Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 13, 2015

KHÚC CA XUÂN - Hoàng Yên Lynh



                 
   KHÚC  CA  XUÂN

    Vườn nhà ai
    Mai vàng khoe sắc thắm
    Ta  đã già
    Nghiêng chén rượu xuống vần thơ
    Vẫn nghe lòng vọng động
    Mùa xuân gõ cửa
    Với đất trời
    Với bao điều khát vọng
    Với tình ta
    Say đắm mãi chưa vừa.

    Ta đã già
    Bên cội mai già
    Đi qua năm tháng
    Chạnh lòng 
    Chợt  nhớ ...
    Có mùa xuân


    Hoàng Yên Linh
    Xuân Ất Mùi 2015


READ MORE - KHÚC CA XUÂN - Hoàng Yên Lynh

CUỐI NĂM QUA ĐÈO NHỚ BẠN - Hoàng Yên Lynh





CUỐI NĂM QUA ĐÈO NHỚ BẠN

Nhớ Tạ Nghi Lễ - Phan Công Tâm

Về lại đèo cao gọi bạn xưa
Cuối năm sương trắng phủ lưng đồi
Góc quán nghiêng nghiêng hình bóng cũ
Ơi bạn bên trời có nhớ tôi ?

Bạn đi thăm thẳm trời mây nước
Còn nhớ mùa xuân trên lối xưa
Quán vắng lưng đèo dăm ba đứa
Tình khúc xuân ca đón giao thừa.

Tôi về đối ẩm chỉ mình tôi
Góc quán chơ vơ bạc áo đời
Có đàn chim én lưng chừng núi
Nhắn bạn xuân về chén rượu cay.

Thôi cũng là xuân bạn biết không
Quán vắng đèo nghiêng lại chạnh lòng
Thời gian mòn mỏi đời cô quạnh
Ơi bạn xuân về chỉ hư không.

                      Hoàng Yên Lynh
                    Đèo B.lao,  02-2015

READ MORE - CUỐI NĂM QUA ĐÈO NHỚ BẠN - Hoàng Yên Lynh

NHỮNG BÔNG LAN VÀ NHÀ SƯ KHIẾM THỊ - Truyện ngắn Nguyễn Bá Trình


Tác giả Nguyễn Bá Trình



 Những bông lan và nhà sư khiếm thị
Truyện ngắn Nguyễn Bá Trình 


Đó là một khu chợ vùng quê. Đường vào chợ có hai vợ chồng người ăn xin, sáng nào cũng dắt nhau đến ngồi dưới gốc cây phượng bên vệ đường. Chồng đàn vợ hát để kiếm tiền. Người chồng mù cả hai mắt, người vợ thì cụt bàn tay bên phải.  Ngoài hai vợ chồng, phải kể thêm một con chó vàng, có lẽ của hai vợ chồng người mù nuôi. Sáng nào người ta cũng thấy con chó chạy chầm chậm phía trước, hai vợ chồng lẻo đẻo theo sau. Cứ đi một quãng ngắn con chó dừng lại ngoái đầu lui coi hai vợ chồng người mù có theo kịp không. Như đã quen vị trí, đến gốc cây phượng con chó sủa lên mấy tiếng rồi ngồi xuống ngoe nguẩy đuôi. Hai vợ chồng vừa đến chỗ con chó, họ trải chiếc chiếu năn cũ bươm lên mặt đất. Người chồng loay hoay tháo cây đàn ghi-ta mang ở vai ra. Họ ngồi xép bằng trên chiếu. Người vợ không quên đặt cái tô ra phía trước để đựng tiền. Con chó thấy cái tô đặt xa mình, nó lết lại gần như có ý giữ cho chủ. Con chó khôn dữ. Có cậu bé  thấy nó lết đến cạnh chiếc tô đã nói như vậy. Cậu ta tinh nghịch lấy một viên đá ném, con chó kêu oẳng một tiếng bỏ chạy ra xa. Sau đó nó trở lại nằm bên cái tô. Ve vẫy đuôi không một chút sợ sệt. Hình như nó cũng biết cậu bé chỉ đùa với nó. Nó có làm gì sai đâu mà đánh nó. Con chó khôn thiệt. Cậu bé lại nói. Giờ thì cậu ta bỏ đi không ném đá nó nữa. Người đến chợ đã bắt đầu đông. Người đàn ông mù đánh đàn dạo một khúc. Và người vợ bắt đầu hát. Vậy mà chị ta lại có giọng hát rất thanh lại  truyền cảm nữa. Phải nói thêm là chị ta trông cũng còn khá trẻ. Chắc cũng vừa qua cái tuổi thanh xuân không lâu, mà có lẽ nếu không bị sự tàn tật và cảnh đói nghèo dày xéo thì chị ta cũng là người đàn bà khá đẹp. Người đàn ông trông cũng không phải lớn tuổi lắm. Vì cặp kính mầu to bản choán khuất đôi mắt  anh ta nên khó đoán được tuổi tác.Vóc dáng cũng mảnh khảnh. Những ngón tay gầy gò nhưng rất dài bấm vuốt  trên những sợi dây đàn trông cũng khá điệu nghệ và mang một chút lãng tử. Những bản nhạc chị ta hát thường là những ca khúc thuộc loại nhạc vàng. Người đi chợ tranh thủ lúc chợ chưa đông cũng bỏ gánh xuống đến bu quanh nghe chị hát.
Giọng chị thanh tao mà trẻ trung đến bất ngờ:
Có ai đã từng nhặt hoa thấy buồn
Cảm thông được nỗi vắng xa người thương
Chị ta đang hát bài Nỗi buồn hoa phượng của nhạc sĩ Thanh Sơn.
Cảnh ồn ào chào xáo của những người đứng chung quanh bỗng im ắng. Tiếng hát truyền cảm của người đàn bà tật nguyền như đã thu hút hồn họ. Như đã chạm đến tâm hồn họ. Ai không có một thời yêu thương! Ai không trải qua những giây phút nhớ thương mong chờ. Cái tuổi học trò, dù được đi học, dù không có cái may mắn để cắp sách đến trường như chúng bạn thì tình yêu trong lòng mỗi người vẫn như nhau. Vẫn chờ đợi, vẫn thắc thỏm, vẫn buồn thương, nhung nhớ. Và khi cái tuổi ấy đã trôi vào dỉ vãng rồi thì ai mà không  tiếc nuối. Vậy thì sao không nghĩ  người đàn bà tật nguyền bất hạnh kia cũng đã có thời sống qua cái tuổi thần tiên yêu dấu ấy. Chị ta đang hát để kiếm tiền mà cũng có thể nỗi lòng của chị đang rung lên trong giọng hát ấy. Nó rung lên thật man mác nhẹ nhàng:
Mỗi lần hè sang kỷ niệm
Người xưa biết đâu mà tìm
 -Giọng hay quá.
-Nầy chị. Vậy thì người đánh đàn bên cạnh chị không phải là người xưa của chị phải không?
Có nhiều tiếng cười. Người mù đánh đàn cũng cười:
-Của ai không biết, bây giờ của mình . Thế là đủ rồi.
Bài hát vừa dứt. Những người đi chợ vội vàng bỏ những đồng tiền lẻ vào cái tô rồi đặt quang gáng lên vai. Chợ đã đông.

                                                                                 *

                                                                            
 Suốt mấy tháng đông người ta không thấy vợ chồng người mù dến ngồi đánh đàn ca hát  dưới gốc cây phượng trước cửa chợ.
 Rồi mùa hè lại tới. Cây phượng đầu ngõ chợ lại bắt đầu nở những bông hoa đỏ rực đầu tiên. Người đi chợ lại thấy người đàn ông mù lòa ăn xin xuất hiện với cây đàn ghi ta quang trên vài như dạo nọ. Nhưng không có người đàn bà dắt đi như trước đây. Con chó vàng đã làm thay việc đó. Người mù cầm sợi dây xích nhỏ buộc vào cổ con chó vàng nhờ nó dẫn đường. Nó đưa người mù đến gốc cây phượng, nhưng ở đó bây giờ đã có một chiếc xe nước mía dàn ra choán chỗ rồi. Con chó nhìn cô gái bán nước mía, nó sủa lên mấy tiếng như muốn nhắc nhở cô gái đây là chỗ của chủ nó.
-Có gì vậy Vàng?
Người mù hỏi con chó.
-Sang bên kia còn chỗ trống kìa. Cô gái chỉ tay và nói với người mù.
Người mù thì làm sao thấy được hướng chỉ của cô gái. Nhưng anh ta cũng hiểu được rằng chỗ của hai vợ chồng anh ta ngồi trước đây nay đã có người khác choán rồi.
-Thôi qua bên đó đi Vàng.
Người mù nói với con chó. Con chó vàng cụp đuôi có vẻ thất vọng, rồi kéo chủ nó qua bên cái chỗ trống cách đó chừng trên mươi mét. Nó lại sủa lên mấy tiếng.
-Được rồi ta ngồi ở đây đi.
Người mù tháo cây đàn ra khỏi vai. Trải chiếc chiếu năn ra. Tự mình đặt cái tô ra phía trước. Con chó vàng lết lại bên chiếc tô. Người đi chợ bắt đầu đông dần. Người mù dạo đàn. Bây giờ thì chính anh vừa đàn vừa hát. Giọng khàn đục.
Mầu hoa phượng thắm như máu con tim
Mỗi lần hè sang kỷ niệm
Người xưa biết đâu mà tìm

Vẫn là bản nhạc Nỗi buồn hoa phượng, mà vợ anh vẫn thường hát trước đây. Bây giờ có phải anh ta đang hát về người đàn bà ấy không nhỉ. Hay hai người chỉ có một bài hát ruột ấy mà thôi!
-Chị đâu rồi mà không đi hát với anh? Một bà đi chợ hỏi.
-Cô ấy bỏ tôi mà đi rồi. Cô ấy không bao giờ trở về với tôi nữa.
-Vì sao vậy? Thấy hai vợ chồng, người đàn người hát trông có vẻ ăn ý lắm mà, sao lại bỏ đi. Mà cô ấy đi đâu vậy? Đi theo người khác hả?
Người đàn ông mù chưa kịp trả lời, thì một người khác đã nói:
-Thôi mà cái chị nầy, hỏi chi mà cặn kẽ vậy. Để anh ta hát còn kiếm ít đồng. Chị có bao nhiêu thì cho anh ấy đi. Hỏi hoàn cảnh người ta làm chi.
Những người đi chợ thay nhau bỏ mỗi người một ít tiền vào cái tô cho anh ta.
Chợ đã bắt đầu đông. Người mù vét hết tiền nhét vào túi rồi đứng dậy. Con chó vàng thấy chủ cầm cái tô đứng dậy chừng như nó đã hiểu ý, cũng đứng lên ngoe nguẩy đuôi.
Con chó vàng dẫn người mù len lỏi đám đông đi sâu vào giữa chợ. Anh vừa đánh đàn vừa hát. Tiếng hát khàn khàn của người mù cất lên hòa lẫn trong tiếng ồn ào của cảnh chợ búa.
                                                                         *
Chợ đang tan dần. Người mù nói với con chó:
-Thôi ta về đi vàng ơi.
Con chó đi trước, người mù cầm sợi xích dài bước theo sau.
Mầu hoa phượng thắm như máu con tim
Mỗi lần hè sang kỷ niệm
Người xưa biết đâu mà tìm…
Đang hát người mù chợt nghe tiếng còi xe  rít lên sát sau lưng. Anh hốt hoảng nhảy sang một bên. Miệng không ngợt gọi:
-Vàng, Vàng, tránh xe đi con.
Hơi nóng của chiếc xe tạt vào mặt người mù. Lẫn trong tiếng xe, tiếng còi sát bên tai người mù vẫn nghe được một tiếng kêu oẳng của con chó vàng.
-Sao vậy Vàng, sao vậy Vàng? Người mù thét lên. Rồi giật giật sợi dây xích. Một cảm giác nhẹ tênh khi anh kéo sợi xích. Con chó vàng không còn mắc vào đầu dây xích nữa.
Chung quanh anh có nhiều tiếng la:
-Chết rồi, xe cán nát con chó vàng của anh mù rồi. Tội ghê chưa!
Người mù ngồi bệt xuống đất, tay quờ quạng tìm con chó vàng.
-Mầy đâu rồi Vàng ơi Vàng! Cô chủ mày bỏ tao mà đi giờ mầy cũng bỏ tao,  tao biết sống với ai đây!  Vàng ơi mầy đâu rồi.
Người mù vừa khua tay tìm con chó vừa nói trong tuyệt vọng.
Những người đi chợ  thấy trong chiếc xe con vừa cán chết con chó, một người đàn ông thò đầu ra khỏi xe. Họ đồng thanh la lên:
-Con chó ấy dẫn đường cho anh mù nầy đi kiếm ăn đấy. Anh liệu mà đền bù miếng ăn cho anh ta.
Người đàn ông từ trong xe vói cổ nhìn người mù rồi nói:
-Thả chó chạy rông ngoài đường làm ô nhiễm môi trường lại gây trở ngại lưu thông. Chưa bị phạt vi cảnh còn đòi bồi thường. Cứ lên tòa  kiện đi rồi tôi bồi thường cho.
 Nói xong hắn rút đầu vào và cho xe chạy.
Một người đàn ông chuyên làm nghề bấm huyệt chữa bệnh và đấm bóp trong vùng bước đến nói:
-Hắn ta nói đúng đấy. Việc chó cán xe không ai xử đâu, không khéo người ta còn quy lỗi cho mình nữa. Đi theo tôi để tôi đưa về nhà, tôi biết nhà anh. Tôi vẫn hay đi chữa bệnh,  giác lể ở vùng đó. Thôi tiếc con chó làm chi. Về nuôi con khác. Mà cũng khỏi cần phải nhờ chó dẫn đường nữa. Tôi sẽ truyền lại nghề làm ăn của tôi cho anh. Ở nhà làm cũng được khỏi phải đi đâu cả.

                                         *

Ở cuối chợ có một vựa cây kiểng có biển hiệu Vạn hoa. Vạn hoa nổi tiếng có nhiều loại lan  đẹp. Không những chỉ những loại lan thường có ở Việt Nam mà còn cả những loại lan mua về từ Thái lan, Nhật bản về.
Một hôm có một chú tiểu dẫn một nhà sư mù cả hai mắt vào hỏi mua lan. Người chủ vựa cây kiểng cung kính chào nhà sư, ông ta định hỏi nhà sư muốn chọn giò lan nảo, nhưng chợt nhìn lên đôi mắt khiếm thị của nhà sư ông ta cảm thấy lúng túng không biết hỏi bằng cách nào. Chợt ông nhìn chú tiểu và nghĩ ngay ra cách hỏi  tế nhị:
-Chú tiểu chọn hoa cho thầy phải không? Vậy thì mời chú cứ tự nhiên xem qua các loại lan trong vựa.
Vị sư như hiểu ý, mỉm cười:
-Chú tiểu đây còn nhỏ chưa thấy hết được vẻ đẹp của các loại hoa lan đâu.
Người chủ vựa lại nghĩ: Vậy thì ai chọn lan cho thầy. Mà thầy thì đâu cần thiết phải có những giò lan thật đẹp. Chắc chắn là thầy mua về cho nhà chùa rồi. Vậy thì sao nhà chùa không cử một thầy sáng mắt mà lại cử một thầy khiếm thị?
Người chủ vựa đang phân vân trước câu nói của nhà sư, một lần nữa nhà sư như đoán được tâm trạng và những suy nghĩ trong đầu ông chủ vựa, mỉm cười:
-Người mà chọn được những giò lan đẹp nhất không ai khác ngoài ông chủ vựa đấy. Thí chủ  chọn giúp cho tôi hai giò. Giá cả đừng bận tâm.
-Dạ. Nếu sư thầy đã tin tưởng thì con xin được chọn hai giò mà con ưa ý nhất cho thầy.
Ông chủ vựa mời nhà sư và chú tiểu vào nhà ngồi để ông đi chọn hai giò lan. Ông đi quanh vựa một lát rồi mang hai giò lan trở lại.
-Dạ bạch thầy, con đã chọn được hai giò lan mà con ưa ý nhất cho thầy.
-A di đà Phật. Cảm ơn thí chủ. Còn giá cả của nó thế nào cho thầy gởi lại.
Người chủ vựa kêu  giá rồi nói:
-Dạ con xin bớt cho thầy ba mươi phần trăm để lấy phước.
-A di đà Phật. Thầy sẽ dùng số tiền của thí chủ để làm việc thiện.
Người chủ vựa rót trà ra mời nhà sư và chú tiểu. Uống xong ngụm trà đầu tiên nhà sư khen:
-Chà, trà của thí chủ mời ngon quá.
Chợt nhà sư cầm một giò lan đưa lên vẻ như ngắm nghía rồi nói:
-Thí chủ nầy.
-Dạ.
-Thầy biết từ nãy giờ thí chủ thắc mắc tại sao nhà chùa lại chọn một người khiếm thị như thầy đi mua lan. Nghe ra có vẻ là chuyện tiếu lâm phải không?
-Dạ bạch thầy con không dám nghĩ vậy.
Nhà sư lại mỉm cười:
-Có nghĩ vậy cũng không sao cả vì đó là thực tế. Thí chủ ạ.
Rồi nhà sư nói giọng chậm rãi khoan thai giông như đang thuyết pháp:
 - Không ai cử thầy đi mua cả, thầy tự mình đi mua thôi. Ở đời không có cái gì là của mình cả. Ngay  bản thân mình cũng vậy. Ngoài Chư Phật, Chánh Pháp, và Chơn tăng ra, cái gì mình   muốn đem về cho mình, dù đẹp đẽ quý giá đến mấy, đều không phải của mình. Con người ta thường đau khổ vì mất cái vốn không phải của mình. Còn cái gì mình cho là tốt đẹp là quý giá, mà mình đem tặng cho người khác, đó mới là của mình.  Nó không còn ý nghĩa vật chất nữa mà thuộc về Phật tính. Phật dạy, Phật tính vốn có trong lòng mỗi người.
Ngưng một lát nhà sư nói tiếp:
-Hai giò lan nầy thầy mua về không để dành cho thầy ngắm, mà để dành cho các tín đồ đạo hữu, những người đến chùa để chữa bệnh ngắm.  Hoa càng đẹp thì đem lại nguồn vui cho người xem càng nhiều. Hoa nào rồi cũng tàn cả.  Nếu một người ngắm thì nó chỉ mang lại một niềm vui. Còn nếu có mười người ngắm thì nó mang lại cho đời mười niềm vui. Đúng thế không thí chủ. Vì vậy nên thầy mới nhờ đến thí chủ là người sành nhất trong việc chọn hoa.
-Dạ. Con đã hiểu. Qua việc mua hoa, sư thầy đã dạy cho con một đạo lý hết sức cao cả. Con xin tâm niệm những lời thầy dạy.
-A Di Đà Phật.
 Nhà sư đứng dậy cáo từ.


                                                               *
Có tin đồn, mấy năm nay vùng Thường Trụ xuất hiện một nhà sư mù có đôi bàn tay vàng. Nhà sư nầy  có tài bấm huyệt và xoa bóp để chữa bệnh. Nhà sư từng chữa lành bệnh cho rất nhiều người. Có những con bệnh mà bệnh viện đã bó tay trả về. Nhà sư đã dựng một thiền am nhỏ và biến nó thành một nơi chữa bệnh từ thiện. Có  người nói: Không cần phải bấm huyệt, xoa bóp. Chỉ cần ngắm những giò lan trong khuôn viên chùa cũng đủ làm cho tâm hồn mình thư thái mà khỏi bệnh. Dân quanh vùng người ta tin rằng nhà sư nầy là một vị La hán giáng trần. Ngài từng làm kẻ ăn xin lang thang khắp các vùng chợ búa để thấu hiểu nỗi bất hạnh của từng kiếp người rồi tìm cách ra tay tế độ!


                                          Sài gòn tháng 1- 2015
                                                        NBT




READ MORE - NHỮNG BÔNG LAN VÀ NHÀ SƯ KHIẾM THỊ - Truyện ngắn Nguyễn Bá Trình

CHÙM THƠ XUÂN CỦA NHẬT QUANG



      Tác giả Nhật Quang


DÁNG XUÂN

Ra giêng xanh biếc mây trời 
Lả lơi ong bướm, ươm ngời sắc Xuân
Hương hoa gió nhẹ lâng lâng
Rung rinh vạt áo trắng ngần mây bay

Ru em Xuân ấm vòng tay
Bờ môi ngan ngát, hương say đắm nồng
Mơn man suối tóc bềnh bồng
Nắng Xuân có ấm tô hồng má em ?

Xinh xinh mắt liễu dịu êm
Ra giêng em bước qua thềm ngây thơ
Xuân tình dệt mộng ước mơ
Dáng Xuân e ấp, hồn thơ đong đầy.


TÌNH CA XUÂN

Lung linh trời ươm nắng
Cánh én gọi mùa sang
Mây gởi hồn mênh mang
Lả lơi theo làn gió

Nhành mai vàng trước ngõ
Khoe áo mới vàng tươi
Nụ cúc đơm sắc ngời
Bên thềm hương ngan ngát

Thì thầm lời em hát
Nhịp nhàng khúc tình ca
Ươm tuổi hồng thiết tha
Vào đời xanh ước vọng

Phố phường hoa trải rộng
Người dập dìu đón Xuân
Em bên anh bâng khuâng
Nghe Xuân trào hạnh phúc.

                   Nhật Quang
                   (TP. HCM)

READ MORE - CHÙM THƠ XUÂN CỦA NHẬT QUANG

TÔN TẪN, BÀNG QUYÊN - Phiếm luận Chu Vương Miện

Tác giả Chu Vương Miện


TÔN TẪN, BÀNG QUYÊN
Phiếm luận Chu Vương Miện

Hai nhân vật thượng thặng võ lâm giang hồ này xuất hiện và cuối thời Chiến Quốc (vào khoảng cuối thế kỷ thứ ba trước công nguyên). Những pho tác phẩm có liên hệ xa gần đến hai nhân vật này là những tác phẩm trường giang đại hải tiểu thuyết như Oanh Liệt Xuân Thu gồm ba cuốn, kế đến là Chung Vô Diệm ba cuốn, sau chót là Phong Kiếm Xuân Thu có một cuốn và chỉ chuyên viết về ân oán giang hồ giữa hai nhân vật Tôn Tẫn và Bàng Quyên mà thôi, y như cuốn La Thông Tảo Bắc về đời nhà Đường nhưng chỉ viết về một nhân vật La Thông con trưởng của tướng La Thành. Chúng tôi đọc những pho sách này trên sáu mươi năm rồi và sau này cũng không có thì giờ đọc lại, thành ra đoạn nhớ đoạn không, tam sao thất bổn. Nhân có vị thân hữu Giáng Ngọc viết một bài biên khảo về "Kế Sách" tức "Tam Thập Lục Kế, Tẩu Vi Thượng Sách", sợ độc giả khó tiếp thu, nên chúng tôi phải gia công viết thêm bài viết này để bổ sung cho bài viết của thân hữu Giáng Ngọc.
Qua các tác phẩm về thời nhà Đông Châu thì bộ truyện vài ngàn trang mang tên là Đông Châu Liệt Quốc gần như quá đầy đủ nhưng lại quá giản đơn, đọc chơi thì không sao, nhưng dùng làm tài liệu tham khảo để khảo cứu thì quá ngắn. Những cuốn khác như Chung Vô Diệm, Oanh Liệt Xuân Thu, Phong Kiếm Xuân Thu thì lại vượt qua giai đoạn giản kép (tức là rất ư là lòng vòng và dư thừa).
Chuyện là vầy, Tôn Tẫn là người con nuôi của nước Tề, đời trước mẫu thân của Tôn Tẫn là Yên Đan công chúa, con của vua nước Yên (đất riêng ở Yên Kinh Hà Bắc bây giờ là Kắc Kinh Bắc Bình), phu quân của công chúa là phò mã Tôn Tháo nguyên soái của nước Yên (con ruột của Tôn Võ Tử), hai người sanh đặng ba người con trai. Tôn Long và Tôn Hổ là hai con trai lớn theo cha tòng quân giúp nước. Khi nước Tề và nước Yên có chiến tranh thì tư lệnh quân của nước Tề là Hoàng Hậu Chung Vô Diệm vốn là sao Mão Doãn Tinh trên thượng giới đầu thai, kẻ đối địch với bà là công chúa Yên Đan lúc đó đang mang bầu. Hoàng Hậu Chung Vô Diệm bấm tay biết là quý tử, vì Tôn Võ Tử sẽ đầu thai trở lại vốn là một tinh đẩu Võ Khúc Tinh xuống thế sau này sẽ là một nhân vật tót chúng nhân tuyển cho giai đoạn chót thời Đông Châu, và bà Chung Vô Diệm đưa ra một yêu sách: Nếu bà bị thua, thì muốn làm gì thì làm, nhưng nếu bà thắng thì đứa nhỏ trong bụng công chúa khi sanh ra phải trao cho bà mang qua nước Tề nuôi làm con nuôi, thế là hai vị nữ lưu chủ soái ô kê kẻ gíao người kiếm, qua lại vài chiêu thì Hoàng Hậu Chung Vô Diệm mang dây Cổn Tiên Thằng trong ba lô quăng lên không trung và hô "biến", thế là Yên Đan công chúa nước Yên bị trói gô lại, Chung Vô Diệm đến gần mà nói rằng: Thật là có lỗi đắc tội với công chúa quá, nếu công chúa chịu khó tìm hiểu ba chữ Chung Vô Diệm thì đâu có chuyện hơn thua sự cố này xẩy ra?
Yên Đan công chúa đựơc cởi trói hú hồn hú vía hỏi lại:
-Vậy ba chữ Chung Vô Diệm có nghĩa là cái thứ gì ?
-Là người đi tới đâu mà có Núi Lửa (tức Hỏa Diệm Sơn) thì ngay lập tức bị dập tắt mà sau này mãi mãi không còn núi Lửa ở chốn đó phun lên nữa. Và hai vị soái kết nghĩa nhận nhau làm chị em, có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu.
Bây giờ xin trở lại lý lịch Bàng Quyên, người nước Ngụy. Nước này nguyên ngày trước là nước Tấn, sát với Tần và kết nghĩa Tấn Tần, là một nước cực lớn phía bắc, nhưng bị ba đại thần chuyên quyền chia nước Tấn ra làm ba khúc. Khúc một nửa tỉnh Thiểm Tây thuộc quyền họ Hàn lập ra nước Hàn, tỉnh Sơn Tây thuộc họ Triệu lập ra nhà Triệu, và phía dưới là tỉnh Hà Nam vốn là Đông Kinh thuộc họ Ngụy lên thành lập nước Ngụy, sau vùng đất này sửa lại là nhà Lương. Gia đình của Bàng Quyên cũng thường thường. Bàng Quyên và Tôn Tẫn trên đường tầm sư học đạo có kết nghĩa kim lan là xuống chảo dầu lên núi đao vẫn có nhau, khi hai người tìm đến được Động Quỉ Cốc vào yết kiến tổ sư gia là Vương Hủ (tên tục cúng cơm), còn tên giang hồ là Quỉ Cốc Tiên Sinh hay Vương Thoàn lão tổ, tiên sinh bèn phán như thế này:
- Lão thì chỉ dậy cho những người thông minh mà thôi, chớ cù lần quá thì lão không dậy. Vậy thì ngay bây giờ lão thử tài trí thông minh lanh lẹ của hai trò. Lão đang ngồi đọc sách tại hàng hiên, hai người tìm cách nào để lão phải ra tận ngoài cổng Cốc, thì kể như là qua được một cửa ải.
Bàng Quyên nói ngay :
- Nói như vậy là sư phụ đã có chuẩn bị từ trước, không có cách nào làm sư phụ di chuyển ra ngoài cổng Cốc được,   nhưng con có một cách, nếu sư phụ đi ra ngoài Cổng Cốc thì con có cách dụ sư phụ vào trong nhà được.
Thế là Lão Tổ đứng ngay dậy phăng phăng đi ra ngoài cổng Cốc để chờ học trò dụ khị đi vào.
Ba thầy trò ra tới nơi thì Bàng Quyên cười lên hô hố:
- Con đã dụ được thầy ra ngoài ngõ Cốc rồi.
Vương Hủ cười lên hô hố ô kê con gà quay tức thì, sau đó thì tới phiên Tôn Tẫn.
*
Tổ sư gia Vương Hủ nhìn xuống thung lũng toàn đá tai mèo và hoa dại, nhìn lên thì mây trắng bay, ba người đứng nhìn trời nhìn đất rồi phát biểu:
- Lúc nẫy Bàng Quyên đã làm xong nhiệm vụ, bây giờ đến phiên Tôn Tẫn, vậy theo ý của trò thế nào là Nhân Quả theo quan niệm của Phật Gia.
Tôn Tẫn khom mình vái sư phụ một cái rồi khoanh tay bẩm:
- Đạo Phật, Đạo Khổng, Đaọ Lão cùng một thời gian xuất thế, nhưng chúng ta là người Chung Quốc có thể biết về Đạo Khổng và Đạo Lão chớ Đao Phật viết bằng chữ Pali mà ở mãi tận bên xứ Nepal thuộc Ấn Độ, hai nước lại không có giao lưu giao kéo gì cả, với nữa, chữ Ấn Độ chúng ta có ai đọc và hiểu đâu.
Vương Tổ Sư Gia nói :
- Thầy dậy toàn là tuyệt chiêu, học xong là trèo lên đầu thiên hạ mà ngồi, thành ra học trò của thầy không cần đọc cũng hiểu, chớ ai ai cũng hiểu về Binh Pháp, về Chiến Thuật Chiến Lược thì còn đánh chác gì được nữa. Thầy và các con đều không biết chữ Pali và cũng không hiểu gì về Đạo Phật, vì không ai biết cả nên thầy mới hỏi đệ tử để xem kiến thức của đệ tử ra sao, chớ ai cũng đọc, cũng biết, cũng am tường thì thầy hỏi quả là quá thừa rồi. Thầy ví dụ như vầy, Khổng Tử là to con cũng chết, Mạnh Tử là đang khỏe mạnh cũng chết, Trang Tử là đi đâu cũng trang điểm cho đẹp cũng chết. Sư tử là thầy cũng chết và đệ tử là học trò cũng chết, đại khái là như thế.
Tôn Tẫn hít một hơi dài, rồi thong thả nói :
- Đây là ngu ý của đệ tử, thầy bảo thì phải tuân lời, không được từ chối, theo đệ tử thì nghĩa đen nhân quả nó như thế này, khi người ta làm đám hỏi và đám cưới cho con cái trong nhà thì thường có những chi tiết giống nhau, có nhiều quà bánh rượu trà, heo quay dê quay. Những thứ quà lễ này không được để lộ thiên, mà phải để vào trong một cái hộp, hay là cái quả. Cái quả này có hai phần, phần đáy quả là để đồ quà bánh rượu vào rồi đậy nắp quả lại, trên quả thì chùm khăn đỏ tua vàng, nhưng nhân nào quả đó , vì cái nhân khác nhau, như bánh kẹo, mứt hồng trà thì quả thấp, cái nắp thấp, còn cái quả đựng rượu thì phải cao hơn một chút vì chai rượu thường là cao, và cái quả chứa con heo, con dê không phải là hình tròn, mà là một cái khay dài hình chữ nhật, trên đó để vừa con heo hay con dê, nắp quả thường là tấm vải đỏ, mà cần hai người khiêng cho nó trang trọng hoành tráng, còn các quả nhỏ thì có người bưng 1 tay, người bưng hai tay tùy theo loại, như vậy cái nhân bên trong như thế nào thì cái quả bên ngoài nó y như thế đó cho cân xứng.
Tổ sư gia Vương Thoàn nghe đệ tử Tôn Tẫn nói xong trầm ngâm một lúc rồi nhìn Bàng Quyên mà nói :
- Bàng Quyên, con có nghe rõ điều mà sư huynh của con vừa nói không? Con có cần ghi chép lại để làm kinh nhật tụng không? Thầy nhắc lại một lần nữa là con nhớ câu này nằm lòng: Nhân nào thì quả nấy, gieo cái gì thì gặt cái nấy. Kể từ bây giờ trở đi chúng ta là thầy và trò ...
                                                                  CVM



                                     
READ MORE - TÔN TẪN, BÀNG QUYÊN - Phiếm luận Chu Vương Miện

CA DAO MIỀN QUÊ NGOẠI - thơ Hoài Huyền Thanh



CA DAO MIỀN QUÊ NGOẠI
Hẩm hiu con cò trắng long đong.
Ca dao quê ngoại đắng chát lòng.
“Tân Huề, Tân Quới, Tân Long.
Ba làng hợp laị chẳng xong làng nào.”
Đồng Tháp xa rồi con nước nổi.
Sen tàn héo hắt nỗi nhớ quê.
Nửa đời phiêu bạt buồn xa xứ.
Thấm đẩm hồn khuya nỗi nhớ về.

Quanh co đường đất đỏ
Mái tranh ấm tình quê.
Biết bao cô thôn nữ
Thẹn thùng ươm giấc mơ
Lúa vàng thơm tháng chạp
Bánh phồng giã nhịp nhàng.
Tiếng hò vang sóng nước.
Mai vàng đón xuân sang.

“Bìm Bịp kêu nước lớn anh ơi.
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.”
Tôi xa quê từ dạo ấy.
Tưởng tiếng bìm bịp kêu.
Nhức nhối nhớ quê nhà.
Dong ruỗi mãi mười hai bến nước.
Sóng dập vùi trôi dạt nẻo xa.
Phận bọt bèo làm sao hiểu được.
Mỏi mê dõi mãi phía trời xa.

                           HOÀI HUYỀN THANH



READ MORE - CA DAO MIỀN QUÊ NGOẠI - thơ Hoài Huyền Thanh

Thursday, February 12, 2015

Ra mắt tập sách PHAN PHỤNG THẠCH- DI CẢO & KÝ ỨC và tập san TÌNH QUÊ 15

Ra mắt tập sách PHAN PHỤNG THẠCH- DI CẢO & KÝ ỨC 
và tập san TÌNH QUÊ 15

TXQT: Sáng chủ nhật 08/02/2015, tại quán cà phê Hoa Sứ trên đường Trần Hưng Đạo, TX Quảng Trị đã diễn ra lễ ra mắt tập sách PHAN PHỤNG THẠCH- TÁC PHẨM & DI CẢO (NXB Hội Nhà Văn, 2014) và tập san TÌNH QUÊ 15 – giai phẩm xuân Ất Mùi của Hội đồng hương Quảng Trị tại Đà Nẵng (NXB Hội Nhà Văn, 2015)

Ông Nguyễn Hoàn đang đọc tham luận

Đến tham dự có ông Nguyễn Hoàn – Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Quảng Trị, ông Nguyễn Văn Dùng – phó CT Hội LHVHNT QT, ông Trương Kim Quy – Trưởng phòng Thông tin Văn hóa TX Quảng Trị, nhà văn lão thành Nhất Lâm, các nhà văn, nhà thơ Bùi Việt Anh, Xuân Lợi, nghệ sĩ ưu tú Trương Thương Huyền, nhà thư pháp Hoàng Tấn Trung, các tác giả có tác phẩm đăng trong hai tập sách trên (trong đó có thầy Hoàng Đằng, thầy Nguyễn Văn Quang…) và rất nhiều đồng hương và cựu học sinh trường Nguyễn Hoàng đến từ TX QT và TP Đông Hà.

Đến từ Đà Nẵng có thầy Hồ Ngọc Thanh; anh Hồ Sĩ Bình – phó giám đốc NXB Hội Nhà văn – chi nhánh MT & TN; chị Lê Thị Ba và anh Nguyễn Khắc Phước – BBT tập san Tình Quê; các anh chị Nguyễn Đức Cẩn, Lê Văn Lộc, Nguyến Thị Thanh Vân và Lê Thị Liễu – học sinh Nguyễn Hoàng tại Đà Nẵng.

Nhà thơ Phan Phụng Thạch (1942-1973) tên thật Phan Ngọc Thạch; dạy học và quản thủ thư viện tại trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị; quê quán làng Đạo Đầu, Triệu Phong, Quảng Trị; cử nhân Sử Địa, ĐH Văn khoa Huế; tốt nghiệp khoa Khả năng Sư phạm tại Sài Gòn; cộng tác với các tạp chí Bách Khoa, Văn, Văn Nghệ từ 1964; viết báo với bút danh Thu Hạ.

Tập sách PHAN PHỤNG THẠCH- TÁC PHẨM & DI CẢO gần như là toàn bộ sưu tập tác phẩm thơ của tác giả Phan Phụng Thạch gồm 10 bài thơ in lại tập thơ LƯU BÚT MÙA HẠ và 16 bài khác trong tập THƠ TÌNH TUỔI 30 do đồng nghiệp, học sinh và gia đình cung cấp. Phần KÝ ỨC CÒN LẠI là 32 bài viết tràn đầy những kỷ niệm sâu sắc, ấn tượng đẹp, cảm xúc chân thành, sự kính mến và ngưỡng mộ của các nhà thơ, nhà văn, đồng nghiệp và học trò dành cho tác giả. Nhóm thực hiện: Đỗ Tư Nhơn, Nguyễn Văn Trị, Phạm Đình Quát, Lê Thu Ba, Hồ Sĩ Bình.

Chương trình buổi ra mắt có các tham luận của ông Nguyễn Hoàn và thầy Đỗ Tư Nhơn, các bài phát biểu của anh Hồ Sĩ Bình, thầy Hồ Ngọc Thanh, anh Phan Ngọc Bích …. Phần văn nghệ có sự góp vui của các anh Trần Hải, chị Lê Thị Liễu, các cháu học sinh và nhiều tiết mục khác. Đặc biệt có sự góp vui của nghệ sĩ ưu tú Trương Thương Huyền đến từ Gio Linh.

Ngoài các pano của 2 tập sách, sân khấu còn được làm đẹp và tăng phần ý nghĩa bằng bằng nhiều tranh thư pháp của anh Hoàng Tấn Trung.

Anh Hồ Sĩ Bình (trái) và chị Lê Thị Ba (phải) tặng kỷ niệm chương cho các tác giả.

Cuối cùng là phần tặng Kỷ niệm chương 15 năm Tình Quê đến các nhà phân phối, tặng sách cho những tác giả có nhiều bài viết kể từ số đầu tiên.

Tình Quê được sự cọng tác của những cây bút Quảng Trị từ mọi miền đất nước và của cả bạn bè Quảng Nam-Đà Nẵng. Đây là lần đầu tiên Tình Quê chính thức được phát hành tại tình nhà sau 15 mùa xuân, xem như là một chuyến hành hương trở về quê mẹ, với hy vọng góp thêm một món ăn tình thần cho bà con quê nhà trong không khí mừng xuân tràn đầy lạc quan và hy vọng.

Buổi ra mắt được đã được nhiều người quan tâm và  đánh giá là một hoạt động văn hóa có nhiều ý nghĩa tại Quảng Trị. Đây là lần đầu tiên cựu giáo viên và học sinh Nguyễn Hoàng xuất bản tác phẩm của một nhà thơ-người thầy quá cố đã dành hầu hết những trang thơ của mình để bày tỏ tình yêu về một ngôi trường tan nát bởi chiến tranh, về thế hệ học sinh chịu nhiều thiệt thòi vì bom đạn. Việc làm nầy cũng chứng minh được tình cảm thầy trò cao quý dưới mái trường Nguyễn Hoàng luôn được trân trọng và giữ gìn qua bao biến cố và thời gian cho dù cả trường lẫn thầy đều không còn, thầy trò còn lại thì mỗi người một phương. Buổi sinh hoạt văn hóa này cũng có thể làm cho tình cảm thầy trò trong những mái trường ở tỉnh nhà đã thắm thiết nay càng thắm thiết hơn.


Buổi ra mắt tập sách PHAN PHỤNG THẠCH- DI CẢO & KÝ ỨC và tập san TÌNH QUÊ thành công là nhờ sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Quảng Trị và của tất cả anh chị em đồng hương-đồng môn, trong đó có chủ quán cà phê Hoa Sứ. 

Bài viết của Nguyễn Khắc Phước
READ MORE - Ra mắt tập sách PHAN PHỤNG THẠCH- DI CẢO & KÝ ỨC và tập san TÌNH QUÊ 15

MẸ ƠI, TẾT RỒI... - Bùi Đức Thu





MẸ ƠI, TẾT RỒI...

Mẹ ơi, Tết đã đến rồi ...

Nơi này con thấy bồi hồi xôn xao
Nhớ, thương những Tết thuở nào
Gia đình sum họp ở vào tiết Xuân
Trời xanh cao vút trong ngần
Nắng xuân lan tỏa xa gần bên nhau
Đầu năm áo mới khoe màu
Rộn ràng tiếng trẻ kháo nhau lì xì
Niềm vui đã vắng từ khi
Khung trời rộng mở, hướng đi gọi mời
Bao mùa xuân đã dần trôi
Mỗi lần Tết đến Mẹ ơi... nhớ nhiều
Xuân nơi đất khách cô liêu
Khấn thầm cầu nguyện Mẹ yêu thọ trường
Xuân này con vẫn tha hương
Mẹ ơi, nhớ Mẹ yêu thương ngất lời 

Mẹ ơi, Tết đã đến rồi ...
Mẹ ơi, Tết đã đến rồi ... Mẹ ơi.
                       
                              Bùi ĐứcThu 
                         Xuân Ất Mùi 2015
                             
READ MORE - MẸ ƠI, TẾT RỒI... - Bùi Đức Thu

Wednesday, February 11, 2015

Nguyễn Hữu Minh Quân: TẾT QUÊ VỚI MẸ




Nguyễn Hữu Minh Quân

TẾT QUÊ VỚI MẸ

Chờ xuân mấy chùm mai muộn
Âm thầm nở cuối góc sân
Run bước chân con ngày về thăm mẹ
Thương nghe rất xa lại rất gần
Năm tháng ơi cánh chim bay mõi
Ta có tự bao giờ trong cõi nhân sinh
Bước chân khởi nguyên bên đời lau lách
Rạng đông về mở cửa bình minh
Có em đứng cười như cổ tích
Ta ngỡ lòng mình hoa hướng dương
Ôi nhớ những hạt ngô thơm rang từ tay mẹ
Cầm lòng buổi thiếu giêng hai…
Đứt ruột con suốt dặm trường dâu bể
Quặn thắt nào cũng hướng về mẹ thôi
* * *
Tết ở quê vừa ấm lại vừa thơm
Ấm từ bếp mẹ khói loang vườn
Tím cả đường quê hoa xoan rụng
Thơm nụ cười em trong khói sương

Khói hương ở quê cũng thơm mùi rất lạ
Quấn níu chân người mỗi lúc đi xa
Muốn đem trả hết, đem đổi hết…
Để được tết quê với mẹ già

N.H.M.Q


READ MORE - Nguyễn Hữu Minh Quân: TẾT QUÊ VỚI MẸ

Thơ Phan Minh Châu: KHI MÙA XUÂN ĐẾN




Phan Minh Châu
KHI MÙA XUÂN ĐẾN

Chỉ đôi ngày nữa thôi
Lại loay hoay đón tết
Suốt cả năm giờ đà thấm mệt
Đợi giao thừa trút bỏ những buồn vui
Phố xa lao xao
Rộn tiếng nói cười
Nhìn chợ tết mà thầm mong chóng tết
Qua năm tháng dòng đời chảy xiết
Tóc trên đầu pha chút muối quê hương
Tuổi trẻ đi qua
Nhập nhoạng những con đường
Nhìn phía trước còn nỗi lo trăm mối
Nhưng tết đến
Lòng người bổi hổi
Chờ một ngày biêng biếc bóng xuân sang
Những rừng hoa tràn hết những con đường
Hoa phô sắc giò mai già phơi nụ
Phố ông đồ vẫn ngày ngày cho chữ
Ngọn bút vung loang loáng tựa rồng
Mặt hồ xuân trãi rộng đến mênh mông
Ngun ngút mắt những cuộc đời dâu bể
Mừng xuân mới
Qua bao thế hệ
Bao cuộc đời, bao nỗi lo toan
Những mãnh đời trôi dạt khắp quê hương
Ngày cuối chạp chen nhau về đón tết
Suốt năm tháng bên dòng đời tất bật
Vài ngày lương không đủ cuốc xe về
Đường thì dài trăm vạn nỗi nhiêu khê
Hằn đôi mắt vì nỗi lo trăm mối
Tết sắp đến
Vẫn đâu đó những vầng trăng chớm tuổi
Đêm co ro theo sắc tiết xuân về
Nhìn cuộc đời cạn kiệt đến nhiêu khê
Chỉ biết khóc cho tháng ngày cô quạnh
Tết sắp đến
Cơn mưa xuân sóng sánh
Phủ lên đầu một chút nước quê hương
Theo đại ngàn ngây ngất ... khắp muôn phương.

                                                PMC


READ MORE - Thơ Phan Minh Châu: KHI MÙA XUÂN ĐẾN

Thơ Chu Vương Miện: NHU CẦU TUỔI XẾ CHIỀU / BIẾN KHƠI





Chu Vương Miện

NHU CẦU TUỔI XẾ CHIỀU

nếu lăn quay cu đơ ra mà thác
giống con chó bị xe cán chết 
thì đúng là hết chuyện hết nói phét
nếu còn nàng thơ già
thì ngày nào cũng cãi nhau 
cãi xong đi ngủ mơi cãi nữa
nếu một trong hai bỏ đời bỏ của
thì một sống để mà câm 
có kẻ cô đơn bạn với con mèo
người im mồm mèo kêu meo meo
có ngươì vợ chết bạn vơí con chó
sáng sáng dắt nhau đi ngoài công viên
tối về chó người ngủ chung cùng manh chiếu
có cơm nhai cơm có cháo húp cháo
có người viết dăng có kẻ mần thơ
không phải quảng bá văn chương
dĩ vãng hiện đại
mà viết cùng đánh máy
cho cái đầu khỏi lãng 
lái xe cùng bấm computer rất là loạng quạng
*
kẻ khổ vì miếng ăn 
người già có đủ thứ bệnh kinh niên
kiêng thịt kiêng mỡ kiêng đường
có nghiã là kiêng đủ thứ
chả tu gì mà ăn chay trường 
*
có anh thường xuyên noí về mình
[có nghiã là chỉ noí về cái tôi]
chả tên tuôỉ thành tích gì 
noí lác lác xàm xàm rồi thôi 


BIẾN KHƠI

mơí khóc đó giờ lại cười
trần gian chả lẽ bấy nhiêu thôi?
dở dang đành dở dang đủ thứ
nhằm nhò chi chuyến chót khứ hồi
đất cát lại hoàn về đất cát
nước ròng lại hoàn chốn biển khơi 



                   Chu Vương Miện



READ MORE - Thơ Chu Vương Miện: NHU CẦU TUỔI XẾ CHIỀU / BIẾN KHƠI