Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, September 14, 2008

Đoàn Thạch Hãn


Khúc mùa xuân


Hẹn về cạn chén cùng xuân
Cho quên mấy thuở trầm luân giữa đời
Đốt nhang quỳ tạ đất trời
Tìm trong nắng cũ một thời hồn nhiên
Muốn về lại chốn đầu tiên
Thoát từ giọt máu ra miền khổ đau
Nói cha mẹ đã vì nhau
Dắt dìu đến tận ngày sau ngọt bùi
Ở đây chẳng có gì vui
Cuối năm lòng những ngậm ngùi cố hương
Hắt hiu lá rụng ven đường
Chiều ba mươi Tết ai thương nhớ mình


http://vietbao.vn/Van-hoa/Luc-bat-mua-xuan/40066268/106/



Lá thơ tình không gởi


Thuở lá thư đầu muốn gởi cho em
Anh mười tám nhưng sao còn nhát thế .
Thư viết bao lần chưa trao đã xé
Lời tỏ tình nắn nót vẫn còn run .
Nghe nói : Yêu thương chọn giấy màu hồng .
Mà tha thiết là màu xanh hy vọng ,
Nhưnh tuổi học trò thường yêu màu trắng ,
Anh ngập ngừng chẳng biết chọn màu chi .
Nên âm thầm để ngày tháng qua đi ,
Thư vẫn viết mà chưa lần dám gởi .
Một mùa xuân qua , mùa hè lại tới ,
Cánh thư bỗng mấy bận đổi màu xanh
Vẫn còn nguyên màu trắng ở hồn anh
Trang giấy trắng như chuyện tình trong tr('ng .
Năm học hết anh xa trường xa bạn ,
Nẻo vào đời đâu có lá me bay .
Em vẫn hồn nhiên buổi sáng chia tay ,
Cười với nắng giữa màu hoa phượng đỏ
Xe lăn bánh mình xa nhau từ đó
Lá thư tình chưa gởi vẫn còn thơm .
Anh sắp qua rồi lứa tuổi măng non
Còn ấp ủ một chuyện tình măng sữa .
Anh ở miền cao mùa hè nắng lửa
Lớp học trường đời lắm nỗi buồn vui .
Có những bình minh vác cuốc lên đồi
Nhìn đất đỏ nhớ thương màu phượng thắm
Em giữ mãi hồn anh năm mười tám
Nên xưa sau còn đỏ những bâng khuâng
Lá thư tình đã có kẻ trao em
Giờ anh viết lại ngại ngùng không gởi .


http://dactrung.net/tho/noidung.aspx?BaiID=qFy5iPZg1Pmatfsa95om5Q%3d%3d




Người vẫn quanh đây


Sáu năm, thời gian đủ để nhiều người lãng quên một cuộc tình, song với nhiều người yêu nhạc, Trịnh Công Sơn vẫn còn hiển hiện . Các ca khúc của anh vẫn còn đó, trên sân khấu, ở quán cà phê, trong lời thầm thì của những lứa đôi...Những năm tháng cuối cùng trước khi trở về cát bụi, Trịnh Công Sơn đã có một bài viết ngắn như những lời tạ từ cái cõi tạm mang tên trần gian mà anh đã sống trọn đời bằng tất cả yêu thương và tận hiến. Bài viết đó mang tựa đề: "Tôi đã mơ thấy chuyến đi của mình".

Vẫn là chữ nghĩa của Trịnh Công Sơn nhẹ nhàng, sâu lắng, chẳng lẫn vào đâu được, anh mở đầu thật buồn bã: "Càng sống nhiều ta càng thấy cái chết dễ dàng đến với bất cứ một ai. Chết quá dễ mà sống quá khó. Hôm qua gặp nhau đấy ngày mai lại mất nhau. Sống thì có hẹn hò hôm nay hôm mai. Chết thì chẳng có cuộc hẹn hò nào trước...". Rồi đang trăn trở về lẽ tử sinh của kiếp người, anh lại nói về tình yêu với một chút đắng cay nhưng ngập tràn độ lượng: "...Càng yêu ta càng thấy có tình yêu thì khó mà mất tình thì quá dễ. Hôm qua mới yêu nhau đấy, hôm nay đã mất rồi. Mất sạch như người đi buôn mất hết vốn liếng. Cứ tự an ủi mình khi nghĩ rằng mình đau khổ thì có kẻ khác đang hạnh phúc... Có người bỏ cuộc đời mà đi như một giấc ngủ quên. Có người bỏ cuộc tình mà đi như người đãng trí. Dù sao cũng đã lãng quên một nơi này để đi về một chốn khác. Phụ đời và phụ người hình như cũng vậy mà thôi...". Quả thực, không dễ dàng để thuộc lòng một bài văn xuôi như những tình khúc bất hủ của anh, nhưng không ít người đã đọc đi đọc lại đoạn văn này nhiều lần bởi họ đã bắt gặp nỗi niềm của riêng mình trong đó.

"Con đường duy nhất đi đến với người khác trên mặt đất không phải là sự độc ác mà chính là lòng nhân ái vô biên" (Trịnh Công Sơn)
Bây giờ đã là ngày cuối tháng ba, chỉ còn một hôm nữa là đến ngày cá tháng tư (l-4), ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bỏ cuộc đời mà đi như một giấc ngủ quên. Mới đó mà đã sáu năm tròn, thời gian đủ để nhiều người lãng quên một cuộc tình. Thế mà với Trịnh Công Sơn thì dường như chỉ mới hôm qua, vẫn mơ hồ chưa có cuộc chia ly nên cho dù anh đã xa mặt vẫn chưa đủ để cho người ở lại cảm thấy cách lòng. Tính ra, kể từ năm 1958, khi viết ca khúc đầu tiên mang tên Ướt mi cho đến ngày tim anh ngừng đập, Trịnh Công Sơn đã có 43 năm sống thủy chung với dòng nhạc riêng mình bằng cảm xúc ca từ tuyệt vời đến độ xuất quỷ nhập thần. Không ai có thể đưa ra được con số chính xác trong suốt 43 năm sáng tác đó, Trịnh Công Sơn đã để lại cho đời bao nhiêu ca khúc? Có người nói 800, có người nói 1.000, nhưng cho dù là bao nhiêu đi nữa thì âm nhạc của anh đã lắng sâu vào lòng người để trở thành bất tử. Năm 1972, người Nhật trao tặng anh giải Đĩa Vàng với bài hát Ngủ đi con (dành cho đĩa nhạc nước ngoài phát hành trên hai triệu bản) và người Pháp đã trân trọng ghi tên anh vào từ điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde cũng đủ để xác nhận Trịnh Công Sơn là một trong những thiên tài âm nhạc của nhân loại. Nhưng anh lại là một con người quá cô đơn, cô đơn bởi tâm hồn anh quá lớn, khó tìm được một tri kỷ để chứa đựng hết cảm xúc, trăn trở chất chứa trong tim. Vì thế mà anh độ lượng với đời, chan hòa với người, gửi gắm, sẻ chia, với từng bằng hữu, mỗi người một ít, dù thân hay sơ cũng được anh đón nhận bằng tất cả chân tình.

Không ít người chưa một gần gặp Trịnh Công Sơn, nhưng khi anh đi rồi, họ lại tiếc thương như một người ruột thịt. Trên đường Âu Cơ, quận Tân Bình - TPHCM, một cô gái chủ một quán cà phê đã đúc một pho tượng Trịnh Công Sơn bằng đồng đặt chính diện quán, suốt ngày nghi ngút khói hương. Một nhà giáo trên đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3 đã làm hai trang thờ đối diện nhau trong phòng khách với hai bức di ảnh được phóng lớn: một bên là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, một bên là nhà thơ Bùi Giáng...

Với nhiều người yêu nhạc, Trịnh Công Sơn mãi mãi vẫn còn trong tim họ, vẫn còn hiển hiện giữa đời. Từng ngày đi qua, những ca khúc của anh vẫn vang vọng tưởng chừng như anh chưa hề có chuyến đi xa. Và như thế Trịnh Công Sơn đã quá linh thiêng khi thảng thốt viết lên những lời tiên tri: "Người ngỡ đã đi xa, nhưng người vẫn quanh đây..."


Đoàn Thạch Hãnnld.com.vn, 30-03-2007.
http://www.tcs-home.org/ban-be/articles/nguoi-van-quanh-111ay/




VĨNH BIỆT “ÔNG GIÀ HAM VUI”

Thế là chẳng bao giờ còn gặp anh nữa, còn được nghe anh nói những chuyện buồn vui, một đời người như thế cũng đã là quá đủ trong cả vinh quang lẫn cơ cực và chắc chắn anh cũng chẳng còn gì luyến tiếc ở trần gian này

Có rất nhiều tên gọi mà đồng nghiệp và bạn đọc đã ưu ái gán cho tác giả Hương rừng Cà Mau mang đầy tính cách quý mến: Nhà văn Sơn Nam, nhà Nam Bộ học, ông già đi bộ... Nhưng với tôi, cái biệt hiệu mà tôi yêu thích nhất là “ông già ham vui”, bởi lẽ nó phản ánh đúng tâm hồn “ngoan đồng” của ông cho dù đã ở tuổi bát tuần.

Quả thật là hiếm hoi ở thời buổi này đối với một người cầm bút tiếng tăm lừng lẫy nhưng lại có một đời sống đơn sơ, bình dị và đầy lạc quan như Sơn Nam, ngay cả những lúc khốn quẫn trong vòng cơm áo và bệnh tật. Chẳng có triết lý nào ghê gớm cho tính cách đặc biệt này mà theo lời ông thì nghèo quá nên phải đơn sơ, bình dị riết rồi thành quen, cũng như chịu đựng mãi cũng thành chịu chơi!

Văn tài của Sơn Nam thì khỏi phải nói, nó được thể hiện trong nhiều tác phẩm mà ông đã suốt một đời miệt mài với chữ nghĩa. Có lần tôi hỏi ông:

- Làm nhà văn như anh thì sướng hay khổ?

Ông nói ngay như câu trả lời đã có sẵn trong đầu từ lâu.

- Khổ nhưng vinh quang.

Tôi lại hỏi:

- Vậy nếu được đi lại từ đầu và được quyền chọn lựa, anh sẽ chọn làm người như thế nào?

Ông móm mém cười, cái cười vừa hồn nhiên vừa chua chát:

- Tao vẫn chọn làm nhà văn nhưng sẽ cố tránh cái nghèo đeo đẳng, cái nghèo tuy không phải là cái tội nhưng là cái khổ, cái nhục chú em ơi!

Nghe anh nói, tôi thấy buồn và thương anh lắm. Hai năm trước đây, anh lâm bạo bệnh phải vào điều trị dài ngày trong bệnh viện. Người thân của anh điện thoại báo cho tôi ngay. Sau đó, tôi có một bài viết về hoàn cảnh túng thiếu của anh trên Báo Thanh Niên, nhiều đoàn thể và bạn đọc yêu quý anh đã nhiệt tình giúp đỡ anh qua cơn hoạn nạn. Một buổi trưa nằm trên giường bệnh, anh nắm tay tôi thều thào:

- Tao mắc nợ cuộc đời nhiều quá.

Tôi an ủi anh bằng những lời chân thật từ suy nghĩ của mình:

- Anh Sơn Nam ơi, cuộc đời nợ anh nhiều hơn anh nợ cuộc đời...

Kế đó là những tháng ngày lê thê anh nằm một chỗ, gần như liệt giường tại nhà sau khi xuất viện. Thế là ông già đi bộ không còn đi bộ. Một lần tôi đến thăm, ngồi bên cạnh nghe giọng anh đã yếu và mệt mỏi lắm, anh nói:

- Tao muốn về thăm U Minh một chuyến nhưng chắc là không còn kịp nữa, quê hương núm ruột ai mà không nhớ, càng già nỗi nhớ càng căng, dưới đó dạo này chắc cũng đổi thay nhiều lắm!

Tôi nghĩ tình quê thật linh thiêng, càng về già thì nỗi hoài hương càng thêm canh cánh.

Cách nay hơn tuần lễ, anh lại nhập viện, nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định. Chẳng hiểu vì sao gia đình anh lại chọn tôi là người đầu tiên để gọi điện thông báo. Tôi lập tức chạy đến nơi thì thấy anh đang thoi thóp thở bằng ống dưỡng khí, trên người chằng chịt những ống nhựa, những dải băng. Tôi nắm tay anh, anh mở mắt, đôi mắt không còn tinh anh như thuở nào mà đã có vẻ lạc thần. Anh lờ mờ nhìn tôi, mấp máy đôi môi như muốn nói một điều gì nhưng không nói được. Bác sĩ cho biết anh bị suy thận, suy tim nhưng quan trọng nhất là lá phổi bên phải bị viêm nặng, dường như chẳng còn gì. Và rồi hôm nay, vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 13-8-2008, anh Sơn Nam đã trút hơi thở cuối cùng.

Anh Sơn Nam ơi, 83 tuổi cho một đời người đã là quá trường thọ, nhưng dẫu thân xác anh có về với cát bụi thì tên tuổi anh vẫn còn mãi trong lòng người đọc hôm nay và mai sau. Đó chính là cái vinh quang mà anh từng nói.

Thế là chẳng bao giờ còn gặp anh nữa, còn được nghe anh nói những chuyện buồn vui, một đời người như thế cũng đã là quá đủ trong cả vinh quang lẫn cơ cực và chắc chắn anh cũng chẳng còn gì luyến tiếc ở trần gian này.

Vĩnh biệt nhà văn Sơn Nam, vĩnh biệt “ông già ham vui”.
ĐOÀN THẠCH HÃNTheo NLĐ
www.vietducinfo.com/
READ MORE - Đoàn Thạch Hãn

HÀ THẠCH HÃN - LẠC EM





Lạc em
Hà Thạch Hãn



Ta lạc em mười năm đằng đẵng

Mải đua chen nên lạc dấu tìm về

Câu thề xưa bị áo cơm đè nặng

Mười năm dài tỉnh ít nhiều mê



Ta lạc em như chim lẻ bạn

Mười năm xa côi cút một mình

Mười năm vẫn lạc loài cánh nhạn

Bầu bạn cùng chiếc bóng lặng thinh



Bao năm rồi biết em còn đợi

Trên đường đời xuôi ngược lướt qua nhau

Nghe tiếng guốc gõ vào lòng đau nhói

Nhịp thời gian bào nỗi nhớ nhạt màu



Mười năm, mười năm ái ngại

Bao đổi thay ai đó có thay lòng

Người còn đây sắc xuân giờ ở lại

Trái tim gầy còn rung động được không



Gặp lại nhau một ngày se lạnh

Hàng cây xanh còn cần bạn bên đường

Bao xa cách chỉ e lòng ráo hoảnh

Hội ngộ rồi lại lạc lối yêu thương



Th tặng LTHY










BIỂN, GIÓ VÀ CÁNH BUỒM



Tự bao đời

Biển sinh ra để khát gió

Khát cánh buồm tri kỷ bên nhau



Không có gió, sóng về đâu hỡi sóng

Không có cánh buồm, biển sao có tri âm



Đừng cậy mênh mông

Nếu một mai cánh buồm vỡ tan trên sóng

Cơn gió lạc chân nơi cuối dòng

Nước thôi mặn nồng



Có gào thét bạc đầu

Biển vẫn cứ cô đơn !






BÀN TAY



Lúc rảnh rỗi hoặc cuối ngày, tôi thường dành thời gian nhìn ngắm lại bàn tay mình như một cách tự kiểm điểm: hôm nay mình đã thực hiện được việc gì và chưa thực hiện được việc gì.

Thường những lúc như thế lại hay lan man nghĩ về những hành vi và sắc độ biểu cảm của bàn tay con người.

Lúc yêu thương nhau, bàn tay thường tìm kiếm bàn tay, nâng niu, xiết chặt, quấn quít…

Thuở nhỏ, tôi thường có một thói quen rất kỳ lạ là hay ngắt hoặc cắn vào ngón tay út của những đứa bé. Bàn tay càng dễ thương,mũm mĩm càng dễ là nạn nhân của tôi. Chụp được ngón tay của đứa bé vô phước nào đó, tôi phải cắn cho đến khi nó khóc thét lên mới thôi. Người lớn cũng có thể trở thành “mồi ngon” của tôi, nhưng tất nhiên phải là người mà tôi vô cùng thương yêu.

Khi hờn dỗi, phân ly, bàn tay lại trở nên lạnh lẽo, hờ hững… Xa cách, bàn tay chợt lạc lõng, trơ trọi để rồi cứ phải nặng lòng day dứt khôn nguôi. Lúc cô quạnh, trống vắng lại thèm có một bàn tay ấm nồng trong tay hoặc một vòng ôm xiết chặt, vỗ về… Trong những khi mất phương hướng, bế tắc lại quay quắt cần một bàn tay chia sẻ, đồng cảm.

Lúc phấn khích, hứng khởi, bàn tay lại nồng nhiệt, dữ dội. Cá biệt, cũng có những bàn tay tráo trở, úp ngửa khó lường...

Ở một góc độ khác, bàn tay còn biểu trưng cho quyền thế của con người. Song, quyền năng lại như vốc cát- càng nắm chặt, cát càng vuột ra ngoài. Đấy cũng là một bài học, một triết thuyết nữa về bàn tay vốn nhiều sắc thái và đa cảm của con người, rất người.






THƠM THẢO QUÀ QUÊ



Hôm thứ hai, Thái Lộc ở văn phòng đại diện Huế gởi cho mình một hộp nấm tràm, một loại thực phẩm khá phổ biến ở miền Trung.

Hàng năm cứ vào mùa thu, sau những cơn mưa và đất trời trở nên dịu mát, nấm tràm lại nở rộ. Tôi vẫn nhớ những ngày khó nghèo ở quê, đến mùa nấm mọc mẹ vẫn hay mua về xào hoặc nấu canh với rau tập tàng hái sau vườn, dân dã mà ngon lạ. Gắp tai nấm đưa vào miệng , sau cái vị nhân nhẩn thoạt đầu, lại nghe vừa giòn vừa béo và thơm nồng ngào ngạt. Dường như cuộc đời cũng thế, "khổ tận" sẽ "cam lai", hết nắng là mưa và "hết khổ là vui vốn lẽ đời". Vả chăng, nếu không có niềm tin như thế làm sao người ta có thể sống hay đơn giản hơn, đủ can đảm để ăn món nấm tràm này ?

Qùa quê thỉnh thoảng mới có nên bèn mang xuống căn tin cơ quan cho mọi người cùng thưởng thức. Nhưng, Gia Tiến lanh chanh gắp một miếng đưa vào miệng bỗng…im bặt suốt cả bữa ăn. Xuân Trung cũng tò mò gắp một miếng rồi mặt cũng nhăn như khỉ ăn ớt (!)… Chỉ có một em gái quê ở miền Trung là khen ngon và ăn lấy ăn để.

Tất nhiên, lần đầu ăn nấm tràm quả không dễ. Nhưng đối với những người quen ăn, chính cái vị đăng đắng ấy mới có sức quyến rũ ghê gớm và không thể phai nhoà trong tâm thức, dù có tao tác xa quê tận chân trời góc bể.

Vâng, khẩu vị mỗi người thường được định hình qua nhu cầu của thể trạng và quan trọng hơn, đó là thói quen. Chính vì thế mà có những người dù không thiếu cao lương mỹ vị, dù biền biệt tha hương cầu thực nơi xa ngái vẫn quay quắt nhớ mắm kho, canh thập cẩm, dưa cà…Cô bạn tôi kể rằng, có ông anh rể tuy đã định cư ở nước ngoài hàng chục năm nhưng hễ có người trong nước sang là đều nhờ gửi cho anh một ít mắm ruốc, mặc dù để đưa cái thứ quà quê “khó chịu” ấy qua được cổng an ninh sân bay quả trần ai khoai củ !

Rõ ràng, đã là thói quen thì không dễ đổi. Sau những thay mới, bao giờ người ta cũng cần có thời gian để thích ứng, lâu dần thân thuộc và hình thành nên thói quen. Thế nhưng cũng có những thói quen kỳ diệu đến độ, bất chấp cả không gian, thời gian mà trường tồn bất tận: thói quen yêu đương như một thứ men gây nghiện. Chả thế mà không phải không có lý, người đời vẫn nhìn nhận rằng “tình cũ không rủ cũng đến” đó sao ?







NỢ EM



Ta nợ em một lời thề hẹn

Không trăm năm vàng đá đủ đầy

Không có cả một đêm trọn vẹn

Muối nhạt rồi gừng cũng thôi cay



Ta nợ em những ngày sống nhọc

Đi bên ai lòng vẫn bên này

Một đêm nằm mấy lần thầm khóc

Giấu phận buồn trong chiếc khăn tay



Ta nợ em món quà sự sống

Không oa oa không cả hình hài

Em hi vọng để rồi thất vọng

Không sinh thành ai đó với ai



Ta nợ em cả đời mắc nợ

Cả đời ngu ngơ cho ít nhận nhiều

Nhân thế rộng mà trái tim bé nhỏ

Đến bạc đầu vẫn con nợ tình yêu



HÀ THẠCH HÃN
Nguồn: 360.yahoo.blog/hathachhan
READ MORE - HÀ THẠCH HÃN - LẠC EM

Võ Quê


Sinh ngày 7.3. 1948

Quê quán: An Truyền, Phú An, Phú Vang, Thừa Thiên Huế.

Hội viên các Hội : Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Nhà Báo Việt Nam, Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam.

Công tác hiện nay: Chủ nhiệm CLB Ca Huế.

Các tác phẩm đã xuất bản: "Ngựa ca" thơ in chung Trần Dzạ Lữ, Trần Bản Thiểm (1969); "Chị Sáu", truyện ngắn-Tổng Hội Sinh Viên (THSV) Huế ấn hành (1970); "Nguồn mạch mới", thơ in chung với Thái Ngọc San-THSV Huế ấn hành (1971); "Giọt máu ta một biển hòa bình", kịch thơ-THSV Huế ấn hành (1971); "Nhờ ơn cây lúa lúa ơi!", thơ thiếu nhi-Đối Diện XB (1975); "Ngợi ca", tập thơ-Hội VHNT TT Huế XB (1993); "Mười thương em bé", thơ thiếu nhi, giải thưởng VHNT Cố Đô lần thứ nhất (1993);"Tiếng Hương Bình", sưu tầm lời ca Huế, giải thưởng Hội Văn Nghệ Dân Gian Việt Nam (1997); "Khúc tri âm", lời ca Huế, giải thưởng UBTQLHCHVHNT Việt Nam (2001); "Thơ một thuở xuống đường", giải thưởng đặc biệt UBTQLHCHVHNT Việt Nam (2002); "Lửa đường phố", tập hồi ký-NXB Thuận Hóa (2003)




Một ngày Đông Hà


Đông Hà hạt nắng ngời sương

Tinh khôi hoa cỏ ươm hương tặng đời

Nụ hôn thơm mỗi môi cười

Em tìm ai giữa cõi người đa đoan



Đông Hà gió sớm mơn man

Tự tình sông Hiếu sóng tràn bờ yêu

Nón nghiêng hứng cả ánh chiều

Em đang ngược nắng bóng treo gợn buồn



Đông Hà khoảnh khắc mưa tuôn

Cơn giông ngày hạ chớp nguồn biển xa

Thương bông khế tím hiên nhà

Em chờ ai nỗi niềm xưa sang mùa



Đông Hà hiền thục trang thơ

Con trăng khuyết giữa đôi bờ sắc không

Mân mê chéo áo xuân hồng

Em về bất chợt rối lòng người đi



Gió Làogió Lào ơi!

ta lại về với gió

gió La Vang

gió Sắc Tứ

gió Đông Hà...

gió Lào thơm

của tóc

của da

vầng trăng hiện ban ngày

Quảng Trị

gió Lào thổi mùa Vu Lan gợi nhớ

tiếng kinh cầu

quá khứ chợt hồi quang

bằng hữu bên nhau

hạo khí mang mang

những trầm tích buồn vui

gió Lào lãng mạn

gió vô cùng nâng ta vào vô hạn

ta tìm nhau

khinh khoái gió ơi

Đông Hà

15.8.05

www.vanchuongviet.org





TÍM CHI NHIỀU RỨA HUẾ ƠI !

Tạp bút


Tạo hóa sinh ra màu sắc để làm đẹp cho trái đất này. Xanh đỏ đen trắng tím vàng...muôn hồng nghìn tía. Nhưng người ta không phải ai cũng giống ai nên người thì thích màu này, người thì ưng màu nọ. Riêng màu tím Huế thì khi đến Huế trong năm học lớp đệ nhất Quốc Học Huế (1968-1969) tôi mới dần bắt gặp những điều kỳ thú.



Là một cậu học trò Nguyễn Hoàng Quảng Trị mới vô Huế ban đầu điều chi của Huế cũng làm tôi bỡ ngỡ bắt tôi phải tò mò tìm hỏi. Té ra nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa có đồng phục áo dài màu tím. Té ra màu tím tượng trưng cho niềm mộng mơ của độ xuân thì, của lòng thủy chung như nhất với tình yêu muôn nơi muôn thuở. Té ra cô học trò Đồng Khánh mà tôi và bạn bè lẻo đẻo sau lưng theo về mỗi ngày cũng mê màu tím. Nguyễn Cửu Thanh, anh bạn cùng lớp tôi "chỉ điểm": "Cô nớ tên là Tiểu Kiều học lớp đệ tứ Đồng Khánh, nhà trong thành nội. Khi mô trời mưa, trời lạnh là dễ nhận ra cô ta. Vì Kiều thích màu tím nên áo len tím, áo mưa tím, quai nón tím, khăn quàng tím, dép cũng tím...". Tiếp nhận thông tin là tôi tìm cách quan sát và tiếp cận liền. Dịp may đến với tôi vào một buổi sáng khi Thanh phát hiện người mê màu tím đang đứng với một cô bạn trước quán sách Hương Bình trên đường Lê Lợi. Thì ra người ấy đang đứng xâu chiếc dép bị đứt quai. Vốn đã mong có dịp làm quen lại có "máu nghĩa hiệp" nên tôi mạnh dạn mở lời: "Tiểu Kiều đưa mình xâu giúp cho kẻo sắp tới giờ sau rồi!". Trong khi cô học trò tên Tiểu Kiều đang lưỡng lự tần ngần với chiếc dép tím, với sợi chỉ tím dễ thương và cây kim mỏng manh chưa muốn đưa cho chàng trai lạ thì người bạn Tiểu Kiều có bảng tên Bạch Yến giục: "Thôi mi đưa cho họ xâu cho mau". Không ngờ sợi chỉ tím một thời mộng mơ của cô nữ sinh Đồng Khánh ấy sau này lại trở thành sợi "chỉ tím" của ông Tơ bà Nguyệt xe kết đời tôi với cô gái yêu màu tím ấy.



Từ chuyện riêng tư đó, tôi lần theo những màu tím của hoa bâng khuâng, hoa mua, hoa sim...trên đồi Thiên An, Vọng Cảnh...Màu tím của hoa sầu đông, hoa tầm xuân, hoa cúc, hoa cà, hoa ti-gôn...trong từng khu vườn Huê. Màu tím của hoa tử bạch ở những ngôi chùa Bảo Quốc, Thiên Mụ, Tường Vân...Màu tím của hoa tử vi (còn gọi là hoa phấn thệ hồng) trong đại nội và được khắc trên Cao đỉnh trước Thế Miếu, được hát thành điệu Lý tử vi trong dân ca Huế "tử vi dầu dãi nắng sương, huê cam huê quýt em thương huê nào, em thương huê mận huê đào...". Màu tím của hoa ngô đồng trên Khiêm lăng, bên điện Thái Hòa. Hoa ngô đồng tím ngắt chiều thơm, anh mời em ngắm màu hoa tím. Hiểu nhau rồi tình yêu bất biến, chim phượng hoàng gọi bạn đậu cành ngô. Thời gian gần đây những con đường Huế lại có thêm màu tím của hoa bằng lăng, hoa phượng tím.



Màu tím Huế không dừng lại trên các đài hoa. Màu tím Huế còn hòa sắc trong các trạng thái tinh thần, trong tình cảm buồn vui, khổ đau, hạnh phúc. Cùng hòa sắc trong từng khoảnh khắc thời gian, trong mây trời, sông nước Hương Giang, trong y phục, trang sức, ẩm thực Huế...để từ đó màu tím trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho văn nghệ sĩ trên mọi miền đất nuớc xiển dương, ngợi ca bằng nghệ thuật tạo hình, bằng thơ văn, âm nhạc...Đọc Tuyển Tình Khúc Huế Thế Kỷ 20 gồm 100 tác phẩm do Nhà xuất bản Âm Nhạc Việt Nam ấn hành (4. 2002) thì đã có 4 ca khúc có chữ "tím" trong tựa đề như: Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên), Màu Tím Huế (Vũ Trọng Tường), Ngàn Thu Áo Tím (Hoàng Trọng-Vĩnh Phúc), Màu Áo Tím Và Màu Áo Trắng (Hoàng Vân) và có 14 ca khúc của các nhạc sĩ sau đây: Thế Bảo, Phạm Trọng Cầu, Dương Đức, Hồng Đăng, Quốc Dũng, Hoàng Hiệp, Trần Hoàn, Lê Việt Hòa, Mai Xuân Hòa, Tôn Thất Lan, Văn Phụng Huy Tập, An Thuyên, Thuận Yến nhắc tới màu tím Huế với các hình ảnh áo tím, mây tím, sương tím, hoa tím, thời gian tím...



Riêng thơ ngợi ca màu tím của Huế thì không thể nào thống kê cho hết. Nếu có điều kiện để tuyển chọn một tập thơ có những câu thơ hay về màu tím Huế cũng là việc mà các nhà biên soạn nên làm bởi đây cũng là một trong những nét riêng của Huế. Trước năm 1975, khi còn ở Hà Nội tôi thường nghe ba tiếng màu tím Huế. Cái chi mà có màu tím thì người ở đây gọi "màu tìm Huế". Màu tím mình thích, người tình mình mê được là "tím Huế" thì sướng biết mấy, vui biết mấy. Tôi cũng thấy ấm lòng trong lúc xa quê. Mới đây thôi, từ Cali nước Mỹ xa xôi, có lẽ vì quá da diết nhớ Huế mà anh Trần Kiêm Đoàn đã thương về tím Huế trong bài thơ "Vàng Thu Tím Huế" với những kỷ niệm, với những hồi ức trữ tình: Huế vào Thu mà không biết mình Thu/ Vì lá đỏ chút vàng mơ ai thấy/ Tim tím buổi chiều mai hồng trở lại/ Vẫn xanh ngời con nước Vạn Niên...Tuổi hoàng thành như màu mắt trong đêm/ Nghìn phai cũ trang tình đầu chưa giở/ Xa Chiêm quốc thuở "ngó tề, dị rứa/. Mỏi chân đời còn tím Huế không em?"



Màu tím của phương trời Huế theo thời gian cứ nhập vào tâm thức tôi trong những lần lang thang cùng Huế. Khi thì lặng thầm sau mái tóc thề của cô gái Huế đường phượng bay đỏ lối em về, chiều nội thành dịu dàng bay áo trắng, dòng Hương xanh chuồn chuồn bay đón nắng, hoàng hôn đầy thoáng tím mây bay. Khi thì một mình thèm gặp bạn trong chiều Vọng Cảnh nâng ly hào sảng đón hoàng hôn, sông Hương xanh mặt trời rực đỏ chợt hòa tím sắc quê hương...và ước mơ những sắc màu thiên nhiên Huế đan quyện vào tâm hồn tình cảm con người những mạch nguồn sinh động rất nhân văn: xanh trong em làn hương dòng sông, đỏ trong tôi ánh trời Vọng Cảnh, tím trong nhau hồn nước thủy chung.



Tím trong nhau hồn nước thủy chung. Hòa sắc tím một đời tôi tìm thấy. Hòa âm tím một đời tôi tìm nghe. Hương mùa tím một đời tôi ngưỡng mộ...Huế dấu yêu ơi! Tím chi mà tím rứa!




CA HUẾ VỚI DÒNG HƯƠNG


Tạp bút



Cung bậc trăm năm một thời vàng son tưởng đã chìm vào quên lãng vì đất nước có những ngày truân chuyên, gian khổ, can qua, nhiểu nhương. Nay mùa xuân mới đang mở ra những giai điệu mới. Ca Huế, một loại hình âm nhạc dân tộc, truyền thống đang tìm lại chính mình giữa một trung tâm được thế giới công nhận là di sản văn hóa của loài người.

Mái chèo trăng, con thuyền mộng, ngàn sao khuya lấp lánh, nét mờ ảo sương sa…tất cả vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên đang hội tụ cùng dòng sông Hương êm đềm là sự cộng hưởng tuyệt vời đã nâng tầm bay cho ca Huế.

Nghệ thuật ca Huế vốn kén chọn không gian, thời gian và người thưởng thức cũng là người sành điệu mang tính tri âm, tri kỷ. Ca Huế đang theo mùa xuân lan tỏa, thấm sâu cái tình dạt dào vào những tâm hồn thanh khí, thuần khiết, sang trọng đang được chắt chiu, nâng niu, gìn giữ.

Nội dung những bài ca Huế không chỉ ngợi ca thiên nhiên bốn mùa phong hoa tuyết nguyệt mà còn xiển dưong ngày mới, trân trọng những khát vọng, ước mơ về tình yêu, về một ngày mai hạnh phúc bình yên, chan chứa tình người có thủy có chung.

Từ mạch nguồn sinh động của quê hương những làn điệu ca Huế bay bổng dập dìu, phóng khoáng hơi thở xuân thì xứ sở. Non nước Hương Bình từ đó được thăng hoa cùng âm nhạc. Điệu hát cung đàn hòa nhập tinh anh cùng núi sông muôn thuở.

Ngày nay khi đến viếng thăm Huế, du khách trong và ngoài nước đều có một sở thích chung là muốn được thưởng thức ca Huế tổ chức dưới dạng thính phòng hoặc đi thuyền trên sông Hương. Trong khung cảnh thiên nhiên trữ tình, thơ mộng, nhất là những đêm trăng thanh gió mát, sông Hương với vẻ đẹp kỳ ảo được đan quyện vào hòa thanh réo rắt của cung đàn lời ca càng dễ dàng say đắm lòng người.

Con thuyền nhẹ nhàng trôi, dưới nước trên trăng, từng cung bậc bổng trầm buồn vui khi thổn thức, khi thanh thoát dìu dặt với những lời ca giàu tính văn học, mang bản sắc chốn thần kinh văn vật đã tạo cho người nghe sự đồng cảm với thiên nhiên, với con ngưỡi xứ Huế vốn thầm lặng mà hiếu khách, dịu dàng mà đắm say, sự đắm say nghệ thuật.

Dòng sông Hương, thuyền trăng và cung đàn lời ca Huế luôn mời đón những tâm hồn đồng điệu. Và chính những tâm hồn đồng điệu cao khiết ấy đã nuôi dưỡng, bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật ca Huế tới muôn sau.




Mưa Cần Thơ

Mưa Cần Thơ rất hồn nhiên

Đã mưa là vội hôn lên tóc người

Đã mưa là ướt vai đời

Bao nhiêu tinh túy hạt trời hiến dâng


Mưa Cần Thơ rất tình thân

Núp mưa ai cũng tần ngần tìm quen

Không chừng những cuộc tình riêng

Nhờ chung mái phố chung miền mưa qua


Mưa Cần Thơ rất hào hoa

Đã mưa là vội thơm tà áo em

Trong mưa dường có hương nguyền

Mưa ngày lãng mạn mưa đêm đợi chờ

Mưa Cần Thơ mưa Cần Thơ…


www.vanchuongviet.org




Viết Trên Dòng Sông Hậu

Một mình anh qua dòng sông Hậu

Một mình anh trong mênh mông

Giọng hò khuya vời vợi trữ tình

Mang mang một miền sông nước



Không có em cùng anh sang sông

Con sóng vỗ bồng bềnh

Không có em cùng anh lênh đênh

Lục bình tím dập dềnh

Mái chèo khua thầm thì đêm sông Hậu



Anh xa em đã mấy triền sông

Ước mơ về một ngày yêu dấu

Anh và em thong dong

Thuyền chung tìm bến đậu



Đêm lung linh ngàn sao xanh trời cao

Vì sao nào là mắt em

Anh vừa tìm thấy

Ôi đôi mắt dịu dàng ưu ái

Soi đường anh đi mấy sông dài



Những vàm sông bao la

Tâm hồn anh cũng dạt dào sóng vỗ

Một mình anh

Một trời sao tỏ

Một trời sao

Em hiện với sông dài...

THƠ TÌNH NHỮNG BÀI RỜI
Khi Ngày Tới

Giấc mơ đêm em đến nhẹ nhàng

Khi ngày tới anh hút về phương ấy

Sức sống nào nâng tình yêu dậy

Hai chúng ta đang thuộc lòng nhau?


Mật Và Trái

Khổ đau em là mật

Đắng môi anh một đời

Hạnh phúc em là trái

Chín thơm một cõi người



Lời Chúc
Chúc những bữa cơm của em

Có thêm một người so đũa

Chúc lối về nhà em sáng vấng trăng tỏ

Chúc mai sau đời em luôn có anh

Em
Em là đồng tử mắt tôi

Lời thì thầm của đêm nhủ thế



Em là đồng tử mắt tôi

Không thể khác

Tâm hồn tôi nhủ thế



Giọt mưa rơi trong khuya

Gửi một cung đàn rung dịu nhẹ

Em là đồng tử mắt tôi!


BAN KHUYA
Tuỳ bút


Đêm đêm, tôi có niềm vui lặng thầm ban khuya. Ban khuya. Tôi thích được nhìn ngắm trăng sao đang cùng thức trên trời cao xanh. Ban khuya. Tôi thường lang thang qua những con đường thực và ảo giữa trần gian nhiều duyên với nghiệp. Ban khuya. Tôi hay lắng nghe âm thanh diệu vợi thuần khiết từ bốn mùa thiên nhiên đồng nội. Ban khuya. Tôi được tiếp nhận từng làn hương trinh tuyền từ những ngôi vườn đêm tịnh yên. Hương báo hỷ lan. Hương ngọc lan. Hương dạ lý. Hương nguyệt quế...Gió ban khuya thơm nhẹ nhàng, hào hoa một áng mây tình tinh khôi, thanh khí.

Và trong cõi tịnh yên tôi nhìn thấy sáng lên ngọn đèn khuya từ ngôi nhà em bình an. Tôi hình dung được bản nhạc em đang nghe từ căn phòng thiếu nữ. Giai điệu đẹp mượt mà, trang trọng như tính cách tâm hồn em khi em giành cho nghệ thuật. Gương mặt em ửng lên, liêu trai. Đôi mắt long lanh tia nhìn em nhân hậu. Tôi hình dung em đang trò chuyện cùng người thân quen nào đó giữa khuya dài. Mười ngón tay em mềm mại lướt nhanh. Bàn phím ngân lên âm điệu. Thủ thỉ. Thì thầm. Những dòng chữ khiêu vũ trước mắt em thành nhạc, thành lời. Em đang chân thật gửi tiếng lòng mình lên từng con chữ.

Ban khuya. Tất cả đều trở nên thân thiện, lắng sâu. Tôi tự thấy mình thanh thản trong thời điểm dễ thương này. Nguồn yêu quý thảo hoa. Lòng kính trọng thế gian trong sâu thẳm hồn tôi sao trở nên dào dạt. Tôi càng thấy mình phải ước mơ, phải khát vọng về một cõi bình yên cho thảy thảy người người.

Và với riêng em. Tôi thầm mong: ngọn đèn khuya em đừng vội tắt đi vầng sáng. Tôi biết không chỉ riêng gì tôi đang trân trọng đốm lửa từ ngôi nhà em hạnh phúc. Mà đốm lửa từ ngôi nhà em cũng là niềm hy vọng, là sự chờ đợi của bao người đang dành cho em vô vàn thân ái.

Ban khuya. Khoảnh khắc thời gian tôi hằng mong. Ban khuya. Ban khuya...





HUẾ SANG THU

Tuỳ bút


Âm thầm. Lặng lẽ. Mùa thu phát tín hiệu bằng ngọn gió se lạnh ban mai. Bằng sắc trời chiều xám mây. Bằng hương nguyệt quế dịu nhẹ trong từng ngôi vườn Huế trăng non lung linh cành giáng châu. Hình ảnh học trò trở lại những ngôi trường thân yêu cũng là tín hiệu mùa thu.

Huế sang thu. Thu thường gợi trong tôi từng giây phút cảm hoài về những người thân yêu đang vắng mặt, cách ngăn. Là mẹ hiền trên chín mươi bao tháng năm rồi với các em trên xa ngái DakNong. Là Ca Dao từ lâu một mình một thân chốn phù hoa đô hội Sài Gòn. Là Sao Khuê độc hành viễn du nơi phương trời Áo. Là bằng hữu thâm giao mười phương mất còn bao tháng năm biền biệt. Là bạn bè nam nữ mới kết giao đồng điệu nòi tình. Lớn lên rồi ai cũng mỗi người mỗi hướng. Ai cũng có những cuộc chia ly nụ cười hay nước mắt. Những ngã ba đường lớn nhỏ, những vàm sông đục trong đã đưa ta vào mê lộ cuộc đời. Đôi lúc ta khó tìm một định vị bình an tâm thức.

Thu về với Huế. Tôi thèm được lang thang trong khuya với Huế. Lâu lắm rồi tôi thiếu những đêm một mình qua các ngã đường khuya. Cột đèn vàng lắt lay bóng lá. Đêm Huế hiền lành cánh tay người mẹ. Đưa tôi về là một áng trăng chênh. Lâu lắm rồi tôi không còn cái cảnh đêm đêm lặng lẽ trở về. Đường chợt dài theo khuya, lá rớt. Nỗi cô đơn trên hồn tôi choáng ngợp. Chiếc bóng mình nghiêng ngửa mặt đường khuya...Đêm Huế mùa thu bình yên trong ký ức, trong bồi hồi cảm xúc nao lòng. Đêm Huế mùa thu dễ xui khiến mình sống nhân ái hơn, sống đẹp hơn có nghĩa, có tình.

Và em, người thơ của tôi! Tôi hình dung em cũng đang theo mùa thu về trong phương trời Huế đằm thắm, dịu dàng. Em là sắc thanh hương giữa không gian trầm lắng Huế. Em hóa thân thảo hoa. Em hiện hình kỳ ảo. Cùng mùa thu em nuôi dưỡng ngọn nguồn yêu thương, sáng tạo trong tôi. Biết ơn mùa thu. Biết ơn em. Những dòng chữ ngân lên tiếng nhạc. Mùa thu và em đang thì thầm cùng tôi: Ta trân trọng đời nhau!


www.voque.org/



Đêm phố núi


Phố núi đêm trăng nghiêng

Một mình nghe tiếng suối

Ta nhập vào thiên nhiên

Lá rừng khô về cội



Thương mẹ đã bạc đầu

Còn dặm ngàn rui rủi

Thương em tóc xuân thì

Rụng sợi buồn góc rẫy



Phố núi khuya lạnh gió

Chập chùng dốc ngược xuôi

Ta mãi thành hạt bụi

Lang thang bay đất trời



Phố núi chìm trong sương

Ta tìm em tìm mẹ

Đất đỏ nhuốm chân buồn

Tiếng chim nào hót khẽ



Phố núi rồi phố trăng

Giọt sương là giọt tình

Thương em rồi thương mẹ

Phố núi nhập nhòa nghiêng

VÕ QUÊ

ĐỌC THÊM:

LỤC BÁT ĐẶC SẢN

Võ Quê và thơ lái - Mai Văn Hoan
READ MORE - Võ Quê

Saturday, September 13, 2008

LÊ THỊ MÂY - CHÙM THƠ


Lê Thị Mây tên thật là: Phạm Thị Tuyết Bông, bút danh khác: Phạm Thị Tuyết Hoa, sinh ngày 4.2.1949, tại An Mô, Triệu Long, Triệu Phong, Quảng Trị.

Nơi ở hiện nay: Thủy Trường, thành phố Huế.

Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, 1982.

Học xong phổ thông, Lê Thị Mây tham gia Thanh niên xung phong chống Mỹ. Sau giải phóng, học Trường viết văn Nguyễn Du. Làm báo từ năm 1970, hiện nay là Tổng viên tập tạp chí Cửa Việt.

Nhà thơ đã xuất bản 7 tập thơ và 3 tập văn xuôi. Trong đó có: Những mùa trăng mong chờ (thơ, 1980); Tặng riêng một người (thơ, 1990); Một mình (thơ, 1990); Trăng trên cát (truyện ngắn, 1987); Giấc mơ thiếu phụ (thơ, 1996)...

Lê Thị Mây đã được nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1990 với tập thơ Tặng riêng một người.



Mắt chữ

Như người gánh nặng

Như người đi cúi mặt

Như người chạy lao đầu trong gió bão

Như người bơi trong nước dữ

Qua câu thơ

Qua chữ thơ


Gánh nặng của ta không thể đặt lên vai người khác

Không ai giúp ta đi ra khỏi những cơn bão bất thần

Không ai giúp ta đi ra khỏi sóng và nước mặn của biển nơi chôn rau cắt rốn

Không ai phát hiện thay vẻ đẹp từ tấm lòng


Chính vì thế

Hồn nhìn từ bên trong

Chính vì thơ cuộn úp mặt vào đất

Chính vì thế chữ thơ có mắt ngước nhìn bầu trời


Lao trong bão

Bơi trong biển dữ

Cắm cúi đi

Mặt úp vào đất

Nếu ở đời chỉ mong đến được với chữ thơ có mắt ngước nhìn bầu trời

Hãy đặt trái tim mềm yếu lên chữ

Mắt chữ có hình trái tim

Dù khi đã chết

Trái tim trong chữ sẽ còn đập, còn ngước nhìn vũ trụ bao la.
1998




Tiếng hát của loài chim bị diệt

Đồng Hới còn duy nhất một ngôi nhà

Đấy là con chim của loài chim bị diệt

Bị giết chết bằng bom

Và thành phố là chiếc tổ - chiếc tổ không


Ôi con chim của loài chim ca hát

Đấy là ngôi nhà của mẹ sinh ra tôi

Đấy là ngôi nhà ra đi bao người lính

Và để trở về mặc niệm chính quê hương


Phát trời xanh bao người chưa về kịp

Chiếc tổ không - thành phố có hoang

Ngôi nhà đầy thương tích - bầy chim cất tiếng hát

Từ cỏ bay lên ngọn khói xanh lam.


Ôi mùa chim của loài chim yêu hoà bình bất diệt

Quệt mỏ vào mặt trời chim hót vang

Và chim kiễng đôi chân đầy thương tích

Nghiêng bên dòng sông Lệ uống thời gian
1978



Với căn phòng trong quán cà phê


Với căn phòng trong quán cà phê

Tôi bị vây giữa những tảng đá hấp dẫn mùa hè

Giữa những quả chanh tươi và đường của mía

Tôi bị vây giữa bao bàn ghế

Những gương mặt tình nhân những gương mặt bạn bè.


Và lam lũ gương mặt đời lao động

Của bác thơ mành trúc, thợ nướng bánh, thợ chữa đồng hồ

Kim chỉ phút kim chỉ giây bình thản

Trái tim tôi chỉ hướng đợi chờ


Với căn phòng trong quán cà phê

Tôi chịu đựng nắng trần bê tông tầng thấp

Tháng mưa Huế bốn bức tường ngấm nước

Chú kiến vàng bò qua vòm cửa sổ tìm cây


Căn phòng tôi không quạt máy mỗi ngày

Mở bốn hướng thu nhận và chịu đựng

Trước những bao vây trước bao điều tìm kiếm

Chợt mùa đông đỏ lửa những cành bàng


Quả chanh tươi, đường của mía, ghế, bàn

Tảng nước đá vỡ nghìn mảnh sắc

Soi hình chiếu vào cuộc đời tôi trang viết

Số phận của mọi người linh cảm hoá thơ ca. 


Liễu quán - Huế 1989


Những mùa trăng mong chờ

Thư anh tin ngày về

Cho vầng trăng hẹn mọc

Trong ngần hoa cau thơm

Mây chớm màu tha thiết


Trăng non nghiêng qua rồi

Bom rung vầng trăng khuyết

Xô thuyền trong xa xôi

Giữa gập ghềnh núi biếc


Anh khoác ba lô về

Đất trời dồn chật lại

Em tái nhợt niềm vui

Như trăng mọc ban ngày


Gặp nhau tròn mùa trăng

Em trẻ như bầu trời

Vòng tay anh đằm thắm

Giấu lời ru trên môi


Mai lại tiễn xa nhau

Vầng trăng cong chẽn lúa

Đêm đêm chín ngàn sao

Rỏ vào tim giọt lửa


Mong chờ em mong chờ

Vầng trăng xinh - gương mặt

Sáng sáng đầy theo anh

Suốt chặng đường đánh giặc.

1973



Cát làng tôi

Qua đèo trắng chín tầng mây

Nôn nao nhớ biển sóng đầy bước đi

Sờ vào túi áo tìm chi

Bỗng li ti cát, li ti tỏa ngời


Cát vàng rơi, cát vàng rơi

Hạt theo hạt chảy mặt trời trên tay

Bao nhiêu ánh biển về đây

Cát vàng đọng sắc tháng ngày ra khơi


Cát vàng rơi, cát vàng rơi

Sau cơn mưa ngọt càng ngời nắng mai

Biển quê cát rộng bờ dài

Càng cao ngọn sóng càng lai láng vàng


Đêm sâu cát trắng mênh mang

Bóng ta lồng biếc bóng hàng dương xanh

Đường làng như cát long lanh

Dấu chân em có trăng lành ươm theo


Gió tung cồn cát gầm reo

Muôn li ti hạt ngang đèo dựng cao

Đánh xong trận giặc hôm nào

Ta về thả hạt cát vào giữa khơi.

LÊ THỊ MÂY
READ MORE - LÊ THỊ MÂY - CHÙM THƠ

Friday, September 12, 2008

PHAN VĂN QUANG - CHÙM THƠ


"Bạn tôi nói : Dù nghèo đói mấy cũng đừng chê đời. Vợ tôi nói : Dù nghèo đói cũng đừng xa nhau…Vì những lẽ đó tôi đã làm thơ và sẽ mãi làm thơ" PVQ



Sinh năm :1950 Tại Tx Quảng Trị
UV BCH Hội VHNT Quảng Trị
Trưởng Phân hội Văn Học

Tác phẩm
Ta Ôm Một N ửa Đời Luân Lạc, 1993
Mưa Nắng Quanh Đời, 1997(Giải A Hội VHNT Quảng Trị 1997)

Địa chỉ: 87 Nguyễn Du, Đông Hà, Quảng Trị




Tháng Sáu Pleiku


Ở Pleiku trời sương như khói
Áo màu xanh, xanh lá bên đường
Ta cũng thấy má người au đỏ
Còn tóc chừng ngai ngái mùi hương.

Nhà em đầu, nhà anh cuối phố
Mà mấy khi đều đặn tìm nhau
Kìa nhà em bông chi vàng ngõ ?
Ngập ngừng lòng quên bỏ lại sau.

Em yên ổn quanh đời che chở
Khoảng vườn xanh cửa khép im lìm
Một cây thông già lêu nghêu đứng
Chiều nay thêm một bóng lặng thinh.

Ở Pleiku buồn khi đêm xuống
Nghe rất thèm một mái nhà êm
Nghĩ rằng ở đây hoài cũng lạnh
Ta về buồn ấp ủ hơi đêm.

Tháng sáu Pleiku đầy hơi nước
Ta lang thang như kẻ cùng đường
Mới biết ta có thời tạo nghiệp
Ở Pleiku - tình tan như sương



Tĩnh vật sống


Trải chiếu giữa sàn
Mưa chém vào phên nứa
Chai rượu đứng nghiêm chào những người bạn cũ
Đĩa mồi mấy con mực nằm nghiêng

Xưa như trái đất vẫn còn thằng áo rách
Manh chiếu lủng tròn thành chiếc mâm
Lúc nhúc những chiếc ly cụng vào đêm sâu
Vỡ mặt - tháng năm dài
Niềm vui vô tình nấp sau liếp cửa
Sợ chạm phải nỗi đau xưa

Ngoài hiên mưa
Chiếc dép, chiếc giày ngả ngiêng bên vệ cỏ
Ngủ say.



Ngậm ngùi rời Huế



Ở đây Ta buồn và mây thấp
như sân ga lặng lẽ mưa về
Nặng tình, Huế cho người đưa tiển
Nặng ân, ta có hẹn quay về


Ra đi răng nghe lòng nằng nặng
Trong mắt em ủ kín một đời
Còi hụ- Tàu lên đường tháng chạp
Huế thì mưa bát ngát đất trời


Nhìn em qua chiều không rõ mặt
Làm răng ta khỏi nhớ trời mưa
Có em đứng buồn như cây rũ
Nghe trong ta tình đã giao mùa


Huế ơi qua được bao mùa bướm
Bướm bay loáng thoáng những con đường
Vãng đường tan trường nhiều con gái
Vẵng hồn em trong Huế tang thương


Ra đi còn nhớ đò Thừa phủ
Nhớ sông Hương mưa trắng một dòng
Gởi lại em người tình thơ dại
Trọn một đời hoa bướm thong dong



Uống rượu với chân dung Phùng Quán


Vắt cạn kiệt bã cơm
từ hạt gạo tháng mười

Chắt mạch nước đỏ bùn phèn váng vất
Khơi chút lửa
chuốc men nồng lên mắt
Trước ngày xuân ngồi lại tự vấn mình

Rượu đầu môi sẽ là phút lặng im
Thiếu vắng quá tiếng chim đầu núi
Đêm sâu thẳm níu vì sao chợt tắt
Ngã lòng đời chạm mặt những vần thơ

Uống rượu làng với chân dung xưa
Tâm đựng phải nỗi lòng cay cực
Xin cạn chén phơi bày lòng chân thật
Hẹn một ngày
Tưới rượu xuống Hồ Tây



Viên sỏi và ô làng xanh


Vẽ lên sân đình
Những ô làng xưa
Nét củi than
Có vòm trời riêng tuổi nhỏ
Ngày ô chia cho thửa ruộng chín vàng


Lang thang lượm ở bãi sông
Từng viên sỏi nao lòng con sống dạt


Ta chuyền tình yêu vào đất
Viên sỏi qua ô làng xanh
Hai phía trời rộng mở
Dìu nhau qua từng giấc mơ


Giấc mơ cõng viên sỏi trắng vàng
Sân trước nhà em đầy bạn gặt
Thơ ngây chìm trong mắt
Lúa ngô tràn mấy sân phơi...


Đi hết thời chiến tranh
Về bến chiều nhạt nắng
Lần theo bờ ruộng vắng
Tóc xanh đã phai màu


Đếm thời gian xa nhau
Để neo lòng ở lại
Con sông nhiều bến bãi
Ta chờ nhau - em ơi


Viên sỏi - ô làng xanh
Lăn hoài trong nổi nhớ
Em qua mùa chờ đợi
Trong ô làng - ngày xưa.


PHAN VĂN QUANG



ĐỌC THÊM:


Trang Wordpress của Phan Văn Quang

Ngẫu hứng đọc thơ PVQ, Trần Xuân An
READ MORE - PHAN VĂN QUANG - CHÙM THƠ

NGUYỄN KHẮC THỨ - PHÁ KHO BOM TÂN-SƠN-NHẤT

Nguyễn Khắc Thứ vừa là bút danh vừa là tên khai sinh. Ông sinh năm 1921. Nguyên quán: thôn An Cư, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Mất ngày 6-9-1990 tại Quảng Bình. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Nguyễn Khắc Thứ từng là cán bộ quân đội từ đầu kháng chiến chống Pháp, hoạt động chủ yếu ở chiến trường Bình Trị Thiên. Sau hòa bình, ông được điều về Tổng cục Chính trị dự trại sáng tác viết về anh hùng quân đội. Sau thời gian sáng tác, ông về làm cán bộ Thư viện Quân đội cho đến lúc nghỉ hưu.

Tác phẩm đã xuất bản: Trận Thanh Hương *(truyện ký, 1955); Đất chuyển (tiểu thuyết, 1958); và 3 truyện: Bản án tử hình, Phá kho bom Tân Sơn Nhất, Hẹn hò (xuất bản 1966).


http://www.binhthuan.gov.vn/KHTT/vanhoc/tacgia/TG2BE.htm




Phá kho bom Tân Sơn Nhất



Kho bom gần hai trăm tấn nổ tung một loạt.

Một tiếng nổ long trời lở đất rung chuyển cả châu thành Sài Gòn, Chợ Lớn và tất cả các xóm làng chu vi trong ngoài mười lăm cây số phải bật dậy. Núi lửa bay vọt lên không,, trăng sao lịm mờ đi tất cả. Những mảnh đạn, những khối đen thui thủi, bay vù vù khắp mọi hướng về nơi xa tít. Chỉ thấy sấm chớp rần rật, rồi giữa lưng trời từng đụn khói cuồn cuộn ùn lên mãi, lên mãi…

Nhân dân châu thành đang yên giấc ngủ trên giường bị hất tung xuống đất, kinh hồn hoảng vía, thét lên:

- Sét đánh! Sét đánh sau nhà!

Nhưng chỉ lát sau họ biết không phải là sét đánh nữa. Tiếng nổ vẫn ầm ầm, ánh lửa rọi xuống nhà sáng rực, mái ngói cứ tụt dần, cửa kính vỡ loảng xoảng, cốc chén pha lê trong các tủ chè cứ nhảy chồm xô nhau tan tành từng mảnh.

Tiếng còi báo động giữa Sài Gòn rú lên rùng rợn hơn bao giờ hết. Đèn phố tắt, nhưng ánh sáng giữa trời vẫn soi rõ mồn một. Hàng trăm xe thiết giáp nặng nề chuyển dây xích sắt chĩa súng chặn các ngả đường trong thành phố. Chiến hạm dưới sông nổ máy rầm rầm. Xe cam - nhông kéo đại bác chạy đi tuần phòng và hàng ngàn bóng lính chụp vội mũ sắt lên đầu hớt hơ hớt hải chạy ra nằm rạp xuống các công sự, run lẩy bẩy. Súng các đồn bóp nổ liên hồi tằng tặc đến kiệt sức. Trong trường bay, hàng trăm phi cơ quay tít chong chóng đợi lệnh cất cánh lên không.

Khu Sài Gòn, Chợ Lớn hãi hùng run sợ như đang chờ đợi một cuộc huyết chiến.

Và tiếng chuông rung khắp cả các nóc thánh đường. Tiếng kinh cầu nguyện vang lên bị át đi trong tiếng rít của đoàn xe thiết giáp.

Kho bom vẫn nổ… lửa cháy ngút trời. Ánh sáng soi tỏ cả các xóm làng xa xôi. Bà con đổ ra xem đầy đường đầy ngõ. Người sau chồm người trước, các em thiếu nhi đấm lưng nhau thùm thụp. Tiếng vỗ tay lẫn trong tiếng bom gầm:

- Bộ đội mình đốt trường bay rồi! Hoan hô! Hoan hô…



Nơi xuất bản: NXB Hội nhà văn, 2002

Các nhà văn thế kỷ 20
http://maxreading.com/?chapter=8014




* TRẬN THANH HƯƠNG (11 - 12.3.1951):
Trận chiến đấu vận động tiến công chống lại cuộc hành binh của hơn 2.500 quân cơ động ứng chiến Pháp ở giữa 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên. Phía Pháp sử dụng 2 binh đoàn (gồm 8 tiểu đoàn) tiến hành càn quét vào Thanh Hương - Mỹ Xuyên. Phía Việt Nam có 2 trung đoàn 95 (Quảng Trị) và 101 (Thừa Thiên) đã diệt được một bộ phận quân cơ động Pháp, bảo vệ nhân dân, bảo vệ mùa thu hoạch lúa, bảo vệ vùng du kích. Liên tục cơ động chiến đấu, kết hợp chốt chặn với tập kích, truy kích hết sức linh hoạt, bộ đội Trị - Thiên đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 1.500 quân Pháp, bắt sống 125 (trong đó diệt gọn Tiểu đoàn Lê dương 4 của Binh đoàn Buttin), đánh bại chiến thuật "bao vây cất lưới" của Pháp. TTH đánh dấu bước trưởng thành từ du kích chiến lên vận động chiến của bộ đội Bình - Trị - Thiên. Khi thành lập Đại đoàn 325, ngày 11.3 trở thành ngày truyền thống của Đại đoàn.

Bách Khoa Toàn Thư việt Nam
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/
READ MORE - NGUYỄN KHẮC THỨ - PHÁ KHO BOM TÂN-SƠN-NHẤT

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - CHÙM THƠ


Hoàng Phủ Ngọc Tường (sinh 9 tháng 9 năm 1937 tại thành phố Huế) là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1978), quê gốc ở làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.


Năm 1960: tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn khóa I, ban Việt Hán.
Năm 1964: nhận bằng cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế.
Năm 1960 - 1966: Dạy trường Quốc Học Huế.
Từ 1963 tham gia phong trào học sinh, sinh viên và trí thức Huế với tư cách là Tổng thư ký hội Sinh viên Huế.
Năm 1966 – 1975: tham gia kháng chiến chống Mỹ.
Từ 1975 cho đến khi nghỉ hưu: vừa sáng tác, vừa tham gia công tác quản lý tại các Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế và Quảng Trị.
Vợ Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Hiện nay ông đang sống ở Huế.

Năm 2007, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, cùng đợt với vợ ông.


Tác phẩm
Thể loại bút ký:

Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn lâu (1972).
Rất nhiều ánh lửa (1979, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1980)
Ai đã đặt tên cho dòng sông (1945)
Bản di chúc của cỏ lau ( truyện ký, 1984)
Hoa trái quanh tôi (1995)
Huế, di tích và con người ( 1996)
Ngọn núi ảo ảnh (2000)
Trong mắt tôi (2001)
Rượu hồng đào (truyện ký, 2001)

Thể loại nhàn đàm:

Nhàn Đàm (1997)
Miền gái đẹp (2001)

Thể loại thơ:

Những dấu chân qua thành phố (1976)
Người hái phù dung (1995)
Ngoài ra, vào năm 2002 nhà xuất bản Trẻ đã cho xuất bản Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường gồm 4 tập.

http://vi.wikipedia.org/




Gưỉ Cho Người



Thôi xem em là bông hoa,
Một ngày qua - một ngày qua - một ngày
Thôi xem anh là đám mây
Một đường bay - một đường bay - môt. đời
Tài hoa cũng chuyên. đùa chơi
Làm sao thưa hết một lời yêu thương
Anh đi tìm khắp thiên đuờng
Chỉ còn một đoá vô thường gơỉ em
Gưỉ em một nét sông mềm
Con đò áo trắng đã chìm trong mưa,
Rằng sông buồn tự thuở xưa
Vầng trăng mộng mị bây giờ là anh....


http://www.saigoninfo.com/poem/browse.php?action=s





Bồng bềnh cho tới mai sau



Có con thuyền trong sương trắng
Bồng bềnh như một cánh chim
Có em chèo thuyền áo trắng
Xôn xao như trốn, như tìm
Có vầng mặt trời rực sáng
Bồi hồi như một trái tim
Em chèo thuyền về phía hướng đông
Hứng chút phấn mặt trời trên má
Bụi mặt trời vương đầy gót chân
In những dấu hoa hài trên sóng
Anh mãi nghe từ đáy màu sương mỏng
Bài hát tình yêu dậy một phương hồng

Từ thuở nào vũ trụ đã sinh ra
Mà sao mặt trời mỗi ngày vẫn trẻ
Mà sao anh như đã từ vạn kỷ
Bên sông này đứng hát mặt trời lên
Vẫn đi hoài trong cõi vô biên
Mặt trăng là mảnh gương riêng soi trái đất
Trái đất trôi như một cánh bèo dâu
Mặt trời nhiều khi phập phồng hơi thở
Mê man nhớ những tinh cầu

Những hành tinh ngẫm rồi thấy lạ
Bềnh bồng mà vẫn theo nhau
Anh với em, ừ thì cũng lạ
Bềnh bồng cho tới mai sau.



(Nguồn: Văn Nghệ Công An)
http://evan.vnexpress.net/News/phe-binh/phe-binh/2006/06/3B9AD0B0/





Về chơi với cỏ



Thưa rằng người đã quên tôi

Tôi về chơi với ngọn đồi cỏ may

Một đường hang một dấu giày

Một người ngồi một tháng ngày bóng nghiêng



Cảm ơn người trái đào tiên

Tôi về lãng đãng nơi miền cỏ gai

Cỏ gai hoa thắm mặt người

Trinh nữ ơi trinh nữ ơi - tôi buồn



Thôi người ở lại soi gương


Tôi đi về phía con đường cỏ lau

Nợ người một khối u sầu

Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi



Mai kia rồi cũng xa người

Tôi về ngủ dưới khung trời cỏ hoa

Có nàng xoã tóc tiên nga

Quỳ hôn cát bụi khóc oà như mưa.



Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Giáo dục, 2005
http://maxreading.com/?chapter=7247







Nhớ một người



Có đôi khi tôi ghé thăm vườn cũ
Hỏi người đi dạo ấy có quay về?
Cỏ bảo rằng: - Nàng về thăm một độ
Đốt khói trầm nghi ngút, lại bay đi

Tôi bồi hồi hỏi sang cây cổ thụ:
- Đường xưa còn vàng nắng áo mơ phai?
Nắng bảo rằng: - Nàng nhớ mùa thu cũ
Tận bên trời vẫn ngóng gió heo may.

Có một lần qua sông tôi hỏi gió:
Rằng tháng năm như nước chảy qua cầu
Gió mách rằng: - Nàng chờ người bạn cũ
Dẫu thời gian theo nước chảy về đâu.

Có nhiều ngày tôi nhớ em tha thiết
Nhớ bừng bừng như ngọn lửa trong tim
Đời lãng tử có một lần li biệt
Để buông nhau. Để quay quắt đi tìm

Có nhiều đêm tôi trở về gặp tôi
- Người là ai? Là đóm lửa ven đời
Ôi đóm lửa vẩn từng đêm hiu hắt
Nhớ một người. Và mãi mãi khôn nguôi.





Địa chỉ buồn


Nhà tôi ở phố Đạm Tiên
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu
Có mùi hương cỏ đêm sâu
Có loài hoa biết nuôi sầu tháng năm

Tôi về ngủ dưới vầng trăng
Có em từ chỗ vĩnh hằng nhìn tôi
Tình xa, xa mãi trong đời
Tóc xanh tiên nữ rối bời trên tay

Tôi còn ngọn nến hao gầy
Chảy như nước mắt từ ngày sơ sinh
Tôi xin em chút lòng thành
Cài lên một phiến u tình làm hoa

Những chiều Bến Ngự giăng mưa
Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
Tôi ra mở cửa đón người
Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang

Nhà tôi ở phố Đạm Tiên
Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu
Cây sầu đông, cây sầu đau
Thương tôi cây cũng nở màu hoa râm.


http://vanhoc.xitrum.net/thoca/hiendai/2729.html





Dạ Khúc



Có một buổi chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có một buổi chiều nào như chiều qua
Lòng tràn đầy thương mến
Mang cả xuân thì em đến
Thắm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui
chơi
Cho tôi chiếc hôn nồng cháy
Nỗi đau bắt đầu từ đấy
Ngọt ngào như trái nho tươi

Có buổi chiều nào mộng mị
vây quanh
Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối
Rối bời như mớ tơ xanh

Có buổi chiều nào hình như
chưa nguôi
Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn
Em có lời thề dâng hiến
Cho anh trọn một đời người

Có buổi chiều nào như chiều nay
Căn phòng anh bóng tối dâng đầy
Anh lặng thầm như là cái bóng
Hoa tàn một mình em không haỵ


http://www.vietnamsingle.com/p_tho.asp?BID=1614





Chuyện Cơm Hến



Người Huế ăn giống như học bài học cuộc đời, phải nếm đủ vị mặn, lạt, chua, cay, ngọt, bùi... không chê vị nào; lại còn tỏ ra thích thú với hai vị mà thiên hạ đều sợ là cay và đắng. Vườn Bắc cũng trồng mướp đắng, chỉ dùng trái chín đỏ độn thịt làm món hầm, còn trái xanh chỉ dùng... xoa sảy cho trẹ con. Người Huế thích dùng mướp đắng lúc còn xanh; nấu canh phải đuống nồi nước sôi xuống mới thả mướp vào để đảm bảo là đắng, lại còn bóp mướp sống làm món nộm, đắng một cách tuyệt vời! Có hôm tàu dừng ở ga Lăng Cô, thấy nấm tràm bán rẻ như cho không, tôi bèn hí hửng mua luôn một rổ làm quà cho chú bạn tôi ở Đà Nẵng, gọi là đặc sản xứ Huế. Cháo nấm tràm nấu ra ngon đến thế, nhưng chỉ có đám dân Huế sì sụp vừa húp vừa khen, còn bạn nhậu người Quảng đều né hết, vì đắng chịu không nổi. Hóa ra chỉ cách nhau một cái đèo Hải Vân mà thôi mà cách ăn uống của người Huế lạ đời đến thế!

Nhưng lạ nhất là thói ăn cay, đến nỗi chính tôi cũng không hiểu sao mình ăn cay đến như vậy. Người Huế có đủ cung bậc ngôn ngữ để diễn tả vị cay, bao gồm hết mọi giác quan, càng nói càng "sướng miệng": cay phỏng miệng, cay xé lưỡi, cay điếc mũi, cay chảy nước mắt, cay toát mồ hôi, cay điếc tai, cau điếc óc, và hết cỡ là (xin lỗi mọi người) cay thấu... lỗ đít! Có thể nói rằng người Huế bắt đàu thực đơn hàng ngày bằng một tô bún bò "cay dễ sợ", tiếp theo là một ngày cay "túi mắt túi mũi", để kết thúc với tiếng rao "Ai ăn chè?", một chén ngọt lịm trước khi ngủ.

Tôi xin giới thiệu một ngày " hạnh phúc trời hành" của dân Huế tui, bắt đầu bằng món cơm hến. Những món ăn Huế như bún bò, cháo lòng... bây giờ trở thành phổ biến khắp nước (dù đã mất đi bản chất cay của nó), chỉ món cơm Hến này không nơi nào có, Hà Nội, Sài Gòn cũng có vài ba quán Huế có cả cơm hến, tôi đã thử xem, đều toàn là nghêu xắt nhỏ, đâu phải là hến! Vậy thì, cơm hến là gì?

Trước hết, nói về cơm. Người Việt mình ăn cơm kiểu nào cũng phải nóng, duy chỉ cơm hến nhất thiết phải là cơm nguội. Hình như người Huế muốn bày tỏ một quan niệm rằng trên đời chẳng có một vật gì đáng phải bỏ đi, nên bày ra món cá lẹp kẹp rau mưng, và món cơm nguội với những con hến nhỏ lăn tăn làm sốt ruột người chế biến món ăn, gọi là cơm hến. Sau này ở Huế người ta bày thêm món bún hến, dùng bún thay cơm nguội. Tôi rất ghét những lối cải tiến tạp nham như vậy. Bún đã có bún bò, ai có giang sơn nấy, việc gì phải cướp bản quyền sáng chế của người khác. Vả lại, người Huế (Huế xưa, không phải bây giờ) rất kiên định trong "lập trường ăn uống" của mình. Tôi nghĩ rằng trong vấn đề khẩu vị, tính bảo thủ la một yếu tố văn hóa hết sức quan trọng, để bảo toàn di sản. Với tôi, một món ăn đặc sản cũng giống như một di tích văn hóa, cứ phải giống y như nghìn xưa, và mọi ý đồ cải tiến đều mang tính phá phách, chỉ tạo nên những "đồ giả"!

Xin tiếp tục chuyện cơm hến. Hến ở Huế, ngon nhất là hến cồn, do đó cái gò nổi chiếm vị trí "Tả Thanh Long" rất mực sang trọng trong Dịch Lý của kiến trúc kinh thành, dân chỉ gọi nôm na là Cồn Hến. Đáy sông quanh cồn có một lớp bùn sâu, là môi sinh màu mỡ của loài hến. Điều lạ là con hến, dù không có tay chân, nhưng khi thời tiết thay đổi làm dòng nước chảy mạnh, nó có thể lặn sâu xuống đáy bùn để khỏi bị nước cuốn đi. Dân cồn làm nghề xúc hến mỗi năm đều có lễ cúng hến vào tháng bảy, trên những con đò cờ xí rộn rịp, tiếng trống vang lừng. Người ta luộc hến xong đem ra sông đãi trong những chiếc rỗ lớn, tách vỏ, lấy riêng mặt hến đem đong chén bán cho những người làm cơm hến.

Mặt hến này là vị chủ của cơm hến, xào kèm theo bún tàu (miến), măng khô và thịt heo thái chỉ. Món thứ ba trong cơm hến là rau sống. Chỉ một nhúm thôi, nhưng rau sống này làm bằng thân chuối hoặc bắp chuối xắt mảnh như sợi tơ, trộn lẫn với môn bạc hà, khế và rau thơm thái nhỏ, có khi còn điểm thêm những cánh bông vạn thọ vàng, nhìn tươi mắt và có thêm mùi hương riêng.

Nước luộc hến được múc ra từ chiếc nồi bung bốc khói nghi ngút, bằng chiếc gáo làm bằng sọ dừa xinh xắn, cho vào đầy một cái tô đã gồm đủ cơm nguội, hến xào, rau sống và được gia thêm đủ vị đồ màu. Nước hến có giã thêm gừng, màu trắng đùng đục. Vâng, mê nhất cái màu đùng đục ấy, ăn cơm hến mà chê nước đục là... dại!

Bộ đồ màu của cơm hến là nhiêu khê nhất thiên hạ. Đây là bảng liệt kê các món gia vị mà tôi từng quan sát được ở một gánh cơm hến, chắc có thể coi là "lý tưởng", như sau: 1.Ớt tương, 2.Ớt màu, ớt dầm nước mắm, 3.Ruốc sống, 4.Bánh tráng nướng bóp vụn, 5.Muối rang, 6.Hạt đậu phụng rang mỡ, giã hơi thô thô, 7.Mè rang, 8.Da heo rang giòn, 9.Mỡ và tóp mỡ,10.Vị tinh. Tất cả được đựng trong những thẩu, những vịm bày trên một cái trẹc, o bán cơm hến lấy ra bằng những chiếc gáo mù-u nhỏ xíu, bàn tay thoăn thoắt mỗi thứ một ít như là rây... nước thánh!

Hương vị bát ngát suốt đời người của tô cơm hến là mùi ruốc thơm dậy lên tận óc, và vị cay đến trào nước mắt. Người "máu" cơm hến vẫn chưa vừa lòng với vị cay sẵn có, còn đòi thêm một trái ớt tươi để cắn kêu cái rốp! Nước mắt đầm đìa, mồ hôi ròng ròng nhỏ giọt vào tô cơm, thế mà cứ sì sụp, xuýt xoa kêu "ngon, ngon!"; đi xa nhớ lại thêm tới đứt sợi tóc, ở nước ngoài về bay ra Huế để ăn cho được một tô cơm hến lấy làm hả hê, thế đấy, chao ôi là Huế!

Tôi nhớ lần ấy, chiều mưa râm ri cữ tháng mười một, tôi ngồi ăn cơm hến ở nhà Bửu YÙ ở đường Hàng Me. Tôi vừa đi Tây về, suốt hai tuần ở Cung Đại Hội các nhà văn, bữa ăn nào cũng toàn thịt, bơ, phó mát..., đến nỗi tôi thất kinh, nhiều ngày chỉ mang một trái mớ cây về phòng, ăn trừ bữa. Nhiều tuần lễ không có một hột cơm trong bụng, nghe tiếng rao cơm hến, tôi thấy xúc động tận chân răng. Đây là lần đầu tiên, tôi ăn một tô cơm hến bằng tất cả tâm hồn. Thấy chị bán hàng phải cho quá nhiều thứ trong bát cơm nhỏ, công thế mà chỉ bán có năm đồng bạc, tôi thấy làm ái ngại hỏi chị:

Lời lãi bao nhiêu mà chị phải công kỹ đến thế. Chỉ cần ba bốn thứ, vừa vừa thôi, có đỡ mất công không? Chị nhìn tôi với đôi mắt giận dỗi rất lạ:

Nói như cậu thì... còn chi mà là Huế!

Chị gánh hàng đi, dáng gầy mỏng manh, chiếc áo dài đen cũ kỹ, chiếc nón cời và tiếng rao lanh lảnh, bây giờ tôi mới phát hiện thêm vị thứ mười lăm, là lửa. Vâng, một bếp lửa chắt chiu, ấp ủ đi trong mưa suốt mùa đông, bền bỉ theo bước chân người...



Hoàng Phủ Ngọc Tường
http://tusach.vietnhim.com/showthread.php?t=28
READ MORE - HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG - CHÙM THƠ

VÕ VĂN LUYẾN - CHÙM THƠ


Quê Thi Ông, Hải Vĩnh, Hải Lăng, Quảng Trị.

Thạc sĩ Khoa học Xã hội và Nhân văn

Giảng viên chính trường CĐSP Quảng Trị.

Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Phân hội Văn học, Hội VHNT Quảng Trị.



Giải thưởng:

Giải A sáng tạo VHNT Tỉnh và giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam về tập thơ “Sự trinh bạch của ngọn nến” năm 2007;

Giải B (không có giải A) sáng tạo VHNT tỉnh năm 2003.



TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN

Trầm hương của gió (thơ) - NXB Thuận Hoá, 2003

Sự trinh bạch của ngọn nến (thơ) - NXB Hội Nhà văn, 2007

Sẽ có ngày tôi về (CD thơ phổ nhạc), 2006



SẮP IN

Đối ngọn đèn khuya (khảo luận và phê bình)





Chiều lỡ dở
“chiều chưa đi màn đêm buông xuống”*

chiều chưa xa khói đồng đã rỗng

chiều chưa phai mây tình khuất bóng

chiều chưa chi lỡ dỡ chuốc nồng


chiều đền bồi nắng vội qua sông

chiều chấm than cong làn mi ướt

chiều quay gót quả ngọt thành chua

chiều vắng thưa lại vừa lỡ dỡ


chiều đem buồn bỏ chợ nào xong

chiều đem vui thả sợi tơ lòng

chiều đem dế trỗi đàn ca hát

chiều đem chiều lỡ dỡ chờ mong..


(*) Lời bài hát “”Đêm đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương



Đối thoại bão

Áp mặt thời gian, râu ria đẻ nhánh

Sợi thẳng, sợi cong, sợi lòng thòng bạc thếch


Áp nụ cười trái tim rạn khô giọt mắt

Chúm môi thổi đụn khói lấp mình


Áp nồng cay vào thiên hà mặt đất

Mắt mèo hoang lẫn với mắt nai


Áp sông một bờ, áp mây đẩy gió

Chạch vượt vũ môn, cổng trời bỏ ngỏ


Áp thấp áp cao áp đến lưng chừng

Anh áp vào anh đời lại quay vòng.




Ra sông

Ngày ấy con sông như trong hơn

Sóng vỗ mê bờ cỏ

Buổi sáng ấy bình minh như sớm hơn

Có tiếng hát thay lời chim hót


Hoa vẫn nở trời vẫn xanh mây vẫn trắng

Dòng sông đếm tuổi mình mười tám

Mẹ ra sông

Chạnh đám cải ngồng làm dưa

Em ra sông

Hoa lục bình trổ tím vào đôi mắt

Chỉ riêng con chuồn chuồn

Soi bóng mình đáy nước

Những con chữ tình yêu tôi vớt được

Mãi còn trên mặt nước

Sông ơi!





Tâm Thức Sông

Dòng sông tự mình rõ nắng mưa ấm lạnh, mặc rối nhiễu giông gió mây vần, mặc sáng tối vây quanh, mặc suối khe dự cuộc chia phần, mặc ao làng hát ví trời xanh.

Dòng sông đau cuộc thế lô xô con sóng, thuyền trăm mảnh gửi thân vào đáy cạn, đời trăm mảnh đầy vơi bất hạnh, lòng trăm mảnh đục trong .

Dòng sông yêu vầng trăng, yêu mộng mơ trăng sáng bội phần, yêu rong rêu gió dập mưa vùi ngọt đắng chẳng rời nhau, yêu hạt cát trong đớn đau tự sáng.

Dòng sông ơn biển thẳm non cao, ơn chí bền tình sâu đất lặng; ơn tuổi thơ thuyền giấy, ơn con chuồn chuồn tin cậy, ơn tóc xoả mái nhì mái đẩy; ơn đôi bờ bồi lở sinh thành.



17/02/2008




Sự trinh bạch của ngọn nến


Anh chú thích cuộc đời anh vào chỗ cuối cùng
của trang giấy còn lại
bằng những con chữ trinh bạch
sự trinh bạch của ngọn nến tự hủy
không đồng lõa bóng tối
Anh từng bật khóc
và từng nhìn người đời khóc nhiều về nỗi bất hạnh
nhưng vẫn yêu hơn những giọt lệ nến
bởi chúng không như sương khói chóng tàn
chúng biết đóng dấu nỗi đau lên mặt đất
Đấy là thú đau thương
được cấy trên cánh đồng khát vọng.

Anh chú thích cuộc đời anh bằng nỗi đam mê
không hề che giấu
không biết hóa trang
không mặc cả thiệt hơn
Thế mà chả ăn thua gì
trước sự trinh bạch của ngọn nến!




Đối ngọn đèn khuya

Bàn chân buồn vương sương ra đi
nghe thời gian chờ mong như khi
em còn trong ta thương yêu thầm thì

Thôi ta tìm về đêm xuân xa xưa
dòng sông hiền hòa sao rơi lưa thưa
con tim bồng bềnh sao tình bơ vơ

mình ta lang thang qua bao cơn mơ
chân thành mà chưa nên hình câu thơ
vòng đời hư hao ăn năn mơ hồ

ta thương bông hoa lên cành cây cao
nào hay đường trần vuông tròn ra sao
cô đơn thay cho kinh cầu xanh xao

ta không còn em ta quen màu đêm
ta ngồi bên song lòng không bình yên
ta đau hồn mình mưa rơi hồn nhiên




Những câu thơ chợt đến

Những hạt nước mơn trớn thịt da

làm bừng tỉnh giấc ngủ khủng long

con đường đi về vẹt mòn kỷ niệm

cây cậy mình có lá chở che

bỏ quên bên trời cơn bão ẩn nấp

giấc mơ nào xui khiến

nỗi buồn mênh mông
tiếng chim nóc rừng rớt vào quên lãng

thèm một ngày mưa

tự rung chiếc chuông bằng nắm tay

ôi tiếng chuông sâu thẳm

điều nhạy cảm lắm lúc đem phơi phóng xa xỉ

ước được thấm đẫm

trong ân sủng mưa

mà thôi

ta đánh đôi giày ẩm mốc

bước những bước thận trọng

ra khỏi nhà mình.


Võ VăN LUYếN


ĐỌC THÊM:

Sáng tác của Võ Van Luyến, phongdiep.net

Sáng tác của Võ Văn Luyến, voque.org

Trần Xuân An đọc thơ Võ Văn Luyến
READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN - CHÙM THƠ

TẠ NGHI LỄ - NGƯỜI DƯNG KHÁC HỌ




Tên thật: Tạ Lễ ( 1951 – 2008)

Nơi sinh: Quảng Trị

Bút danh: Tạ Tấn, Hoàng Nguyên, Mai Lý, Ái nghi

Các tác phẩm:

Yêu một người làm thơ (1990, 1993, 1996)

Nàng Hải Sư và tôi (1992, 1998)

Những mảnh đời khác nhau (1994, 1995)

Một ngày của một nhà văn (1997)

Những khoảng trời trong sáng (1995)

Quê mình (2004)



Người Dưng Khác Họ
Truyện ngắn


Chẳng những là người dưng khác họ, nàng và tôi lại còn khác cả dân tộc: Tôi người Việt, nàng người Hoa. Nhưng có lẽ do cái họ Tạ nặng trăm ký cộng với khuôn mặt trắng trẻo, cặp mắt một mí của tôi nên nhiều người cứ lầm tưởng tôi là người Hoa "chính hiệu".

Ngay như hôm mới vào học, lúc thầy phụ trách lớp điểm danh đến tên họ của tôi, nàng đã nhìn tôi cười ý nhị. Chắc nàng nghĩ tôi là người "đồng văn đồng chủng" với nàng.

Vì thế, giờ ra chơi, lúc "sơ kiến" , nàng "nã" cho tôi một "tràng liên thanh" bằng tiếng Hoa:

- Nị thòng xán hảy pín xùy? (Quê của Tấn, bên Tàu, ở đâu?)

Tôi đớ người ra. Nàng hiểu lầm tôi rồi. Tôi vội trả lời:

- Ngộ không "piết" tiếng Hoa.

Nàng trách:

- Uả! Quên hết tiếng mẹ đẻ rồi hả?

Thấy nàng trách, tôi vội phân trần:

- Không, Ngộ không phải người Hoa.

Nàng cười khúc khích:

- Ngộ quá hén! Vậy mà tôi hiểu lầm nữa chớ! Trông Tấn giống y hệt người Hoa à!

Vâng, tôi chỉ được cái giống y hệt còn nàng mới là người Hoa "con nai vàng" chính hiệu. Ông cố ba đời nhà nàng trôi dạt qua Việt Nam từ hồi phong trào Nghiã Hòa Đoàn nổi lên bị đánh bại, và gia đình nàng đã phải tha phương nhiều nơi, cuối cùng mới đến lập nghiệp tại thị xã, nơi gia đình tôi sinh sống.

Nàng tên Phi Anh, họ Bành. Đó là tên họ trong khai sinh. Còn ở nhà, nàng được gọi là A Muối.

Có lần tôi đuà:

- Phi Anh chắc sẽ sống lâu.

Nàng nhướng cặp mắt một mí nhìn tôi:

- Tấn "coi tướng" được hả?

- Không. Chỉ căn cứ vào họ của Phi Anh thôi. Phi Anh biêt' cụ Bành tổ chứ?

- Biết.

- Cụ Bành tổ sống hơn tám trăm năm (!). Bành Phi Anh, con cháu cụ Bành, sống "xỉu xỉu" cũng hơn trăm năm. "Gien" di truyền mà!

- Ai là con cháu Bành tổ?

- Phi Anh không phải họ Bành đó chi?

- Ai mà biết. Cứ "chọc quê" người ta "goài"!

Chao ơi, nàng phát âm chữ "goài" nghe sao dễ thương lạ, các bạn ạ!

Lần hồi, tôi và nàng càng ngày càng trở nên thân thiết. Vì trong lớp, tôi ngồi sát phiá sau lưng nàng nên tình cảm cũng dễ... phát triễn. Nàng lại kém môn toán nên tôi thường khéo léo gây tình hữu hảo bằng cách lén "viện trợ" cho nàng những bài giải. Nàng nhìn tôi ra vẻ biết ơn. Từ biết ơn đến biết điều, có gì là xa xôi.

Rồi nàng mời tôi về nhà nàng chơi. Nhà nàng thì tôi đã biết từ lâu. Đó là hiệu thuốc "Quảng Sanh Đường" ở ngay trung tâm thị xã, kế cận con đường vào chợ. Tuy đã qua lại đây nhiều lần nhưng tôi chưa bao giờ dám vào. Lần này, lấy hết can đảm tôi tiến đến trước "phụ thân" nàng, cúi đầu chào rồi cất giọng oanh "thỏ thẻ" như con gái nhà lành:

- Thưa bác, cho cháu gặp Phi Anh?

- Gặp A Muối hả? "Tợi" một chút - Ba nàng quay vào phiá trong nhà, nói lớn:

- A Muối à! Có "pạn" "tến" chơi!

Nàng từ phiá sau chạy lên, nhìn tôi cười rạng rỡ. Nàng ân cần giới thiệu tôi với ba nàng rồi dẫn tôi đi qua một hành lang sực nức mùi cam thảo, quế chi, nhân sâm, thục điạ..

Tôi đảo mắt nhìn quanh: Nhà nàng trang trí theo lối Tàu, điểm xuyết vài ba bức tranh Thủy Mạc. Ở chính giữa là bàn thờ Quan công. Góc phòng, dưới sàn nhà, là một trang thờ nhỏ thờ Thần Tài, khói hương nghi ngút. Không khí ở đây có vẻ "Tàu Tàu" làm sao ấy, khiến tôi liên tưởng đến "không khí" trong các truyện Tàu tôi đã từng đọc. Tôi hình dung ra nhu8~ng khuôn mặt của các nhân vật: Khổng Minh, Lưu Bị, Quan Công, Tào Tháo, v.v...

Tôi đang nghĩ đến đây thì nàng đã pha trà mời tôi uống. Hương vị trà cúc thơm ngon nên tôi làm một hơi hết... ba tách lớn. Tôi khoan khoái nhìn nàng. Rồi tự dưng tôi nảy ra ý định học tiếng... Hoa. Tôi ngỏ ý với nàng. Nàng tươi cười:

- Một tuần hai buổi, "Tạ Tiên Sinh" đến đây nhé! Mình sẽ dạy miễn phí.

Được nàng nhận lời, tôi mừng như... trẻ được quà. Thật là "nhất cử lưỡng tiện". Tôi sẽ được học thêm tiếng Hoa lại vừa được... gần nàng. Ú xu xoa, hảo hảo!

Tôi về sắm vở, viết. Ban đầu nàng dạy cho tôi biết nhận mặt chữ. Được ít bữa, thấy học chữ viết khó quá, tôi năn nỉ:

- Thôi, Phi Anh dạy mình học đàm thoại đi. Chứ học chữ viết sao mà "thiên nan vạn nan".

Nghe tôi đề nghị vậy, nàng cũng dễ dãi chìu tôi. Và nàng bắt đầu dạy tôi theo lối "đàm thoại".

Tôi hỏi:

- Một, hai, ba nói saỏ

- Dách, dị, xám.

- Cho tôi ba cái bánh bao?

- Bỉ ngộ xám cố tài páo.

- Cám ơn cô?

- Tố chề mị

- Cô đẹp lắm?

- Nị hổ leng.

- Tôi yêu cô?

- Ngộ ái nị

Tôi nhìn nàng "tình tứ":

- "Nị hổ leng. Ngộ ái nị".

Nàng đỏ mặt:

- Đừng nói "tầm pậy, tầm pạ". Học đi.

Tôi "cà khiạ":

- Ấy! Ngộ ái nị mà nị không ái ngộ thì ngộ ái ngại!

- Tấn nói cái gì thế? Đứng đắn không thì bảo. Tôi cho nghỉ học à!

Xin "sư mẫu" bớt giận. Vì lúc trưa...

Nàng ngạc nhiên nhìn tôi:

- Vì lúc trưa... sao?

- Vì lúc trưa "đệ tử" ăn nhằm phải môn "ngưá" nên bây giờ mới ngưá miệng... nói "pậy".

Nàng bật cười:

- Chời ơi! Cái "ông này"!

Để diễn tả sự ngạc nhiên hoặc thích thú nàng hay dùng tiếng "chời ơi" nghe dễ thương lắm các bạn ạ!

Và thế là, một tuần hai buổi, tôi đến "thọ giáo" cùng nàng. Có hôm, thay vì học, tôi phải tạm thời "phụ tá" giúp nàng trong công việc bán thuốc vì "phụ thân" nàng đi vắng. Tôi thấy nàng sử dụng "dao cầu, thuyền tán" thật "thần sầu".

Nàng vưà đọc đơn thuốc vưà chọn dược liệu, hai bàn tay thoăn thoắt, xắt ra, tán nhỏmột cách thành thạo. Có lẽ nàng đã thực thụ được truyền "y bất" của Hoa Đà, Biển Thước. Còn lúc nàng tính tiền, tối "lác" mắt luôn. Nàng "gẩy" bàn tính lách cách lẹ làng như làm ảo thuật. Vậy mà không sai một "ly ông cụ" nào.

Ngoài tài sử dụng "dao cầu, thuyền tán", nàng lại còn thành thạo cả môn "bắt mạch", "bốc thuốc".

Tôi nghe nàng bảo với một chị còn trẻ:
... Khí huyết không đều, con người thường sinh ra mỏi mệt... chị hãy dùng một thang "-Diều kinh bổ huyết". Chị về sắc ba chén còn hai, mỗi ngày uống một lần...

Nàng "phán" với một ông cỡ tuổi "ba mươi bốn rưỡi":

- Ông nên dùng thêm "Hải cẩu bổ thận hoàn" để bồi lại sinh lực. Một tuần ông sẽ thấy hiệu nghiệm...

Tôi phục nàng luôn.

Sau khi "thọ giáo" với nàng được ba tháng, tiếng Hoa của tôi đã kha khá. Một hôm tôi bảo nàng:

- Phi Anh dạy mình hát bài Hoa đi. Mình sẽ hát trong dịp liên hoa văn nghệ đấy! Được hôn?

Nàng "pằng lòng" cái một. Và nàng dạy cho tôi bài "Xiện Diện Wang Xì" tức bài "Muà thu lá bay", bản nhạc cùng tên với bộ phim do nữ tài tử Chân Trần đóng với Đặng Quang Vinh. Tôi đã coi phim này nhiều lần. Và lần nào tôi cũng khóc sướt mướt nên khi nghe nàng dạy bài này, tôi khoái hết "biết".

Từ đó, ngày nào, đi đâu tôi cũng nghêu ngao: "... Pù xứ táo way lẹo xâm mộ. Yâu xâu tao way yao sừ wo. Wo mây thiên tao chay xì cao. Quài can châu ai tì xí mồ..."

Tôi quyết tập luyện bài này thật "nhuyễn" để "trổ tài" trong dịp liên hoan văn nghệ cuối năm. Lúc đó các bạn tôi sẽ "lác" mắt. Và nàng cũng sẽ "khâm phục" tài nghệ của tôi. Cứ nghĩ đến đó thôi, tôi đã thấy "khoan khoái" cả người.

Thường khi con người lo lắng thái quá hay dễ bị vấp. Cũng như một thí sinh, trước ngày thi, bài vở dù đã thuộc nằm lòng, như vì quá lo quá nên quên luôn. Ấy, mới có câu "học tài thi phận".

Tôi cũng vậy. Dù đã "nhuyễn nhuyễn" bài "Xiên diện wang xi" nhưng khi lên sân khấu hát đến đoạn "... Yâu Xâu tao way ya xừ wo..." tự dưng tôi quên lửng. Tôi "lạnh" người. Tôi "phăng" bậy: "... Ngộ ái nị mà nị không ái ngộ. Nị không ái ngộ thì ngộ ái ngại..."

Dưới sân khấu, nghe tôi hát đến đây, mấy thằng bạn "trời đánh" của tôi huýt sáo la lớn: "Ê! tào lao". "Tào lao" hát "bậy à!" Tôi chết điếng cả người. Xong bài hát, tôi tụt lẹ xuống sân khấu. Tôi đưa mắt tìm nàng nhưng nàng đã "biệt vô âm tín". Tôi biết nàng đã giận tôi. Nàng cho rằng tôi đã "bôi bác" nàng, vì thế tôi đến nhà nàng trổ tài... trách ngược:

- Hôm nọ, mình hát sai cũng vì Phi Anh đó chớ!

- Sao lỗi tại tôi?

- Thì khi hát, Phi Anh ngó mình chăm chăm làm mình khớp. Cũng như một võ sinh, lúc ra diễn võ, có "sư phụ" đứng "thị phạm" một bên làm sao diễn nổi. Phải chi Phi Anh đừng ngó mình!

- Đừng "xạo" ông ơi!

Tôi biết rằng, nàng nói như thế, nghĩa là nàng đã hết giận tôi.

Muà hè năm đó, tôi và nàng cùng rớt kỳ thi Trung học. Vì nhà nghèo, tôi không có điều kiện để tiếp tục học lại. Tôi xin đi làm công cho một đại lý hãng nước mắm.

Cũng cùng năm đó, gia đình nàng chuyển vào sinh sống ở Chợ Lớn. Trước hôm đi, nàng ngồi bên tôi khóc sướt mướt. Tôi biết rằng nàng đã "yêu" tôi đậm đà, tha thiết. Nhưng vì theo tập tục của người Hoa, họ ít khi gả con gái họ cho con trai người Việt, trừ phi người con trai đó giàu sang hoặc có điạ vị cao trong xã hội, mà tôi lại chỉ là một người làm công nghèo. Vì thế, mối tình của tôi với nàng chỉ là mối tình... "cơn gió thoảng".

Bây giờ, mỗi lần đi nghe ca nhạc ở một tụ điểm nào đó trong thành phố, thỉnh thoảng nghe một ca sĩ hát lại bài hát "Muà thu lá bay", dù bằng bản tiếng Việt, tôi cũng không tránh khỏi bồi hồi xúc động nhớ đến nàng: Tôi khẽ thầm nhắc tên nàng: "Bành ơi, bây giờ em ở đâu?"


Tạ Nghi Lễ

ĐỌC, NGHE THÊM
Yêu một người làm thơ, truyện dài

Ca khúc Nhớ về Quảng Trị, thơ TNL, nhạc Ng. Tất Tùng
READ MORE - TẠ NGHI LỄ - NGƯỜI DƯNG KHÁC HỌ