÂU - Nguyễn Đại Duẫn