Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, August 30, 2010

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - THƠ


TRANG THƠ

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG


Dù năm dù tháng


Anh hái cành phù dung trắng

Cho em niềm vui cầm tay

Màu hoa như màu ánh nắng

Buổi chiều chợt tím không hay

Nhìn hoa bâng khuâng anh nói

Mới thôi mà đã một ngày.

Ruộng cấy ta mong cơn mưa

Ruộng gặt ta mong ngọn nắng

Chăm lo cánh đồng tình yêu

Anh đếm từng vầng trăng sáng

Thiết tha anh nói cùng trăng

Mới thôi đã tròn một tháng.

Mùa xuân lên đồi cỏ thơm

Mùa hạ nhìn trời mây khói

Mây tím chân cầu tím núi

Đông xa ngày trắng mưa dầm

Nhìn trời ngẩn ngơ anh nói

Mới thôi mà đã một năm.

Sẽ đến một ngày trắng tóc

Nhưng lòng anh vẫn không nguôi

Thời gian sao mà xuẩn ngốc

Mới thôi đã một đời người.

Dù năm dù tháng em ơi

Tim anh chỉ đập một đời

Nhưng trái tim mang vĩnh cửu

Trong từng giọt máu đỏ tươi.



Về chơi với cỏ


Thưa rằng người đã quên tôi

Tôi về chơi với ngọn đồi cỏ may

Một đường hang một dấu giày

Một người ngồi một tháng ngày bóng nghiêng

Cảm ơn người trái đào tiên

Tôi về lãng đãng nơi miền cỏ gai

Cỏ gai hoa thắm mặt người

Trinh nữ ơi trinh nữ ơi - tôi buồn

Thôi người ở lại soi gương

Tôi đi về phía con đường cỏ lau

Nợ người một khối u sầu

Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi

Mai kia rồi cũng xa người

Tôi về ngủ dưới khung trời cỏ hoa

Có nàng xõa tóc tiên nga

Quỳ hôn cát bụi, khóc òa trong mưa.



Gửi cho người


Thôi xem em là bông hoa

Một ngày qua một ngày qua một ngày

Thôi xem anh là đám mây

Một đường bay một đường bay một đời

Tài hoa cũng chuyện đùa chơi

Làm sao thưa hết một lời yêu thương

Anh đi tìm khắp thiên đường

Chỉ còn một đoá vô thường gởi em

Gửi em một nét sông mềm

Con đò áo trắng đã chìm trong mưa,

Rằng sông buồn tự thuở xưa

Vầng trăng mộng mị bây giờ là anh.



Nhớ một người


Có đôi khi tôi ghé thăm vườn cũ

Hỏi người đi dạo ấy có quay về

Cỏ bảo rằng nàng về thăm một độ

Đốt khói trầm nghi ngút lại bay đi

Tôi bồi hồi hỏi sang cây cổ thụ

Đường xưa còn vàng nắng áo mơ phai?

Nắng bảo rằng nàng nhớ mùa thu cũ

Tận bên trời vẫn ngóng gió heo may.

Có một lần qua sông tôi hỏi gió

Rằng tháng năm như nước chảy qua cầu

Gió mách rằng nàng chờ người bạn cũ

Dẫu thời gian như nước chảy về đâu

Có nhiều ngày tôi nhớ em tha thiết

Nhớ bồn chồn như ngọn lửa trong tim

Đời lãng tử có một lần ly biệt

Để yêu nhau, để quay quắt đi tìm

Có nhiều đêm tôi trở về gặp tôi,

Người là ai? Là đóm lửa ven đời

Ôi đóm lửa vẫn từng đêm hiu hắt

Nhớ một người. Và mãi mãi không nguôi



Địa chỉ buồn


Nhà tôi ở phố Đạm Tiên

Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu

Có mùi hương cỏ đêm sâu

Có loài hoa biết nuôi sầu tháng năm

Tôi về ngủ dưới vầng trăng

Có em từ chỗ vĩnh hằng nhìn tôi

Tình xa, xa mãi trong đời

Tóc xanh tiên nữ rối bời trên tay

Tôi còn ngọn nến hao gầy

Chảy như nước mắt từ ngày sơ sinh

Tôi xin em chút lòng thành

Cài lên một phiến u tình làm hoa

Những chiều Bến Ngự giăng mưa

Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi

Tôi ra mở cửa đón người

Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang

Nhà tôi ở phố Đạm Tiên

Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu

Cây sầu đông, cây sầu đau

Thương tôi cây cũng nở màu hoa râm.

Huế 1989



DẠ KHÚC


Có một buổi chiều nào như chiều xưa

Anh về trên cát nóng

Đường dài vành môi khát bỏng

Em đến dịu dàng như một cơn mưa.

Có một buổi chiều nào như chiều qua

Lòng tràn đầy thương mến

Mang cả xuân thì em đến

Thắm nồng như một bông hoa.

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi

Cho tôi chiếc hôn nồng cháy

Nỗi đau bắt đầu từ đấy

Ngọt ngào như trái nho tươi.

Có buổi chiều nào mộng mị vây quanh

Nửa vành mi cong hờn dỗi

Em xõa muộn sầu trên gối

Rối bời như mớ tơ xanh.

Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi

Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn

Em có lời thề dâng hiến

Cho anh trọn một đời người.

Có buổi chiều nào như chiều nay

Căn phòng anh bóng tối dâng đầy

Anh lặng thầm như là cái bóng

Hoa tàn một mình em không hay.



Bồng bềnh cho tới mai sau


Có con thuyền trong sương trắng
Bồng bềnh như một cánh chim
Có em chèo thuyền áo trắng
Xôn xao như trốn, như tìm
Có vầng mặt trời rực sáng
Bồi hồi như một trái tim

Em chèo thuyền về phía hướng đông
Hứng chút phấn mặt trời trên má
Bụi mặt trời vương đầy gót chân
In những dấu hoa hài trên sóng
Anh mãi nghe từ đáy màu sương mỏng
Bài hát tình yêu dậy một phương hồng

Từ thuở nào vũ trụ đã sinh ra
Mà sao mặt trời mỗi ngày vẫn trẻ
Mà sao anh như đã từ vạn kỷ
Bên sông này đứng hát mặt trời lên
Vẫn đi hoài trong cõi vô biên
Mặt trăng là mảnh gương riêng soi trái đất
Trái đất trôi như một cánh bèo dâu
Mặt trời nhiều khi phập phồng hơi thở
Mê man nhớ những tinh cầu

Những hành tinh ngẫm rồi thấy lạ
Bềnh bồng mà vẫn theo nhau
Anh với em, ừ thì cũng lạ
Bềnh bồng cho tới mai sau



Cỏ, chim sẻ và châu chấu


1.
Có nhiều khi tôi quá buồn
Tôi ước mong về ngồi dưới cội cây xưa
Em có nhắn điều gì theo lá rụng
Ký ức nào khẽ động vai tôi

Dáng ai như tôi đi qua cánh đồng
Thu nhặt lại mình trên ngọn gió
Giống như con chim sẻ nọ
Thu về từng cọng vàng khô

2.
Có nhiều khi tôi quá buồn
Tôi ước mong chung quanh chỗ tôi ngồi
Mọc lên thật nhiều cây cỏ
Cây xấu hổ đau gì mà rủ lá
Tôi gập người trên bóng tôi

Không nghe tiếng ai nói cười
Tôi còn ngồi chi đây một mình
Cắn móng tay từng ký ức mong manh
Giống như con châu chấu nọ
Gặm hoài lá cỏ xanh.

READ MORE - HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - THƠ

Tuesday, August 24, 2010

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - ẨM THỰC QUẢNG TRỊ

Chủ quán cháo bột Thu Thủy ở Hải Lăng. Ảnh NKP



ẨM THỰC QUẢNG TRỊ

Với cách nhìn từ xa, nhiều người thường nghĩ rằng Quảng Trị không có gì đáng nói về văn hoá ẩm thực. Sự ăn uống hàng ngày thì mang tính kiệm ước, không đáng để gọi là một "nền văn hóa". Theo tôi nghĩ, người Quảng Trị nào cũng có một cách ăn uống thường nhật, cần thiết đãi một số bạn bè trong quan hệ giao lưu của mình.

Nói tóm lại, người Quảng Trị cũng như ai, có một "tâm hồn ăn uống" gắn bó với những nét đặc trưng của quê hương mình. Vậy nên không thể nói rằng Quảng Trị không có văn hóa ẩm thực.

Hồi tôi còn bé, thường theo ông nội tôi về thăm quê tại Quảng Trị. Ở đó, ông tôi thường ghé thăm một người chú họ của tôi, vốn ít thuộc nòi thi lễ của gia đình tôi. Thím tôi lúc ấy liền mang rổ đến chợ quê trong làng mua vài con cá tràu và một ít môn ngọt về nấu canh theo khẩu vị của ông tôi. Thím tôi om thịt cá tràu cho vào nồi canh môn đang sôi, đồng thời gọt mấy trái dưa quả băm thành những mẩu nhỏ, đem trộn với món dưa cải đắng dùng làm rau sống ăn với món canh môn rất mát miệng.


Những thanh bột hình vạt giường quyết định độ ngon của cháo

Thím tôi vốn học được nhiều cách kho nấu của người Huế, nhưng ở món ăn này, phải thừa nhận rằng đây là nét bổ sung của văn hoá ẩm thực Quảng Trị: trước khi trộn lẫn cải với dưa quả, thím tôi xắt nhỏ những lá cải xanh theo lối thái chỉ, ăn với canh môn xem ra vừa thấm tháp hơn, lại nữa dĩa rau sống trông càng lịch sự, đẹp mắt hơn. Chính người Huế khi dùng món canh môn này cũng chỉ xắt lá cải xanh thành từng đoạn nhỏ chứ không thái chỉ như vậy. Những món ăn xứ Huế qua bàn tay chế biến của người phụ nữ Quảng Trị đã hoàn thiện một cách tỉ mỉ hơn, lịch sự và đẹp mắt hơn.

Vẫn tiếp tục câu chuyện văn hoá ẩm thực của miền đất Quảng Trị. Trong khói lửa mịt mù của cuộc chiến tranh chống Pháp, tại một vùng sơn cước quê tôi, đã thịnh hành một món ăn dùng để chống đói, gọi là bánh tu huýt. Người ta lấy sắn (khoai mì) xắt lát phơi khô đem trộn với nước giếng cho thành bột thật nhuyễn.

Nhiều khi vội quá, người ta dùng cả bột sắn tươi, nghĩa là lấy củ sắn tươi bóc vỏ đem mài vào một tấm nhôm chi chít những lỗ đinh, cho ra một thứ bột ướt. Bột được vắt chung quanh thành một chiếc đũa, thành một nắm cỡ mắm xôi; trong ruột nắm bột có một lỗ hình ống khi rút chiếc đũa ra. Thả nắm bột vào nồi nước sôi, khi chín vớt ra, để nguội và đem chấm với nước mắm hoặc ruốc ăn thay cơm. Thứ bánh được gọi là bánh tu huýt này làm thuần bằng bột sắn thô nên rất khó ăn, những cũng giúp dân quê tôi đỡ đói lòng qua những năm đánh giặc.


Tôi nhớ có đọc một cuốn sách về âm nhạc thời Hùng Vương; trong đó nhà nghiên cứu có nói đến một thứ nhạc cụ mang hình con chim tu huýt (là hình tượng vật tổ của dân tộc Việt Nam, thường xuất hiện trên mặt những chiếc trống đồng). Nhà nghiên cứu nói rằng chính làng quê Việt Nam vẫn tìm cách nuôi dưỡng chút hồn nước dưới hình thức con chim tu huýt.

Còn tôi thì nghĩ rằng cái tên "bánh tu huýt" chắc chắn có liên hệ với cái hình ảnh con chim tu huýt trong câu chuyện về âm nhạc nói trên. Mỗi lần nhắc đến bánh tu huýt, để cho cái món ăn đắng họng ấy trở nên có màu sắc "sử thi" hơn một chút, tôi gọi tên là " bánh tu huýt thời kỳ Hùng Vương".

Hàng trăm loại thức ăn mang tinh thần "bánh tu huýt thời kỳ Hùng Vương" của người Quảng Trị đều ít nhiều phản ánh tinh thần chịu đựng khó khăn để giành được thắng lợi của vùng đất anh hùng. Không phải nói quá đáng nhưng "tính liều chết" để nhảy ra khỏi tình hình khó khăn là một kinh nghiệm hàng đầu của văn hoá ẩm thực người Quảng Trị.

Xông thẳng vào nơi khó khăn để tìm cách "vượt khó", đó không những là bài học về cách sống mà còn là " tâm hồn ăn uống" của người Quảng Trị hay nói "dễ như ớt" (dễ ợt). Nghĩa là, nếu không có cái để làm món ăn, người ta hái luôn một nắm ớt chìa vôi (rất cay) sắp vào đĩa, đem hấp cơm rồi chấm với nước ruốc làm thức ăn. Nói "dễ như ớt" là thế!

Hành động tiêu biểu cho toàn bộ nghệ thuật ẩm thực Quảng Trị là nấu cháo vạt giường. Món cháo này tuy đơn giản nhưng rốt cuộc cũng tuỳ thuộc vào bàn tay chế biến của mỗi người. Người ta nói "bà Phan là một tay sát cháo vạt giường cự phách" nhất Đông Hà có nghĩa rằng "bà Phan là người nấu cháo vạt giường ngon" nhất thị xã. Quả vậy, những thanh bột hình vạt giường có tính quyết định đối với sự ngon dở của nồi cháo. Trước hết là cách pha bột: nếu pha loãng thì vạt giường sẽ dính vào răng rất khó nhai. Chẳng những vạt giường phải đúng quy cách của nó mà nước nấu cháo múc ở giếng nào, con cá nấu cháo sống ở cánh đồng nào, tất cả hương vị đất đai thổ nhưỡng ấy đều có ảnh hưởng đối với cháo vạt giường. Vì vậy mới nói "bà Phan là một tay sát cháo vạt giường cự phách".

Trời lạnh buốt xương, ngủ dậy ngồi co hai chân lên giường, bưng tô cháo vạt giường húp nghe dậy mùi tiêu thơm lừng, toát cả mồ hôi nơi sống lưng, ấy là cái thú bậc nhất trần gian của người Quảng Trị.

Cháo vạt giường nổi tiếng khắp Quảng Trị nhưng chỉ ở địa bàn Diên Sanh, huyện Hải Lăng cháo vạt giường mới đạt đến mức độ tuyệt chiêu của nó. Người ta bảo "chưa mê cháo vạt giường Diên Sanh chưa phải là dân Quảng Trị". Dù ở đâu cũng chừng ấy bột, mức nước, đồ gia vị, ở đâu cũng chừng ấy con cá lóc mà không hiểu tại sao ở Diên Sanh, món cháo vạt giường lại ngon đến như vậy, như thuộc về một đẳng cấp khác. Đủ để mùi vị xao xuyến cả một đời người; dẫu có đi định cư ở nước ngoài khi về Sài Gòn cũng nhất thiết lấy một tấm vé máy bay bay ra miền Trung để nếm lại hương vị bát cháo vạt giường thơm lừng nơi cố quận. Cái ngon của cháo vạt giường Diên Sanh mãi mãi là một bí ẩn thuộc về trời đất, mãi mãi là điều bí mật của một vùng đất.


Cá tràu (cá lóc) - nguyên liệu của nồi cháo

Nhớ kỳ lễ tết có bạn trong Huế ra chơi, trời thì lạnh rây rây. Năm bảy đứa chúng tôi đạp xe từ thị xã Quảng Trị về Diên San ăn cháo vạt giường, dù ở thị xã cũng có món xôi - lòng thả rất nổi tiếng. Vừa đạp xe đến chợ Diên Sanh, nghe bay lên mùi xào nấu đã thấy ngậm ngùi! Bát cháo vạt giường ở Diên Sanh quả là danh bất hư truyền, bạn tôi cho rằng dẫu phải đi máy bay từ Mỹ về đây cũng không uổng công.

Nói là thế những vẫn cần một yếu tố thêm vào để hiểu ra tài hoa của một vùng đất. Mùa hè và mùa thu, trên mặt cánh đông trơ cuống ra, ếch nhái sinh nở nhiều, cứ mỗi bước chân người lại nhảy lên một đám như mưa rào. Đội quân săn lùng nguyên liệu cho món cháo vạt giường chúng tôi toả ra khắp cánh đồng, dùng cành tre hay cành liễu quất sàn sạt vào những đám sinh vật đang phóng lên. Chúng rất dễ chết hoặc bị thương, nhiều khi chỉ giật mình cũng nằm yên trên mặt cỏ.

Chúng tôi chỉ cần nhặt những con nhái ngất ngư lên rồi xâu chúng vào một sợi lạt dài mang theo. Đi chừng một quãng đồng, xem ra những dây xâu nhái đã nặng cánh tay, chúng tôi quay về nhà. Tất cả các xâu nhái đều được treo lên sợi dây phơi áo quần ở giữa sân để phơi nắng. Sau đó những dây nhái được dời vào bên cạnh bếp khiến chúng khô ráo hẳn. Người ta rang chúng trong cái chảo, rồi từng mớ lần lượt được bỏ vào cối giã. Xương, mắt, ruột rà và bàn chân nhái được loại bỏ: chỉ còn một mớ bột nhái thơm đến điếc mũi, muốn ăn ngay tức khắc. Bột nhái được đựng trong những chiếc thẩu lớn dùng làm bột nêm ăn dài ngày. Có nhiều bà mẹ Hải Lăng cấm con gái dùng bột ngọt kho nấu.

Nêm bằng ruốc vẫn ngon hơn bởi vì chất đạm động vật luôn luôn ngon hơn đạm thực vật. Bột nhái lại càng đậm đà không gì so sánh được. Tôi tin rằng hương vị mê hồn của món cháo vạt giường gắn liền với những mùa nhái trên cánh đồng Hải Lăng.

Lần hồi, những món ăn thời đi khai phá Ô-Lý cũng mất dần trong ẩm thực của người dân Quảng Trị; mất dần những món ăn "trời sợ" trong ẩm thực thường nhật của người Quảng Trị. Những cách ăn "lai" Huế cũng lần lượt xuất hiện trong bếp ăn những nhà giàu có hoặc quyền quý. Cách mạng tháng Tám diễn ra, xoá sạch những nét du nhập nói trên, chỉ để lại những gì là món chế biến độc đáo của người trong cuộc; món cháo vạt giường trên đây là một ví dụ tiêu biểu.

Theo Bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

http://netlife.vietnamnet.vn//vn/an/6339/index.aspx

http://www.anhk19.com/anhk19/diendan/index.php?showtopic=2473
READ MORE - HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - ẨM THỰC QUẢNG TRỊ

Friday, August 13, 2010

RA QUẢNG TRỊ THƯỞNG THỨC XÔI NẾP LÀO



Cái ngon từ miếng xôi mềm, vị béo do nếp và đậu phộng hòa lẫn tạo nên vị ngon đặc trưng của xôi nếp Lào. Có cảm giác như chưa kịp nhai thì xôi đã rã trong miệng...

Đến Quảng Trị, món xôi nếp Lào là một trong những món ăn thường thấy trong các thực đơn ở các quán ăn hay trên các bàn tiệc, vừa như một món chủ lực, vừa như một món điểm xuyết trang trí thêm cho phong phú thực đơn. Giữa những món đặc sản độc chiêu chỉ có ở Quảng Trị như thịt rừng, dĩa xôi đậu phộng trông có vẻ lạc lõng và không đúng điệu lắm, hình thức trình bày cũng không bắt mắt, nhưng đã ăn một lần thì có lẽ khó ai quên!


Quảng Trị là một tỉnh duyên hải miền Trung, có đường biên giới phía Tây với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào dài khoảng 206 km. Tại cửa khẩu Lao Bảo thuộc tỉnh Quảng Trị, hàng hóa từ các nước láng giềng mang sang rất phong phú và nếp Lào là một trong các loại hàng nông sản được tiêu thụ mạnh ở đây.


Xôi nếp là món ăn truyền thống của người Lào, người ta cho rằng người Lào ăn xôi nhiều hơn ăn cơm và gạo nếp gần như lương thực hàng ngày của họ. Nhà nào cũng có những cái chõ hong xôi được sử dụng thường xuyên mỗi ngày. Ở Lào, cơm nếp thường được dát lên những bức tượng Phật hoặc những bức tường nhà ở gia đình để cúng cho các vị thần cư ngụ tại đó. Phụ nữ thường được liên tưởng mạnh mẽ với lúa gạo.


Truyền thuyết kể rằng, nữ thần lúa đã hiến dâng mình cho ngọn lửa và tro của nữ thần đã giúp cho dân làng được một mùa bội thu. Ở một số làng bản, hài cốt của những người phụ nữ tổ tiên được lưu giữ trong ngôi tháp nhỏ xây giữa ruộng lúa của gia đình.

Hạt nếp Lào nhìn qua trông giống như một loại gạo hạt dài, màu trắng trong. Để xôi ngon, người ta không nấu như cách bình thường (đổ ít nước vào nếp) mà nấu bằng chõ.


Cách nấu xôi theo kiểu truyền thống của người Lào là đựng trong ống nứa và nấu bằng nước suối. Bỏ nếp và ít nước vào ống nứa rồi nướng nguyên cái ống nứa này trên lửa than. Khi ống nứa cháy sém cũng là lúc xôi cạn nước, sau đó ủ xôi cho chín. Khi ăn, gọt lớp vỏ nứa bên ngoài là lộ ra phần xôi nếp màu trắng được bọc bằng lớp vỏ lụa của ống nứa. Khối xôi nếp lúc này có hình dáng như một cái ống, thơm mùi nứa, chỉ việc dùng tay bốc ăn. Nếp Lào dẻo, ráo nên không dính vào tay.


Các tour du lịch đến Lào luôn có món xôi nếp giới thiệu với khách. Ăn kèm với xôi là thịt gà nướng hay cá kho riềng và thêm món rau như bông bí, đọt bầu, đọt bí luộc chấm với một loại mắm giống như mắm nêm của Việt Nam.


Tại chợ Lao Bảo có bán loại chõ nấu xôi cũng có xuất xứ từ Lào hay Thái. Chõ làm bằng nhôm có hình dáng bầu tròn, phía trên đặt cái rổ đan kín bằng tre, giá khoảng 45 ngàn đồng một bộ. Khi nấu, bỏ nếp vào rổ rồi đậy nắp. Nếp chín nhờ hơi nước từ bên trong nồi chõ bốc lên. Sau khi nấu xong, người ta lại xới xôi bỏ ra một cái rổ khác (cho có độ thoáng, xôi ráo, ngon, không bị ứ nước). Xôi nếp Lào thường ăn với các món mặn như: thịt nướng hay ram, chà bông hay cá kho…

Cái ngon đặc trưng của hạt nếp Lào là dẻo và thơm. Thoạt nhìn dĩa xôi thấy hạt gạo nếp còn nguyên hình dáng, dễ lầm tưởng là xôi bị khô, cứng. Tuy nhiên, ăn vào mới cảm nhận được độ dẻo, ngọt và hơi có chút vị béo giống như là xôi có nước dừa nhưng hoàn toàn không phải! Cái ngon từ miếng xôi mềm, vị béo do nếp và đậu phộng hòa lẫn tạo nên vị ngon đặc trưng của xôi nếp Lào. Có cảm giác như chưa kịp nhai thì xôi đã rã trong miệng!


Còn một cách thưởng thức hạt nếp Lào là ăn thử một miếng xôi không có đậu phộng và xôi đã đơm cùng đậu để vừa ăn, vừa so sánh và cảm nhận thấy rằng vị béo từ nếp đã làm thành vị ngon đặc trưng rất riêng của món ăn dân dã này. Nếp Lào có một ưu việt nữa là dùng để gói bánh chưng cũng rất ngon. Vào dịp tết, tại cửa khẩu Lao Bảo, nhộn nhịp khách các nơi đổ về mua nếp Lào. Một hàng bán lẻ có thể bán tới cả chục tấn nếp mỗi ngày.


Đặc biệt, nếp Lào nấu cơm rượu cũng ngon không kém. Hạt nếp tơi, rời và mềm còn nguyên dáng vẻ ban đầu cho dù đã qua quá trình lên men. Thêm nữa, lẫn trong vị ngọt của cơm rượu có lẫn vị béo của hạt nếp, khác hẳn với cơm rượu nấu bằng nếp thường.

Không cần phải làm chuyến du lịch sang Lào, chỉ cần đến Quảng Trị hay Lao Bảo là du khách có thể mua được ít nếp Lào và thêm một cái chõ về cho đúng điệu. Đơn giản là nấu xôi đậu phộng là ai cũng sẽ tận hưởng được hết vị ngon của gạo nếp nước bạn láng giềng. Phong phú hơn, nồi cơm rượu bằng nếp Lào cũng là một món ngon để khách phương xa nhớ về hương vị Lào trên đất Quảng Trị.


L.A (sưu tầm)

Báo Công an TP HCM

Thứ sáu, 19/03/2010

READ MORE - RA QUẢNG TRỊ THƯỞNG THỨC XÔI NẾP LÀO

NGUYỄN ĐĂNG DƯƠNG - CANH ÁM LÀNG LAM

Cây rau Sôông

Cùng với cháo bột Kẻ Diên, bánh ướt Phương Lang, mắm đam Trà Trì, thì Canh ám làng Lam luôn là một trong những đặc sản ẩm thực của quê hương Hải Lăng, một món ăn mà những người con quê hương chúng tôi luôn nghiền và tự hào.

Làng Lam Thuỷ quê tôi thuộc xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị – nơi có dòng sông Vĩnh Định hiền hoà chảy qua chia làng làm hai nửa. Ở nơi đó dù là trai hay gái, già hay trẻ đều nấu được món Canh Ám mang nặng nghĩa tình quê hương này.

Canh Ám được nấu từ 2 loại thực phẩm chính đó là: cá lóc (quê tôi gọi là cá tràu) và rau Sôông.

Muốn nấu canh ngon thì cá lóc phải là cá lóc đồng, nếu cá có trứng là càng tuyệt vời. Cá lóc được làm sạch khi đang sống, thái từng lát. Sau khi làm xong, bỏ cá vào Soong rồi đổ ít nước vào và đun sôi bằng lửa than. Khi cá vừa chín, đổ gia vị vào (gia vị đã được ướp sẳn, gồm: ném hạt đã được giả, dầu ăn, ớt bột, muối, bột ngọt, 1 ít tiêu và đường). Tiếp tục đun cho cá vừa thấm gia vị (vừa sôi) thì thôi đun lửa.

Rau Sôông là một loại cây rau dại rất dễ trồng, thân có nhiều gai nhọn như cây hoa hồng; lá có vị chua, hình như bàn tay; cây già có hoa màu vàng. Khi nấu canh, rau phải tươi, vừa hái trên cây xuống, rửa sạch. Rau ở đây tức là gồm cả lá, cọng và thân non của cây (Nhiều người nấu canh chỉ lấy phần lá, nhưng thực tế như vậy là không ngon lắm). Cọng và thân cây có thể cắt làm từng đoạn hoặc cuộn tròn rồi cho vào Sôông đổ nước vào rồi đun lửa. Khi nước sôi 1 hồi, vớt cọng và thân cây ra (vì nếu để thì khi ăn dễ mắc xương của cây và nhìn nồi canh không đẹp, không hấp dẫn) cho lá rau rồi cho cá lóc vào nồi (cá đã xào với gia vị). Tiếp tục đun cho nồi canh vừa sôi là được. Nếu nấu chuẩn thì trứng cá lóc được phi gia vị sẻ nỗi trên mặt nồi, lấp lánh vàng đỏ trong rất hấp dẫn. Trong khi đó thì nước canh sẻ trong vắt, có thể nhìn được những lát cá chìm dưới đáy nồi.

Khi thưởng thức nước canh rau sôông vừa béo, vừa có vị chua nhạt, vị chát. Chỉ cần chan nước canh vào bát cơm trắng cũng đã thấy ngon rồi. Thông thường, đi kèm theo món canh này là rau sống. Rau sống ở quê tôi được làm từ: cải tươi non (cắt nhỏ), cây chuối đá non bằng cổ tay được bóc rồi thái mỏng, bắp chuối non được thái mỏng, ngoài ra có thể có thêm cánh hoa Thọ và 1 ít giá.... Khi chan canh lên bát, rồi bỏ rau sống vào ăn cùng thì đúng là một món ăn ngon khó quên. Trường hợp những ai quá hơi men, thì canh Ám là giải pháp hửu ích để giả ruợu, lấy lại thăng bằng.

Món ăn này được người dân quê tôi dùng trong các bữa ăn hàng ngày, các ngày giỗ, tết (trước đây còn dùng trong các ngày cưới, nhưng với sự phát triển của xã hội, đời sống nhân dân ngày càng một đi lên nên trong các lễ cưới người ta dọn các món ăn lạ, cầu kỳ và đắt tiền hơn).

Nếu ai đã thưởng thức Canh Ám làng Lam thì đi xa luôn nhớ; nếu ai chưa được thưởng thức nếu có điều kiện về thăm quê tôi, tôi và mọi người đều sẵn sàng chiêu đãi món ngon này./.

Nguồn: my.opera.com/duongdangqt/blog
READ MORE - NGUYỄN ĐĂNG DƯƠNG - CANH ÁM LÀNG LAM

Friday, July 30, 2010

LÀNG TÔI LÀNG CHẮT CHẮT - Đinh Thanh Hải

Ảnh Lê Đức Dục


Con Chắt Chắt là họ hàng với Ngao, Hến ... nhưng nó nhỏ hơn con Hến một tý, con Chắt Chắt sống chủ yếu ở những vùng nước lợ. Đất bùn phù sa cộng với cát là nơi sinh sống của Chắt Chắt. Không biết từ bao giờ mỗi khi nhắc đến làng tôi họ đều ví von là làng Chắt Chắt. Quê tôi là một ngôi làng nằm dọc theo con sông Thạch Hãn, làng An Giạ xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Nếu ở Sài Gòn ta nói con Chắt Chắt thì chắc chắn không ai biết là con gì? Vì con Chắt Chắt đặc biệt chỉ có người quê Quảng Trị chúng tôi mới gọi như vậy? Nhiều khi tôi đưa cho bạn bè ăn bát canh Chắt Chắt, họ nói sao con Hến này nó ngọt vậy? Ở Huế người ta có món Cơm Hến (nhiều người cứ nghĩ con Hến là con Chắt Chắt) Thực chất nó là 2 con khác nhau.





Để bắt con Chắt Chắt người ta thường dùng một dụng cụ tự tạo là cây Cào và một con thuyền tre. Đi dọc theo bờ sông và cào, có chỗ cào nước sâu ngang đầu gối, có nơi phải lặn một hơi sâu mới cào được. Người làng tôi hay nói câu " Nghề cào Chắt Chắt ni là nghề Ăn Tới, Mần Lui". Bà con phải cầm cây Cào và đi thụt lùi, cho chắt chắt vào cây cào. Ngay khúc sông làng tôi, con Chắt Chắt sinh sôi và phát triển rất nhanh, bà con cứ cào hoài mà không cạn kiệt. Làng tôi cung cấp con Chắt Chắt với khối lượng khá lớn cho Đông Hà và các làng lân cận: làng Gia Độ, Đồng Giám, An Lợi, Trung Yên, Thanh Liêm ...



Bà con sau những ngày làm ruộng, rãnh rổi lại ra sông làm thêm nghề cào Chắt Chắt kiếm thêm cái ăn cái mặc. Sáng sớm, chúng ta đã thấy bà con đi cào Chắt Chắt, đứng trên bờ nhìn ra sông thấy bà con ngụp lặn để cào. Khi cào đầy thuyền bà con lại đem về nhà ngồi sàng lọc, nhặt những viên đá nhỏ ra, rồi lấy Chắt Chắt sạch ngâm với nước. Sáng ra thì bà con lại đem lên Chợ Đông Hà hay chợ Đồng Giám bán. Những buổi sáng sớm, chồng và con trai thì ra sông ngụp lặn cào Chắt Chắt, còn các mạ, các mệ hay các O thì đi lên chợ bán. Những gánh Chắt Chắt đè nặng trên đôi vai, chạy bộ một quãng đường dài mới tới chợ. Trên đôi quang gánh đó có biết bao nhiêu người con đã học hành nên người, thành ông này bà kia.





Quê tôi, một vùng quê với thời tiết rất khắc nghiệt, vào mùa hè oi bức với những cơn gió Lào thổi, mang theo cái nóng, cái cháy ... Bà con dân làng phải tìm ra những cái món ăn thức uống cho giảm đi cái khô nóng đó. Trong những món ăn giúp cho ta thoải mái nhất thì phải nhắc đến món canh Chắt Chắt. Để nấu được một nồi canh cho cả nhà ăn thì phải mua tới 6 hay 7 lon Chắt Chắt. Bà con đi chợ họ bán bằng lon (Lon sửa ông Thọ mài đi một phía). Muốn có một nồi canh thật ngon thì phải đi chợ từ sớm, chọn mua những mớ Chắt Chắt tươi. Đem về nhà ngâm với nước, cho Chắt Chắt nhả bùn non ra, ngâm khoảng 2 giờ đồng hồ thì đem rửa lại bằng nước giếng, rồi đem lên bếp nấu. Nước sôi thì lấy đũa khuấy liên tục cho Chắt Chắt mở cái vỏ mỏng ra (lửa phải đều không làm cho nước quá sôi hay quá nguội, con Chắt Chắt sẻ ngậm lại). Sau đó đem đi đãi vỏ lấy mặt (xác Chắt Chắt), rồi xào qua với dầu phi hành tỏi, cho thấm đều với gia vị (ngày xưa bà con dùng tóp mỡ heo). Tiếp đến, đổ nước lên nồi xào thêm mắm muối, nhớ cho Gừng vào để khử mùi tanh của bùn đất. Khi nước xôi là cho rau muống thái nhỏ vào. Nếu đúng bài của nó thì phải có thêm bắp rang, bắp sau khi thu hoạch về phơi khô, bà con lấy cát để rang bắp, những hạt bắp khô gặp cát nóng cứ nổ lốp bốp trên nồi. Bên cạnh đó đâm một chén muối ớt, những hạt muối sống với trái ớt tươi + Gừng, đâm thật cay. Cái canh Chắt Chắt là vị mát lạnh thêm muối ớt và Gừng vào, thứ nhất cho hợp khẩu vị mặn nhạt của từng người, thứ 2 giúp ta không lo bụng kêu khóc. Bên cạnh rau muống, Chắt Chắt còn nấu với Khế chua hay trái bầu ... để thay đổi khẩu vị. Cái nước luộc Chắt Chắt thật là ngọt, lúc nấu không cần phải cho gia vị nhiều, vì cái chất ngọt trong con Chắt Chắt ra đã đủ. Mà nếu cho quá nhiều gia vị khác vào thì mất đi cái chất, cái hương vị của con Chắt Chắt.

Cả dòng sông Thạch Hãn ở đâu cũng có con Chắt Chắt, nhưng riêng khúc sông ở làng tôi Chắt Chắt mới ngọt, mới ngon. Thế nên bà con các làng đặt cho làng tôi cái tên là làng Chắt Chắt. Ở quê người ta hay ví von các món ăn, hay các ngành nghề thành cái tên. Như làng Thanh Liêm là làng Mắm Còng ...

Dọc theo con sông làng tôi, ta thấy bên những hàng tre chắn gió có những cụm vỏ Chắt Chắt, đó là cái sau cùng của bát canh ngon ngọt. Có nơi người ta thu gom vỏ Chắt Chắt để nung Vôi. Nung Vôi để dùng ăn với Trầu Cau, hay quét tường nhà.

Trong những bữa ăn của người dân quê Quảng Trị, ta luôn thấy món canh Chắt Chắt. Mỗi khi đi xa, không người con nào lại không nhớ cái món ăn đơn sơ mà nhiều tình cảm đó. Nó như gắn với cuộc sống của từng con người, cái cơ cực, cái vất vả đi cùng trên chặng đường xưa. Giờ đây con cháu làng quê có người đã bôn ba đi tìm nơi khác lập nghiệp. Nhưng mỗi khi nhớ về quê họ lại nhớ cái món ăn mà mạ ngày xưa thường hay nấu. Chan bát canh đầy ngọt bùi sớt chia bao khó nhọc đắng cay. Bát canh như những lời mạ nhắn nhũ: Ăn đi con cho có sức mà lớn mà khôn, rồi học hành sau này mong khỏi cực ...

Mỗi lần về quê, bà con hỏi thích ăn món gì? Tôi không trả lời mà tự lấy xe chạy đến nhà có người Cào Chắt Chắt. Thấy còn một gốc bao cát gai, tôi mua luôn, mà đâu chỉ hơn mười mấy ngàn đồng, thế mới thấy sự cơ cực cào Chắt Chắt, mà bán thì được mấy đồng tiền. Lúc mua về ai cũng cười tôi: Mua về Nung Vôi xây nhà à? mua gì nhiều rứa mi ... Tôi nói lâu lâu về ăn cái cho đã mà. Ăn thì ngon thiệt, nhưng mà cái công nấu lên một nồi mà ăn thì thật khổ.

Chắt Chắt còn làm thêm món xào với hành tây, rồi lấy bánh tráng xúc ăn. Cái món này mà làm món nhấm thì không có gì bằng. Bà con ngồi quây quần, một dĩa Chắt Chắt xào + mấy cái bánh tráng + 1 chai rượu là thành một cuộc vui rồi. Đến đêm ngà ngà men say, lại đem Chắt Chắt đi đãi rồi nấu với cháo gạo ăn. Ôi thật đậm đà cái hương vị Quê hương.
Ngày nay đôi khi cuộc sống nhanh hơn, vội hơn, bà con ở thành thị họ thường mua con Chắt Chắt đã đãi thành xác về ăn. Như vậy thì bát canh sẻ mất đi cái ngon rất nhiều. Mình phải tự đãi lúc còn tươi, thì mới ngon và ngọt. Đôi khi tôi hay nói với người quen, mình ăn nhớ hoài là do: Mạ ngồi đãi, mồ hồi mạ nhỏ xuống càng làm canh ngọt hơn đó ...
Có những bà con đi xa, trở về thăm quê, mới cầm bát canh húp 1 cái, con mắt đã nhoè đi vì nước mắt. Nước mắt nhớ về người mệ, người mạ tảo tần năm xưa, nhớ đến cái vị ngọt mà bát canh mạ nấu cho đàn con ăn ...

Trong cuộc đời có những món Sơn Hào Hải Vị, có thể là những món ăn đắt tiền. Nhưng hãy thử húp một bát canh Chắt Chắt, thì không gì tả được, nó làm lòng mình thật là mát, bao nhiêu cái mệt nhọc cũng tự nhiên tan biến.

ĐINH THANH HẢI, KTS
Sài Gòn 21-12-2009
READ MORE - LÀNG TÔI LÀNG CHẮT CHẮT - Đinh Thanh Hải

Friday, July 23, 2010

LÊ DIỄN - NGÔI NHÀ TRÀN ĐẦY THƯ PHÁP

Tư gia của nhà thư pháp Hoàng Tấn Trung. Ảnh NKP



Ngôi nhà của nhà thư pháp Hoàng Tấn Trung nằm trên đường vào Cổ Thành Quảng Trị. Bạn bè thường lui tới viếng thăm, và đặc biệt vào ngày xuân, khách phương xa đến xin chữ tấp nập làm chủ nhân hết sức bận rộn. Dưới cội mai vàng sắc xuân lồng lộng, anh ngồi múa máy chữ nghĩa như bóng dáng ông đồ xưa.


Lâu nay Hoàng Tấn Trung được biết đến như một nhà thư pháp nổi tiếng ở Quảng Trị. Anh đã có vài cuộc triển lãm ở quê nhà. Tác phẩm của anh được treo tại các nhà hàng cà phê lịch sự ở thành phố Đông Hà và thị xã Quảng Trị. Anh rành chữ Hán, thông thuộc cổ thi lẫn thi ca hiện đại. Anh cũng là người làm thơ chuyên nghiệp. Vì thế, thư pháp của anh, ngoài cái tài hoa bay bỗng của đường nét, bố cục để con chữ sống động, nghệ thuật hơn, vẫn bàng bạc đâu đây nỗi lòng u uẩn của một thi nhân, kiểu: Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ, rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà…


Anh viết thư pháp chỉ để tặng bạn bè trong Nam ngoài Bắc chứ không màng đến chuyện bán mua, mà có bán cũng hiếm người mua ở cái đất gió Lào cát trắng còn tang thương ngẫu lục này. Đó là một cuộc chơi tự bày ra mà lưu linh lạc địa với đời thôi, nói theo cách của anh, đúng tạng của một người ham chơi, thì viết thư pháp cũng để chơi, để sống cho thỏa chí bình sinh.

Anh em văn nghệ mừng cho anh vì cách đây không lâu anh đã dựng cho mình một ngôi nhà rường ba gian hai chái với sân vườn thoáng đãng đủ sức thỏa chí tang bồng giữa không gian nghệ thuật của riêng mình. Ngay ở gian giữa, trước ban thờ ông bà trang nghiêm, anh bày biện những kỷ vật, tặng phẩm, nhất là những bộ ấm chén cổ bằng sứ anh sưu tập được lâu nay trên bộ sập gụ óng ánh màu gỗ mật làm tăng thêm nét u tịch cổ xưa giữa ngôi nhà rường…

Vườn cây cảnh cũng rất phong phú, đa dạng bởi các loại lan rừng được chăm sóc cẩn thận nên quanh năm hoa nở ngát bên thềm. Trước sân là vạn tuế, lộc vừng, mai xuân thi nhau khoe sắc mỗi độ xuân về, ẩn đằng sau là bức bình phong chữ PHÚC như để che chắn bớt những cơn gió chướng từ cuộc đời nhiêu khê thổi lại. Ngôi nhà cũng là nơi để chủ nhân trưng bày tác phẩm của mình. Những bức thư pháp được chắt lọc từ gan ruột, tựa như ký thác tâm sự. chí khí của mình. Mạnh mẽ hào khí ngất trời bên cạnh sự thâm trầm hiu quạnh đậm chất suy tư của một người đã trải nghiệm đời qua cái tuổi tri thiên mệnh.

Hoàng Tấn Trung đã dựng cho mình một nơi chốn đi về tĩnh lặng để sống và để chiêm nghiệm những dâu bể cuộc đời. Ai có ngược xuôi qua vùng đất Thành Cổ xin hãy dừng chân ghé thăm không gian sống của nhà thư pháp, người đã suốt đời sống và làm việc nơi mãnh đất này.
READ MORE - LÊ DIỄN - NGÔI NHÀ TRÀN ĐẦY THƯ PHÁP

Monday, July 12, 2010

NGUYỄN NGỌC HƯNG -Một lần ru ngoại


MỘT LẦN RU NGOẠI

Thơ : Nguyễn Ngọc Hưng
Lời bình: Võ Thị Như Mai

Hôm nay là ngày đầu tiên tôi được nghỉ giữa kỳ. Kỳ nghỉ hai tuần này tôi sẽ chỉ quanh quẩn trong nhà, ngoài sân, ra sau vườn cho cá ăn, tưới nước, dọn dẹp nhà cửa, tìm vài công thức nấu ăn và thực hiện vài món ngon cho gia đình, dẫn con đi chơi và đọc sách, hẹn chồng đi ăn trưa và nhất định cả nhà sẽ cùng đi xem bộ phim Toy Story 3 vào một buổi chiều mưa gió nào đó (trời mưa và lạnh mà ngồi trong rạp chiếu phim màn ảnh rộng cũng là một cái thú).

Sáng nay lướt net, bất chợt đọc được một bài thơ lục bát rất nhẹ nhàng và đầy những hình ảnh thân thương của tâm hồn con người và quê hương Việt Nam , “Một lần ru ngoại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng, lòng tôi không khỏi bồi hồi. Tình cờ đây cũng là bài thơ đạt giải tư trong cuộc thi sáng tác thơ lục bát “Ngàn Năm Thương Nhớ” vừa được trao giải cách đây mấy ngày.

“Một lần ru ngoại” là một bài thơ khá dài với 28 câu liền mạch từ đầu đến cuối không phân khổ, có nhịp điệu 2/2 êm đềm và trữ tình. Toàn bài có một dấu lặng (…), không có dấu chấm, dấu phẩy nhưng mỗi dòng là một câu với ý tứ sâu sắc và hoàn chỉnh tạo nên nhịp tâm tưởng liền mạch rất đặc trưng. Ngày xưa tôi thường ít thích đọc thơ lục bát cũng như ít thích nghe những bài tango vì có lẽ do nhịp điệu đều đặn chăng? Hay do thời điểm tôi lớn lên, các thi nhân hiện đại đã bắt đầu viết nhiều thể thơ tự do, phóng khoáng, tân kỳ về cả nội dung, hình thức và kỹ thuật? Tôi cũng không biết nữa. Sau này khi bắt đầu sống xa nhà, tôi yêu lục bát hơn và kể từ khi xa quê, mỗi khi đọc những câu thơ lục bát giản dị, nền nã, tôi lại càng thấm thía nỗi lòng của một người xa xứ được thì thầm ngâm nga câu thơ của những tác giả sống trong lòng quê hương, chuyên chở tâm tình và tư tưởng của mình qua các bài thơ lục bát.

Bài thơ của tác giả tạo cho tôi một ấn tượng khá mạnh do từng từ, từng ý thơ dường như nói hộ lòng tôi vậy. Kỷ niệm đua nhau kéo về. Hàng cau ngoại trồng thân dài thẳng tắp trong một khu vườn đầy hoa trái, niềm vui lao động cần mẫn quanh năm bươn chải cũng đồng hành với thời gian làm hao gầy đi sức lực con người, đồng hành với các nếp nhăn, với “lưng còng”, và với nụ cười móm mém đầy trìu mến. Nhớ lắm ngoại tôi hiền từ nhưng thẳng tính và minh mẫn, nhớ lắm ngoại tôi cơ cực dặm trường suốt một đời, vất vả một mình nuôi các con. Tôi không có cái may mắn được gần ngoại như những người em họ của mình, nhưng mỗi lần gặp ngoại tôi đều cảm thấy ngoại rất gần gũi, dễ chịu và thân thương để rồi sau những cuộc gặp ngắn ngủi, trở về nhà lòng quay quắt nhớ.

“Lâu lâu nhớ ngoại con về
Ba bên gió thổi bốn bề nắng vương
Mắt nhìn me dốp ổi ương
Nhìn cau mọc thẳng mà thương lưng còng”

Hình ảnh ngoại của tôi cũng y như “ngoại” trong bài thơ của Nguyễn Ngọc Hưng. Theo như lời kể của mẹ, thì ngoại tôi đã lận đận từ thuở nảo thuở nao, cũng “lắng trong gạn ngoài”, “chạy từng hạt muối củ khoai”, cũng tất tả hết ra Trung rồi lại vào Nam tìm kế sinh nhai, hết lo cho từng người con rồi đến xoay vần bên đàn cháu. Ông ngoại bị bệnh mất sớm, ngoại tần tảo nuôi mẹ và dì, rồi ông ngoại hai xuất hiện trong đời ngoại chẳng được bao lâu, ngoại chưa kịp vui với niềm vui của một người vợ, có thêm ba cậu con trai năm một nối tiếp nhau ra đời, thì ông ngoại hai qua đời. Rồi mẹ và dì được một người bà con nhận nuôi, ngoại trở vào nam lập nghiệp cùng ba cậu con trai những năm dài sau đó.

“Từ ông như nước xuôi dòng
Một mình ngoại phải lắng trong gạn ngoài
Chạy từng hạt muối củ khoai
Xuống đông ngăn bão lên đoài cản giông
Hết lo con gái ế chồng
Lại đàn cháu dại lông bông suốt ngày
Mỏi mòn như chiếc cối xay
Ngoại quay theo những vòng quay cuộc đời”

Các cậu lần lượt lớn lên, lấy vợ, sinh con. cậu Cả giỏi nhất nhà, một tay gây dựng sản nghiệp, cuộc sống bắt đầu dễ chịu hơn cho đến một chiều mẹ nhận điện thoại của ngoại, tiếng được tiếng mất, rằng cậu lớn đã qua đời do bị lật xe bò. Cậu Út thì hơi lãng đãng, lâu lâu ngoại và vợ con của cậu phải đăng báo hoặc lặn lội đến một xứ xa ngái nào đó để tìm cậu về, để rồi trong một lần kiếm tìm như thế, nước mắt những người đàn bà lại xối xả tuôn khi họ tìm thấy xác cậu Út bên đường do tai nạn giao thông. Ngoại lặng lẽ hơn bên hai nàng dâu hiền và bầy cháu, vẫn trồng trọt, chăn nuôi, vẫn hiền từ, vất vả và lưng không còn thẳng, những bước đi vì thế mà kém phần nhanh nhẹn. Cậu Ba ở cạnh mẹ tôi, thỉnh thoảng gia đình tôi và gia đình cậu Ba rủ nhau về thăm ngoại, các mợ và các em.

“Rộng dài tấm áo thương yêu
Dù khi tơi tả giữ điều thơm tho
Quẩn quanh đồng vạc bãi cò
Mà “xương thịt” ngoại gởi cho trăm miền
Vì yêu tổ quốc mẹ hiền
Tuổi xanh các cậu hồn nhiên góp bồi”

Nhớ lần đầu tiên gặp ngoại, tôi sà vào lòng bà với cảm giác như đang ở bên một người mẹ thứ hai. Mẹ tôi giống bà lắm, từ nụ cười hiền lành đến đôi mắt ấm áp, từ giọng nói miền Trung ngọt ngào đến vóc dáng thâm thấp, tròn tròn. Những năm dạy ở Châu Đức, thỉnh thoảng tôi rủ vài đồng nghiệp chạy xe qua thăm ngoại, lần nào trước khi về lại trường, ngoại cũng cột vào xe tôi không bịch tôm khô thì cũng quả mướp, không bịch mận thì cũng quả mít.

“Còn không sợi tóc câu chuồn
Quả na cấp củm ngoại luồn tay con
Chùm mận chín trái xoài non
Để dành ai nữa héo hon sớm chiều”

Ngoại tôi có cả thảy bảy chị em, lúc tôi còn học cấp hai, chỉ anh và chị đầu ngoại đã qua đời ở tuổi trên tám mươi, năm người còn lại thỉnh thoảng được con cháu tạo điều kiện để rồi tứ phương quay về một nơi. Chị em ai cũng gần tám mươi nắm tay nhau, ôm nhau mừng mừng tủi tủi, cười vang cả nhà mà nước mắt của niềm vui cứ chảy giọt giọt trên má.

Ngoại rất tự hào về người em Út của mình. Mà cũng phải, ông là một Phật Tử chuẩn mực, điềm đạm, huynh trưởng cấp Dũng kiêm nhiệm trưởng ban hướng dẫn trung ương GĐPT VN từ nhiều năm trước đến nay. Còn người em kế của ngoại, mụ Thảo, cũng được ngoại nhắc đến luôn, ngoại luôn xuýt xoa về mối tình thiên niên kỷ giữa mụ Thảo và người đàn ông của mình. Từ thuở mới kết hôn cho đến giờ phút này, sáng sáng họ luôn nắm tay đi dạo bờ sông, lúc nào cũng đầu gối tay ấp, luôn nhìn nhau bằng ánh mắt trìu mến, xưng “anh anh em em” ngọt xớt, và luôn bên nhau như hình với bóng. Còn mụ Dung quả thật tôi không còn nhớ, hình như cũng đã mất cách đây vài năm.

Ngày tôi mới kết hôn, trên đường từ Sài Gòn về Đà Lạt, ông Châu và vợ chồng tôi quyết định ghé sang thăm ngoại. Ngoại vui vì gặp em trai Út, vui vì gặp tôi và cháu rể tóc nâu đang ngồi yên ắng một góc khuất và quan sát. Ngoại ghé vào tai tôi thì thầm: “Răng hắn ít ỏi rứa con hè, tau tưởng hắn ít ra cũng xì lô xì la dăm câu ba sợi để tau nghe tiếng Tây hắn ra răng”. Tôi cười ôm ngoại vào lòng, cảm nhận trong vòng tay tôi, ngoại gầy đi nhiều, nhịp tim ngoại hoà vào nhịp tim tôi, đập rộn ràng. Tự dưng tôi thấy buồn, giá mà có thể được một mình ở bên ngoại lâu hơn. Những ngày cuối cùng ngoại lên ở với cậu Ba ở Đà Lạt, gần nhà tôi, như thể muốn bù đắp nỗi đau chia xa từ bấy lâu nay. Để rồi sau này tôi nhận ra, lần cuối cùng tôi được gặp ngoại đó là chuyến ghé thăm ngắn ngủi kia, cái lần ngoại dúi vào tay ông xã tôi bịch chả ram dòn tan vừa mới chiên xong còn nóng hổi.

“Con về nhặt lá trầu rơi
Vàng lên nỗi nhớ bao lời hát ru
Rưng rưng từ phía xa mù
Như thầm vọng lại tiếng tu hú buồn”

Quay trở lại với toàn bài thơ của Nguyễn Ngọc Hưng, không biết những độc giả khác thì sao chứ với tôi, có cảm giác như tác giả lấy tâm tư của tôi mà dệt nên vần điệu của bài thơ vậy. Phải chăng ngoại trong thơ anh là đại diện cho hình ảnh chung của những người phụ nữ Việt Nam thân thương đậm tính cách, tâm linh, phẩm chất trong sáng và cao đẹp vô cùng. Ta tìm thấy trong bài thơ của anh vẻ đẹp giản dị, mộc mạc và lam lũ của con người gắn bó tình nghĩa với làng quê, làm nên giá trị đặc sắc và giàu truyền thống văn hoá qua những vần thơ lục bát nhẹ nhàng mà mênh mông, thuần túy mà bình dị. Bài thơ là sự kết hợp khá tài hoa giữa nét duyên dáng của vần lục bát truyền thống với vẻ trữ tình của ý và lời thơ, là sự giao hoà giữa nghệ thuật văn hoá làng thôn với tiết tấu âm nhạc toát ra từ cảnh vật, đời sống dân dã của một tâm hồn có cảm xúc trong sáng và giác quan tinh tế.

Xin được cảm ơn tác giả về một bài thơ hay và xúc động. Xin cho con được mượn lời thơ dịu dàng này như một dấu lặng để được ru ngoại vào giấc ngủ ngàn thu, và, bỗng dưng con nhớ ngoại lắm. Rồi con sẽ dạy cho con trai mình tình yêu thương nguồn cội, con sẽ trở về thăm mẹ con nhiều hơn ngoại ạ, để con trai con còn được nhiều lần sà vào lòng bà ngoại của nó, để được hít hà hơi ấm đầy yêu thương của bà ngoại và thốt lên rằng “cháu thương bà lắm cơ”.

“Ạ ời… ngoại ngủ đi thôi
Vườn cau nở trắng hoa rồi gió ru!”

VTNM 6/7/2010



MỘT LẦN RU NGOẠI
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hưng

Lâu lâu nhớ ngoại con về
Ba bên gió thổi bốn bề nắng vương
Mắt nhìn me dốp ổi ương
Nhìn cau mọc thẳng mà thương lưng còng
Từ ông như nước xuôi dòng
Một mình ngoại phải lắng trong gạn ngoài
Chạy từng hạt muối củ khoai
Xuống đông ngăn bão lên đoài cản giông
Hết lo con gái ế chồng
Lại đàn cháu dại lông bông suốt ngày
Mỏi mòn như chiếc cối xay
Ngoại quay theo những vòng quay cuộc đời
Con về nhặt lá trầu rơi
Vàng lên nỗi nhớ bao lời hát ru
Rưng rưng từ phía xa mù
Như thầm vọng lại tiếng tu hú buồn
Còn không sợi tóc câu chuồn
Quả na cấp củm ngoại luồn tay con
Chùm mận chín trái xoài non
Để dành ai nữa héo hon sớm chiều
Rộng dài tấm áo thương yêu
Dù khi tơi tả giữ điều thơm tho
Quẩn quanh đồng vạc bãi cò
Mà “xương thịt” ngoại gởi cho trăm miền
Vì yêu tổ quốc mẹ hiền
Tuổi xanh các cậu hồn nhiên góp bồi
Ạ ời… ngoại ngủ đi thôi
Vườn cau nở trắng hoa rồi gió ru!
.
READ MORE - NGUYỄN NGỌC HƯNG -Một lần ru ngoại

Thursday, July 8, 2010

Người Quảng Trị ăn...ớt - PHẠM XUÂN HÙNG




Cũng liều cắn ớt nhai gừng
Chua cay mặn chát ta đừng quên nhau
(Ca dao)



Folklore hiện đại kể rằng ở một đô thị lớn nhất nhì trong nước xảy ra vụ tai nạn giao thông khủng khiếp. Người bị tai nạn không có giấy tờ tùy thân nên không xác định được danh tính. Do vậy trước khi khâm liệm, chôn cất người ta mời pháp y giám định để hòng tìm ra manh mối. Bác sĩ pháp y sau khi mổ và xem xét nội tạng đã khẳng định như đinh đóng cột rằng người bị nạn quê ở Quảng Trị bởi biên bản ghi rõ: Ruột của nạn nhân chỉ toàn là ớt.

Chuyện khác nữa kể rằng: Một chị quê ở Quảng Trị đưa con nhỏ ra theo học một ngành gì đó ở thủ đô. Trường mẫu giáo đạt chuẩn quốc gia nhưng các cô giáo chẳng làm sao dỗ được đứa bé ăn uống mặc dù cháu đang ở độ tuổi ăn dặm, bú dặm. Đến khi hỏi phụ huynh thì chị quê Quảng Trị điềm nhiên bảo: Nhờ các cô khi pha sữa hoặc khuấy bột cho nhiều nhiều ớt vào cháu mới ăn…

Đó là hai trong số rất nhiều những câu chuyện dân gian hài hước mà nội dung đều nói rằng người Quảng Trị ăn cay, cay đến mức… khủng khiếp. Tại sao lại ăn cay, ăn cay có nghĩa là ăn nhiều ớt, vậy thì liệu có hình thành một tính cách ớt của người Quảng Trị không? Tôi nghĩ đây cũng là một vấn đề thú vị.

Thứ nhất là đức tính chịu khó. Theo tôi, tập ăn cay buổi đầu phải chịu khó, trẻ em muốn ăn cùng thức ăn người lớn chẳng dễ dàng, cũng phải năm lần bảy lượt toát mồ hôi, long óc mới nuốt được miếng ớt. Lâu dần tính chịu khó ngấm vô người trở thành phản ứng tự nhiên lúc nào không hay. Dĩ nhiên đã chịu khó thì sẽ tìm cách vượt khó, vượt khổ. Người Quảng Trị theo tôi có tính cách này.

Thứ hai là sống đơn giản, đạm bạc. Khi xưa nhà tôi nghèo, cả làng cũng vậy, nghèo lắm. Bữa ăn chẳng có gì ngoài mớ cá nhỏ bắt ở khe, trái khế trong vườn, đọt môn sau giếng. Nhưng bữa ăn nào cũng thấy ngon nhờ có ớt. Ớt như thứ dopinh kích thích người ta ăn xong bữa. Lâu dần thành nếp sống đơn giản, đạm bạc.

Thứ ba là giỏi nín nhịn và hay nổi nóng. Nghe có vẻ đối lập nhưng biện chứng. Ăn cay phải chịu khó, trên chịu khó là nín nhịn nhưng nhiều khi cay quá phải hít hà, phải nổi nóng. Từ nhỏ đã vậy lớn lên khắc thành tính cách.

Nhân loại từ khi có lửa, đã biết tìm cách chế biến, nấu nướng thức ăn. Ăn không chỉ để no mà còn để đưa dưỡng chất cần thiết vào cơ thể nên cùng với nguyên vật liệu chính người ta phải nêm nếm vào đó nhiều thứ. Hẳn nhiên, đầu tiên là muối. Cơ thể mà thiếu muối thì bải hoải, da dẻ bủng beo rồi phù thủng mà chết. Sau đó, người ta nhận ra rằng ăn không chỉ để no mà còn phải ăn ngon. Thế là sau muối người ta phải thêm vào thức ăn nhiều thứ tạo vị thơm, ngọt, chua, cay như đường, dấm, ớt, hồ tiêu…

Nghĩa là khi con người biết ăn ngon thì gia vị bắt đầu lên ngôi. Nhưng ớt có từ bao giờ và nguồn gốc từ đâu? Theo tài liệu mới nhất của một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế, trong đó có nhà khảo cổ học Scott Raymond của Canada sau khi phân tích hóa thạch tinh bột trên những mảnh đá dùng để đâm hạt ớt cổ nhất từ trước đến nay đã đi đến kết luận rằng các hạt ớt cổ nhất có niên đại đến…6.000 năm.

Và căn cứ vào địa điểm thu mẫu vật hóa thạch cùng những nghiên cứu liên quan, các nhà khoa học cho rằng, khác với điều người ta nhầm tưởng xưa nay là tổ tiển của các nền văn minh lớn ở vùng cao như người Inca, người Aztec là những người đầu tiên trồng ớt, bằng chứng cho thấy ngược lại, cây ớt trồng có nguồn gốc từ miền nhiệt đới và vùng thấp thuộc châu Mỹ La tinh.

Tôi cũng thành thật nói rằng không phải vì tôi là người Quảng Trị mà cho rằng tính cách ớt thuộc về người Quảng Trị. Mà thôi, chuyện cũng dông dài, xin được trải lòng với bạn đọc sau. Nhưng trước hết, xin được thưa rằng, cả nước ăn ớt, cả miền Trung ăn ớt chứ không riêng người Quảng Trị. Nhưng rõ ràng, người miền Trung ăn cay nhiều nhất và nổi tiếng ăn cay hơn cả. Người miền Trung cũng là cách nói chung chung chứ tình thực, theo tôi, hay ăn ớt nhất cũng chỉ có người Quảng Trị, người Huế và người Quảng Nam, nhưng cách ăn thì mỗi nơi mỗi khác.

Người xứ Quảng hay dùng loại ớt xanh, thơm nhưng ít cay. Người Quảng cũng không ăn ớt tràn lan, chỉ một vài món đặc sản như mỳ Quảng kèm theo trái ớt xanh, ớt xanh vài miếng thả vào nước chấm dùng cho món bánh tráng cuốn thịt heo... Người Huế thì ăn ớt không chỉ là gia vị mà còn là chất liệu để trang trí mang tính mỹ cảm. Vì là chất liệu trang trí nên cái sự ăn nặng về thị giác.

Tô bún bò Huế bên cạnh màu trắng nà nõn của sợi bún, lớp màu mỡ màng của nước dùng, những cọng hành, rau thơm xanh non còn phải có những lát ớt màu đỏ điểm xuyết. Hay như bánh bột lọc sau khi luộc xong người ta phi hành xóc đều cho lá hành thấm dầu bám vào từng chiếc bánh. Khi bày bánh ra dĩa, màu bánh trắng trong nhìn rõ nhân tôm màu đỏ, lá hành dính xung quanh thì nhất thiết phải có ớt xanh xắt lát rải lên làm mặt.

Nhìn cứ như tranh. Đại loại kiểu ăn của người Huế với nền văn hóa ẩm thực bậc cao là thế. Còn người Quảng Trị ăn ớt thì khác với người xứ Quảng và đất thần kinh. Người Quảng Trị cũng dùng ớt làm chất liệu bày biện món ăn nhưng không nặng về trình bày, ăn ớt thì nhất quyết phải lấy sự cay làm trọng!

Vâng, đã quan trọng cái sự cay thì ớt phải…cay. Muốn có ớt cay thì phải tìm giống ớt cay để trồng. Người nhà quê không như thành thị, đất đai trồng hái thì khỏi phải lo, về quan hệ thì xóm trên có một người đỏ mắt cả xóm dưới đều hay. Nên chi nhà nào có giống ớt ngon, thơm, cay bao giờ cũng chọn vài trái để già héo trên cây, đặng làm giống, đặng đem cho hàng xóm. Cây ớt và giống ớt cay vì thế mà được nhân bản khắp nơi, từ làng này sang làng khác.

Về khoa học, tôi nhớ đọc đâu đó tài liệu cho rằng người ta đã lập bảng chia độ cay của từng loại ớt, độ cay cũng tính như độ cồn trong bia rượu, độ đạm trong nước mắm. Nghĩa là độ càng cao thì ớt càng cay. Tôi cũng không rõ các giống ớt cay của Quảng Trị thì bao nhiêu độ nhưng quả thật là có nhiều loại ớt đạt đến độ cay…khủng khiếp.

Xét độ cay từ thấp lên cao thì nhóm cuối bảng có ớt sừng (giống ớt xanh), ớt sáp, ớt chìa vôi, ớt kiểng… Loại này thường chỉ dùng để bày biện hoặc gia giảm vào các món ăn cho trẻ để tập chúng ăn cay. Cay hơn một chút là giống ớt đỏ, ớt chỉ thiên. Nhóm này thường trực trong các món ăn và được trồng phổ biến ở vùng quê.

Thuộc hàng “top” thì phải kể đến hai loại đó là ớt mọi và ớt de. Ớt mọi là ớt được đồng bào dân tộc vùng cao trồng sau đó di thực về vùng xuôi, loại ớt này cay đáo để, trái nhỏ bằng đầu đũa nhưng chỉ nửa trái cũng đủ làm bát nước mắm cay xè. Ớt de còn độc đáo hơn, trái chỉ lớn hơn hạt lúa một chút, nhưng cay thì tàn khốc.

Người không quen ăn cay thấy trái nhỏ tưởng bở ăn liền một miếng thì sau đó nhịn đói luôn vì mồm miệng bỏng rát. Giống ớt trồng qua mấy vụ thì thường thoái hóa, ít cay hơn. Để kiếm hạt giống người ta phải nhờ vào chim, nhất là loài vẹt. Những loài chim ăn ớt thường rất khôn, chỉ chọn loại ớt cay và những trái ớt chín đạt đến độ cay nhất. Nhờ vậy, người ta tìm phân của những con chim ăn ớt sau đó về rửa, đãi sạch lấy hạt giống về trồng. Cũng nói thêm, loại ớt này ngày xưa được bộ đội Trường Sơn gọi là ớt đại đội vì cho rằng chỉ cần một trái là đủ cho một đại đội dùng bữa (nghĩa là người ta không cần cắn, mỗi người chỉ quẹt trái ớt ngang lưỡi thì đủ cay cho cả bữa ăn!).

Người Quảng Trị ăn ớt cay nhưng không chỉ ăn ớt sống theo kiểu nhai ngang mà còn chế biến nhiều loại thức ăn. Cay thường đi với mặn. Món kết hợp cay mặn đó là muối trắng giã với ớt, nước mắm xắt ớt thật nhiều và ruốc hấp trộn với ớt giã nhỏ. Cả ba loại trên vừa dễ chế biến, vừa hợp với gia cảnh thanh bần, ăn uống không cầu kỳ chỉ cần đưa cơm là được. Sang hơn một chút, trong các bữa ăn chính quy là cá kho ớt, thịt xào ớt. Cá kho ớt thì lượng ớt bỏ vào có khi bằng lượng cá.

Những loại cá kho ngon như cá biển (thu, ngừ, nục…) khi nấu người ta để nguyên hoặc bẻ đôi từng trái ớt thả vào. Kho càng lâu, vị thơm cay thấm vào cá, nước cá kho sánh lại quyện từng hạt ớt, nước này dùng để ăn cơm nóng hoặc bún thì quên cả trời đất. Đặc biệt trong các bữa ăn người ta rất quan tâm đến bát nước chấm.

Nước chấm dùng cho rau luộc, thịt luộc đều phải giã ớt tỏi thật nhiều, khi chấm da ớt và hạt ớt dính theo gắp rau, lát thịt mới gọi là đáo khẩu. Nhưng có lẽ trong các món ăn thì món mắm ớt mới thực sự độc nhất vô nhị. Ớt tươi sau thu hoạch đem rửa sạch phơi heo héo rồi xếp thành lớp trong vại giống như muối cà, giữa hai lớp ớt là một lớp muối mỏng.

Đậy kín lại cất vào xó bếp vài tháng sau đem ra là đã có món mắm ớt. Lúc này vị muối hút nước trong quả ớt tạo thành thứ tương ớt cay xé và mặn mòi. Còn quả ớt sau khi rút nước teo lại đưa lên răng cắn nghe giòn tan, rất đã.

Nói chung, mùa nào thức nấy, nhưng với người Quảng Trị các bữa ăn quanh năm đều phải có ớt. Mùa thu hoạch ớt đại trà hoặc nhà nào có trồng vài cây ớt chỉ thiên ra quả quanh năm thì đến bữa trên mâm chí ít cũng phải có nắm ớt không dưới mươi quả. Mùa đông trời lạnh, cây cối nghỉ ngơi đã có hũ mắm ớt để dành. Không có ớt tươi hay mắm ớt người ta dùng ớt khô nguyên trái hoặc ớt bột cho vào thức ăn. Người lớn ăn cay, trẻ em cũng ăn cay, đứa nào chưa ăn được thì cũng phải ăn cho quen dần không thôi nhịn đói.

Ăn ớt nhiều nên người Quảng Trị chỉ nhìn trái ớt dù là ớt xanh cũng biết ớt non hay ớt già, cay hay không cay. Ớt xanh non có màu xanh trong, ớt xanh già có màu xanh thẫm hơn, cuống ớt rụng bao xòe ra. Ớt non ngửi bên ngoài có mùi hăng của quả non, ớt già thì vị cay như chui ra khỏi vỏ xộc vào mũi.

Nói chuyện ớt đã nhiều bây giờ thì xin nói về tính cách ớt của người Quảng Trị. Tôi xin thử nêu mấy điểm trong tính cách của người Quảng Trị liên quan đến ớt.

Thứ nhất là đức tính chịu khó. Theo tôi, tập ăn cay buổi đầu phải chịu khó, trẻ em muốn ăn cùng thức ăn người lớn chẳng dễ dàng, cũng phải năm lần bảy lượt toát mồ hôi, long óc mới nuốt được miếng ớt. Lâu dần tính chịu khó ngấm vô người trở thành phản ứng tự nhiên lúc nào không hay. Dĩ nhiên đã chịu khó thì sẽ tìm cách vượt khó, vượt khổ. Người Quảng Trị theo tôi có tính cách này.

Thứ hai là sống đơn giản, đạm bạc. Khi xưa nhà tôi nghèo, cả làng cũng vậy, nghèo lắm. Bữa ăn chẳng có gì ngoài mớ cá nhỏ bắt ở khe, trái khế trong vườn, đọt môn sau giếng. Nhưng bữa ăn nào cũng thấy ngon nhờ có ớt. Ớt như thứ dopinh kích thích người ta ăn xong bữa. Lâu dần thành nếp sống đơn giản, đạm bạc.

Thứ ba là giỏi nín nhịn và hay nổi nóng. Nghe có vẻ đối lập nhưng biện chứng. Ăn cay phải chịu khó, trên chịu khó là nín nhịn nhưng nhiều khi cay quá phải hít hà, phải nổi nóng. Từ nhỏ đã vậy lớn lên khắc thành tính cách.

Thứ nữa, nhiều lắm, cả xấu lẫn tốt, chẳng hạn: thủy chung với bạn bè nhưng lại hay cà khịa, miệng nói tay làm nhưng hay nói trạng, chịu khó học hành, học giỏi nhưng cũng hay khoe chữ, cao ngạo… Tất cả nếu phân tích thấu đáo hẳn ít nhiều cũng liên quan đến ớt.

Viết đến đây nghĩ cũng hòm hòm về chuyện người Quảng Trị với ớt. Định nói thêm một câu kết luận rằng người Quảng Trị có tính cách…ớt, nhưng thôi. Nói dài, nói dai là nói dại. Với lại, kết luận như thế chắc có người xứ khác không đồng tình, bảo rằng tôi nói lấy được, nói trạng.

Biết làm sao được, cái nói lấy được, nói trạng của tôi cũng bởi tôi là người Quảng Trị. Một người Quảng Trị ăn ớt.

Phạm Xuân Hùng
READ MORE - Người Quảng Trị ăn...ớt - PHẠM XUÂN HÙNG

Sunday, June 6, 2010

VÕ QUÊ - HOÀNG HỮU TƯ: NGƯỜI ĐẤT QUẢNG THÀNH DANH







Nhiếp ảnh  gia HOÀNG HỮU TƯ



Hoàng Hữu Tư, sinh ngày 24.11.1942 tại An Đôn, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Thời niên thiếu ông học trường kháng chiến Phục Khê, Triệu Sơn. Từ năm 16 tuổi đã tham gia hoạt động bí mật, rải truyền đơn chống địch. Năm 1955, từ quê nhà Quảng Trị, ông vượt tuyến ra miền Bắc học trường cấp 2 Quảng Xương rồi cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa cho đến năm 1963 thì theo học trung cấp chuyên nghiệp công nghiệp. Ra trường năm 1966, Hoàng Hữu Tư được về công tác ở lâm trường Phong Dụ và lại được cơ quan cử đi học Đại học Lâm nghiệp khoa công nghiệp rừng ở Đông Triều, Quảng Ninh. Từ năm 1968, Hoàng Hữu Tư đã bước đầu tiếp cận với bộ môn nhiếp ảnh. Nghiệp vụ lâm trường cùng những sinh hoạt phong trào đã tạo điều kiện cho ông có dip cầm máy ảnh.

Trong một năm đi bộ đội từ 1972 đến 1973 ở Trung đoàn 119 đóng tại Ý Yên, Hà Nam, Hoàng Hữu Tư càng cảm nhận thêm về tình yêu quê hương, làng mạc, ruộng đồng trong thời kỳ chiến chống Mỹ. Với ông, những năm tháng trên đất Bắc đã để lại trong ông những dấu án khó quên. Khi lên sống ở khu Đại học Mỏ, Địa chất tại Bắc Thái, Hoàng Hữu Tư đã có dịp học hỏi thêm với bạn bè về nghệ thuật nhiếp ảnh, trong đó có một người cán bộ công tác ở Việt Nam thông tấn xã đã tận tinh giúp ông tham khảo các tư liệu về nghề ảnh, xem được nhiều bức ảnh thời sự có giá trị nghệ thuật từ chiến trường miền Nam gửi ra. Khi biết mình có thể thành thạo về loại hình nhiếp ảnh, Hoàng Hữu Tư bắt đầu hành nghề chụp ảnh để mưu sinh sau khi xuất ngũ cho đến năm 1979 thì vào định cư tại Huế.

Với Hoàng Hữu Tư, nếu Quảng Trị là nơi chôn nhau cắt rốn với một thời niên thiếu nhiều kỷ niệm kháng chiến không quên, thì cố đô Huế là mảnh đất giúp ông ưom mầm và trưởng thành trên lĩnh vực nghệ thuật nhiếp ảnh. Trong thời gian làm công tác chụp ảnh dịch vụ ở Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, Hoàng Hữu Tư đã cùng các đồng nghiệp Đặng Việt Hùng, Huỳnh Mẫn, Phạm Văn Tý, Lê Đình Liên, Phạm Bá Thịnh... chơi ảnh nghệ thuật. Thiên nhiên, cảnh quan, cuộc sống, con người Huế chính là những môi trường thuận lợi cho Hoàng Hữu Tư tác nghiệp. Ông thích chụp ảnh các chuyên đề về di tích văn hóa, kiến trúc, thiếu nữ, tuổi học đường... Vốn năng động, linh hoạt, lạc quan và luôn có niềm say mê sáng tạo nghệ thuật nên ông đã được nhiều người mẫu nhiệt thành, công tâm cộng tác trong những chuyến đi thực tế sáng tác ngắn hoặc dài ngày.

Là một hội viên Hội Mỹ thuật Thừa Thiên Huế, Hoàng Hữu Tư thường tích cực tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng, tập thể. Ông đã cố gắng thể hiện mình trong việc gửi ảnh nghệ thuật dự các cuộc triển lãm ở Huế, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Lạt... ớ khu vực, trung ương. Tác phẩm của Hoàng Hữu Tư cũng đã xuất hiện trên tập san Áo Trắng, Mực Tím, tạp chí Sông Hương, báo Sài Gòn Giải Phóng, báo Thừa Thiên Huế, Phụ Nữ Việt Nam...

Từ những cống hiến công sức, nỗ lực sáng tác nhiếp ảnh nghệ thuật, trong những năm qua, Hoàng Hữu Tư đã gặt hái những thành quả đáng trân trọng. Ông đã được Bộ Văn hóa Thông tin tặng Huy chương Vì Sự nghiệp Văn hóa Thông Tin vào năm ông nghỉ hưu (2004); Một số tác phẩm của ông đã đạt giải thưởng mà tiêu biểu là các bức ảnh nghệ thuật Sao đêm Phu Văn Lâu, giải Nhì cuộc thi ảnh nghệ thuật do tạp chí Sông Hương tổ chức (1999), tác phẩm Sao đêm Phu Văn Lâu còn được giải Ba của UBTQLHCHVHNT Việt Nam (1999); Đất nước trọn niềm vui giải Nhì của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam (2000); Đường vào di sản giải Ba cuộc thi ảnh nghệ thuật toàn quốc nhân dịp Festival Huế 2004; Mừng ngày độc lập, giải Nhì của tạp chí Ánh Sáng Đẹp thuộc Hội Nhiếp Ảnh TP. Hồ Chí Minh (2005)...

Hiện nay, tuy tuổi đã tương đối cao, nhưng Hoàng Hữu Tư vẫn còn hăng say, xông xáo trong những cuộc hành trình sáng tác cùng anh chị em đồng nghiệp. Ông cũng đã rất tâm huyết góp phần đào tạo cho hai người con trai tiếp truyền nghề ảnh. Hy vọng sau một thời gian mưu sinh bằng dịch vụ chụp ảnh, họ cũng sẽ theo gương thân sinh đến với sân chơi nghệ thuật, tạo nên diện mạo một gia đình chụp ảnh truyền thống giữa vùng đất cố đô. Hoàng Hữu Tư cho biết: " Phong trào chơi ảnh nghệ thuật cần phải nhân rộng trong đời sống xã hội. Với tôi, những tác phẩm ảnh nghệ thuật là những thông điệp gửi tới tương lai vì chúng đã ghi nhận được những khoảnh khắc đáng quý về sự đổi mới, đi lên của đất nước. Gần đây, nhờ có những cuộc giao lưu với giới nghệ sĩ nhiếp ảnh của nhiều vùng miền, xứ sở khác nhau mà tôi đã học hỏi được nhiều điều đáng quý về nghề; giúp tôi có cách nhìn khác hơn, mới hơn về những đổi thay của đất nước, trong đó có Quảng Trị quê hương yêu dấu của tôi. Dù đã lớn tuổi nhưng tôi vẫn còn phải cố gắng học tập, trau dồi trong nghệ thuật. Ảnh nghệ thuật là một thế giới muôn hồng nghìn tía. Muốn tiếp cận vẽ đẹp đó tôi cần phải vượt qua những thử thách, gian khổ của nghề.."


VÕ QUÊ

READ MORE - VÕ QUÊ - HOÀNG HỮU TƯ: NGƯỜI ĐẤT QUẢNG THÀNH DANH

Saturday, June 5, 2010

LẦU HOÀNG HẠC - Linh Đàn dịch



HOÀNG HẠC LÂU DỊ BẢN
Dĩ thừa hoàng hạc tích nhân hưu
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất phi vô tái tái
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Giang thượng Yên Ba sầu mộ vũ
Bất tri hà xứ bất tri thu

Thôi Hạo (trích trong Thượng Thi Tập Ngâm)


Bài dịch:
LẦU HOÀNG HẠC
Lầu không Hoàng Hạc hãy còn đây
Cưỡi hạc người xưa khuất chốn nầy
Một thoáng hạc vàng xa mãi mãi
Ngàn năm mây trắng vẫn bay bay
Hán Dương thuở thuở cây dòng lặng
Anh Vũ mang mang bãi cỏ dày
Khói sóng sông hôm mưa não nuột
Quê người thu đến vẫn không hay

Linh Đàn dịch
READ MORE - LẦU HOÀNG HẠC - Linh Đàn dịch

Thursday, May 27, 2010

KHÔNG ANH - chùm thơ Trương Thị Hằng Nga




Trương Thị Hằng Nga
Giáo viên tiếng Anh

Trường tiểu học Hải Dương, Hải Lăng, Quảng Trị


KHÔNG ANH

Không anh gió cũng dỗi hờn
Nhìn đâu cũng thấy một vườn tương tư.
Không anh trời đất lắc lư
Cứ như vũ trụ chao từ câu kinh.
Không anh căn phòng lặng thinh
Đất trời cáu tính giật mình giăng mây.
Bởi yêu làm dạ rứt ray
Vì say mới gặp một ngày bão giông.
Bây chừ em hết ngó trông
Không mong. Không ngóng. Không hòng duyên tơ.
Tối ngày mê mẩn làm thơ
Cứ coi như nợ giấc mơ thiên đàng.
Không anh khuyết cả trăng rằm
Đến con chim vẹt ngậm tăm chẳng rằng.
Mặt trời ủ rũ ngủ đông
Ngôi sao le lói tầng không lu mờ.
Không anh lỗi hẹn vần thơ
Câu từ như nhện giăng tơ thẫn thờ.
Không anh mây chợt lững lờ
Mưa như chàng ngốc ngu ngơ trước đời.
Trái ngang, gian dối người ơi
Thuyền duyên lỡ chuyến đò xuôi mất rồi .
Đành gạt nước mắt mà thôi
Chòng chành con sóng lướt trôi kiếp người.
Không anh, dùng dằng cuộc chơi
Chẳng vui mà vẫn nụ cười méo môi.
Không anh, chỉ mình em thôi
Tội cho một kiếp... mồ côi tình sầu.



NẾU MỘT MAI ...

Một mai em bước theo chồng
Bỏ anh ở lại trống không ngỡ ngàng
Giả từ em phải sang ngang
Mình anh đơn lẻ nhỡ nhàng tình xưa.
Em về nước mắt như mưa
Khóc cho tình lỡ người xưa đợi chờ
Nhớ chàng em gởi vào thơ
Theo chồng em để giấc mơ lỡ làng.
Từ mai ngày mới sang trang
Em về bên ấy làm nàng dâu ngoan
Mười hai bến nước đa đoan
Bên người em có còn xoan tuổi đời?


AI?

Đêm nay em không ngủ
Thử hình dung ngày mai
Khi thiếu vắng anh rồi
Ai người em tâm sự?
Giữa bao la vũ trụ
Biết gởi tình nơi đâu?
Cuối bộn bề bể dâu
Giọt sầu em ngấn lệ.
Ai người nghe em kể
Chuyện gần và chuyện xa?
Ai dỗ hạt mưa sa
Bằng câu đùa hóm hỉnh?
Ai lo em lỉnh kỉnh
Bao vấp váp đời thường?
Ai người để em thương
Gởi nỗi niềm nhung nhớ?
Ai nghe từng nhịp thở
Trong giá lạnh cô đơn?
Ai gieo em giận hờn
Để dùng dằng giận dỗi ?
Ai ghét yêu vô lối
Cứ đỗ tội ông trời?
Để lòng ai lệ rơi
Ướt nhoà bao nuối tiếc?
Ai nói câu giã biệt
Sau thao thiết lời trao?
Tựa cái nắng hanh hao
Chợt hồn em cháy khát.
Ai làm em tan nát
Cỏi lòng và trái tim? 

                                Trương Thị Hằng Nga
READ MORE - KHÔNG ANH - chùm thơ Trương Thị Hằng Nga