Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, January 4, 2012

VÕ VĂN HOA - ĐÊM QUA DƯỚI CỘI MAI GIÀ



                 * Tặng nhà thư pháp Lê Đăng Mành




Đêm qua dưới cội mai già

Lộc non mới nhú như là mắt giêng !

Ta về thăm Lãm Nguyệt Hiên

Vầng trăng từ độ chung chiêng nẻo đời

Ta về thăm một sân chơi

Ao Tâm đã nở súng ơi! Dậy trời...

                   
Đầu năm 2012
                    VÕ VĂN HOA 
vovanhoahl@yahoo.com 
READ MORE - VÕ VĂN HOA - ĐÊM QUA DƯỚI CỘI MAI GIÀ

Châu Thạch - “Sao chưa gặp lại Nguyễn Hoàng”của Nguyễn Khắc Phước: Một bản nhạc, một bài thơ, một dòng lệ




Nếu là cựu học sinh của bất kỳ một ngôi trường nào khi nghe bài hát nầy cũng đã thấy buồn. Nhưng nếu là cựu học sinh của ngôi trường Nguyễn Hoàng, một ngôi trường xưa của cổ thành Quảng Trị  nay đã mất tên trường thì dễ dàng rơi lệ. Nếu bạn từng học Nguyễn Hoàng, nay nghe bài ca nầy mà bạn rơi lệ được thì đó là điều tốt cho bạn, vì nỗi buồn sẽ trôi theo dòng nước mắt, còn nếu bạn không rơi lệ được, thì lệ ấy còn ở trong lòng bạn như một cơn gió lạnh, như một dòng sông băng sẽ làm bạn đau lòng hơn nữa. Chắc chắn không mấy ai mà không thấy cảm xúc ngay từ khổ đầu của bài hát khi lời ca được cất lên mang hình ảnh một cựu sinh quay về  cô đơn nơi trường cũ:

Mênh mang nắng đổ hè trưa
Bâng khuâng đứng nhìn ngẩn ngơ
Tôi tìm trường xưa bên thành cổ vắng
Trường xưa đó nay đâu rồi
Tà áo trắng xưa đâu rồi
Và thầy cô xưa nay về đâu?

Đã có nhiều văn thơ rất cảm động viết về người học trò quay lại thăm trường, thấy lại chiếc bàn mình ngồi, gặp lại ông giáo già hay bất kỳ một ngóc ngách kỷ niệm nào còn lưu lại bao năm. Nhưng có lẽ không có trường hợp nào đau đớn giống như một cựu sinh Nguyễn Hoàng quay lại thăm trường cũ của mình, vì: “ Trường xưa đó nay đâu rồi, tà áo trắng xưa đâu rồi, và thầy cô xưa nay về đâu?”. Không còn gì cả! Trường mà không còn thì tà áo trắng, thầy cô xưa làm sao còn được!

Đoạn hai của bài ca có âm thanh như nhịp chảy của dòng sông, vang lên một âm điệu vui nhưng cũng tìm ẩn một nỗi buồn mênh mang như nỗi buồn khi đứng trước dòng nước lặng lờ, nơi tiếp giáp của sông và biển:

Quên sao những giọt mồ hôi
Quên sao những ngày sục sôi
Có người rời xa nẽo đường muôn lối
Đàn em bé vẫn yêu đời
Thầy cô vẫn cất cao lời
Từ dòng sông em ra biển đời.

Biển đời của học sinh Nguyễn Hoàng Quảng Trị không phải là đại dương bình lặng. Mỗi cựu sinh Nguyễn Hoàng đều phải cởi trên sóng to gió lớn của một thời ly loạn và không biết bao nhiêu người đã chìm đi trong cơn ba đào ấy. Những người vào được bờ cũng phải mang một linh hồn bạc thếch phong sương.

Bước qua phần ba và bốn của bài ca là tiếng kêu thương buồn não nuột, tiếng kêu gọi đàn của bầy chim tan tác:

Nguyễn Hoàng ơi!
Bao năm lưu lạc đường xa
Mang theo giấc mộng tuổi hoa
Mang theo lời dặn của thầy cô

Nguyễn Hoàng ơi!
Bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa
Bao nhiêu bè bạn trang lứa
Sao chưa về đây với trường

Đây là tiếng kêu mà các tập san “ Chân dung  kỷ niệm Nguyễn Hoàng”, “ Hương quê Nhà” và nhiều tập san trong ngoài nước của cựu học sinh Nguyễn Hoàng khắp nơi đã cố gắng bơi ngược dòng sông ký ức để mời nhau trở về đoàn tụ cùng nhau.

Thật ra thì biết bao người đã vượt ngàn dặm xa xôi để quay về với mảnh đất trường xưa, nhưng, chưa có ai trở về
với niềm vui trọn vẹn, vì: “ Trường theo khói hương lên trời” như một câu trong đoạn cuối bài ca. Trường đâu còn nữa, trường mất cả tên rồi:
Mong sao đếm ngược thời gian
Cho viên phấn còn dở dang
Kể về trường xưa bên thành cổ vắng

Trường theo khói hương lên trời
Trường gieo nắng cho xanh đời
Trường vẫn còn đây trong tim mọi người.

Lời hát ở vế chót thâm thúy và như một bản bi hùng ca, nó mang âm hưởng của nỗi lòng cựu sinh Nguyễn Hoàng Quảng Trị, muốn quay về để viên phấn kể lại trường xưa. “Mong sao đếm ngược thời gian, cho viên phấn còn dở dang, kể về trường xưa bên thành cổ vắng”: Trí tưởng tượng tuyệt vời và ca từ đầy tính chất thơ, đầy hương vị.

Với tôi “ Sao chưa gặp lại Nguyễn Hoàng” không những là một bài ca mà còn là một bài thơ bi hùng và là một dòng lệ thương nhớ trường xưa chứa đầy cảm xúc ./.
                                                                    
 Châu Thạch

truongvantran@hotmail.com

READ MORE - Châu Thạch - “Sao chưa gặp lại Nguyễn Hoàng”của Nguyễn Khắc Phước: Một bản nhạc, một bài thơ, một dòng lệ

ĐINH THỊ HIỆP - SÙNG NHƠN, MIỀN QUÊ XA



Tôi đã có một vài chuyến đi về thăm lại Sùng Nhơn, Đức Linh.

Trong mấy lần về đây, hầu như có gần đủ các anh chị của anh, còn tôi là người thay thế cho anh trong gia đình bên nội. Không có anh nhưng những kỉ niệm về anh, về cuộc sống đầy gian khổ trong mấy năm trời ở vùng đất nghèo khó này cứ theo nhau hiện về. Mọi người thay nhau kể chuyện ngày nào còn theo đội sản xuất ra đồng lao động. Công sức làm ruộng, cấy lúa, nhặt cỏ … được tính công và cuối vụ được trả bằng vài thúng lúa. Chẳng qua một thời để nhớ, để tưởng niệm quá khứ và tự hào vì mình còn đứng vững trong thời kì bao cấp ấy.
    
Tôi không hiểu sao vào lứa tuổi thanh niên, tôi có đủ sức khỏe và nghị lực đến như thế! Năm 1978, tôi đã cùng đoàn người lên khai phá khu rừng Bắc Ruộng, để cho hôm nay, đây trở thành một khu đông dân cư. Mùa hè năm sau, từ trường sư phạm Phú Long, tôi cùng anh lên xe về Bắc Ruộng. Hồi này, xe cộ hiếm hoi, việc đi lại rất khó khăn, chờ đợi mua được vé phải mất nhiều thời gian. Chiếc xe chạy bằng than ì à ì ạch trên chặng đường đất đỏ lầy lội, ngồi cạnh thùng than mà thấy người nóng hầm hập, mồ hôi đổ giọt, có nhiều lúc chúng tôi phải xuống xe, tài xế nóng lòng ngồi trên cabin rồ máy, còn đàn ông, thanh niên phụ nhau đẩy chiếc xe qua chỗ bị sụp lầy. Đây là núi Tà Pao, chỉ còn một quãng nữa là đến Bắc Ruộng. Bến xe là bãi đất trống, vắng ngắt như tờ, quanh đâu đó chỉ một vài ngôi nhà tôn mái lá kè lụp sụp. Chúng tôi mang xắc lên vai, chẳng có gì ngoài vài món quà đơn sơ đem về thăm gia đình; chuẩn bị tinh thần lội bộ, nghe chừng gần 30 cây số tính từ đây về đến Sùng Nhơn. Vừa đi tôi vừa quan sát hai bên đường. Xung quanh vẫn còn lắm trảng rừng, nhà cửa thưa thớt, đường lộ thật vắng vẻ, ít xe cộ và người qua lại. Trên đường đi, thỉnh thoảng, chúng tôi gặp một số dân địa phương, tiếng nói như người dân tộc rất khó nghe; tôi hỏi và được biết đó là người dân gốc ở đảo Phú Quý, Phan Thiết, vào đây sinh sống. Trời chiều đã xế bóng, mồ hôi nhễ nhại, bước chân chúng tôi vẫn bền bỉ trên con đường dài băng qua xã Nghị Đức, Mé-Pu…Vừa đi vừa trò chuyện nên cũng quên đi sự mệt mỏi, lâu lắm  mới dừng lại, ngồi xuống ven đường xoa bóp cho đôi bàn chân bớt tê cứng. Đi mãi cho đến khi trời vừa sập tối chúng tôi mới về đến nhà. 





Tôi đã từng nghe anh kể vào thời gian đầu mới lên xứ này, anh vào rừng chặt tre về bán ở chợ Vỏ Su. Khi bơi qua sông La Ngà, anh ôm mấy cây tre, dựa vào sức nước để vượt qua bên kia bờ. Số tiền bán tre, anh đem về đong gạo nuôi gia đình. Anh còn đưa cho tôi xem mấy vết sẹo còn in rõ ở trên trán và cánh tay, vì một hôm bị tai nạn,  do không có kinh nghiệm khi đi rừng. Mùa hè năm sau, anh và người chị cả làm đơn đi học sư phạm, gọi là để thoát ly, để thay đổi cuộc đời, thoát khỏi cảnh khổ. Thời gian đầu và mãi về sau này, anh hay bị chứng đau nửa đầu, cũng có thể cơn bệnh ngặt nghèo đã ngấm vào người? Cuộc đời anh thật ngắn ngủi, chưa đủ để làm hết những dự định đang còn dang dở…Anh để lại cho tôi tiếp nối trên con đường anh đã chọn.
Sùng Nhơn là miền quê mới của người dân Quảng Trị. Đây là một vùng quê nghèo, nằm cuối cùng của tỉnh Bình Thuận và gần giáp với tỉnh Lâm Đồng. Phía tây là những dãy núi cao xa tít chân trời. Dân ở đây có thể đi tắt theo con đường từ Sùng Nhơn ra đến Định Quán, Phương Lâm, rồi từ đó lên Bảo Lộc, Lâm Đồng. Người ta bảo “Đất lành chim đậu”, điều đó cũng đúng, vì những năm 1977, 1978 là năm thiếu đói, con người phải biết dựa vào đất để mà sống; cảm ơn trời đất đã cho con người có cái để ăn qua những năm tháng cơ cực sau chiến tranh. Dân tứ xứ về đây định cư theo chính sách di dân, khẩn hoang – kinh tế mới. Giờ đây, hai bên đường, thay thế những trảng rừng là xóm làng, nhà cửa khá khang trang, xa kia là những đồng lúa xanh rì xen kẻ nhiều nương bắp trái vụ. Vì đây là một vùng đất trũng nằm gần núi nên đầu mùa hè thường xảy ra những trận mưa dông kèm theo một vài cơn sét đánh chết người. Nhà nước đã cho xây những cột thu lôi nằm chơ vơ giữa đồng ruộng. Ngày trước, học sinh đi học trường cấp 3 ở Vỏ Su, hôm nay ngay tại xã Mé-Pu đã có một trường Trung học phổ thông, làm cho các em đỡ vất vả, khỏi phải đi học xa nhà. Đường sá đã được làm mới, tuy nhiên vẫn còn những đoạn đường còn quá hẹp, gồ ghề lắm ổ voi, ổ gà.
Quanh năm, có một số người dân sống bằng nghề câu cá trên đồng hoặc cất vó ven sông. Một dịp về ngang Vỏ Su, chúng tôi ghé vào một quán ven đường để thưởng thức món cháo cá lóc. Mùa mưa, nước lủ tràn về trên sông La Ngà, nước tràn lênh láng vào các ruộng đồng. Dòng sông ở đây hẹp và sâu, nhìn thấy dòng nước đỏ lừ lừ chảy ùng ục cứ tưởng tượng bao nhiêu nước trên rừng theo nhau tuôn về xuôi. Có khi tôi nghe người ta kháo nhau đâu đó trên sông La Ngà có cá sấu, không biết thực hư như thế nào. Từ Sùng Nhơn đi qua Vỏ Su có khi người ta phải đi đò rất là nguy hiểm, nhất là vào mùa nước dữ, dòng nước xoáy hung tợn có thể làm cho chiếc đò lật úp, chìm nghỉm.

Đầu mùa hè năm 2009, tôi đi công tác ở Nam Chính, Vỏ Su. Tôi có ý định buổi tối hôm đó về thăm anh họ tôi ở Sùng Nhơn. Chúng tôi không đi về đường Bắc Ruộng mà đi theo đường Lạc Tánh - Huy Khiêm- Vỏ Su. Ghé Lạc Tánh, ngồi nghỉ ở một quán nước bên đường, thật ngạc nhiên khi nhìn thấy những chú chuột đồng nghe nói là béo ngậy đang được chưng bày như món đặc sản, món ruột của dân nhậu. Tôi đợi đứa cháu chồng(nhà ngay thị trấn Lạc Tánh này), gặp nhau tại quán, cùng uống nước chuyện trò. Mới đầu mùa mưa mà dân ở đây trồng bắp đã thu hoạch, từng thúng bắp chín bày bán dọc đường. Tôi hỏi đứa cháu về món chuột đồng kia. Cháu tôi cười cười trả lời: “Ai biết đó là chuột đồng hay chuột nhà, làm sao mà phân biệt được?”.

Tôi không biết Huy Khiêm ở đoạn nào trên chặng đường mà tôi đã đi qua? Tôi đã quên mất, không nhớ rõ nơi mà ngày trước vào năm 1976, 1977 sau giải phóng , ba tôi đã gần hai năm sống tại trại cải tạo Huy Khiêm này. Một vài lần tôi tìm lên thăm nuôi ba tôi. Được phép của cán bộ trại giam, tôi vào thăm ba. Ông vẫn nụ cười hiền lành, hỏi thăm về gia đình, nhận quà thăm của nhà mà rưng rưng nước mắt. Tôi hỏi ba làm những công việc gì, có nặng nhọc lắm không? Ba tôi kể rằng ông được giao cho việc bốc hạt đậu phụng, thứ nông sản do chính tay các anh em lao động, làm ra. Giờ đây ông còn được giao việc chăn giữ mấy con bò của trại. Ông hay dắt chúng ra gần hàng rào cho ăn cỏ. Có khi vài người dân cảm thương khi nhìn thấy liền dúi vào tay ông ít tiền. Ông không biết dùng để làm gì, để dành lại khi tôi lên thăm ông gởi về cho mẹ tôi. Khi vào rừng, có vài buồng chuối sắp chín, ông tìm cách bẻ xuống, đem dú vào bụi cây đến khi chín hẳn đem về cho anh em ăn dần. Ngày mồng bốn Tết năm 1976, tôi lên thăm ba tôi. Có sự trùng hợp ngẩu nhiên hay linh tính báo điều không lành, mà ba tôi đưa cho tôi gói đồ gởi về nhà, trong đó có một chiếc khăn trắng, tôi vô tư lấy khăn cột lên tóc mình. Ai ngờ đó cũng là ngày ông nội tôi ở Huế sắp từ giã cõi đời khi bên cạnh không có người con trai trưởng, mà người con ấy chính là ba tôi, đang còn ở trong trại. Tôi cứ suy nghĩ mãi về điều này, con người chắc chắn có một mối linh cảm, ràng buột với nhau, nhất là những người thân thích ruột thịt. Ba tôi khi biết tin ông nội mất chắc đau khổ, dằn vặt vô cùng! Rồi cuối cùng ba tôi cũng rời trại, trở về với gia đình, tuy nhiên sức khỏe của ông về sau không được tốt lắm.Trại Huy Khiêm đã gắn với bao kỉ niệm vui buồn của những người như ba tôi đã từng một thời làm việc cho chế độ cũ, còn sau này qua bao nhiêu năm tháng cố gắng phấn đấu cải tạo để trở về đời thường, sống hòa nhập với xã hội; nhưng giờ thì đa số những người ấy đã già nua hay có thể không còn sống trên cõi đời này nữa.

Như ý định, tôi ghé về Sùng Nhơn. Ngang ngã ba, tôi đã nhác thấy anh tôi đứng chờ. Tôi chia tay người bạn ở đó, hẹn sáng hôm sau gặp nhau tại chợ để về Vỏ Su. Người bạn tôi cũng tiện dịp về thăm nhà em trai ở Đa Kai, cách chừng vài cây số.  Đa Kai là vùng đất mới khai hoang sau này, là nơi đang khai thác nguồn tài nguyên nước khoáng. Tôi ở lại một đêm với gia đình người anh họ, con cậu tôi. Khoảng ba giờ sáng, khi trời còn tối đen như mực, anh tôi đã đi ra bờ sông. Ngày nào cũng như thế, anh ra sông gỡ số cá mắc lưới mà chiều hôm trước anh giăng câu. Hôm nay, anh bắt và bán cá được mười mấy nghìn, còn mớ ốc bươu anh lượm ở ruộng được lưng giỏ, đem về băm nhỏ làm thức ăn nuôi bầy vịt. Anh còn than vãn năm nay nạn chuột đồng phá làm mất mùa lúa lấy đâu ra tiền lo cho con ăn học. Chăn nuôi, trồng trọt, làm ruộng, bắt cá đã biến anh trở thành một nông dân thực sự.Thấy người anh gầy gò, đen đủi vì dầm mưa dải nắng, tôi rất mủi lòng. Anh là con trai cả của cậu tôi; gia đình cậu tôi ngày trước ở Quảng Trị thuộc vào hạng công chức, có một cơ ngơi tương đối khá. Chiến tranh đã cướp mất tất cả. Giờ đây hầu hết các con của cậu tôi đều lam lũ, sống bằng các nghề lao động là chính.

Người dân về đây lập nghiệp về sau có sự phân hóa rõ giàu nghèo. Người làm ruộng, người làm thợ ở lò gạch, người làm nghề bốc hạt sen, hạt điều thuê, kẻ buôn bán, người giàu cho vay lấy lãi… dần dà tạo nên những tầng lớp trong cái xã hội thu nhỏ ở vùng quê ấy. Có một số gia đình có ý chí muốn vượt lên cái nghèo khó bằng cách bươn trãi cho con học đại học, cao đẳng, làm công nhân các nhà máy, có số em trở thành thầy giáo ngay tại địa phương. Tôi hỏi chị họ tôi bốc hạt sen một ngày được bao nhiêu tiền công? Chị tôi bảo chỉ hai, ba chục nghìn là mừng rồi, đủ để sống tiện tặn qua ngày. Vậy thì khi bệnh lấy đâu ra tiền chữa bệnh? Ơn trời, mong cho khỏe mạnh. Chị tôi cười.

Đất đai xứ này màu mỡ, người ta trồng một năm mấy vụ lúa. Hầu như nhà nào cũng có vài trụ tiêu trồng trong khu vườn. Dây tiêu xanh um leo lên trụ bằng thân cây gỗ, dần dà gỗ rừng khan hiếm họ thay thế bằng mấy trụ gạch. Khí hậu có vẻ khắc nghiệt hơn, ban ngày trời nóng như đổ lửa, về đêm lại rất lạnh, không có những cơn gió mát mẻ, dễ chịu  như mấy vùng ven biển. Người dân Quảng Trị mình không chịu an phận, một số lại đi tìm vùng đất hứa: đó là Xuân Sơn, Ngãi Giao, Bình Giã…của tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu; là Trị An, nơi phát triển nhà máy thủy điện của tỉnh Đồng Nai, ngày xưa còn lừng lẫy chiến khu D; đi đâu cũng thấy dân xứ mình lưu lạc đến ở và tìm mọi cách để sinh sống. Phải nói rằng gia đình cậu tôi rời chốn này về Xuân sơn làm ăn thì cuộc sống có phần tốt đẹp hơn là ở Sùng Nhơn. Còn lại chỉ hai người con của cậu; tôi thật ái ngại khi nhìn thấy cuộc sống của các anh chị: vì tôi có cảm giác như đây là tận cùng của sự khốn khổ!

*Khi kết thúc bài viết này là vào đầu mùa hè tháng 6 năm 2010-vợ chồng người con trai cả của anh họ tôi, cả hai đều là giáo viên trường trung học cơ sở, hiện đang dạy ngay tại quê nhà Sùng Nhơn. Chiều này, sau một chuyến đi thăm bà nội ở Xuân Sơn, ghé về thăm tôi. Anh tôi có cả thảy 7 người con (dân số hèn gì tăng vọt là phải!), trong đó còn có một con gái đang học đại học xã hội-nhân văn, khoa báo chí, hy vọng sau này cậu cháu xin cho về làm tại Phan Thiết; một con gái sau hai năm bền chí mới học xong bổ túc, có bằng trung cấp, đang xin làm việc ở khu công nghiệp Biên Hòa; một con gái khác cũng làm công nhân tại đó; một con gái đã có gia đình, ở gần nhà, ngoài ra còn có hai đứa con đang học trung học phổ thông. Anh tôi vẫn có niềm tự hào khi nói với tôi về truyền thống hiếu học của gia đình, khiến bà con hàng xóm cũng phải nể phục. Âu cũng là một phần kết có hậu phải không? Tôi tin chắc là như thế! 

ĐTH 
      


READ MORE - ĐINH THỊ HIỆP - SÙNG NHƠN, MIỀN QUÊ XA

Tuesday, January 3, 2012

NGUYỄN QUÝ – KHÚC THỜI GIAN



Đã bao đời đìu hiu với ruộng đồng lam lũ,với những con nước xuống lên theo thói lệ trăng rằm. Ba tôi vẫn ở đó, bên mảnh làng bé nhỏ và xanh xao. Chỉ có điều mỗi lần tôi trở về thăm nhà vào dịp tết, trên mái tóc ba tôi đã có những đổi thay.

Cái năm đầu tiên tôi xa nhà ấy, tôi trở về và trên mái tóc ba tôi vẫn còn màu xanh đen dạt dào sức sống. Mọi thứ dường như rất bình thường. Rồi dần qua, dần qua cho đến hôm nay. Tôi lại trở về và trên mái tóc ba tôi đã chuyển sang một gam màu khác, màu muối tiêu, lốm đốm trắng đen đan xen những lởm chởm chông gai bụi bặm cuộc đời. Màu tóc ấy đã ghi dấu ấn của những năm tháng sương sa đói khổ mà ba tôi đã cố vật vã với sự khô cằn và khắc nghiệt của thời tiết khí hậu thổ nhưỡng của quê hương.

Những năm tháng triền miên ăn cơm độn với muối hột, khoai sắn qua loa chống chọi với đói rét tã tơi của thời khắc bao cấp bần cùng. Những ngày gió mưa lặn lội đi đào mương trấm, cũng như thui thủi với cuốc cày những luống đất cứng đầu kém cỏi phì nhiêu.

Những buổi đông hàn, ba tôi lặn lội mưa gió băng qua những lau lách, hố bom lạnh lùng câu cá, không ngại đỉa đóm rác rưởi ngứa ngáy để kiếm từng con cá cải thiện bữa ăn gia đình.Những đêm nước lên ,ba tôi thức khuya dậy sớm đơm đặt, soi bắt những con cua, con tôm, cón bóng, con thệ. Rồi những mùa hạn đi qua khô cháy cả cánh đồng quê hương, ba tôi lại lăn lộn với công cuộc tát nước, đào ao chống cháy lúa mạ, hoa màu. Mùa gặt đến, thân hình bé nhỏ của ba lại vật lộn với những gánh lúa nặng trĩu đôi vai, những đêm trắng giấc đạp lúa.

Rồi thời khắc nghiệt cũng qua đi, điện đài kéo về giăng mắc khắp đầu làng ngõ xóm. Máy bơm , máy gặt , máy tuốt được trang bị đầy đủ phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa nông thôn. Ba tôi bớt khổ, nhưng không hết những nỗi ưu tư hằn sâu những lằn ranh, in sâu mép trán. Con cái đông đúc, cái ăn cái học vẫn còn chưa tới và tương lai cũng đang mờ mịt chân trời. Mái tóc ba tôi cứ thế già nua song song với những thớ da đen sạm, nhăn nhúm khắc khoải số phận một đời nông dân cơ cực.

Tôi tr v đón mùa xuân năm mi. Hoa cúc, hoa mai n thơm lng mùa xuân, nhng đa tr tung tăng hoan h bước vào tương lai vi nim vui hn h. Ba tôi cũng vui lm vi mùa xuân, nhưng trên hình n cười, nhng nếp nhăn trên trán cũng không quên hát khúc thi gian. /.

NQ


READ MORE - NGUYỄN QUÝ – KHÚC THỜI GIAN

Monday, January 2, 2012

ĐÌNH THU - VỀ CAM HIẾU

                                    
Tặng bạn: Hoàng Xuân Việt


Giấu vạt nắng sau lưng mùa gặt
Chiều về Vĩnh Đại khói đồng bay
Có lẽ mùa xuân còn xa ngái
Gốc rạ hồn nhiên giấc ngủ say

Đã có người cùng ta hò hẹn
Mê mải kiếm tìm những cuộc chơi
Hình như tiếng của ngày năm trước
Vọng lại hồn nhiên thấy bạn cười

Không nhắc nữa ! thời xa xưa ấy
Có một mùa say chẳng nhớ nhà
“Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiễu”
Bạn đã cùng ta rong ruổi xa

Rồi ngày mai nữa khi gặp lại
Trong cuộc đoàn viên giữa thị thành
Cùng nhau dốc cạn bầu tâm sự
Hẹn về Cam Hiếu đón mùa xuân.

Đình Thu




READ MORE - ĐÌNH THU - VỀ CAM HIẾU

TRƯƠNG NGUYỄN - VỀ CHỐN CŨ

 Cựu nữ sinh Nguyễn Hoàng

Ha thơBài cho Trường Cũ”ca Lê Đình Lng Chương
                             

Xa khuất nhiều năm về chốn cũ
Trường xưa nay đã khác đi nhiều
Lang thang đây đó thân du tử
Người ấy giờ phai những nét yêu

Bốn mươi năm lẻ ta đi biệt
Đất khách bôn ba kiếp sống hờ
Áo trắng ngày xưa phai nhạt hết
Nay về tìm lại thuở nguyên sơ

Ngồi uống café bên góc phố
Im nghe đất đá lạnh buồn tênh
Xương thịt anh em vào sách vở
Giã từ cái kiếp sống lênh đênh

Còn gì để nhớ và mơ ước
Đợi mãi người yêu trước cổng trường
Nhớ thương ngày cũ theo dòng nước
Len lén nhìn theo cuối góc đường

Buồn bã ngó sang bên bến vắng
Lạnh hồn mà ngỡ bóng ai xưa
Có lẽ giấc mơ thời áo trắng
Nỗi đau thầm lặng xót xa vừa

Bóng xế một mình nâng cốc rượu
Qua rồi va đập những buồn vui
Cây mai rũ lá đầy trong chậu
Nghe mặn bờ môi những ngậm ngùi.
                                                TRƯƠNG NGUYỄN

READ MORE - TRƯƠNG NGUYỄN - VỀ CHỐN CŨ

CẦM HOÀNG - TRỞ VỀ QUẢNG TRỊ

            Học sinh Phước Môn ngày xưa



                   Tr v quê cũ trường xưa
           Giòng sông Thạch Hãn nắng mưa bụi mờ,
           Trần Hưng Đạo đường xưa em bước
            Lời hẹn hò nhớ mãi Gia Long
            Lối về ngập nắng Quang Trung
            Hồn nhiên tay nắm Đình Phùng mình qua.
            Đi vào trước cửa Terexa
            Thánh Tâm hờn dỗi, lân la Bồ Đề.
            Tuổi thơ ý đẹp tình quê,
            Nồng nàn hương lúa đường về bổng xa,
            Chiến tranh tang tóc đi qua,
            Bao nhiêu kỷ niệm quyện hòa hồn tôi.
            Lặng  nhìn Thạch Hãn chiều buông,
            Hạnh Hoa còn đó, đầu thôn vẫn chờ.
            Cội cây  già đứng bơ vơ
            Nhạt nhòa bóng cũ, người xưa mãi tìm.
            Nhìn giòng nước bạc im lìm,
            Nao nao nhớ lại nỗi niềm tuổi thơ.
            Bên bờ cỏ lá chơ vơ
            Đôi nhân tình cũ bây giờ nơi đâu?
            Lầu chuông khấn nguyện cho nhau,
            Bao lời hò hẹn tình thơ lỡ làng.
            Đò xưa tách bến sang ngang,
            Thoáng bay tà áo, lệ tràn ướt mi.
            Nắng chiều đổ bóng người đi,
            Còn vương vương nhớ chút gì trong tôi.
            Dáng xưa nay đã phai rồi,
            Tình xưa tôi vẫn nhớ hoài.... nụ hôn./.

                                        CH


 Cựu học sinh Phước Môn
Ảnh từ trang: My.Opera.Com/TriBuu
READ MORE - CẦM HOÀNG - TRỞ VỀ QUẢNG TRỊ

Sunday, January 1, 2012

MÙI NGÒ RÍ - Cáp Xuân Tú



Tết trong tôi với những năm tháng tuổi thơ, thiếu thốn, nghèo khó còn đậm in những kỷ niệm khó phai. Những năm sống trong thời hậu chiến, của kinh tế bao cấp mọi vật dụng dành cho Tết rất hiếm hoi. Hợp tác xã mua bán của phường phân phối mỗi gia đình 1 lít dầu hỏa, một chai rượu chanh Hà Nội, nửa cân kẹo Hải Hà, 2 gói trà Kim Anh. Khấm khá hon là phong pháo tép Hải Hưng hoặc Hà Sơn Bình. Riêng mỗi một gia đình thì nhu cầu lớn lắm, chủ yếu tập trung vào cái ăn. Thưở ấy trông Tết để được ăn sướng, có thịt, có mỡ...

Trong nhà tôi, sau Rằm tháng Chạp, mẹ đã bắt đầu chuẩn bị mọi thứ. Nào là miến, gạo nếp, đậu xanh, trứng gà, đường cát, mỳ chính... những thứ hàng thiết yếu này thời bao cấp khó khăn lắm hơn nữa nhà không có nhiều tiền để mua  một lúc. Nhưng cái chuẩn bị của mẹ làm cho cái Tết đang về xôn xao rồi.

Những phong pháo nổ đì đẹt ấy đã thúc giục mùa Xuân đến sớm, đón Tết về trong náo nức. Hai Mươi  Ba Tết, đưa ông Táo về trời, nhiều nhà làm lễ Tất niên, tất nhiên là đốt pháo. Lũ trẻ chúng tôi nghe tiếng pháo là chạy nhào tới để nhặt những viên pháo rụng, pháo xì đốt chơi. Có thằng chụp lấy quả pháo tống nổ chậm làm cho nó toác cả tay. Trò chơi pháo vẫn không làm cho lũ trẻ sợ sệt. Lác đác từ hôm đó cho đến đêm giao thừa, pháo liên tục nổ ran, chúng tôi dọn dẹp nhà cửa, hay giúp mẹ đánh trứng đổ bánh thuẫn không yên lòng chút nào. Những năm sau xuất hiện lọai pháo Nam Ô nổ như súng đại bác, tiểu liên, nên chúng tôi cũng phân biệt được nhà nào đốt pháo gì. Đêm Ba Mươi, pháo nổ rền hơn, phút giao thừa thực sự làm cho trời đất như sống dậy trong giá rét, tôi cảm thấy như mùa Xuân bừng tỉnh sau cơn ngủ đông. Sáng Mồng Một, lại vang tiếng pháo cúng đầu năm, sang Mồng Ba lại vang tiếng pháo cúng đưa tiển ông bà... cho đến Rằm Tháng Giêng vẫn có nhà đốt pháo cúng đầu năm hay mở hàng. Tiếng pháo cho ta cảm giác như cái Tết kéo dài hơn.

Đó là chuyện pháo, chuyện mứt bánh ngày Tết cũng đáng chú ý. Nhà nào cũng mua một vài cân hạt dưa. Nhà nào cũng có gói bánh chưng , bánh tét. Nhà nào cũng có làm bánh thuẫn. Nhà nào cũng tự rim mứt gừng, mứt dừa. Ngày Hai Bảy, Hai Tám Tết được nghỉ học ngồi ở nhà quạt than làm mứt, hay dùng đũa đánh trứng cho dậy quả là một kỳ công. Đánh trứng phải liên tục, mạnh, đều tay thì trứng mới dậy, bánh mới đẹp.

Lũ trẻ chúng tôi lại rủ nhau quét tước nhà cửa, vườn tược và con đường đất trước nhà. Nhà nào cũng sạch tưng. Đêm Ba Mươi trước khi Giao Thừa, chúng tôi phải tắm sạch sẽ không để bẩn 2 năm. Gian bếp chật hẹp làm mùi thơm bánh chưng, bánh tét ngào ngạt không thoát đi được.

Và cái mâm cỗ Tất Niên mẹ làm nhiều món: thịt gà bóp, gà rô-ti, miến xào lòng gà, la-gu, đậu cô-ve với cà rốt, su hào xào thịt heo... Gần như các món mẹ rắc tiêu và bỏ thêm mấy cọng ngò rí, thơm ơi là thơm. Chúng tôi nhìn khi cha bày mâm cổ đã rỏ dãi rồi... thèm lắm, cái này chờ mấy tháng nay. Tôi nghĩ một mình mình ăn hết cả mâm cỗ.

Cha thắp hương trên bàn thờ, bếp và cổng. Cha quay lại khấn vái lầm rầm. Cha bảo tôi rót rượu cúng vào ly, phải rót đúng 3 tuần đúng với 3 lần khấn vái của cha. Tôi đứng cạnh, mùi thức ăn xông lên mũi, đặt biệt cái mùi ngò rí quyện với hương vị hạt tiêu, chao ôi là thèm. Tôi nuốt nước bọt.

Cúng xong, cả nhà quây quần bên mâm cơm cuối năm. Chúng tôi được ăn uống thỏa thích. Mẹ nói cả năm kham khổ rồi, Tết cho ăn một bữa cho sướng. Vẫn mùi thơm thơm của ngò, bây giờ tôi được nếm thêm vị cay thanh thanh nhè nhẹ của ngò rí, quyện với vị cay hăng hăng của tiêu. Tôi cố ăn nhiều thứ trên bàn cỗ. Tôi lại hay nghĩ về những ngày sau Tết, lại vất vả. Mẹ hay than: "Giêng Hai cắn máu tay không chảy". Cái đói cái thiếu sẽ đến.

Cuộc sống hôm nay khá đủ. Cái Tết không làm háo hức như thưở ấy. Nhưng trong cái se lạnh của đêm Ba Mươi, cái mùi ngò rí ấy làm thức dậy trong tôi bao kỷ niệm về thời khốn khó. Tôi nhớ về cái Tết xưa, nhớ tiếng pháo rộn ràng đánh thức đất trời. Nhớ ánh lửa bập bùng nồi bán tét reo réo sôi. Lũ trẻ thơ chúng tôi khoe nhau áo quần mới. Tiếng loa phát thanh vang lên những khúc nhạc xuân: "Em ơi, mùa xuân đến rồi đó, giang rộng vòng tay đón cuộc đời..." hoặc là "lúa ơi thơm ngát cho em hát cùng người....đôi lứa tình yêu, mùa xuân...". Tất cả đã thành kỷ niệm.

Cáp Xuân Tú
Trường THPT Đông Hà
capxuantu@gmail.com
READ MORE - MÙI NGÒ RÍ - Cáp Xuân Tú

Saturday, December 31, 2011

Nụ cười ngày xuân: CHÙM THƠ XƯỚNG HỌA NHIỀU TÁC GIẢ - Biên tập: VÕ LÀNG TRÂM



Người mẫu
Sông Thu
 
Con cái nhà ai quá đỗi nghèo
Thân hình lép kẹp, cẳng tong teo.
Vàng hoe, tóc xác xơ râu bắp
Tím ngắt, môi thâm tái đít mèo !
Áo rách te tua-khăn cũ quấn?
Quần cùn ngắn ngủn-khố mòn đeo?!
Đói lòng(?!)xiểng niểng đi xiêu vẹo
Gió mạnh vù qua ắt thổi vèo ! 
                                                         ST


Hoa hậu
Võ Làng Trâm
  
Mẫu người thanh cảnh chớ đâu nghèo ,
Đừng vội chê bai gái ốm teo !
Nhoẻn miệng nhếch môi cười mỹ  nữ ,
Kề vai tựa ngực diễn trò mèo .
Nhờ ơn thầy dạy năng rèn tập ,
Nên  được lắm người mãi bám  đeo .
Hoa hậu hội thi tung "vốn có ",
Không thôi dẫu đẹp cũng rơi vèo !            
                     
                     VLT




Hành khất
Cao Bằng
   
Áo rách quần te bởi cái nghèo
Thân hình khúm núm,cổ đầu teo
Bị  đay bạc thếch tuồng bao cát
Nón lá quăn queo tựa nấm mèo
m nắm  giữa trưa nào ngó thấy
Nước bình  chiều xế chẳng trông đeo 
Đưa tay xin giúp,người qua lại
Khách thấy nhìn lơ bỏ chạy vèo! !                  
                      CB


Thằng nghèo 
Hàn Sĩ

Giữa trời Mỹ-quốc vẫn thằng nghèo
Giá  tuyết đêm đông cảnh lạnh teo
Lui tới âm thầm như kiếp ngựa
Quẩn quanh sáng tối tựa thân mèo
Người xưa vẫn nhớ,không từ bỏ 
Bạn cũ còn thương ,cứ mãi  đeo
Thơ  thẩn thu về nơi xứ  lạ
Buồn theo chiếc lá rụng bay vèo! !                          
                                                          HS
   

Nghèo ! 
Sông Thu

Chơi quá cho nên chịu kiếp nghèo
Cửa nhà trống hoác,cảnh buồn teo
Áo quần nham nhở hàm răng chuột
Chiếu gối te tua móng vuốt mèo.
Sáng bởi sao trời,đèn khỏi thắp
Rõ  nhờ đom đóm ,kính thôi  đeo!
Thân hình mỏng dính như tờ giấy
n gió đi qua thổi cái vèo ! 
                                   ST
       

Số trời
Võ Làng Trâm

Đồng Tử xưa kia cũng vốn nghèo ,
Thân mình chắc hẳn cũng leo teo ,
Bần dân vớ bở ôm công chúa (Tiên Dung)
Cá rán ngờ đâu lọt miệng mèo !
Định mệnh an bài chắc mãi bám ,
duyên có phá vẫn hoài đeo ?
Khó khăn thây kệ đừng bi lụy
Sống được bao năm lại thác vèo ! 
                      VLT


Thiếu vải
Văn Thanh

Cô nàng thiếu vải phải đâu nghèo
Thân thể tràn đầy chẳng chỗ teo
Hai vú xập xòe trông mát mắt
Đôi mông ỏng ẹo khác chi mèo
Lẹ làng trai trẻ thì ham muốn
Lọm khọm già nua cũng cố đeo
Ham hố nhìn hoài nơi cấm kín
Có ngày đôi mắt phải bay vèo..! 
            
                     VT


Thời thượng
Thu Vân
 
Thời buổi văn minh hổng phải nghèo
Thức thời tiến hóa thích eo teo
Tóc vàng, tóc  đỏ, xù lông nhím
Móng trằng, móng xanh nhọn vuốt mèo
Xăm vẽ  trên mình rồng, phượng múa
Cài treo dưới rốn nhẩn vòng đeo
Ngợm không, người cũng không ra khỉ
Xế hộp, mô tô, cứ vút vèo!                  
                                    TV


Gái quê
Lương Thế Hùng
 
Gái quê đâu ngán đói hay nghèo
Vẫn mập phổng phao chẳng tóp teo.
Miệng nói nhẹ nhàng như gió thoảng
Chân  đi uyển chuyển tựa con mèo.
Nhiều người yêu nết mong làm bạn
Bao kẻ mến tình cố bám đeo.
Nhìn thấy người xinh xin chớ ghẹo
Có  khi lại bị đá bay vèo!
                  LTH

Võ Làng Trâm biên tập
                                                                                                                   volangtram@yahoo.com.vn
READ MORE - Nụ cười ngày xuân: CHÙM THƠ XƯỚNG HỌA NHIỀU TÁC GIẢ - Biên tập: VÕ LÀNG TRÂM