Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, March 9, 2017

QUÀ TẶNG NGÀY 8 THÁNG 3 - thơ Trúc Thanh Tâm




QUÀ TẶNG NGÀY 8 THÁNG 3

1. VẪN CÒN

 Vẫn còn riêng tám tháng ba
 Vẫn còn riêng nửa của ta dính mình
 Vẫn còn riêng đóm lửa tình
 Vẫn còn riêng nửa đến nghìn năm sau!


2. CỨ LÀ CỦA NHAU

 Mỗi năm Quốc Tế một ngày
 Những ngày còn lại trời đày đọa ta
 Vườn tình mơn mởn lá hoa
 Cứ yêu và sống, mình là của nhau!

TRÚC THANH TÂM
( Châu Đốc )
READ MORE - QUÀ TẶNG NGÀY 8 THÁNG 3 - thơ Trúc Thanh Tâm

THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (PHẦN 9) - Nguyễn Ngọc Kiên


            


           THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN 
                             VÀ ĐIỂN CỐ (PHẦN 9) 

(19) Thiên hô vạn hoán
Đây là thành ngữ khoa trương trong tiếng Trung Quốc. Thành ngữ này có xuất xứ từ bài thơ “ Tì bà hành” của Bạch Cự Dị đời Đường. Theo tác giả kể lại thì: “Năm Nguyên Hoà thứ 10, ta về giữ chức Tư Mã ở quận Cửu giang. Qua mùa thu năm sau, đêm ra tiễn khách bên bến sông Bồn, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn Tỳ Bà vọng lại. Nghe trong tiếng đàn thánh thót, âm vang điệu nhạc ở kinh đô. Bèn hỏi gốc gác. Người đàn trả lời rằng: “Tôi vốn là con hát, quê ở Trường An, học đàn Tỳ Bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn [thường theo thuyền buôn đi đây đi đó]”. Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Ðàn xong cảm xúc vô vàn, nàng bèn kể lại cuộc đời mình từ lúc còn trẻ, vui sướng, cho tới lúc lưu lạc giang hồ khổ nhọc. Ta về đây làm quan đã được hai năm, thanh thản, yên ổn. Hôm nay nghe nàng nầy nói chuyện, cảm thương cho số phận lưu đày! Bèn làm một bài thơ dài tặng nàng ta, gồm 616 lời, gọi là Tỳ Bà Hành.”
Bài thơ có đoạn:
千呼萬喚始出來
猶抱琵琶半遮面
轉軸撥絃三兩聲
未成曲調先有情
Nhà thơ Phan Huy Vịnh cả đời làm thơ, nhưng có lẽ người đời nhớ đến ông qua bản dịch “Tì bà hành” của Bạch Cư Dị. Đoạn thơ trên được Phan Huy Vịnh dịch như sau:
  Mời mọc mãi thấy ngườ.i bỡ ngỡ,
 Tay ôm đàn che nửa mặt hoa
Vặn đàn vài tiếng dạo qua,
Tuy chưa trọn khúc, tình đà thoảng hay.
千呼萬喚 thiên hô vạn hoán chính là nguồn gốc của thành ngữ.

(20) 画蛇添足 [họa xà thiêm túc] Vẽ rắn thêm chân
Thành ngữ tiếng Hán này có xuất xứ từ câu chuyện như sau:
Thời xưa nước Sở có một quý tộc, sau khi cúng lễ tổ tiên, liền thưởng cho các môn khách đến giúp việc một ấm rượu. Các môn khách bàn với nhau: "Một ấm rượu chia cho mọi người cùng uống thì không đủ, một người uống thì có thừa. Vậy thì chúng ta cùng thi vẽ một con rắn trên mặt đất, ai vẽ xong trước, thì người đó được uống ấm rượu này."

Có một người vẽ xong trước nhất. Anh ta cầm ấm rượu định uống, nhưng lại đắc chí lấy tay trái cầm ấm rượu, tay phải tiếp tục vẽ rắn, miệng nói: "Các người xem, ta còn có thời gian để vẽ thêm mấy chiếc chân cho rắn đây."

Thế nhưng không đợi anh ta vẽ xong chân rắn, một người khác đã vẽ xong rắn. Người đó giằng lấy ấm rượu vừa cười vừa nói: " Thật rởm! Rắn làm gì có chân, anh vẽ thêm chân cho rắn làm gì", nói xong liền uống rượu trong ấm. Người vẽ thêm chân cho rắn đã để mất ấm rượu đáng lẽ thuộc về anh.
                                          (Theo Chiến quốc sách)
Chuyện ngụ ngôn này nói với mọi người, nếu làm một việc, cần phải có yêu cầu cụ thể và mục tiêu rõ ràng, phải theo đuổi nó, hoàn thành nó với ý chí tỉnh táo kiên định, không nên bị thắng lợi làm mê muội đầu óc, dẫn đến thất bại.

Người Việt mượn thành ngữ này dịch sang tiếng Việt là “vẽ rắn thêm chân” để chỉ những việc làm thừa, vô ích, không đem lại hiệu quả gì, thậm chí phản tác dụng. Cùng với vẽ rắn thêm chân thì vẽ rồng thêm mắt cũng có nghĩa tương tự. Để diễn đạt ý này, người Việt còn  dùng “thừa giấy vẽ voi”.
Bấm “vẽ rắn thêm chân” vào google trong 0,45 giây có ngay 180000 kết quả.   
Cách nay mấy năm, Báo Phụ nữ online đã có bài báo giật tít “Vẽ rắn thêm chân” và đưa tin:
“Sáng 19/8, báo mạng đưa tin ông Phó giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch (VH-TT-DL) Hà Nội cho hay: kế hoạch kỷ niệm, tôn vinh Hai Bà Trưng sẽ được hoãn lại và tổ chức vào dịp 1.975 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng, tức là sang năm, sau Tết âm lịch. 
Lý do dừng tổ chức là thành phố có việc đột xuất! Vậy, sang năm, có thể người ta vẫn làm chứ không phải dừng, dù dư luận có ý kiến này nọ. Bây giờ dùng đuốc mà soi, đố ai tìm ra trong sử sách dòng nào đảm bảo tính chân thật lịch sử, có cứ liệu chính xác về hai bà. Sách giáo khoa là sách công cụ mang tính pháp quy của quốc gia, nhưng ở cả ba cấp, học sinh không biết hai bà sinh năm nào, mất năm nào, có thật là hai chị em không... chỉ thấy nói chung chung.
Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc, Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phải thốt lên rằng: tổ chức sinh nhật Hai Bà Trưng là chuyện nực cười, bởi không ai làm chuyện đó cả khi mọi sự là huyền sử, không biết được ngày sinh thì sao làm sinh nhật? Tư liệu dân gian có lúc nói hai bà sinh ngày 1/8, rồi 13/8 âm lịch. Những sách về hai bà do giáo sư biên soạn đều không đưa vào chi tiết này, bởi không có cơ sở nào cả.”
Ở đây tác giả ví chuyện thành phố Hà Nội tổ chức sinh nhật cho Hai Bà Trưng là chuyện “vẽ rắn thêm chân”!
Thật khôi hài chuyện VẼ RẮN THÊM CHÂN ở xứ ta!

                                                                     Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (PHẦN 9) - Nguyễn Ngọc Kiên

MÙA XUÂN ĐI QUA - thơ Trương Thị Thanh Tâm

Ảnh tác giả


MÙA XUÂN ĐI QUA 

Đã qua rồi những ngày xuân 
Cành mai còn lại mấy bông muộn màng 
Ngoài sân héo nụ cúc vàng 
Vẫn còn con bướm chập chờn bên hoa 

Một năm xuôi ngược bôn ba 
Mấy ngày xuân với lụa là áo xiêm 
Đón nàng xuân bước qua thềm 
Áo hoa em mặc, môi mềm dấu son 

Tháng giêng lễ hội vẫn còn 
Vào chùa hái lộc, lên non viếng đền 
Hương xuân chờ bước chân đêm 
Má em đỏ thắm dịu êm dấu hài 

Vẫn còn màu nắng ban mai 
Đu đưa cánh lá vờn bay áo hồng 
Mây trôi lụa mỏng bềnh bồng 
Hương yêu còn ấm,trọn vòng tay yêu.
                  Trương Thị Thanh Tâm 
                                Mỹ Tho


READ MORE - MÙA XUÂN ĐI QUA - thơ Trương Thị Thanh Tâm

HOA VƯỜN NHÀ - Chu Vương Miện



 



 



 



 



 

READ MORE - HOA VƯỜN NHÀ - Chu Vương Miện

VỀ ĐI EM - Thơ Đặng Xuân Xuyến





VỀ ĐI EM
Thương tặng T.T.Q.T 

Về đi em! Về ngắm trăng buông
Câu mái đẩy lèn sâu ký ức
Dựa vai anh ngắm đời rất thực
Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi.

Em cứ về! Ừ! Một lần thôi
Dẫu nắng bên sông không còn chấp chới
Câu lý ngày xưa dẫu thôi diệu vợi
Ta tựa vai nhau nối lại câu hò.

Em cứ về! Đừng mải đắn đo
Về một lần thôi nằm nghe sông hát
Về một lần thôi rộn đêm gió mát
Nghe tiếng lòng khủa nước đêm trăng

Em cứ về! Ừ! Một đêm trăng...

Hà Nội, đêm 30 tháng 07/2016
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - VỀ ĐI EM - Thơ Đặng Xuân Xuyến

Như Khói Đông Phai - Thơ Hồng Thúy với nhac nền tiếng kèn Saxo Một cõi Đi Về của nhac sĩ TCS

READ MORE - Như Khói Đông Phai - Thơ Hồng Thúy với nhac nền tiếng kèn Saxo Một cõi Đi Về của nhac sĩ TCS

"TA XA HÀ NỘI", NỖI BUỒN TÊ TÁI CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI - Phạm Đức Nhì





TA XA HÀ NỘI

Ngày nghỉ lễ
thôi, ta xa Hà Nội
về Nhà Quê nghỉ dưỡng thỏa tâm hồn
xa để "thoát" lấn chen, xô đẩy
tìm nơi "buồn" yên tĩnh, dịụ dàng hơn...

Ôi Hà Nội,
đi xa cho bớt "sợ" 
đường cây xanh bị "đốn" nắng vỡ đầu
xe ùn tắc, kinh bọn len cướp giật
"Người Tràng An thanh lịch" ở đâu đâu?

Ôi Hà Nội,
phố phường xây chắp vá ,
cầu Long Biên để "rỉ" đến bao giờ?
đường gốm sứ bụi bám hoen mưa nắng
gái quần đùi đến bẹn phóng xe đua...

Ôi Hà Nội,
còn mấy Nàng thỏ thẻ?
mở miệng  ra là "đ. mẹ" chửi thề
dân tứ xứ vào Kiếm Tiền, chụp giựt...
còn góc nào thanh thản
uống Cafe'?

Ôi Hà Nội,
có điều gì không ổn?
như trên mây
trên gió "cấp điều hành"?
mong sớm có một Tràng An thanh lịch
để ta về
soi bóng xuống Hồ Gươm. 
            -----
Viết tại Gia Lộc- Hải Dương 28-4-2015
        NGUYỄN KHÔI
       (Nhà văn Hà Nội)


TA XA HÀ NỘI
NỖI BUỒN TÊ TÁI CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI

  
              Tác giả Phạm Đức Nhì


Tứ Thơ: Do không có ẩn dụ nên tứ cũng là ý – tác giả hễ có cơ hội là muốn xa Hà Nội để khỏi phải thấy, phải nghe những điều tệ hại của Thủ Đô, và ông thốt ra một điều ước mà có lẽ ngay lúc đó cũng nhận ra là mơ ước viển vông.

Cấu Trúc

Bài thơ gồm 5 đoạn, ngoại trừ đoạn kết, mỗi đoạn nói về một (hoặc vài) điều tệ hại của đất ngàn năm văn vật.

1/
Ngày nghỉ lễ
thôi, ta xa Hà Nội
về Nhà Quê nghỉ dưỡng thỏa tâm hồn
xa để "thoát" lấn chen, xô đẩy
tìm nơi "buồn" yên tĩnh, dịụ dàng hơn...

Xa Hà Nội để “thoát” lấn chen, xô đẩy

2/
Ôi Hà Nội,
đi xa cho bớt "sợ" 
đường cây xanh bị "đốn" nắng vỡ đầu
xe ùn tắc, kinh bọn len cướp giật
"Người Tràng An thanh lịch" ở đâu đâu?

Xa Hà Nội để tránh xe ùn tắc, cướp giật và nắng vỡ đầu vì cây xanh bị đốn

3/
Ôi Hà Nội,
phố phường xây chắp vá ,
cầu Long Biên để "rỉ" đến bao giờ ?
đường gốm sứ bụi bám hoen mưa nắng
gái quần đùi đến bẹn phóng xe đua...

Xa Hà Nội để khỏi phải nhìn cầu cống rỉ sét, đường xá, phố phường xây chắp vá, gái tân thời nhố nhăng.

4/
Ôi Hà Nội,
còn mấy Nàng thỏ thẻ?
mở miệng  ra là "đ. mẹ" chửi thề
dân tứ xứ vào Kiếm Tiền, chụp giựt...
còn góc nào thanh thản
uống Cafe'?

Xa Hà Nội để khỏi phải nghe ngôn ngữ lưu manh, chửi thề tục tĩu của dân tứ xứ

5/
Ôi Hà Nội,
có điều gì không ổn ?
như trên mây
trên gió "cấp điều hành "?
mong, sớm có một Tràng An thanh lịch
để ta về
soi bóng xuống Hồ Gươm.

Buồn bã thốt ra một lời ước nhưng - với con người ngày càng trở nên vô cảm, với cách lèo lái đất nước vô trách nhiệm, với xã hội nhiễu nhương, thối nát- lời ước ấy cũng chỉ thoảng bay theo gió.

Ưu Điểm
Trước hết, Nguyễn Khôi là nhà thơ lão thành, sự nhuần nhuyễn trong kỹ thuật thi ca đã thể hiện rõ nét trong bài thơ. Chữ nghĩa bình thường nhưng vẫn sang trọng và gợi cảm.

Ông chọn lối gieo vần gián cách (1/3, 2/4), nhưng tìm cách “lách” vần 1/3 mà chỉ gieo vần 2/4 (hồn hơn. đầu đâu, giờ đua, thề phê, hành gươm) cho nên cả đoạn 4 câu chỉ có một lần gieo vần. Do đó hội chứng nhàm chán vần đã giảm ít nhất 95%, món chè Tôi Xa Hà Nội chỉ còn hơi ngọt một chút nhưng không đáng kể. Cảm xúc ở tầng một, do thành công của việc sử dụng chữ nghĩa, đã dâng lên rất cao.

Những “tệ hại” của Hà Nội được nhắc đến tùy hứng, tiện đâu nói đó, không theo một trình tự nhất định. Cách diễn đạt này tuy không được ngăn nắp, lớp lang (sản phẩm của lý trí) nhưng chính nhờ thế tứ thơ chuyển động tự nhiên, không gò bó, gượng ép, và người đọc – không có gì ngần ngại - cảm nhận rất dễ dàng.

Tứ thơ hay, tâm tình chân thật, nỗi buồn tưởng đâu chỉ của riêng người Hà Nội, đã lan tỏa đến người Việt yêu quê hương ở mọi miền đất nước và cả ở hải ngoại. Rồi còn cộng thêm lời ước vu vơ rất khéo của nhà thơ khiến nỗi buồn truyền đến người đọc càng da diết, sâu lắng.


Khuyết Điểm:

1/ Trong câu “để ta về soi bóng xuống Hồ Gươm” cụm từ “soi bóng xuống Hồ Gươm” làm câu thơ hơi sượng.
2/ Thể thơ
Đây là thể thơ mới trường thiên (từng đoạn 4 câu). Tứ thơ được chia thành nhiều “tứ nhỏ”, ý nhỏ. Mỗi ý nhỏ được diễn tả, gói ghém trong một đoạn 4 câu. Cái tiện lợi của thể thơ này là thi sĩ có thể thích ý nào, đoạn nào thì viết ngay ý đó, đoạn đó; sau cùng, nếu muốn, có thể thay đổi vị trí của các đoạn để có một bài thơ suôn sẻ, mạch lạc. Thể thơ này có 3 khuyết điểm chính:
          a/ Hội chứng nhàm chán vần: Đây là khuyết điểm chung của thơ mới; dù nhất khí, liền mạch hay phân mảnh, đứt đoan, nếu thi sĩ không khéo, và bài thơ hơi dài một tý, đọc lên sẽ ầu ơ, gây cảm giác … chán ngán.
          b/ Tứ thơ phân tán: Chọn thể thơ này thi sĩ bắt buộc phải chia cắt tứ thơ chính và giải quyết từng phân mảnh một. Sẽ không có sợi chỉ xuyên suốt để nối các ý nhỏ với nhau. Bài thơ sẽ như một ngôi nhà tiền chế được xe kéo từng phần đến khu đất rồi lắp ghép lại. Sẽ không có dòng sông thơ mà chỉ có những vũng thơ, những ao thơ nằm cạnh nhau.
          c/ Cảm xúc, hồn thơ không được tự do tăng tiến: Cứ hết một đoạn 4 câu lại ngừng để nhảy qua một ý khác nên có gom nhặt được tý cảm xúc nào ở ý này thi khi tạm quên nó để nhảy qua ý khác, nó cũng nhạt, cũng nguội hẳn đi. 

Như đã nói ở trên, đoàn quân chữ nghĩa trong Ta Xa Hà Nội được chia làm 5 đơn vị nhỏ, Đơn vị nào cũng tinh nhuệ nhưng không biết hợp đồng tác chiến vì không có sự chỉ huy thống nhất. Nói thế để thấy thế trận chữ nghĩa của bài thơ lỏng lẻo, tứ thơ phân tán, đoạn nào lo phần vụ của đoạn ấy nên cảm xúc ở tầng 2 không đáng kể.

NK đã kín đáo bày tỏ sự buồn giận, thất vọng đối với thành đô ngàn năm văn vật bằng những dẫn chứng điển hình, chính xác, mang cả tính thời sự. Nhưng tại sao ông không đẩy nỗi buồn giận, thất vọng rất chính đáng của mình đi xa hơn nữa, mạnh hơn nữa để tăng giá trị nghệ thuật của bài thơ?
Có lẽ một phần do tuổi tác cao làm cho người ta điềm đạm, chừng mực hơn, không “máu” như đám trẻ, “đã chơi thì chơi tới bến”. Nhưng phần khác do thể thơ không liền mạch, nhất khí nên không có liên tục sóng sau dồn sóng trước để đến cuối bài cảm xúc sẽ như dòng thác đổ ập xuống hồn người đọc. Vì thế cảm xúc ở tầng 3 (hồn thơ) không có.

Một nhà “tình dục học” khi viết về những bí quyết để hâm nóng tình yêu, gìn giữ hạnh phúc gia đình đã có lời khuyên:
 “Nếu hai người có ý định ‘tò tí’ thì - không phải chờ lúc lên giường mà ngay khi bước vào phòng ngủ – hãy chốt cửa, rút phích khỏi ổ cắm điện thoại bàn và vứt điện thoại tay vào thùng rác.”
Tôi hiểu là nhờ thế sẽ không có tiếng chuông điện thoại làm gián đoạn tiến trình “cùng trèo lên đỉnh Vu Sơn” của hai kẻ yêu nhau. Thi sĩ, nếu đã có tay nghề vững vàng lại biết áp dụng lời khuyên ấy – không phải trên giường ngủ mà trên trang thơ của mình – thì rất dễ sáng tác được những bài thơ “tới bến”.

Kết Luận

Với tôi, Ta Xa Hà Nội là một bài thơ hay. Như rất nhiều bài thơ cùng loại khác của Nguyễn Khôi, ngôn ngữ sang trọng mà bình dị nên dễ hiểu, dễ cảm, đề tài không cao xa, viển vông mà rất gần gũi, có khi hiển hiện ngay trước mắt mọi người. Tôi không cảm thấy ngạc nhiên khi biết rằng thơ ông được rất nhiều người đọc, từ trí thức thị thành cho đến giới “bình dân học vụ” ở nông thôn.
Tôi rất có cảm tình với nhà thơ lão thành Nguyễn Khôi. Tôi đọc thơ ông khá nhiều từ Văn Đàn Việt và Văn Nghệ Quảng Trị. Một khả năng sử dụng chữ nghĩa điêu luyện như thế, một hồn thơ nhạy cảm, tươi mát, thấm đẫm tình người như thế, nếu tạo được thể thơ nhất khí, liền mạch, tôi tin rằng chúng ta sẽ được đọc những vần thơ còn hay hơn nữa.

Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com
phamnhibinhtho.blogspot.com

READ MORE - "TA XA HÀ NỘI", NỖI BUỒN TÊ TÁI CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI - Phạm Đức Nhì

THƠ BÌNH THANH CỦA LÊ VĂN THANH





NGÀN KHƠI BỒNG BỀNH

Ta nương theo dòng xuôi
Bồng bềnh ra ngàn khơi
Em mây ngàn rong chơi
Ngao du trong bầu trời

Ta cùng em xa xôi
Là dòng sông - mây trôi
Lên non và ra khơi
Thương nhau đành xa vời

Trời sinh ta cùng em
Trùng phùng theo thời gian
Chan hòa nuôi muôn loài
Sinh sôi muôn màu tươi

Thời gian trôi mây trôi
Làm mưa tuôn nơi nơi
Chung lòng tay trong tay
Song hành cùng vui chơi

             Lê Văn Thanh
                    2015 


LÒNG LÊN CHƠI VƠI
Sương Nương Theo Trăng Ngưng Lưng Trời 
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi
      (Nhị Hồ - thơ Xuân Diệu)
Sương loang mây giăng trăng sao mờ
Nương hồn ngao du cung đàn thơ
Theo dòng thời gian tìm duyên hờ
Trăng treo đàn trời hòa dây tơ
Ngưng thôi mây ơi, ta mong chờ
Lưng tôi hương nồng, em còn mơ
Trời  xanh đêm thanh gieo men đời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi

                            Lê Văn Thanh

READ MORE - THƠ BÌNH THANH CỦA LÊ VĂN THANH

DỪNG CHÂN ĐỨNG LẠI - Phiếm đàm của Chu Vương Miện

                 
                  Nhà thơ Chu Vương Miện



                       DỪNG CHÂN ĐỨNG LẠI 
             (Nói chuyện với nhà văn Lang Trương)

Xin bỏ qua hết, chỉ dám xin lạm bàn về hai từ Dừng và Đứng mà thôi, nhưng xin phép chỉ lung khởi, chứ trực khởi thì không ai rõ là mình đang nói cái gì ? Năm tôi học lớp đệ ngũ trường Nguyễn Hoàng, niên khóa 1956-1957,  giờ Việt Văn của Thầy Phạm Lộc, bài giảng văn về cổ văn Kim Vân Kiều, có câu :
"Một nền đồng tước khóa xuân hai Kiều"
Thầy kêu một bạn nam đứng lên trả lời, nhưng không nói được gì! Thầy mớm cho: "có phải Đồng Tước là chức tước bằng Đồng không?”
Anh bạn bèn phấn khởi nói tiếp : "thời phong kiến có khi dùng ngà voi làm chức tước, như quan phủ, quan huyện, các quan ở các Bộ như Thị Lang, Lang Trung, Thượng Thư đều đeo Bài Ngà ở trước Ngực, sau năm 1954 thì chuyển qua Đồng Tước là chức Tước bằng Đồng, từ Chuẩn Úy, Thiếu Úy, Trung Úy, Đại Úy đều đeo lon Hoa Mai Vàng bằng Đồng trên cổ hay vai áo, nêu cấp Tá thì là Bạc Tước, lon Hoa Mai Bạc.
Thầy Phạm Lộc nói : "đó là sự suy luận của kẻ không học bài, thuộc bài, chỉ căn cứ vào mặt chữ mà nói bừa! Thế là cho anh bạn ngồi xuống nhận hai con zero.

Về Hán Văn thì người Hán hiểu khác và người Việt hiểu khác ,  dù rằng xuất xứ Từ và Chữ cũng từ Tàu chuyển qua, chẳng hạn: "Hiền Nhân Quân Tử" không có câu đối, chỉ có Đại Nhân là Ông Quan đối với Tiểu Nhân là Dân Thường, Tiểu Nhân theo nghĩa của người Tàu không có gì là xấu cả, qua Việt Văn khi không Quân Tử đối với Tiểu Nhân, cái nghĩa đâm ra nặng nề hơn. Từ “Chu tầm Chu, Mã tầm Mã” có nghĩa là Thuyền tìm Thuyền, những thuyền chuyên chở Muối thì nhập vào Diêm  Bang, và thuyền chở Người thì nhập vào Tào Bang, như là một Tổ Hợp sinh hoạt dưới Nước, còn trên cạn thì Mã là những người Mã Phu sống bằng nghề Đánh Xe Ngựa chuyên chở Hàng Hóa thì gia nhập vào Xa Bang". Đây chỉ nói về Nghề Nghiệp chuyển qua tiếng Việt thì nghĩa lại xấu "Ngưu tầm Ngưu, Mã tầm Mã” (Trâu tìm trâu, Ngựa tìm Ngựa)

Về các con Sông, nói Hoàng Hà, Ngân Hà, Ấn Hà, Hằng Hà, có người hiểu, nhưng có người không hiểu, mà phải nói Sông Hoàng Hà, Sông Ngân Hà, sông Ấn Hà, sông Hằng Hà, đã Hà còn thêm Sông.
Ngoài ra có khi chỉ gọi một trong hai thứ :
Lô Giang, Hắc Giang, hoặc Sông Lô, Sông Hắc, nhưng có khi chỉ đọc theo tên Việt, như Sống Đuống, sông Luộc, sông Chẩy, ngay như sông Hồng, tức sông Nhĩ Hà "giống cái Tai người ta, chảy giữa thủ đô Hà Nội và vùng Đông Anh Phúc Yên" nơi có thành Cổ Loa, gọi Hồng Hà hay Nhĩ Hà không ai biết là cái gì, y như  Bạc Hà phải thêm chữ Kẹo Bạc Hà, sông Hồng Hà, sông Nhĩ Hà" đã Hà còn thêm Sông".
Trên đỉnh Hoành Sơn Quan của tỉnh Quảng Bình có Ải Hoành Sơn, " Hoành Sơn Nhất Đái, vạn đại dung thân", và trên đỉnh Đèo Hải Vân, biên giới của Châu Ô Châu Lý mà Chăm Pa dâng cho Đại Việt làm quà sính lễ để cưới  Công Chúa Huyền Trân từ đây trở ra là Hóa Châu và Quảng Trị, trở vào là Thuận Châu và Quảng Nghĩa, chúng tôi chưa đến Hoành Sơn Quan ở Quảng Bình Đồng Hới bao giờ, nhưng giả dụ cũng theo chiều Bắc Nam thì giữa đèo Hải Vân trục lộ chính theo chiều Bắc Nam, nhưng ngay giữa đèo thì lại có hai con đường nhỏ, theo chiều Đông Tây, đường phía Tây dài chừng 200 m qua các quán ăn uống và khách sạn thì dẫn tới một vùng đất rộng thoáng mát, nhìn những con đường chạy vòng vèo qua chân núi đến đỉnh đèo, còn con đường về phía Đông chừng 100 m là dẫn tới Ải Vân Quan, là cửa ải phía Nam của Việt Nam với Chăm Pa, ngừng ngay tại đó nhìn xuống Biển Nam Hải coi sóng vỗ vào ghềnh Đá
Chúng ta có thể hiểu tàm tạm là du khách, xuống xe, chiều nào cũng được, Dừng chân chút đỉnh, sau đó sẽ chọn đi về phía Đông hay phía Tây. Khi đó sẽ Đứng lại, chữ nghĩa rõ ràng như thế, có gì mà cần phải Ngoảnh lại, Chữ Ngoảnh nghĩa lại hoàn toàn khác với chữ Đứng, vì đứng Mỏi Chân thì có thể Ngồi, hoặc Nằm, đa dạng hơn, chứ chỉ Ngoảnh thôi, thì đôi lúc Mỏi Cổ chết!
Sẽ xin viết tiếp vào bài tới.
                                                                  Chu Vương Miện

READ MORE - DỪNG CHÂN ĐỨNG LẠI - Phiếm đàm của Chu Vương Miện

Wednesday, March 8, 2017

CẢM XEM VIDEO "VƯỜN NHÀ HUỆ THU & BÙI NGỌC TÔ "- Thơ Nguyễn Khôi




CẢM XEM VIDEO
"VƯỜN NHÀ HUỆ THU & BÙI NGỌC TÔ"
                  Tặng Nguyễn Bá Trạc
                       
Một chút hồn quê ở xứ người,
Vườn Bùi - hoa Huệ thoảng lòng tôi.
Nhớ ơi Đà Lạt trời mây khói ,
Với Huế hương tình bóng trăng soi.
Tay ải tay ai chăm vun tưới ,
Của chồng công vợ tối chiều chơi .
"Như lục bình trôi" đời phiêu lãng
Ai có còn lui tới vườn Bùi (1) ?

                    Hà Nội 9/3/2017
                  NGUYỄN KHÔI
 ---
(1) Nhớ bài thơ Yên Đổ :
     Vườn Bùi chốn cũ,
     Bốn mươi năm, lụ khụ lại về đây
     Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây
     Thú khâu hác lâm tuyền âu cũng thế...
       
  
READ MORE - CẢM XEM VIDEO "VƯỜN NHÀ HUỆ THU & BÙI NGỌC TÔ "- Thơ Nguyễn Khôi

THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (PHẦN 8) - Nguyễn Ngọc Kiên


    

         THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN 
                            VÀ ĐIỂN CỐ - PHẦN 8
                                 
(17) Tái ông thất mã (Tái ông mất ngựa)
Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu về câu thành ngữ “Tái Ông thất mã”.
Xưa có ông lão tên là Tái Ông sinh sống ở vùng biên giới phía Bắc Trung Hoa. Ông rất giỏi việc nuôi ngựa. Ngày kia ngựa của Tái Ông xổng chuồng chạy sang nước Hồ lân cận. Hàng xóm láng giềng hay tin đã đến an ủi nhưng Tái Ông lại cười mà rằng: “Tôi tuy mất ngựa, nhưng đó có thể lại là điều tốt.”
Vài tháng sau, con ngựa mất tích đột nhiên trở về cùng một con tuấn mã. Thấy thế, hàng xóm đến chúc mừng, tuy nhiên Tái Ông cau mày nói: “Tôi được ngựa quý, sợ rằng đó chẳng phải là điềm lành.”
 Từ mất ngựa, rồi bỗng nhiên được một đôi tuấn mã, thế nhưng Tái Ông lại cau mày nói: “Tôi được ngựa quý, sợ rằng đó chẳng phải là điềm lành.” 
Con trai ông thích cưỡi con ngựa quý, một hôm anh ta ngã ngựa gãy chân và trở thành tàn tật. Hàng xóm đến khuyên nhủ ông đừng quá nghĩ ngợi, Tái Ông điềm nhiên: “Con trai tôi tuy gãy chân, nhưng đó chưa hẳn đã là điều không may.” Khi đó hàng xóm nghĩ rằng ông lão quá đau buồn nên bị quẫn trí. 
Một năm sau, nước Hồ láng giềng đưa quân sang xâm lược. Tất cả thanh niên trai tráng đều phải tòng quân và hầu hết đều bị tử trận. Con trai ông vì tàn tật nên được ở nhà và thoát chết. Lúc này hàng xóm láng giềng mới thấy rằng những lời của Tái Ông quả thật rất thâm thúy.
 “Con trai tôi tuy gãy chân, nhưng đó chưa hẳn đã là điều không may.” 
………..
                                          (Theo Đại Kỷ Nguyên bản tiếng Anh)

Người Việt mượn thành ngữ này theo lối trực dịch.

Trong tiếng Hán cũng như trong tiếng Việt, “Tái Ông thất mã” (Tái Ông mất ngựa) được dùng để an ủi người đang gặp khó khăn. Họa có thể biến thành phúc, và phúc có thể trở thành họa. Cũng giống như câu nói “trong cái rủi có cái may” vậy, mọi chuyện đều có nguyên nhân mà không thể xét đoán dựa trên biểu hiện bề mặt.
Cũng có nghĩa là, cần thuận theo tự nhiên, làm được việc gì cũng đừng vội đắc ý, lúc gặp trở ngại cũng chớ vội bi quan.


(18) Xuân phong đắc ý (春风得意)

Đây là thành ngữ được sử dụng nhiều trong tiếng Trung Quốc. Nó  có xuất xứ từ bài thơ “Đăng khoa hậu” của thi sĩ Mạnh Giao đời Trung Đường. Nguyên văn như sau:

登科後 
昔日齷齪不足誇, 
今朝放蕩思無涯。 
春風得意馬蹄疾, 
一日看盡長安花。

Phiên âm Hán Việt:
Đăng khoa hậu 
Tích nhật ác xúc bất túc khoa, 
Kim triêu phóng đãng tứ vô nhai. 
Xuân phong đắc ý mã đề tật, 
Nhất nhật khán tận Trường An hoa.

Dịch nghĩa 
Đăng khoa hậu 

Ngày trước biết bao cay đắng không sao nói hết, 
Sáng nay ưu phiền tan biến, tâm tư không còn gì câu thúc. 
Ngọn gió xuân mát rượi, leo lên ngựa phóng đi, 
Trong ngày đi xem tất cả các vườn hoa trong Trường An.

Dịch thơ (Bản của Khương Hữu Dụng)
Đăng khoa hậu 

 Eo hẹp ngày xưa khỏi kể ra 
Sớm nay thoả chí nức lòng ta 
Gió xuân thả sức cho phi ngựa 
Ngày trọn Trường An xem hết hoa

Như đã nói “xuân phong đắc ý” chỉ xuât hiện trong tiếng Trung Quốc. Nghĩa bóng của nó là, sau khi đỗ tiến, cưỡi ngựa đi trong mùa xuân, chỉ trong một ngày đã ngắm được toàn cảnh đông kinh Tràng an. Chỉ con đường thăng quan tiến chức thuận lợi, hanh thông.                                           
                                                             Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ ĐIỂN VÀ ĐIỂN CỐ (PHẦN 8) - Nguyễn Ngọc Kiên

CHÙM THƠ HOÀNG YÊN LYNH


  

Đêm Cao Nguyên
            Với Vầng Trăng Cố Xứ
                                   
Tôi có một vầng trăng hoài niệm
Tỏa sáng đôi bờ tuổi ấu thơ
Tôi có một vầng trăng để nhớ
Có nhịp võng khoan hò...
Có gió lộng hàng tre.

Tôi có một mối tình như thế
Người yêu xưa ai lỗi hẹn thề
Người xa mãi cuối trời xứ lạ
Đêm nặng sầu... ngóng mãi  vầng trăng.

Có ai về Cửa Việt Gio Linh
Có ai ngược Cam Tuyền
Có ai xuôi sông Hiếu
An Lạc ơi bạn bè mấy đứa
Cõi đi về còn nợ nắng mưa.

Tôi có một dòng sông đạn lửa
Khi pháo về tan tác tuổi đôi mươi
Đứa trôi dạt đứa ngàn trùng xa thẳm
Quê hương ơi còn nặng tiếng ru hời.
                         
Đêm cao nguyên lang thang cùng gió núi
Chút hương tình đọng lại với trăng sao
Tiếng vó ngựa gõ đều qua đêm vắng
Chợt nhớ mình tóc trắng
Hơn nửa đời phiêu lãng...

Lưng dốc núi hàng cây nghiêng bóng rũ
Chỉ sương bay và hoa nỡ vô tình
Tôi đi mãi theo vầng trăng quê cũ
Với ngày xưa in dấu những hẹn hò
Tôi đi mãi với mênh mông nỗi nhớ
Nhớ quê hương và một chốn đi về.

Đêm cao nguyên trời cao như thấp lại
Điếu thuốc tàn không ấm nỗi lòng tay
Ở nơi đây mà nhớ tình nơi đó
Để nhớ người... mà chẳng nhớ riêng ai.

Tôi có một miền quê và mơ ước
Có một thời đằm thắm mộng yêu thương
Có nắng Đông Hà
Có vầng trăng Thạch Hãn
Theo tôi ngậm ngùi đi suốt cuộc bể dâu.Tôi giữ mãi vầng trăng bao thương nhớ
Đêm cao nguyên ấp ủ ánh trăng chờ.


                               Hoàng Yên Lynh

Khúc Thơ Tình
                    
Em ơi chiều nay cuối tuần
Nắng nghiêng thềm vắng hoa tàn nhụy hương
Tôi gom góp lại yêu thương
Nhớ em dáng nhỏ trăng nghiêng thuở nào
Một thời hoa nắng xôn xao
Một thời hai đứa nôn nao...ngóng chờ
Em ơi chiều nay bơ vơ
Không em tôi viết bài thơ chẳng tròn
Buồn nào hơn nỗi cô đơn
Em không nhớ tôi mỏi mòn tóc sương
Mấy mươi năm đời tha hương
Em xa xôi quá tôi vương lụy tình
Nhiều khi nhớ chuyện chúng mình
Cuối đời tôi lại một mình ngóng trông.


                          Hoàng Yên Lynh

READ MORE - CHÙM THƠ HOÀNG YÊN LYNH