Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, January 21, 2025

ĐỌC TẬP THƠ “EM PHÙ SA MÙA NƯỚC NỔI” CỦA NGUYỄN CẨM THY - Châu Thạch



Châu Thạch hân hạnh nhận được thi phẩm ''EM, PHÙ SA MÙA NƯỚC NỔI" của nhà thơ NGUYỄN CẨM THY, một thi phẩm tuyệt đẹp: ĐẸP NGƯỜI, ĐẸP SÁCH, ĐẸP THƠ. Mời quý vị bỏ vài phút đọc lời cảm nhận của Châu Thạch dưới đây để biết về một TÌNH YÊU MÙA NƯỚC NỔI mới lạ, yêu con người và yêu quê hương không đề cập đến sự thường tình như bờ tre, ruộng lúa và chùm khế ngọt mà bao nhà thơ xưa và nay đã viết:
 
Cầm tập thơ “Em Phù Sa Mùa Nước Nổi” của Nguyễn Cẩm Thy trên tay, lòng tôi cảm thấy vui ngay khi nhìn vào trang bìa có tên tác giả và tên quyển sách.
 
Tên tác giả là Cẩm Thy, Cẩm là gấm và Thy là thơ. Gấm thì ai mà không quý, gấm thơ thì lại càng quý giá hơn với đời. Tên tập thơ là “Em Phù Sa Mùa Nước Nổi”, tức em là đất, theo mùa lũ trôi về đồng bằng, đem hoa màu bồi đắp cho cây trồng tươi tốt. Lấy tựa đề tập thơ như thế, tác giả Nguyễn Cẩm Thy muốn gởi vào đó ý nghĩa tự nguyện, nhà thơ tự nguyện đem những gì tốt đẹp của mình phụng hiến cho đời.
 
Đời người làm thơ thì có gì tốt đẹp ngoài thơ đâu! Vậy “Em”  ở đây chính là Nguyễn Cẩm Thy muốn nói, muốn  đem thơ là thứ qúy nhất của mình để hóa hình, để tan trong dòng thời gian, như phù sa tan trong dòng  nước nổi, để thơ của “Em” cống hiến cho đời, như phù sa cống hiến dinh dưởng cho hoa màu tươi tốt.


Thật vậy, mở tiếp trang trong, đọc 2 bài thơ Khai Bút của Nguyễn Cẩm Thy, tôi thấy hai bài thơ là một trường thi như  dòng trường giang chảy, chứa đọng những phù sa  của cuộc sống, của tình yêu, hùng vỹ dưới  ánh mặt trời ban ngày và lung linh trong ánh trăng ban đêm:
 
Hết mùa hạn, em làm con nước nổi
Dâng phù sa
Thay nhựa sống nuôi cây
Anh khôn lớn từ gió Lào chớm thổi
Tươi tháng hè cồn bão rợp mây bay
 
…Bèo cứ dạt
hoa tím trôi từng chặng
Triều dâng cao, nguồn sinh thực cuộn về
Lòng vẫn thức đợi chờ mùa lũ cạn
Cho hạt mầm chín tới trĩu hồn quê
 
Hai bài thơ khai bút “Em Phù Sa Mùa Nước Nổi” có 54 câu, Châu Thạch chỉ trích 10 câu, đủ nói lên toát yêu về một tâm hồn thơ, tâm hồn ấy như mang nguồn sinh thực của phù sa, trôi giữa mênh mông, dạt trong vô định, chỉ ước mong cho anh và cho đời như “Hạt mầm chín tới trĩu hồn quê”.
 
Bây giờ người viết mới thong thả dạo bước qua hết 48 luống hoa, là 48 bài thơ khác, dừng bước lại mỗi luống, qua góc nhìn chủ quan của mình, thử ngắt một vài đóa hoa bắt mắt.
 
Phù sa thì có màu không đẹp. nhưng phù sa vào gấm thơ của Nguyễn Cẩm Thy cuống hút tôi vào sông Cửu Long mùa nước nổi với những đặc sắc của từ, của ý tả về một miền xa lạ đối với tôi. Phù sa vào thơ không còn là thứ phù sa trong nước nữa, nó la linh hồn của Nguyễn Cẩm Thy, một người đẹp tài hoa ở tỉnh Sóc Trăng, một nhà thơ được nhiều nhà thơ ái mộ, đã chứng minh thi tài của mình qua những vần thơ mượt mà ý vị trong tác phẩm nầy.
 
Trước hết ta hãy bàn luận về “Em và tình yêu đôi lứa” trong tác phẩm nầy:
 
Dầu mùa trăng/ có khi tròn khi khuyết
Thì lòng em như thuở mới giao bôi
Vẫn thương mãi/ Người mai đây sương tuyết
Hẹn trăm năm dầu chỉ phút đôi hồi
 
Tình em mãi theo triều lên triều xuống
Một dòng trôi/ mang thương nhớ khôn nguôi
Dầu gian khó trải tràn bao tình huống
Em trọn lòng gìn giữ nét son tươi
                                     (Tình Em)
 
Đọc bài thơ, ta hình dung được tình em thương mãi ngàn năm và lòng em mang nỗi niềm khôn nguôi qua hình ảnh dòng trôi của mùa nước nổi. Em chỉ là người em bé nhỏ nhưng tình em như con nước mênh mang tràn ra bờ bãi. Các nhà thơ thường vi em như trăng như hoa như ngọc, họ ví tình anh như núi cao biển rộng, không thấy ai ví em như dòng nước và tình em như phù ra triều lên triều xuông mang thương nhớ không nguôi. Thơ Nguyễn Cẩm Thy khác người ở chổ đó, ở chổ đem màu sắc quê hương vào tim mình, đêm khung cảnh quê hương quyện vào trong mọi vui buồn cuộc sống. bằng ý thơ, tứ thơ lạ mà hay.
 
Không chỉ ví em như con sông mùa nước nổi, Nguyễn Cẩm Thy còn ví em với những gì hùng vỹ hơn nữa để bày tỏ tình yêu cao cả của mình:
 
Mắt em là nhật nguyệt/ Môi em là diệm sơn
…Mi em là hải trân/ Mày em là giang biên
…Tay em là cánh hạc/ Vỡ òa ngút dường bay
…Chân em là biển lớn/ Bất châp vạn triều âm
Bờ ngăn sóng dữ chấn thầm
Tàu đi tránh lối/ Đá ngầm/ Vực sâu
                  (Mắt Môi Nhật Nguyệt)
 
Bài thơ có 22 câu, xuống dòng từng câu, người viết mạo muội rút còn 6 câu và đặt xuôi dòng, mục đích toát yếu lại ý nghĩa của bài thơ muốn bày tò một tình yêu vô đối mà nàng đem trao hết cho anh, dùng tình yêu ấy như bùa hộ mạng có đầy sức mạnh thiên nhiên   để bảo vệ cho anh. Thơ không có lời thề, chỉ là cường diệu mắt môi… mà bày tỏ sức mạnh của tình yêu em dành cho anh là tuyệt đỉnh.
 
Xuân Diệu viết “yêu là chết trong lòng một ít”, Nguyễn Cẩm Thy là một nhà thơ, có lẽ yêu sẽ chết trong lòng nhiều hơn một ít, bởi nhà thơ thì lảng mạn hơn, nên cảm xúc mạnh hơn, đau khổ nhiều hơn. Thật vậy, khi yêu, Nguyễn Cẩm Thy tuy đã tự nguyện làm phù sa mùa nước nổi, vậy mà nàng còn lo sợ mình sẽ không làm được phù sa cho chàng, bởi nàng nhìn vào sử tình, từ thiên cổ đến nay có vô số mối tình tan nát, rồi tưởng tượng biết đâu, giá như tình mình cũng sẽ lạc mất, cũng sẽ biệt tin nhau:
 
Nếu giả thử mai nầy mình lạc mất
Hai phương trời biền biệt bặt tin nhau
Em lặng lẽ ôm niềm đau giấu chặt
Nhìn mùa trôi từng chiếc lá thay màu
 
Nếu giả thử tình chôn vào thiên cổ
Xin gửi nhau một chiếc lá thu tàn
Đêm khấn nguyện
Trong lời kinh cứu khổ
Giọt thu buồn còn đọng lại từng trang
 
Mới giả thử mà nghe lòng hoảng sợ
Lỡ yêu thương tan nát cả đất trời
                    (Biết Đâu Thiên Cổ)
 
Những tiếng vọng trong bài thơ “Biết đâu Thiên Cổ” như dòng chảy mênh mang trong mùa nước nổi, đó cũng là dòng thời gian trong lịch sử tình yêu mà Nguyến Cẩm Thy đem vào thơ hình ảnh lá trôi trên dòng nước, âm thanh giọt thu buồn rơi rụng, âm thanh tiếng vọng kinh cầu, làm cho đọc thơ ta nghe như có chút gì xa vắng, mênh mông, lo ấu, buồn nhẹ, nhưng tha thiết yêu thương!
 
Nguyễn Cẩm Thy yêu nhiều yêu đậm và yêu ban cho, khi yêu lòng nàng tràn phăng như con nước mang phù sa về bình nguyên rộng lớn. Tình ấy “ngây ngất như sông tràn nước dậy”. Bởi yêu nhiều thì phập phồng lo âu tan vỡ cũng nhiều, sự lo ấu đó như “Sóng bủa quanh ngập mộng ướt từng đêm” trong giấc ngủ của nàng. Tất cả cũng biến thành những vần thơ rất đẹp:
 
Buồn biết mấy nếu mai nầy luân lạc
Người mười phương và tình lại đôi nơi
Trang thư cũ là cánh chim lang bạt
Chữ ngu ngơ không thể thốt thay lời
 
Tình ngây ngất như sông tràn nước dậy
Sóng bủa quanh nhập mặn
ướt từng đêm
Rồi cuộc lữ  cũng thành trang huyền thoại
Những lời xưa thức ngủ giấc êm đềm
           (Lòng Tràn Phăng Con Nước)
 
Vậy “Em và tình yêu đôi lứa” trong thơ Nguyễn Cẩm Thy là thứ tình yêu luôn luôn mới, ban cho mà không cần nhận lảnh, ngây ngất như sông tràn mùa nước nổi, như phù sa bồi đắp cho tình đơm hoa kết trái, dầu đời em phải chịu “Sóng bủa quanh ngập mặn ướt từng đêm”.
 
Bây giờ ta hãy bàn đến “Em và tình yêu quê hương” trong thơ Nguyễn Cẩm Thy:
 
Nguyễn Cẩm Thy không có quan niệm “Quê hương là chùm Khế ngọt, Quê hương là cầu tre nhỏ, là vàng hoa bí, là bờ dâm bụt” như Đỗ Trung Quân hay “Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ” như Giang Nam. Nguyễn Cẩm Thy yêu quê hương là yêu cái vẻ đẹp thiên nhiên hùng vỹ. Đọc thơ quê hương của Nguyễn Cẩm Thy, ta không thấy một vùng đất có bờ tre, có ao cá. có con diều mà ngược lại, ta đến một vùng đất mênh mông, thoáng đãng, cao rộng khiến tâm hồn ta như cánh chim bay vút lên cao, như con thuyền bơi dọc bơi ngang trong mùa nước nổi:
 
Nước từ trời
Rót chia nguồn vĩnh phúc
Đổ tràn về nuôi chín nhánh phù sa
Mang sửa mật và mang theo phú túc
Nuôi dân lành xuôi ngược mấy mùa qua
                (Em phù Sa Mùa Nước Nổi 3)
 
Mùa nước lớn phù sa ngâm cồn đảo
Lụt ngăn đồng trăng xóa ngút chân đê
Ráng hoàng hôn nhạt dần màu thái tảo
Trăng muộn lên
Sớm lặng
Thẩm hồn quê
               (Em Phù Sa Mùa Nước Nổi 4)
 
Nguyễn Cẩm Thy yêu quê hương cũng khác nhiều thi nhân khác, nhà thơ không đứng ngoài quê hương để thương để nhớ qua bờ môi chót lưỡi.  Nguyễn Cẩm Thy dầm mình trên quê hương, lặn lội trên quê hương mà tâm hồn luôn phơi phới trên quê hương:
 
Chân em ướt và tay em lạnh thấm
Nhưng tình em phơi phới
ngọt vị tha
Em lam lũ nhưng lòng dân no ấm
Em nhọc nhằn nhưng đất trổ màu hoa
 
Nước ngập bờ cho gạo đầy hàng quán
Cá khẳm ghe trưa sớm rộn ngày mùa
Chợ 2 buổi người vui đời mua bán
Bước em về nghe ấm dưới cơn mưa.
        (Em Phù Sa Mùa Nước Nổi 3)
 
Xóm làng ngập nhánh sông bờ úng thủy
Cỏ hanh hao rêu đá trải xanh cồn
Mây vẫn đến vẫn đi cơn gió chuyển
Chim co ro mái tháp trốn mưa nguồn
 
Người đã về cùng em mùa đoàn tụ
Thăm ruộng đồng làng mạc ngắm sao khuya
Nối phong lạp bên nhau bàn thời sự
Sách thánh hiền
Chung rượu quý
Sẽ chia
                      (Em phù Sa Mùa Nước Nổi 4)
 
Thật ngạc nhiên và thú vị biết bao khi đọc thơ ta thấy “Em chân ướt tay run, em lam lũ nhọc nhằn” mà vẫn “Bước em về nghe ấm dưới cơn mưa”. Càng ngạc nhiên và thú vị hơn nữa khi đọc thơ ta thấy “Xóm làng ngập, trời mưa gió, chim co ro” mà “Người vẫn về cùng ẹm, sách thánh hiền, chung rượu quý sẽ chía”. Với Nguyễn Cẩm Thy, không có nỗi buồn do nhọc nhằn trên quê hương đem đến mà chỉ có niềm vui là quà tặng từ những khó nhọc kia.
 
Tập thơ “Em Phù Sa Mùa Nước Nổi” của Nguyễn Cẩm Thy còn nhiều chủ đề khác nữa, nhưng ở chủ đề nào ta cũng thấy thơ Nguyễn Cẩm Thy chan chứa một niềm vui, niềm vui đó thật lảng mạn, lảng mạn như những con sóng  êm đềm lan trên cánh đồng mùa nước nổi. Những con sóng đó gợn trên mặt nước chứa phù sa, mà phù sa đó như tâm hồn Nguyễn Cẩm Thy, một tâm hồn đi trên nhọc nhằn, luôn yêu tha thiết, yêu vị tha, yêu dấn thân cho anh và cho quê hương xứ sở.
 
Đọc thơ Nguyễn Cẩm Thy ta cảm thấy yêu đời, yêu đời khi nghĩ về “Vạn Đóa Hoa Hồng Kính dâng mẹ: Xin dâng mẹ ngàn đóa hoa kính ái/Tận đáy lòng con khờ khạo ngu ngơ/Cảm ơn mẹ đã cưu mang ngần ấy/Hiến tặng đời trang trác lạc tài hoa”, yêu đời khi chiêm ngưỡng cuộc tình trong thơ chất phát đến quê mùa mà lảng mạn đến ngoài tưởng tượng:  “Mùa nước nổi lòng em ươm mống đợi/ Giăng lưới tình gôm tôm cá vào khe/Em vẫn ước cuộc mộng dài vời vợi/Cho tình khơi sóng vỗ cuối trời mê/Người hãy về cùng em bơi thuyền thúng/Thăm tuộng đồng, thăm duềnh nước ven đê/Ngắm chiều xuống/ trăng lên/ chim về tổ. Nghe câu ca vọng cổ đẫm câu thề”, yêu đời vì trong thơ Nguyễn Cẩm Thy còn biết bao điều mới lạ mang đến cho ta niềm lạc quan và sự tích cực, làm cho ta  cảm nhận được sức sống mạnh mẽ, sống hết mình, sống yêu thương và sống thi vị.
 
Thật tình tôi còn muốn viết dài hơn nữa, muốn trích rất nhiều thơ Nguyễn Cẩm Thy vào đây, vì mỗi bài thơ của Cẩm Thy đem cho ta hứng phấn, truyền cho ta tình yêu đất, yêu người, sức mạnh của niềm tin và lý trí của tâm hồn, cũng như cho ta tưởng tương một vùng trời tuyệt đẹp phương Nam. Thế nhưng, bài có hạn, không thể viết dài, xin ngừng bút ở đây và hẹn duyên tái ngộ còn nhiều.
                                                          
Châu Thạch
 
READ MORE - ĐỌC TẬP THƠ “EM PHÙ SA MÙA NƯỚC NỔI” CỦA NGUYỄN CẨM THY - Châu Thạch

VÔ NGÔN – Thơ Lê Phước Sinh





Người Già
lượm Ve chai
vơ lầm ngọn Gió
thổi tung.
 
Lê Phước Sinh
READ MORE - VÔ NGÔN – Thơ Lê Phước Sinh

Monday, January 20, 2025

Chùm ảnh HOA XUÂN - Chu Vương Miện

 Bấm chuột vào ảnh để phóng to.







READ MORE - Chùm ảnh HOA XUÂN - Chu Vương Miện

Thơ KHÚC TÌNH XUÂN - Jos Nhật Quang

 

Nhà thơ Jos Nhật Quang


KHÚC TÌNH XUÂN


Vườn Xuân 

nắng đã chín vàng

Lả lơi ong, bướm 

nồng nàn uyên ương

Tầm Xuân 

chúm chím môi hường

Tóc mây 

cài đóa hồng 

ươm duyên thì


Long lanh Xuân 

biếc hàng mi

Cho hương mùa đắm tình si 

hẹn thề…

Cỏ hoa thơm lối em về

Trăng Giêng 

dệt mộng phu thê mặn nồng


Thiên duyên se sợi chỉ hồng

Nối tình Xuân khúc nhịp lòng thủy chung.


Jos Nhật Quang

nhatquang18@gmail.com






READ MORE - Thơ KHÚC TÌNH XUÂN - Jos Nhật Quang

THƠ XUÂN GỞI MẸ Ở QUÊ NHÀ - Huỳnh Liễu Ngạn

 


HUỲNH LIỄU NGẠN


THƠ XUÂN GỞI MẸ Ở QUÊ NHÀ

đã bốn mùa xuân đến rồi mẹ
bên nhà tháng này cũng sắp hết mùa lạnh
rồi tết đến rồi ra giêng
những cơn mưa rả rích sau chái
chắc đã làm mẹ se lòng

đã bốn mùa xuân con không có ở nhà
bóng tối rồi cũng phủ đầy 
những rong rêu nỗi trôi ngoài hàng dậu
mắt mẹ mờ mưa bụi rải chung quanh
con lại nghe như có tiếng hò ơi
thuở thiếu thời vọng lên tức tưởi
nhớ thương tràn đầy nơi bếp lửa đêm khuya
và con nhớ mái lá nhà mình
đã dột mấy mùa qua

tháng này giàn mướp sau hè chắc đã rủ lá
cây sầu đông trơ nhánh đợi mùa sang
ở đây con khô mòn theo ngọn gió thu đông
mỗi ngày trôi qua
dòng đời đen bạc lắm
thưa mẹ
nhưng dong sông trôi đi là chia về trăm ngã
còn lận đận phương này
nhớ ngọn nguồn sông lạch thuở quê xa
đã bốn mùa trôi qua
con chẳng được tin nhà
chiều nay con nhìn lên khoảng trời mây mù đen phủ
mưa dầm dề buốt lạnh
đất khách quê người tội quá mẹ ơi

rồi con đếm từng tháng từng ngày
rồi năm này năm khác
tóc mẹ đã rụng nhiều theo với tháng với năm
con vẫn đợi vẫn chờ
vẫn nghe như có ánh sao rơi
xuyên qua hồn con lạnh
như ánh mắt mẹ về
hiển hiện với sao khuya

nơi đây có những buổi chiều con lê thê góc phố
băng qua những con đường hiu quạnh không cây
mặc cho ngọn gió thổi sầu se thắt lại
những ngọn gió buồn muôn thuở
làm bạn đường qua phố xá thênh thang
con bơ vơ nghe được lòng mình
xôn xao mùa xuân năm cũ
như nối lại được mảnh vườn xưa
để nghe mùi đất ẩm bốc lên
buổi trưa hè nắng đổ
con ươm lại giàn hoa giấy trắng
để che nắng che mưa
che nỗi sầu nhân thế
mà mỗi chiều lắng nghe tiếng chim hót bên hiên
con hình dung lại được dòng sông trôi êm đềm ngoài cửa
thấy quê hương trong mắt mẹ 
con nối được ngày về.

HUỲNH LIỄU NGẠN

Minh họa: Nguyễn Nhật Tân
READ MORE - THƠ XUÂN GỞI MẸ Ở QUÊ NHÀ - Huỳnh Liễu Ngạn

VỀ HUẾ QUA THƠ VĂN CỦA THẾ HỆ KẾ THỪA - Bài viết của GS TS, nhà văn Trần Kiêm Đoàn. (Giới thiệu tác phẩm Huế, Quê Hương Đi Để Mà Nhớ; tác giả là Bùi Hoàng Linh)

 


VỀ HUẾ QUA THƠ VĂN CỦA THẾ HỆ KẾ THỪA

Bài viết của GS TS, nhà văn Trần Kiêm Đoàn

 

Trên nẻo đường Nam Bắc Việt Nam, những bước chân lãng tử của giới văn nghệ sĩ dừng lại đậm nét nhất với cả Hà Nội, Huế, Sài Gòn với nguồn cảm hứng sáng tác phong phú, nhưng nếu xét về số lượng tác phẩm và tầm ảnh hưởng thì có thể ghi nhận rằng:

 

Hà Nội đứng đầu với số lượng tác phẩm phong phú và đa dạng.

Sài Gòn tươi mới với những tác phẩm đầy màu sắc năng động.

Huế lắng đọng với những tác phẩm mang chiều sâu trữ tình và trĩu nặng tâm hồn.

 

Người sinh ra và lớn lên ở Huế cũng như khách thăm Huế đều có cùng cảm nhận tương tự về tầm nhỏ nhắn, cảnh quang núi sông thơ mộng, điệu sống êm đềm trầm mặc của xứ nầy; nhưng khác nhau là tâm lý đòi đoạn (Emotional Fragmentation in Psychology) mà chỉ có những người Huế rặt chân quê mới trải nghiệm “nắng cháy da cháy thịt, mưa héo úa tâm hồn” của vùng đất quê huơng độc ngự cảm quan từ thời thơ ấu. Nguồn tâm lý nầy là khởi điểm của dòng cảm nhận: “Huế là quê hương đi để mà nhớ; chứ không phải ở để mà thương”!

 

Một người Huế nào đó đã đi khắp “ba đồng bảy đội” (tầm xa trái ngược với “ba đồng bảy đọi”) mới thấu cảm hết câu hỏi: “vì răng mà lạ rứa? (xin trả lời “tại rứa chớ mần răng”) như một loại công án về ngôn ngữ đặc chất đất lề quê thói rất Huế!

 

Có dịp đến những vùng đất cổ tích từ đấu trường La Mã ở Ý, Kim Tự Tháp ở Ai Cập đến bến sông Tiền Đường ở Trung Hoa nơi còn đượm dấu chân luân lạc nàng Kiều của Tố Như… thì chỉ càng thêm nhớ Huế. Mãi cho đến khi đối diện với Bức Tường Than Khóc (Wailing Wall) của Do Thái ở Jerusalem vào tháng Ba năm ngoái, nhìn dòng người khóc lóc tiếc thương, nguyện cầu chí thiết dưới chân bức thành được cho là huyền nhiệm đã gần hai nghìn năm, tôi mới hiểu Huế để cảm nhận trực tiếp nguồn tâm cảm vì sao Huế đi để mà nhớ chứ không phải ở để mà thương vẫn còn mịt mờ giữa cảm xúc mông lung và lý giải rạch ròi.  Huế từng là Ô Châu Lạc Địa của Ma Hời vong quốc. Huế là dòng trung chuyển của hào khí dân tộc mở mang bờ cõi của tổ quốc tiến về Nam. Huế là kinh đô vương quốc đầu tiên trong lịch sử dân tộc thống nhất giang sơn từ Bắc vô Nam. Huế là cái bể cạn nhỏ bé chứa những ước mơ đại hải sông hồ. Nhưng hiện thực, Huế vẫn còn vất vả gieo neo đồng hành với bước chân thời đại. Hệ luận thuận tình mà nghịch lý “đi dễ nhớ, ở khó thương” mang dấu ấn Tâm Huế nầy thật không ngờ vẫn còn là dòng chảy luân lưu xuyên thế hệ.

 

Thật ngạc nhiên và cảm động khi từ bên này bờ đại dương vừa được đọc một tác phẩm của thế hệ đàn em: Huế, Quê Hương Đi Để Mà Nhớ; tác giả là Bùi Hoàng Linh, đang ở độ tuổi tiền trung niên, tam tứ thập, lại là một người chuyên ngành khoa học kỹ thuật (Kiến trúc sư). Thật thú vị khi đọc Bùi Hoàng Linh cảm nhận về ý nghĩa Nhà và Quê Hương:

 

“Huế bình thản ngày tạ từ mà đau đáu ngày đoàn viên. Huế để người ta đi xa ngái mà day

dứt thương nhớ cố quận khôn nguôi. Với tôi Sài Gòn là nhà mà Huế là quê hương!”

 

Quê hương không chỉ là nơi lai lịch của mình thuộc về mà còn là nơi ẩn dấu cảm xúc miên mật từ trái tim

như nhà thơ M. Darwish nói lên từ cảm xúc chân phương rằng, “mái nhà là nơi để sống nhưng quê hương là nơi nương náu của tâm hồn cho dẫu nghìn trùng xa cách (A home is a place where you live, but a homeland is where your heart belongs, even when you're far away."

 

Có chăng thiên nhiên là thành quách rêu phong của một nguồn tình cảm Huế đã nảy mầm và trấn ngự mà Bùi Hoàng Linh đã thể hiện trong tác phẩm, rằng:

“Những cơn mưa dầm như một món đặc sản đã làm cho tình cảm Huế ít phát triển hướng

ngoại mà thường hướng về chiều sâu của nội tâm, âm thầm mà chung thủy. Thế nên,

người ở lại thì vẫn năm tháng đợi chờ gót lữ hành của kẻ ‘khăn gói đi xa’. Người viễn xứ

thì luôn có một ‘góc Huế’ trong mớ hành trang của ký ức để luôn canh cánh trở về mỗi

khi thấy nhớ.”

 

Và, Huế đây rồi. Huế mang ngữ cảnh của Bức Tường Than Khóc Jerusalem qua cảm nhận của chàng tuổi trẻ văn nhân xứ Huế:

 

“Trên những dấu vết của đền đài dường như nghe được cả trăm năm với lời cỏ cây xa xưa

vọng lại ...Và mỗi lần về Huế tôi cứ có cảm giác như được chạm tay vào từng dấu rêu,

được đặt chân vào quá khứ. Cứ ngỡ như là một cuộc hành hương về lại với những ký ức

ngậm ngùi bởi Huế mang riêng mình một nét đẹp mà buồn, rất buồn. Cái buồn của Huế

không rõ ranh giới, không mang hơi hướng của lý tính vì thế mà nó lãng đãng như một

nửa câu thơ ...chỉ một nửa thôi, nửa còn lại chờ người cố xứ mang về xứ thâm trầm của

mưa, của nắng, của bỏng rát gió Lào mùa hạ.”

 

Quả nhiên không phải là sự tình cờ chợt bắt gặp Huế qua nắng hàng cau hay nàng áo tím qua cầu… mà bằng nguồn cảm xúc gieo mầm, đâm chồi và nở hoa trong tư tưởng nghệ thuật của Bùi Hoàng Linh khi tác phẩm đầu tay về Huế là một thi phẩm… đậm tình với Huế có nhan đề là Lời Thương Gửi Huế.


Cách viết của Bùi Hoàng Linh giàu cảm xúc và tinh tế: Văn phong giàu chất thơ, thấm đẫm tình yêu đối với Huế, nhưng không quá lụy về quá khứ mà luôn mang một sự trăn trở và hoài niệm sâu sắc. Đặc biệt là nét Huế thật hồn nhiên mà cũng rất nồng đượm, thâm cung:

 

“Cái mặt hiền khô của người Huế cũng như dòng sông không gợn sóng mà đáy sâu chỉ giữ lại cho riêng mình những gì riêng nhất...Tình Huế có cái chi đó thâm trầm, khiêm cung, lặng lẽ, chìm khuất. Để khi xa rồi, tưởng sẽ quên dần theo thời gian mà có đâu ngờ nỗi nhớ theo tháng theo năm đã hóa thành trầm tích, lắng đọng lại cái tình lắm khi như cái roi tre của tình cảm vừa đủ ngậm ngùi rưng rức, để rồi có người giữa phố thị không có ngõ sau vẫn luôn ngoái về quê mẹ.”

 

Huế đang chuyển mình cùng chung với tầm cao, hướng xa và độ nhanh của thời đại. Mong dáng xưa, hồn cũ của Huế sẽ không biến tướng với thời gian. Trong cuộc thế xuôi dòng không ngừng nghỉ thế hệ văn nghệ trẻ như Bùi Hoàng Linh sẽ không bị mất hút vì đi quá xa về phía trước; nhưng cũng không trơ vơ ngồi lại bên cầu. Cực đoan trong nghệ thuật sáng tạo văn học nghệ thuật thường không có chỗ đứng của dòng văn học nghệ thuật Huế.

 

Chúc mừng, cảm khái và khen tặng tác phẩm viết về Huế của Bùi Hoàng Linh.

 

California ngày 18-1-2025

Trần Kiêm Đoàn

 


READ MORE - VỀ HUẾ QUA THƠ VĂN CỦA THẾ HỆ KẾ THỪA - Bài viết của GS TS, nhà văn Trần Kiêm Đoàn. (Giới thiệu tác phẩm Huế, Quê Hương Đi Để Mà Nhớ; tác giả là Bùi Hoàng Linh)

Chùm ảnh THẰNG CHÁU NỘI "CU LÈ" - Thanh Sương Lê

 Bấm chuột vào ảnh để phóng to.







READ MORE - Chùm ảnh THẰNG CHÁU NỘI "CU LÈ" - Thanh Sương Lê