Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, June 15, 2026

TƠ VƯƠNG ÁO DÀI (ENTANGLED IN AO DAI) - Thơ Trần Thị Lan Anh & Musharraf Hussain

  


FOREWORD FOR THE POEM “TƠ VƯƠNG ÁO DÀI”

 

There are presences that pass through one’s life without leaving footprints, yet they leave behind deep vibrations within the soul. No noise, no name is called—only a fleeting touch upon a fragile moment of the heart—and then they remain, like a fragrance that never fades from memory.

 

“Tơ Vương Áo Dài” was born from such moments. In it, the áo dài is not merely a symbol of gentle beauty, but a delicate streak of light within the rushing flow of life. A passing figure, as light as the wind, yet enough to stir an entire stillness within the heart.

 

The poem does not tell a complete story, but instead preserves scattered fragments of emotion—of gazes, of distance, of unspoken feelings that have already turned into lingering attachment before ever being named. Between reality and dream, between closeness and distance, one sometimes can only stand still, quietly watching a figure dissolve into the mist of time.

 

If poetry is the place where the unholdable is preserved, then “Tơ Vương Áo Dài” is a gentle attempt to hold onto a beautiful moment—even if only in imagination, even if only within memory.

 

And perhaps, it is precisely this incompleteness that creates the most enduring beauty of human emotion: beautiful because it was once felt, and forever lingering because it once touched the heart.

 

 

LỜI TỰA CHO BÀI THƠ “TƠ VƯƠNG ÁO DÀI”

 

Có những hiện diện đi ngang qua đời người mà không để lại dấu chân, nhưng lại lưu lại những rung động sâu xa trong tâm hồn. Không ồn ào, không một lời gọi tên — chỉ là một thoáng chạm khẽ vào khoảnh khắc mong manh của trái tim — rồi từ đó ở lại, như một hương thơm không bao giờ phai trong ký ức.

“Tơ Vương Áo Dài” được sinh ra từ những khoảnh khắc như thế. Trong bài thơ, tà áo dài không chỉ là biểu tượng của vẻ đẹp dịu dàng, mà còn là một vệt sáng mong manh giữa dòng đời hối hả. Một bóng hình thoáng qua, nhẹ như gió, nhưng đủ làm lay động cả một khoảng lặng trong tim.

Bài thơ không kể một câu chuyện trọn vẹn, mà lưu giữ những mảnh cảm xúc rời rạc — của ánh nhìn, của khoảng cách, của những điều chưa từng được thổ lộ nhưng đã kịp hóa thành nỗi vương vấn. Giữa thực và mộng, giữa gần và xa, có khi con người chỉ biết đứng lặng, lặng lẽ nhìn một bóng hình tan dần vào màn sương của thời gian.

Nếu thơ ca là nơi lưu giữ những điều không thể nắm giữ, thì “Tơ Vương Áo Dài” là một nỗ lực dịu dàng để níu lại một khoảnh khắc đẹp — dù chỉ trong tưởng tượng, dù chỉ còn trong ký ức.

Và có lẽ, chính sự dang dở ấy lại tạo nên vẻ đẹp bền lâu nhất của cảm xúc con người: đẹp vì đã từng được cảm nhận, và mãi còn vương vấn vì đã từng chạm đến trái tim.

 

 

ENTANGLED IN AO DAI

Thi Lan Anh Tran (Aschaffenburg, Germany) & Musharraf Hussain (Assam, India)

© Copyright by Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain

 

Ao Dai drifts softly through the lane,

and leaves my soul in twilight rain.

Your eyes—like evening light so clear,

just touch my heart and linger here.

 

The wind plays gently with your hair,

like drifting clouds suspended there.

You smile—an open sky so wide,

and scatter stars deep in my mind.

 

I am a leaf adrift in time,

carried by winds of fleeting rhyme.

I wish to follow, soft and still,

yet stand unmoving by your will.

 

Perhaps our fate is silent, small,

or love blooms in a misted call.

I stand alone, yet not alone,

your voice still calls me like a tone.

 

If one day you should pass my way,

please let me call your name that day.

Even within a dream’s soft gleam,

just let me hold your fading dream.

 

I gather all my broken vows,

and stitch them where the memory flows.

Your Ao Dai still moves like grace—

while I am lost in endless space…

 

TƠ VƯƠNG ÁO DÀI

Thị Lan Anh Tran (Aschaffenburg, Germany) & Musharraf Hussain (Assam, India)

© Bản quyền thuộc về Thị Lan Anh Tran & Musharraf Hussain

 

Áo dài ai nhẹ qua đường

Để hồn tôi lạc giữa sương khói chiều

Mắt em như ánh ban chiều

Chạm vào một thoáng đã nhiều vấn vương

 

Gió nghiêng sợi tóc ven đường

Ngỡ như mây trắng nửa vương nửa rời

Em cười nghiêng cả bầu trời

Rơi trong mắt biếc rối bời tim tôi

 

Tôi như chiếc lá giữa đời

Theo cơn gió nhẹ rã rời tháng năm

Muốn theo em suốt âm thầm

Mà chân đứng lại trong tầm mắt em

 

Phải chăng duyên khẽ lặng im

Hay tình chỉ nở tim mền khói mơ

Để tôi đứng mãi ngẩn ngơ

Nghe tim gõ nhịp dại khờ gọi em

 

Nếu mai em bước qua thềm

Xin cho tôi gọi tên em một lần

Dẫu là trong giấc phù vân

Cũng xin giữ lại bóng thân em về

 

Để tôi gom cả lời thề

Khâu vào nỗi nhớ bốn bề mênh mang

Áo dài em vẫn dịu dàng

Còn tôi mắc lại giữa ngàn tơ vương…

-------------------------------------------

From: Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de






 

READ MORE - TƠ VƯƠNG ÁO DÀI (ENTANGLED IN AO DAI) - Thơ Trần Thị Lan Anh & Musharraf Hussain

ĐI PHƯỢT KẾT HỢP "BẮT GHEN" GIÙM BÀ CHỊ - Truyện ngắn: Hoàng Thị Bích Hà


ĐI PHƯỢT KẾT HỢP "BẮT GHEN" GIÙM BÀ CHỊ

Truyện ngắn

 Hoàng Thị Bích Hà

 

Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm".

Bà bán mì đầu hẻm bảo thế.

Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen: “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư.”

Chị học sư phạm xong, nhận nhiệm sở ở một thành phố miền Trung. Gần trường chị có xí nghiệp sản xuất giấy vở. Anh Trần Đổng Tước làm giám đốc ở đó. Hễ thấy chị mặc áo dài đi ngang là anh đứng ngắm đến khi bóng chị đi khuất. Rồi anh lân la làm quen. Lúc đầu chị từ chối, bảo đã có người yêu. Nhưng anh Đổng Tước dò hỏi tìm tận nhà, lui tới luôn, lấy lòng được má tôi. Má ủng hộ. Thế là anh có cửa bước vô nhà mỗi cuối tuần. Hai năm sau thì cưới.

Anh chị thương yêu nhau lắm. Chị sinh bốn cô con gái xinh xắn, học giỏi. Anh chiều chị hết mực: chị chỉ đi dạy, nấu ăn; việc gì nặng nhọc trong nhà, anh làm hết. Kể cả xây nhà mới, anh tự lo với thợ, xong xuôi mới giao chìa khóa cho chị, chứ không cùng chồng phải lăn lộn chọn gạch, gọi vật liệu như tôi. Ai cũng khen chị có phước.

Ba mươi năm trôi qua êm đềm. Rồi đùng một cái, anh Đổng Tước có bồ. Chuyện khó tin lắm, vì anh vốn đàng hoàng, thương vợ con số một.

Một hôm, chị Tư đang ngồi cà phê với mấy chị em trong xóm. Bỗng chị Tịnh Biên ở gần nhà đi chợ về, ghé vào, thất thanh:

- Tư à, mày bình tĩnh nghe… Tao thấy anh Đổng Tước tay trong tay với một cô gái trẻ, đẹp, đi vào quán Miên Tím.

Chị Tư tái mặt, run bần bật, mắt ngân ngấn nước. Chị quay sang tôi: “Giờ sao đây?”

Tôi nói:

- “Sao trăng gì! Chạy ra đó xem thực hư ra sao. Mạnh mẽ lên chứ run thế thì xử lý sao được? Đi với em!”

Tôi nổ máy, rồ ga chở chị đến quán Miên Tím. Đứng ở một chỗ bên hông quán, vừa đủ gần để quan sát, mà bên trong khó thấy. Quả nhiên, anh rể tôi và cô gái đang trò chuyện rất vui vẻ, anh khuấy ly cà phê rồi đưa cho cô. Anh còn lấy khăn giấy chấm mồ hôi trên trán cô ấy. Hai người nhìn nhau cười âu yếm, cử chỉ thân mật, vượt xa mức bạn bè hay đối tác bình thường.

Quan sát xong, tôi kéo chị ra: “Rõ rồi. Không ồn ào. Về nhà đã, rồi điều tra thêm!”

Trên đường về, chị Tư khóc. Tôi bảo: “Khóc đi, nhưng chỉ sáng nay thôi. Về nhà là nín. Khóc chẳng giải quyết được gì. Còn bao việc phải tính.”

Sau đó, tôi cùng hai đứa em và vài người thân mở cuộc "điều tra nội bộ". Hóa ra anh Đổng Tước cặp với cô kế toán mới vào làm khoảng hơn một năm. Cô ấy độc thân, chừng 28 tuổi, quê ở một huyện miền núi. Anh tâm sự với chú em làm trưởng phòng kế hoạch: “Anh muốn kiếm đứa con trai. Bốn đứa con gái rồi, thiệt thòi quá.”

Nghe mà tôi phát ớn. Hóa ra cái lý do "muốn có con trai" đã khiến một người đàn ông từng thương vợ hết mực ba mươi năm bỗng nhiên phản bội.

Tôi bàn với chị Tư: “Phải gặp trực tiếp con bé đó.”

Nhân mấy ngày nghỉ lễ, tôi rủ một nhóm bạn thân đi phượt lên phía quê cô kế toán. Trên danh nghĩa là du lịch, nhưng mục tiêu chính là hẹn gặp cô ấy ở một quán cà phê. Chỉ có tôi và chị Tư ngồi cùng bàn với cô, còn nhóm bạn ngồi bàn bên cạnh đề phòng.

Cô gái đến, mặt đầy vẻ ngỡ ngàng, hơi căng thẳng.

Tôi mở lời:

- Chào em. Chị biết em mới vào làm ở công ty anh Đổng Tước, và chị cũng biết mọi chuyện giữa em với giám đốc Tước. Đây là vợ anh ấy. Còn chị là em vợ. Em có biết anh Đổng Tước đã có vợ, có bốn cô con gái đang sống hạnh phúc không?

Cô gái tái mặt, giọng lí nhí:

-Dạ… thực tình em không biết. Anh Tước bảo với em: “Anh và vợ không hợp nhau, đang ly thân.” Anh ấy nói tìm được ở em sự đồng cảm, và anh ước ao có con trai. Anh hứa sau khi em có con với anh, anh sẽ ly dị vợ để sống với em và con trai.

Tôi khẽ thở dài, rồi nói giọng nhẹ nhàng nhưng dứt khoát:

- Em ơi, đàn ông tán gái bao giờ cũng nói vậy. Bảo đang ly thân, không hợp vợ… chứ lẽ nào họ bảo thật: “Anh đang hạnh phúc lắm, vợ chồng thương nhau lắm” thì tán được ai, ai mà cắn câu? Anh ta có bốn con gái. Đó là sự thật. Anh ta khao khát con trai cũng là sự thật. Nhưng chuyện không hạnh phúc là sai, anh chị đang ly thân cũng sai luôn! Còn chuyện sau khi em sinh con trai, anh ta bỏ vợ ba mươi năm để đến với em. Điều đó em có chắc không? Họ sống với nhau nửa đời người rồi. Còn em chỉ là người mới. Nếu em sinh con, nhan sắc xuống, cơ quan có thể tuyển thư ký mới, kế toán mới. Rồi người sau cũng lại được lời tỉ tê như em từng nghe… Em nghĩ em có còn tự tin chỉ mình em là anh yêu thương không?

Cô gái cúi mặt, môi run run.

Chị Tư vốn ít nói, lúc này mới nhẹ nhàng cất lời. Chị nhìn cô, mắt rưng rưng nhưng giọng điềm tĩnh:

-Chị không trách em. Tại anh ấy gạt em. Nhưng chị mong em hiểu: chị thương anh ấy, thương các con. Ba mươi năm dựng xây, chị không muốn đổ vỡ. Chỉ cần em rút lui, chị sẽ coi như chưa có chuyện gì. Nếu em còn vướng bận… thì chị cũng có cách của chị. Chị không hứa suông đâu.

Tôi tiếp lời, không để không khí trở nên nặng nề quá:

-Hôm nay chị nói vậy thôi. Em về suy nghĩ, tìm cách xa anh Tước, chuyển công tác càng tốt. Còn dây dưa, em tự chịu trách nhiệm. Một anh Đổng Tước, chứ mười anh Đổng Tước cũng không che chở được cho em đâu!

Cô gái òa khóc, rối rít xin lỗi chị Tư. Hứa sẽ chấm dứt.

Một tháng sau, chúng tôi được tin cô đã chuyển về quê, làm kế toán cho một trường học.

Tôi gặp anh Đổng Tước trong đám giỗ ông nội tôi. Anh lảng tránh tôi cả buổi, đến lúc về bỗng quay lại, nửa đùa nửa thật:

-Dì Năm ghê thật! Gặp con bé nói gì mà con bé kế toán sợ mất ăn mất ngủ, nhất quyết đòi chuyển việc. Không cho anh kiếm thằng con trai à?

Tôi nhìn thẳng vào mắt anh, cười nhẹ:

- Anh còn xanh lắm. Đi với bồ đã lộ liễu đến nỗi hàng xóm trông thấy, còn không biết. Mà anh kiếm được con trai rồi tính sao? Bỏ chị Tư và bốn đứa con gái của anh? Anh dám không?

Anh cúi mặt, gãi tai, đỏ mặt:

-Thôi… anh nói cho vui ấy mà. Chứ anh chẳng dám đâu.

Tôi vỗ vai anh:

-Anh mà làm chị Tư buồn thêm một lần nữa, anh biết tay tui!

Anh cười trừ, lủi thủi ra về.

Chiều hôm ấy, chị Tư ngồi trầm tư bên tách trà, bỗng nhiên mỉm cười. Chị bảo tôi:

-Cảm ơn em. Không có em, chị không biết làm sao!

Tôi ôm chị một cái. Ngoài sân, những bông hồng vươn lên trong ánh nắng vàng, làn hương phảng phất trong gió nhẹ. Bên bàn nước cạnh hiên nhà, mấy đứa cháu đang cười đùa vui vẻ.

Sài Gòn, ngày 06/6/2026

Hoàng Thị Bích Hà

       habich1963@gmail.com

 

READ MORE - ĐI PHƯỢT KẾT HỢP "BẮT GHEN" GIÙM BÀ CHỊ - Truyện ngắn: Hoàng Thị Bích Hà

Sunday, June 14, 2026

NỖI NHỚ - Thơ Lê Kim Thượng


   

Nỗi Nhớ
 
1.
Tôi về một sớm bình minh
Vịn vào nỗi nhớ tìm hình tuổi thơ…
Mái tranh khói tím giăng mờ
Gió đưa hương lúa đơn sơ mơ hồ
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh xô bềnh bồng
Heo May thả gió trên đồng
Lúa mùa đến cử đòng đòng trổ bông
Cánh cò trắng, cánh gió đồng
Cánh diều treo giữa mênh mông trời chiều
Cánh chim chao gió liêu xiêu
Đồng xanh chao gió hiu hiu ngọt ngòn
Chiều tà nắng xế đầu non
Ai đem giấu nắng hoàng hôn cuối đèo
Gió mơn man, gió hanh hao
Thổi vào mái lá ngọt ngào tái tê…
 
2.
Tôi giờ xa xứ, xa quê
Nhớ quay quắt nhớ lời thề đinh ninh
Nhớ mông lung, nhớ vô hình
Thèm trông một cụm lục bình xa khơi
Nhớ nhiều tiếng hát “À ơi…”
Ngọt ngào, chân chất những lời thương yêu
Giữa đồng bóng Mẹ liêu xiêu
Áo nâu đã bạc vá nhiều đường may…
Hoa sen nở những ngón tay
Cánh hoa tim tím hương bay bồi hồi
Phù sa bên lở bên bồi
Quê hương thương lắm một thời đắm say…
Trên trời mây trắng vẫn bay
Dòng sông vẫn chảy, hàng cây vẫn còn
Lâu rồi lòng dạ héo hon
Người đi biệt xứ héo mòn tình quê…
 
Nha Trang, tháng 06. 2026
Lê Kim Thượng
 
READ MORE - NỖI NHỚ - Thơ Lê Kim Thượng

Wednesday, June 10, 2026

TRẢ NỢ - Thơ Lê Kim Thượng


 

Trả Nợ
 
1.
Người về trả nợ tháng năm
Trả quê nửa mảnh trăng rằm ngày xưa
Người về cuốc nắng, trồng mưa
Mồ hôi nhỏ xuống đường bừa rẽ đôi
Bồng bềnh lãng đãng mây trôi
Có con én nhỏ xa xôi giữa trời
Chuồn chuồn đậu đọt mùng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi mịt mù…
Trưa hè man mác lời ru
Đong đưa cánh võng, vi vu gió lành
Nước sông in bóng trời xanh
Chênh vênh bóng núi, chòng chành gió đưa…
Trâu về theo tiếng mõ khua
Xa xa vọng tiếng chuông chùa ngân nga
Hoàng hôn trăng đậu mái nhà
Ánh vàng gieo rắc như xa như gần…
 
2.
Người xa quê nhớ bâng khuâng
Xóm làng xưa cũ, người thân vẫn còn
Gái quê môi thắm vẫn son
Áo bà ba tím tươi giòn xốn xang
Mồ hôi đọng giọt nắng vàng
Sáng trên vần trán, mùa màng reo vui…
Nhớ hoài nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng Mẹ trong tôi bồi hồi
Nắng buồn ôm núi mồ côi
Nén nhang con thắp, nghẹn lời đau thương
Theo con Hạc trắng mù sương
Mẹ về với cõi vô thường xa đưa…
Ước gì đời lặng gió mưa
Trở về quê cũ rau dưa qua ngày
Buồn buồn ngọn gió Heo may
Rượu quê đầy cạn say say xao lòng…
         
Nha Trang, tháng 05. 2026
LÊ  KIM  THƯỢNG

READ MORE - TRẢ NỢ - Thơ Lê Kim Thượng

CÕI TRỌ, GIÓ THÁNG 5, KHÚC MƯA KHUYA, CÂU CHUYỆN ĐÁM MÂY – Thơ Tịnh Bình


  


CÕI TRỌ
 
Phía trước là tiếng chim
Xôn xao miền nắng lạ
Cuối trời mây trắng lóa
Ở trọ chốn không nhà
 
Trôi về đâu nước cuốn
Nhánh rong rêu bọt bèo
Ơ kìa mùa thu nhỏ
Gọi ngàn lá về theo
 
Căn nhà xưa hiu quạnh
Vắng dáng quen thường ngồi
Run run mùa gió trở
Hao gầy vành trăng côi
 
Người đi trong tịch lặng
Ngày như sương mơ hồ
Thả vào trong mưa muộn
Phím đàn lời hư vô...
 

GIÓ THÁNG 5
 
Chỉ một tiếng ve thôi
Cho hạ đừng im ắng
Thắp rực trời sắc nắng
Lối phượng về bâng khuâng
 
Tiếng ban trưa giục giã
Tan trường áo trắng lay
Tìm ai sao chẳng thấy
Gió rơi tiếng thở dài
 
Giọt tháng 5 trên lá
Mưa hòa cùng khúc ve
Phượng hồng rơi đâu mất
Trang lưu bút mực nhòe
 
Trường xưa trong ký ức
Bụi mờ vụn phấn bay
Áo học trò muôn cũ
Chút tình đầu chưa phai
 
Hình như trên lối ấy
Mây bồng bềnh tìm nhau
Mùa hạ chừng đi vắng
Tháng 5... Gió không màu...
 
 
KHÚC MƯA KHUYA
 
Thì ta có nhớ đâu...
Mờ nhân ảnh lạc vào sương khói
Chỉ lá ngoài vườn buồn chi rưng rức
Ơi mưa khuya rỉ rả loang nhòe
 
Thì đã lãng quên rồi ngày tháng
Ta không nhớ nổi khuôn mặt người
Giọt nước mắt trời có làm đêm buốt lạnh
Nghe tiếng mưa khuya trên mái phố vỗ về
 
Thì thôi lắng lòng vào câu hát cũ
Giai điệu một thời ta chất ngất mê say
Khúc mưa buông lời tình tự
Lâu lắm rồi trái tim chẳng thể ghét thương
 
Thì ta có khóc đâu...
Chỉ mưa khuya dỗi hờn khóc mãi
Chầm chậm nỗi niềm
Rồi cũng ban mai...
 
 
CÂU CHUYỆN ĐÁM MÂY
 
Quê hương
trong hình dung loài mây xám
dòng sông là cuộc trở về...
 
Triệu giọt nước bốc hơi
những đám mây hoài thai
oằn mình vượt cạn
tiếng mưa khóc oe oe trên mái nhà
 
Những bước chân non chạm đất
rồi chúng sẽ tự mình khôn lớn
và lũ lượt hòa vào sông vào biển
 
Rất lâu sau đó
có lẽ chúng sẽ già đi và chết
và quên mất mình đã từng là một đám mây...
 

TỊNH BÌNH

READ MORE - CÕI TRỌ, GIÓ THÁNG 5, KHÚC MƯA KHUYA, CÂU CHUYỆN ĐÁM MÂY – Thơ Tịnh Bình

LUÂN HỒI – Thơ Lê Kim Thượng


   

 
Luân  Hồi
 
1.
Yêu nhau từ thuở còn thơ
Nào ai biết được… ai ngờ mai sau…
Ru em ngày đã đổi màu
Lời ru có những “… trái sầu rụng rơi…”
Cà phê giọt đắng đọng rơi
Giọt buồn đen thẫm cạn lời thủy chung
Yêu thương dẫu có vô cùng
Nào ai biết được… ngàn trùng nhớ mong
Trái tim rạn vỡ trong lòng
Tình xa, tình lỡ… xoay vòng buồn thiu
Thương nhau ngày ấy thật nhiều
Không duyên, không nợ hắt hiu tình buồn
Thôi đành “…cắt dứt dây chuông…”
Ai thương, ai nhớ, ai buồn, ai say
Cuộc tình mòn mỏi hao gầy
Áo hồng chưa mặc thì nay mất rồi…
 
2.
Dù cho ước hẹn thề bồi
Nợ duyên không có, yêu rồi vẫn xa
Tình đầu đâu dễ phôi pha
Cố quên càng nhớ, cố xa càng gần
Lời tình thề hẹn bao lần
Lời tình trôi giữa Sông Ngân mất rồi
Bao năm trông ngóng phương trời
Quầng thâm đôi mắt… nhớ người mai sau
Những chiều trời đổ mưa mau
Nhìn mưa lặng nhớ một câu thơ buồn
Làm sao trời hết mưa tuôn
Để cho nước mắt… ngược nguồn về tim
Bóng em biền biệt khuất chìm
Đã đi… đi mất biết tìm về đâu
Nợ em một Khối Tình Sầu
Tìm em tôi trả…kiếp sau Luân Hồi…
 
 Nha Trang, tháng 06. 2026
 LÊ  KIM  THƯỢNG

READ MORE - LUÂN HỒI – Thơ Lê Kim Thượng

Monday, June 8, 2026

HẢI HÒA - QUÊ HƯƠNG TÔI - Thơ Lê Ngọc Hải Thụy

 


HẢI HÒA - QUÊ HƯƠNG TÔI

* Tặng: những ai lỡ bước tha hương.


Mỏi bước đó đây về Quảng Trị

Lòng bình an theo cuộc sống quê nhà

Trăng khuya tỏ sáng vầng ký ức

Tuổi thơ say chim - bướm - chuồn - hoa


Hải Hòa ơi! Ô Lâu xanh mát

Đã bao năm bồi lở giấc mơ...

Kẻ tha phương nặng đời cơm áo

Khó dối lòng quên - vực An Thơ


Thương em gái thôn nghèo mộc mạc

Quanh quẩn ruộng - cồn tay lấm chân chai

Mười bảy xuân đảm đang công việc

Từ bếp núc đến chuyện bên ngoài


Buổi nhàn nông đông vui đùa giỡn

Cầu Hưng Nhơn hóng mát đêm hè

Đất Phú Kinh ngày thêm đổi mới

Đường tráng xi măng sinh hoạt thay ghe


Xóm Hội Điền giữa đồng bát ngát

Con đường đê - bê tông hóa lâu rồi

Tháp chuông cao chủ nhật chiều giục đổ    

Bỗng dưng buồn - thương ai đó không nguôi


Càng Kẻ Vịnh bốn mùa gió hát

Trai gái hẹn hò... bến nước Cây Da

Điển tích xưa một thời vang bóng

Giờ chỉ còn chuyện vãn - âm thừa


Mắt dõi xa hạ càng Mỹ Chánh

Nhớ thuở trai... trang lứa rong chơi

Ngút ngái rồi... bạn bè mỗi hướng

Biển lúa xanh dợn sóng trong tôi

__    __


Hải Hòa ơi! Trắng ngày ray rứt

Biết viết sao... cạn bút cho vừa?!


HẢI THỤY

* Hình cầu Hưng Nhơn

và bờ vực An Thơ.

READ MORE - HẢI HÒA - QUÊ HƯƠNG TÔI - Thơ Lê Ngọc Hải Thụy

Sunday, June 7, 2026

TÌNH THI HỮU / CẮT RÀO / QUÀ MẬT ONG - Chùm thơ: Vũ Hùng




TÌNH THI HỮU


Chẳng duyên gặp gỡ ở nhà

Gặp nhau rôm rả tách trà Nam Sơn

Nắng trưa vàng rượi An Nhơn

Nghe thơ Đường luật vui hơn mọi ngày

Giàu cảm xúc, ý tứ hay

Chút tình thi hữu đẹp thay thơm hoài!

Vũ Hùng

 

CẮT RÀO


Sáng ra xách kéo cắt rào

Nắng mai vừa hửng lao xao sân vườn

Một giờ tay mỏi ,ê sườn

Bờ rào thẳng tắp một đường đẹp thay!

Hương cau ngan ngat như say

Nghe lòng thanh thản, mây bay lưng trời!

Vũ Hùng

 

 QUÀ MẬT ONG


Sáng chờ chỗ Đại Thiên Hà*

Mật ong quà quý bạn xa gửi vào

Nam non qua phố lao xao

Chang chang nắng đỏ nôn nao cả lòng

Tám giờ mới nhận quà xong

Vespa cứ thế thong dong trở về

Mật ong vài muỗng cà phê

Hoà ly nước ấm uống mê mẩn đời?

Vườn rau, ao cá thảnh thơi

Dưới trăng ngâm ngợi đôi lời thơ quê!

Vũ Hùng

 hutazox@gmail.com

* Tên doanh nghiệp xăng dầu đối diện với khách sạn Golden(phường Bình Định)


READ MORE - TÌNH THI HỮU / CẮT RÀO / QUÀ MẬT ONG - Chùm thơ: Vũ Hùng

NHÀ VĂN TRẦN TIẾT GIANG - DIỄN NGÔN CHIẾN TRANH VÀ Ý THỨC VỀ CỘI NGUỒN - Nguyễn Văn Trình

  


Nhà văn Trần Tiết Giang –

Diễn ngôn chiến tranh 

và ý thức về cội nguồn


Nguyễn Văn Trình

 

   Trong dòng chảy văn học địa phương Quảng Trị sau năm 1975, các cây bút trưởng thành từ chiến tranh đã có những thành công đáng ghi nhận, đáng trân trọng. Họ không chỉ là người chứng kiến, mà còn là chủ thể của trải nghiệm lịch sử. Nhà văn Trần Tiết Giang – Tên thật Trần Kiệm sinh năm 1945, quê: Làng Đơn Duệ, Xã Vĩnh Hòa, Huyện Vĩnh Linh, Tỉnh Quảng Trị (cũ) anh cũng thuộc thế hệ cầm bút như vậy.(Trưởng thành sau 1975) Xuất thân từ một vùng đất tuyến lửa giàu truyền thống cách mạng, và được trực tiếp tham gia vào Quân đội trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sáng tác của Trần Tiết Giang hình thành trên nền tảng ký ức chiến tranh và ý thức sâu sắc về quê hương – cội nguồn. Anh đã sáng tác trên nhiều thể loại văn học khác nhau, như: Bút ký, Truyện ngắn, Thơ...và có cả tiểu thuyết, thể loại nào anh cũng đã có những thành công nhất định. Tính đến nay Trần Tiết Giang đã xuất bản được sáu đầu sách: “Đường 9 máu lửa và hoa (Tiểu thuyết lịch sử) NXB Thuận Hóa, 2020; Tuyển tập thơ, Ký, Truyện ngắn, NXB Thuận Hóa, 2023; Những đứa con của rừng (Tiểu thuyết) NXB Thuận Hóa, 2023; Đêm về sáng (Tiểu thuyết) – NXB Thuân Hóa, 2023; Hậu bối của đất (Tiểu thuyết) NXB Thuận Hóa, 2023; Dòng sông, con đường và đất (Tiểu thuyết) NXB Thuận Hóa, 2024; Tình yêu người lính (Bút ký) NXB Thuận Hóa, 2025 ”.


Nhà văn Trần Tiết Giang và nhà thơ Nguyễn Văn Trình


    Nhà văn Trần Tiết Giang trong những tác phẩm đã xuất bản, anh thường tập trung viết về hai chủ đề chính: Diễn ngôn chiến tranh, hình tượng người lính và ý thức cội nguồn về quê hương đất nước. Chiến tranh đối với Trần Tiết Giang như một trải nghiệm sống. Trong các tác phẩm: “Đường 9 máu lửa và hoa, Tình yêu người lính, Những đứa con của rừng” chiến tranh không kiến tạo như một huyền thoại mang tính sử thi, mà được tái hiện từ điểm nhìn của người trong cuộc. Điều này tạo nên một “diễn ngôn nội tại” – nơi ký ức cá nhân hòa quyện với ký ức tập thể, cộng đồng. Ở tác phẩm “Đường 9 máu lửa và hoa” không gian chiến trường Đường 9 hiện lên vừa dữ dội vừa cụ thể. Tác giả tập trung chú trọng chi tiết hiện thực như: Địa hình rừng núi, bom đạn sự khốc liệt của chiến trường. Tuy nhiên đằng sau những miêu tả đó là chiều sâu cảm xúc, nỗi đau sự mất mát và ý chí sinh tồn. Như vậy chiến tranh trong các sáng tác của Trần Tiết Giang không chỉ là sự kiện lịch sử, mà còn là không gian thử thách nhân tính con người.

    Về hình tượng người lính trong các tác phẩm của Trần Tiết Giang chủ yếu anh khai thác ở khía cạnh con người đời thường. Trong “Tình yêu người lính” họ không chỉ là chủ thể chiến đấu, mà còn là những con người mang khát vọng yêu thương, ước mơ và nỗi nhớ. Tình yêu trong chiến tranh được đặt vào thế đối sánh giữa cái mong manh của cảm xúc và cái dữ dội của bom đạn. Điểm đáng chú ý là sự chuyển dịch từ góc nhìn của tập thể sang cái nhìn cá nhân hóa. Chính điều này đã tạo nên chiều sâu nhân văn, và góp phần làm phong phú thêm hình tượng người lính trong văn học thời hậu chiến. Còn trong “Những đứa con của rừng” cho ta thấy một điểm nổi bật trong sáng tác của Trần Tiết Giang là: Xây dựng không gian rừng như một cấu trúc biểu tượng. Rừng không chỉ là bối cảnh địa lý mà còn là không gian sinh tồn, che chở và thử thách con người. Rừng trở thành “Nhân vật thứ hai” – nơi con người được tôi luyện, trưởng thành và gắn bó máu thịt. Cách kiến tạo này cho thấy sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực và cảm hứng lãng mạn.

     Đọc những tác phẩm của Trần Tiết Giang ta còn thấy một mảng đề tài khác, được tác giả quan tâm sâu sắc đó là: Ý thức cội nguồn và diễn ngôn về quê hương đất nước. Dòng sông trong sáng tác của nhà văn như một biểu tượng của ký ức. Trong “Dòng sông, con đường và đất” hình ảnh dòng sông đã trở thành trung tâm của biểu tượng. Dòng sông không chỉ gợi nhớ về ký ức mà còn đại diện cho sự nối tiếp mạch nguồn. Nó là con đường, là dòng chảy dẫn về nơi lưu giữ những giá trị văn hóa cốt lỏi của quá khứ và tinh thần đoàn kết cộng đồng. Cách sử dụng biểu tượng như thế, cho thấy ý thức về cội nguồn mạnh mẽ trong sáng tác của nhà văn. Quê hương không còn đơn thuần là không gian địa lý, mà còn là nền tảng văn hóa tinh thần của mỗi con người.

      Điều đáng ghi nhận trong các tác phẩm của Trần Tiết Giang là vấn đề bảo tồn, giữ gìn tên làng và bản sắc văn hóa làng. Tiểu thuyết “Hậu bối của đất” đã đặt ra vấn đề gìn giữa tên làng, một biểu tượng hàm chứa ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Đây là một cuộc đấu tranh cam go, quyết liệt để được giữ lại tên làng. Bởi tên làng là ký hiệu lịch sử, là truyền thống văn hóa của làng, là danh dự tổ tiên để lại. Từ góc nhìn văn hóa, cho thấy Trần Tiết Giang là người quan tâm giữ được mối quan hệ hữu cơ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa thế hệ hiện tại và quá khứ lịch sử.

       Có thể khẳng định rằng: Trần Tiết Giang là một trong những cây bút văn xuôi trưởng thành từ sau chiến tranh của vùng đất lửa Quảng Trị anh hùng, mang trong mình những ký ức lịch sử và ý thức sâu sắc về cội nguồn quê hương đất nước. Những sáng tác của anh là sự kết hợp giữa hiện thức và trữ tình, giữa ký ức cá nhân và ký ức cộng đồng. Qua đó nhà văn đã góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn xuôi hậu chiến của vùng đất lửa Quảng Trị nói riêng, và của cả nước nói chung. Từ sự phân tích, cảm nhận ở trên, cho thấy Trần Tiết Giang là một trường hợp tiêu biểu cho mô hình: “Nhà văn – Nhân chứng” nơi trải nghiệm lịch sử đã trở thành những chất liệu sáng tác văn học nghệ thuật của nhà văn.

 

                  Phường Nam Đông Hà, ngày 6 /6 /2026

                  Nhà giáo – Nhà thơ: Nguyễn Văn Trình

                  Hội VHNT Tỉnh Quảng Trị

READ MORE - NHÀ VĂN TRẦN TIẾT GIANG - DIỄN NGÔN CHIẾN TRANH VÀ Ý THỨC VỀ CỘI NGUỒN - Nguyễn Văn Trình