Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, September 8, 2024

KHANG QUỐC NGỌC VIẾT VỀ HẠ VI

 “PHIẾN” ẤY CỦA RIÊNG “HẠ” VI?

Khang Quốc Ngọc 

 

Những ngày cuối hè, được đọc “Phiến Hạ” của nữ sỹ Trần Hạ Vi thì kể cũng là một điều thú vị. Thú vị bởi nhiều lẽ. Trước tiên, đó là sự tò mò. Một nữ trí thức Việt kiều Canada mà lại yêu và sáng tác thơ ca bằng tiếng mẹ đẻ đến như thế ư? Tập sách ấy của nữ sỹ được xem là một trong những gương mặt say thơ nó như thế nào mà thu hút được khá nhiều ý kiến của đông đảo những văn nghệ sỹ đương thời?

“Phiến Hạ” là tên tập thơ như một “phiến” lá “hạ” sang? Mỏng manh và đầy sức gợi? Một sự chuyển giao tâm cảm mượn thiên nhiên để chuyển tải thông điệp đầy ẩn ý chăng? Rằng ở trong tập thơ này, tác giả đã có những cách viết hết sức mới mẻ so với trước đây? Hay chỉ như là một sự khiêm tốn rằng tập thơ cũng chỉ được xem như những lát cắt về mùa, về người, về tình yêu nam nữ luyến ái qua cái nhìn đậm bản ngã của nữ thi nhân?

Có lẽ do vậy, tập thơ được chia làm ba phần rất rõ: “Hoa hạ”, “Cõng mùa”, “Vi và thế giới”. Nếu không có chủ ý ban đầu thì ranh giới phân chia ấy chắc chắn tác giả đã không phải cẩn trọng gom lại như vậy. Rõ ràng, mỗi một phần gắn vào với mỗi chủ đề là cuối cùng cũng chỉ để tụm lại thành ba “ông đầu rau” mà cáng lên lưng mình cho chắc, cho vững ý nghĩa hai chữ “phiến hạ” đó thôi.

Nhìn một cách tổng thể, “Phiến Hạ” rắc đầy những thủ pháp nghi ngờ và tra vấn. Thủ pháp ấy là để khẳng định mình hay còn là cách thể hiện mức độ nào đó sự khao khát của cái tôi rực lửa? Có được câu trả lời rốt ráo cho câu hỏi trên âu không dễ. Bởi sự mơ hồ mà thơ tác giả tạo ra, và còn bởi cả sự lồng ghép tiếng nói cái tôi được đặt vào trong suy nghĩ của nhân vật trữ tình nhằm truyền tải những thông điệp nghệ thuật của nữ sỹ. Song, dẫu đặt cái nhìn nghệ thuật ở khía cạnh nào thì thơ chị cũng rung ngân lên những cung bậc cảm xúc rất thật, thật đến nồng nàn, thật đến cháy bỏng. Cháy bỏng của những đam mê luôn hết mình cho con chữ. Nhưng, thốt nhiên đó không phải là tất cả của “Phiến Hạ”. Tập thơ mênh mông và sâu sắc hơn nhiều.

Ở “Phiến Hạ”, thơ Hạ Vi là những bừng thức, kết nối và tràn đầy những nguyên sơ. Một chuỗi những nghi ngờ tra vấn chỉ là cái cớ y như vỏ bọc ngôn ngữ bên ngoài để cho những nguyên sơ nữ tính kia thức dậy và miên viễn, mãi mãi miên viễn. Do đó, trong thơ chị nhiều khoảnh khắc xuất hiện như một thứ lực đẩy kết nối tạo ra một chùm năng lượng tích tụ hứa hẹn bùng phát. 

Thành thử, nhân vật trữ tình trong thơ Hạ Vi mang vác nhiều tâm sự. Đôi lúc, đó là tâm sự vung tóe lên, đầy dữ dội “lẽ ra cơn ghen/ cơn ghen/ tsunami nhấn chìm ngọn núi hồ Ba Bể/ núi lửa tung trời nham thạch giết giấc mơ” nhưng rồi lại dịu dàng chìm trong chiều sâu nữ tính đẫm giá trị nhân văn ở cái thế ngược đời đầy dích dắc “Thương tận cùng bơ vơ/ dẫu bao người chia sẻ/ đêm không cô lẻ/ bốn người cùng nâng chén/ cũng chỉ một mình” (Người đàn bà đến từ giấc mơ đêm qua).

Thơ Hạ Vi thường là thơ tự do, kết hợp những dòng dài ngắn khác nhau rất linh hoạt. Trong mỗi bài, khi cho kết thúc một đoạn thơ, chúng tôi thường thấy điều này: rất chặt về ý, còn thanh điệu thì có sự kết hợp cao thấp nhịp nhàng. Nên khi ta đọc thơ Hạ Vi lên sẽ không có cảm giác gập ghềnh, mà thường nhẹ và gọn. Câu chữ vừa đủ, ít có sự rườm rà thừa thãi. 

Bên cạnh đó, thơ Hạ Vi thường là những khuấy đảo của tư duy để gài cho được ẩn ngữ nào đó khiến độc giả có thể thích thú mà tìm cho ra đáp số. Ở đó là những dòng chảy ý tứ ngược xuôi của ngôn từ kết hợp đến khó nắm bắt, thêm ngôn ngữ thơ tự do nên thơ chị thường không dễ đọc đối với những độc giả khó tính. Cảm xúc và lý trí luôn đan xen nhau, xoắn bện từng đoạn từng bài. Nhiều bài thơ, xuất phát điểm dễ gây hiểu lầm vì ở đó có thể là một câu chuyện thường hằng hiện sinh đâu đó đang hiện hữu quanh ta, nhưng rốt cuộc những điều ấy cũng chỉ là cái cớ, cái vỏ bọc ngôn ngữ bên ngoài để dung chứa cái tứ thơ mà chị muốn chuyển tải đến người đọc mà thôi (“Luận án tình yêu”, “K”…). Sự diễn ngôn đó có thể hiểu là một sự dũng cảm nơi nữ sỹ cũng được mà hiểu theo nghĩa tác giả đang mượn chính cuộc đời này để thể hiện tâm tư thi ca cũng được. Hiểu kiểu gì cũng là một sự lạ và độc đáo. Điều đó phải chăng Trần Hạ Vi muốn gửi đến chúng ta một thông điệp rằng nghệ thuật cất cánh và thăng hoa ngay từ chính những câu chuyện bình thường giản dị hàng ngày kia?

Độc giả còn bắt gặp trong thơ Hạ Vi những ẩn ức rời rạc kiểu thi pháp mơ hồ nhằm diễn tả cho bằng được sự đau khổ và khao khát “K không phải là LH/ Nhưng K là LH”, “Mùa đông gõ ngón tay đông cứng/ vào bàn phím chữ/ Lũ sếu không còn bay qua mái nhà/ vào lúc nửa đêm/ Và anh bỏ rơi K/ Và K bỏ rơi anh”(“K.”). Lời thơ thấu cảm nao lòng của sự triệt tiêu đến độ triệt để mà rồi lại như không. Hư huyễn lại vẫn là hư huyễn, hư vô trôi theo hư vô. Cảm nhiệm về sự công bằng nhẹ tênh. Một sự diễn ngôn của nỗi buồn trong veo mà cố sống. Thật lạ! Mềm mại mà lại cứng rắn vô cùng! Cái bập bênh của cuộc đời trôi đi mất, còn lại là sự vô vi hồn nhiên đến vô cùng, chất vấn để truy nguyên riết róng “Em đã yêu anh nhiều bao nhiêu/ Em đã cho anh nhiều bao nhiêu” (Bọ cạp tháng 10).

Mặt khác, đọc thơ Hạ Vi đôi lúc chúng tôi có cảm giác y như người ta đi xe ngựa phải chịu những xóc nảy, những xóc nảy ấy dĩ nhiên là khó chịu, song nó lại cũng hứa hẹn nhiều điều hấp dẫn. Đó là kiểu tác giả cố tình tự đẩy mình ra bên ngoài để quan sát nhân vật trữ tình của thi phẩm ra sao khi suy tư cuộc đời vẫn đặt trong giới hạn truy đuổi của sự tra vấn “tình yêu có giữ được bài thơ/ bài thơ có giữ được tình yêu” (Bài thơ và tình yêu); “hạ vi hóa đa đề/ đa đề hóa hạ vi” (Ma túy của hạ vi), “Anh đeo chiếc khẩu trang lộn ngược/ thật gần thật xa/ thật xa thật gần” (P.C.D. 2020). Rốt cuộc thì trong cuộc đời này, đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả? Con người đã thật sự hiểu được nhau chưa hay chỉ mãi lòng vòng trong những vòng xoáy phức tạp của cuộc đời? Nghi vấn trồi lên mà thấy lả tả rơi những muộn phiền để rồi cho thơ vẫn mãi mãi là những cung bậc cảm xúc đầy hấp lực tươi non của con người trong cõi nhân gian vốn dĩ luôn luôn bị giằng níu của hai thái cực âm dương muôn thuở này!?

Có lẽ vậy chăng mà thơ Hạ Vi luôn khước từ những rỉ rên mà chúng ta từng thấy trong thi ca, cho dù “Phiến Hạ” có đề cập rất nhiều những khổ đau. Thơ chị mạnh mẽ nhưng lại dìu dịu trong cái thế nữ nhi ngọt ngào. Bởi thế cho nên, giọng thơ chị không bị đẩy đến chỗ lạnh lùng mông lung tới độ khó nắm bắt. Nó thủng thẳng mà dứt khoát; riết róng mà bình lặng; thực tại hiện sinh mà mơ hồ,… để từ đó có thể hiểu rằng “Phiến” ấy là của riêng “Hạ” Vi? Một tiếng thơ pha trộn đa sắc vị: Một chút chân thật và trung thực của vùng Miền Tây Nam Bộ, một chút văn hóa Phương Tây với sự đẫm đặc lý trí, một chút những bước du canh du mục và lạnh giá mà mạnh mẽ của nơi xứ tuyết Canada xa xăm mịt mờ…

Phần giữa tập thơ có chút chêm xen hương vị truyền thống mềm mại ngọt ngào trong phần “Cõng mùa” với một trăm phần trăm là thơ lục bát thì có lẽ tác giả muốn dành cho ký ức quê hương một cách trân trọng và yêu thương nhất? Bắt gặp trong “Cõng mùa” rất nhiều những hình ảnh viết về quê hương Miền Tây và tuổi thơ một thời. Những câu thơ đẫm đầy ký ức và giàu hình ảnh Miền Tây yêu thương.

Một mảng màu nghệ thuật khá nổi bật không thể không nhắc đến trong “Phiến Hạ” là tiếng nói thi ca thế sự đã được nữ sỹ thể hiện rất rõ nét và ám ảnh trong phần “Vi và thế giới”. Ở đó là những trăn trở có phần âu lo trước những thực thể nghệ thuật vốn dĩ từng hiện hữu nhưng nay đang đứng trước nguy cơ lụi tàn “Hoa lệ của một thời tự do tươi thắm/ Nền văn học khai phóng nhân bản Miền Nam/ Những Nhã Ca, Túy Hồng, Trùng Dương, Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng/ Em đeo chiếc khẩu trang năm 2024/ Đến ngồi cạnh và nắm lấy tay anh/ Uống cùng anh ly cà phê pha bột bắp/ Người ta chê cà phê dở…” (Em và Sài Gòn). Thay vào đó là những hiện trạng của vấn nạn thi ca có cùng một giọng điệu xơ cứng sáo mòn đầy lo lắng “Tôi giở hơn chục trang báo in/ Nhan nhản thơ mặc đồng phục/ Áo trắng bâu thủy thủ viền xanh” (Đồng phục thơ).

Một vài những từ ngữ cũ kỹ mang sắc màu sáo ngôn xuất hiện, tuy không nhiều trong “Phiến Hạ”, đã làm cho tập thơ mất đi một phần nào đó của sự tròn trịa “hư hao” (“miền xám dài hoàng hôn phủ vạt hư hao” – Bài ca về sự kết thúc), “chênh chao” (“thương con chiếc võng chênh chao” – Thương con).

Từ những cảm nhận và phân tích phía trên, chúng tôi cho rằng trong “Phiến Hạ”, điều cốt lõi mà nữ sỹ Trần Hạ Vi muốn thể hiện là một tiếng nói khác đi của sự bình quyền nam nữ, ở đó có đầy đủ sức mạnh nội lực để vươn lên mà cáng đáng vị trí và vai trò của phụ nữ cho xứng tầm. Do đó, chúng tôi còn thấy rằng một sự cân bằng luôn được để ở cuối mỗi bài thơ của chị là như tác giả đang cố ý ngầm chốt hạ mà khẳng định cho tiếng nói trên mỗi lúc một mạnh mẽ và chắc chắn hơn. Giọng thơ Hạ Vi đích thị được rút tỉa ra trong những va đập của cuộc sống mà hình thành, bởi thế mà nữ sỹ không ngại cho những câu chuyện mang màu sắc đời thường riêng tư cứ tự nhiên chảy tràn ra trong “Phiến Hạ”. Điều ấy lại chẳng làm cho chúng ta suy nghĩ và trân trọng khi nữ sỹ Trần Hạ Vi được sinh ra và lớn lên nơi mảnh đất bị xem là vùng trũng của văn hóa Việt Nam?

Sài Gòn, những ngày chớm thu 2024

Khang Quốc Ngọc





READ MORE - KHANG QUỐC NGỌC VIẾT VỀ HẠ VI

MỘT CHÙM THƠ – Le Nguyen Thu

 


C:\Users\hien\Pictures\em2.jpg



YÊU MÃI NGƯỜI TA  


Cuối cùng bất chợt lại yêu

ở cái tuổi đã hết rồi ngu ngơ khờ

đêm qua lại gặp ởm ờ

người ta đó với răng khểnh với giả vờ làm duyên 

thôi mà cát bụi phù dung 

cầm bằng không đặng...  nhớ người thương lạ thường! 


Stanton 2016 – Sept. 05th, 2024 (5:26 chiều)

_____


DƯỜNG NHƯ 

      (Tặng muội: nhà thơ, cô giáo Lê Thị Ninh từ Quảng Ninh)


Dường như 4 mùa trong tháng 9

có hạ hườm chín rục

có thu vàng sân trường

có đông ngâu chung thủy

và xuân hồng đâu đây


Dường như nghe trong ta thật lạ

gặp em về sáng nay

ngỡ chạm đóa lụng là 

ừ... vì lâu mình không gặp

tháng 9 chợt dễ thương


Dường như trong em có gì vui

nụ hôn mùi hè muộn

còn vướng trên tóc huyền

sáng mai vào trường cũ

em, cô giáo thật hiền

tháng 9 mùa hương yêu 


Dường như 4 mùa trong tháng 9

có nóng nung lửa lựu

có ngơ ngác nai vàng 

đôi mắt trò ngây thơ 

cơn mưa vừa trở lại

cô giáo cười như hoa 


Stanton  Sept. 3rd, 2019 – Sept. 6th, 2024 (6:01 chiều 

_____


NGẨN NGƠ

       Tặng Any, model in Saigon 


Ngất trời ngồn ngộn thiên nhiên*

tròn hồng trắng mịn thơm miền ngọt ngây

lượn dài xuống cõi gọi mời

đường cong thể ngọc chân dài hoang sơ

tinh cầu tôi nhịp lơ mơ

hồng trần cũ kỹ sững sờ cuồng cơn

dạo này tinh thể bất minh

nửa đêm nhớ thuở nguyên sinh địa đàng

bàng hoàng… gặp gỡ… bàng hoàng

xa em vườn trước ngỡ ngàng vườn sau


*Rõ ràng trong ngọc trắng ngà

Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên.(Kiều, Nguyễn Du)


Stanton Nov. 19th, 2016 – Sept. 01st, 2024 (6:30 sáng chủ nhật)

Thơ Le Nguyen Thu

lenguyenthu111977@gmail.com




READ MORE - MỘT CHÙM THƠ – Le Nguyen Thu

Friday, September 6, 2024

NHÌN TA LẤP LÁNH - Thơ: Khaly Chàm



khaly chàm

nhìn ta lấp lánh


từ tế bào da linh thể hóa khói tan vào hư không

cuồng chạy theo hổn hển nắm bắt

mở bàn tay trôi ra bóng ta khật khùng ngả ngớn 


đêm mơ thấy bước khoan thai lên đài nghiệt cảnh 

ngước nhìn những lá phướn bay phần phật

cô đơn ta chỉ biết nhìn xuống phía dưới chân

quá nhiều cái nõn nường lô nhô


nường mịn mẩy tung tẩy phô trương 

nõn uyển chuyển rung lắc tuyệt đẹp khôn tả

chợt giật mình tỉnh giấc rờ rẫm con ngu báu vật 


nhục thể trần truồng dật dờ khóc ngất 

lũ dơi vụt bay ngang cùng phát sóng âm siêu tần 

màng thính giác ta chẳng bao giờ khẽ rung 

hồn đá dao động hàng triệu năm lơ mơ chờ chuyển kiếp


lũ sương mù vón cục ẩn náu trong hốc mắt lá

ta muốn trốn chạy khỏi ánh nhìn từ đôi mắt đẹp của quỷ  

hòn than mặt trời đỏ hỏn

nhú dần lên vượt thoát ra khỏi não trạng đồ

thế gian mãi rú cười và hỗn loạn


ttcuchi 15h20’. 5.9.24

khalycham1954@gmail.com


READ MORE - NHÌN TA LẤP LÁNH - Thơ: Khaly Chàm

Chùm ảnh MÙA NECTARINE-ĐÀO MỸ - Chu Vương Miện

 Bấm chuột vào ảnh để phóng to.







READ MORE - Chùm ảnh MÙA NECTARINE-ĐÀO MỸ - Chu Vương Miện

ĐỨC THÁNH CHỬ ĐỒNG TỬ và LỄ HỘI ĐA HÒA - Đặng Xuân Xuyến

Đền thờ Dức thánh Chử Đồng Tử. Anh: VOV Du lịch.

 ĐỨC THÁNH CHỬ ĐỒNG TỬ và LỄ HỘI ĐA HÒA

.

Cách Hà Nội chừng 25km dọc theo đê sông Hồng, có hai ngôi đền thờ Đức Thánh Chử Đồng Tử. Một ngôi đền nằm ở địa phận thôn Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên bên dòng sông Hồng nhìn ra bãi Tự Nhiên nơi nàng công chúa Tiên Dung xinh đẹp, con gái vua Hùng thứ 18 kỳ ngộ và nên duyên với chàng Chử Đồng Tử nghèo khó. Một ngôi đền nữa thuộc địa phận thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, nơi chàng Chử Đồng Tử cùng nhị vị phu nhân hóa về trời.

Bài viết này giới thiệu ngôi đền thờ Đức Thánh Chử Đồng Tử cùng Nhị vị Phu nhân ở thôn Đa Hòa và những nghi thức cơ bản trong lễ hội Đa Hòa.

Ngôi đền Ða Hòa nằm trên một khu đất cao rộng, bằng phẳng, hình chữ nhật có diện tích 18.720m², mặt đền quay về hướng chính tây nhìn thẳng sang bãi Tự Nhiên. Tổng thể kiến trúc có 18 ngôi nhà mái ngói cổ như 18 con thuyền mũi cong, tượng trưng cho 18 đời vua Hùng.

Ngọ Môn gồm 3 cửa. Cửa chính là tòa nhà 3 gian cao rộng, trên đỉnh nóc đắp Lưỡng Long Chầu Nguyệt, chỉ mở cửa vào ngày đại lễ. Hai cửa bên mở vào các ngày lễ hội, Sóc Vọng... để đón khách thập phương.

Qua sân Ðại là đến Ðại Tế, tòa Thiêu Hương, cung Ðệ Nhị, cung Ðệ Tam và cuối cùng là Hậu Cung. Tòa Thiêu Hương có kiến trúc cao, thoáng, trang nghiêm. Các đầu đao, bờ nóc chạm trổ tinh vi, đắp gọt tỉ mỉ, màu sắc rực rỡ với trang trí nhiều hình rồng, sư tử.

Cửa võng ở cung Ðệ Nhị được sơn son thiếp vàng, chạm hình chim phượng, hoa cúc và các loại quả.... Các pho tượng Đức Thánh Chử Ðồng Tử và Nhị vị phu nhân được đúc bằng đồng rất đẹp.

Đền Dạ Trạch nằm cạnh đầm Dạ Trạch với không gian thoáng đãng. Kết cấu chính từ ngoài vào trong gồm có lầu Chuông, hồ Bán Nguyệt, qua sân là đến điện thờ gồm ba tòa nhà. Trong đền thờ còn có ban thờ Triệu Việt Vương (Tương truyền do Triệu Việt Vương từng đóng quân ở đây). Toàn bộ nội, ngoại thất, kiến trúc ngôi đền toát lên nét cổ kính, linh thiêng.

Hằng năm vào ngày 10 đến 12 tháng 2 âm lịch, lễ hội Chử Đồng Tử được diễn ra tại các đền Đa Hòa (xã Dạ Trach, Khoái Châu) và đền thờ Hồng Vân công chúa (xã Đông Tảo, Khoái Châu) để tỏ lòng ghi nhớ công ơn của Tam vị với dân quanh vùng, đồng thời cũng để nhắc nhở tô đậm thêm thiên tình sử muôn đời của Tam vị Đức Thánh Chử Đồng Tử - Tiên Dung và Hồng Vân.




Sáng ngày khai hội (mồng 10 tháng 2 âm lịch), từ sáng sớm các cụ phụ lão trong làng khăn áo chỉnh tề ra đền thắp hương làm lễ. Sau lễ khai mạc sẽ ôn lại truyền thuyết về cuộc đời và những hoạt động của Đức Thánh Chử Ðồng Tử và nhị vị phu nhân, rồi thực hành nghi lễ rước nước.

Đúng giờ quy định, đoàn rước kiệu khởi hành ra bến sông Hồng lấy nước. Ði đầu là 2 con rồng vàng lộng lẫy do 10 người điều khiển uốn lượn theo nhịp trống phách. Đoàn rước kiệu là đội tế nữ với xiêm y đủ màu sắc. Ðám rước có ban nhạc lễ, kiệu thánh, bát bửu, kíp chấp, ché đựng nước. Ðoàn rước nước ngồi trên hàng chục chiếc thuyền bơi ra giữa sông Hồng múc nước đổ vào ché rồi quay về đền để làm lễ tắm tượng.

Theo sau là đoàn “rước du”, đưa kiệu thờ các Đức Thánh lên thuyền rồng dạo trên sông với nhiều nghi thức tế lễ, múa hát trên thuyền. Dọc bờ sông có các đội múa hát, chiêng trống, cờ quạt, võng lọng theo hầu.

Sau khi nghi lễ rước nước, rước du kết thúc, chóe nước thiêng và kiệu Thánh được rước trở lại đền thì tổ chức lễ dâng hương và khai hội.

Theo tục lệ, nước được dùng để cúng phải là nước ở giữa sông Hồng. Người đại diện cho dân làng lấy nước là cụ già có đức độ trong làng. Dâng nước là hình thức tâm linh cầu nguyện một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu.

Sau khai hội, diễn ra rất nhiều trò chơi dân gian, nhiều tiết mục biểu diễn văn nghệ truyền thống như: hát ca trù, hát trống quân; các trò chơi đi cầu kiều, bắt vịt, đánh đu…

Đặc biệt, lễ hội Ða Hòa được gọi là Lễ Hàng Tổng Mễ, với thông lệ cứ 3 năm diễn ra một lần với sự tham gia của nhân dân hai xã Bình Minh (huyện Khoái Châu) và Mễ Sở (huyện Văn Giang): Sáng ngày 10 tháng 02 âm lịch, 8 làng thuộc tổng Mễ (tức 8 làng của 2 xã Bình Minh và Mễ Sở) đồng loạt tiến hành lễ rước kiệu về đền Đa Hòa.

Khi vào đền, ở mỗi đám kiệu lại diễn ra các trò khác nhau như múa rồng, múa phượng, múa sinh tiền…

Các đoàn rước khi gặp nhau còn có nghi thức chào hỏi độc đáo. Khi đã rước đủ 8 kiệu về đền thì tổ chức đại lễ dâng hương và khai hội.

                                                                             Đặng Xuân Xuyến

                                                                                      Hà Nội

                                                                  baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn

READ MORE - ĐỨC THÁNH CHỬ ĐỒNG TỬ và LỄ HỘI ĐA HÒA - Đặng Xuân Xuyến

Tuesday, September 3, 2024

TRUNG THU THUỞ ẤU - Truyện ngắn: Lưu Lãng Khách

Tác giả Lưu Lãng Khách


TRUNG THU THUỞ ẤU


Đang bắn bi cùng đám bạn, chợt nghe ba gọi: “Toàn ơi!” Tôi liền dạ một tiếng rõ to chạy vào ngay. Trước mắt tôi là cái lồng đèn ông sao ba mới làm xong, ngồi cười vẻ đắc ý. Tôi chụp lấy ngay: “Cho con! Để con xách ra khoe với tụi nó.” Ba tôi liền giữ lại: “Chưa được! Xem thôi, để tối hãy chơi! Ba còn phải gắn đế lò xo, cắm đèn sáp nữa mới xong, lúc nãy ba quên gắn. Con thấy đẹp không? Thôi ra chơi với tụi nó đi!” Tôi cười: “Dạ đẹp!” Rồi chạy biến đi ngay. 

               Đó là những năm tháng, đất nước còn ngập chìm trong lửa loạn binh đao, của Tết Mậu Thân, của hè 72 đỏ lửa, cùng những năm đất nước sắp đến ngày thống nhất. Cứ mỗi dịp trung thu đến, trong khói lửa chiến tranh, ba lại làm cho một chiếc lồng đèn, ông sao hay bánh ú, chẳng xinh lành gì nhưng tôi rất quý, cầm tung tăng khắp xóm. Lớn lên một tí, tôi là một cậu bé ham học ham chơi, thích những trò nghịch ngợm, và tự làm lấy lồng đèn chơi, trong những Tết trung thu, trông thật là xấu xí mà khoái chí vô cùng. Năm tôi lên mười tuổi, vào đêm trước Trung thu, ba chở tôi lên phố. Nhìn những gian hàng bán đèn trung thu lấp lánh, quyến rũ gọi mời không chịu nổi, đẹp gấp trăm lần mình tự làm. Tôi đã vỗ vào lưng ba: “Ba ơi! Con muốn mua lồng đèn.” Ba cười rà xe lại: “Con thích cái nào chỉ đi!” Tôi liền chỉ: “Cái đèn kéo quân đó ba!” Chợt ba tôi tái mặt, im lặng đi lo công việc. Khi trở về, ba đến một tiệm khác, rút tiền ra suy tính, rồi chỉ mua cho tôi, cái đèn bánh ú trung trung, đẹp còn thua ông sao, cá chép. Dù không muốn tẹo nào, tôi vẫn cầm lấy, tiu nghỉu ngồi sau xe. Đến một tiệm bán bánh, ba mua cho bốn cái bánh trung thu nhỏ xíu, phân làm hai bịch, bảo tôi hai cái, hai em mỗi đứa một cái. Nhưng tôi chỉ ăn một cái, còn một cái đem về cho chị. Tối đến thấy tôi buồn, chính tay ba thắp đèn lên, rồi trìu mến nhìn tôi. Tự nhiên hết buồn ngay, tôi xách lồng đèn vọt lẹ, nhảy nhót ca vang khắp làng trên xóm dưới. Bọn trẻ xách lồng đèn cha mẹ làm cho, hay tự làm trông xấu xí, thèm khát nhìn chiếc lồng đèn bánh ú, mua từ trên tỉnh của tôi, với một vẻ ngưỡng mộ đầy thán phục. Tôi ngửa mặt nghênh nghênh: “Ba tao mua cho đó!” Thuở ấy chẳng biết lên phố làm gì, mà ba thường chở tôi đi, các em tôi còn lâu mới được.

Trung thu năm sau, ba lại chở tôi ngang qua các tiệm bày bán đồ Trung thu, nhưng tôi chỉ nhìn im lặng. Thật quá bất ngờ! Ba tôi dừng xe lại, bước xuống nắm tay tôi dẫn vào: “Lấy cái lồng đèn này cho con nghen!” Tôi mừng vui đến nỗi, dạ thật to và nhảy cẩng lên. Chẳng biết cái lồng đèn giá bao nhiêu, mà tôi thấy ba lấy trong bóp ra, xấp tiền mẹ bán gánh lúa đưa cho hồi sáng, đếm từng đồng trả cho chủ tiệm. Mười một tuổi cũng đã biết ít nhiều, thế nào là hạt lúa hạt cơm, tẩm ướp bao mồ hôi mặn đắng, lao khổ nhọc nhằn của ba mẹ. Nên tôi chợt hiểu ra, nghẹn ngào rơi nước mắt, không còn hứng thú gì nữa, mà chỉ thấy thương ba mẹ, bất ngờ khóc rống lê: “Ba cất tiền vô đi! Con không muốn đèn kéo quân nữa đâu!” Vẻ mặt ba tôi buồn khó tả: “Vậy ba mua cho con lồng đèn cá chép kia nghen?” Tôi lắc đầu mếu máo: “Ông sao hế!” Và ba đã mua luôn cái trống cóc mới cho tôi, khi cái trống cũ ở nhà đã bị thủng năm rồi. Đi một đoạn, ba lại ghé vào tiệm bánh, cũng mua đúng bốn cái bánh trung thu như năm ngoái, nhưng lớn hơn một tí thì phải. Tôi cầm lấy bánh, ngồi sau xe cười mủm mỉm nhơi nhơi, nhìn người qua đường cũng mua sắm cho con, mà thấy trong lòng vui khó tả. Đêm chầm chậm xuống! Vừa nghe trống lân giục ở đầu thôn, người tôi đã nhảy nhót, ngứa ngáy chân tay muốn bay đi ngay. Lại cũng chính tay ba tôi đốt đèn, rồi đưa cho. Tôi xách đi hòa cùng chúng bạn, vẻ làm oai tự đắc. Đó là cái lồng đèn thứ hai, cũng là cái cuối cùng, ba mua trên chợ tỉnh cho tôi. Tôi đã cất giữ và sửa soạn lại, cho các em tôi chơi vài năm sau nữa. (Đến khi nó hỏng nhiều chỗ, cột dán không được nữa, tôi đem cất bên bàn học tập, để giữ lại kỷ niệm của ba cho, mãi đến lớn vẫn còn.)

Có một hôm tình cờ, tôi nghe má nói với ba: “Con mình nó mê lân quá! Hay là mua cho nó một cái đầu lân đi ông?” Ba tôi trợn mắt: “Tiền đâu mà mua! Tôi nói là không được! Bà không thấy nó leo trèo huậy phá phát ớn, đã quá đủ rồi sao! Nó mà leo cây nhảy lân, có ngày cũng chết vì lỳ lợm. Tôi tính rồi! Giờ vợ chồng mình dành dụm, mua cho nó cây đàn, bồi bổ năng khiếu văn nghệ cho nó, là hợp lý nhất. Nhà mình nghèo, cũng là chơi, mà cái gì tốt thì hãy chọn cho con.”

Thế là chấm hết, những tháng ngày đẹp nhất của tuổi thơ! Mùa trung thu năm ấy, cũng là trung thu cuối cùng, tôi xách lồng đèn nhảy nhót, vì trung thu tuổi mười hai (mười ba tuổi ta), ba đã mua cho tôi cây đàn guitar. Từ ấy, mỗi dịp trung thu đến, tôi chơi đàn làm thơ, và chỉ vui cười cùng chúng bạn, những lúc lân đi qua, chỉ đốt hộ đèn cho những em bị tắt, và cho cả em mình.

                 Thế rồi tôi lớn lên có vợ sanh con. Một hôm nhân dịp Tết trung thu, đưa vợ con về ngoại trẻ trên phố, cho mấy đứa nhỏ xem lân tỉnh, khác lân làng thế nào. Khi ra về, ngang qua mấy gian hàng bày bán, mấy đứa nhỏ lại đòi mua lồng đèn, như tôi ngày xưa ấy. Tôi dừng lại móc túi ra, thấy chẳng có mấy đồng, đành mua cho mỗi đứa, một cái lồng đèn nhỏ, một cái trống cóc nhỏ, như ba đã từng mua cho tôi thuở ấy. Bọc lại những đồng bạc lẻ nhàu nát vào túi, tôi hiểu thấm thía vì sao, ngày xưa ba tôi tái mặt, khi tôi đòi mua cái lồng đèn kéo quân. Tự dưng tôi thương ba đến rơi nước mắt, hai đứa nhỏ nhìn tôi, mà chẳng hiểu vì sao. Đi một đoạn, tôi thấy mình cũng giống như ba thuở ấy, ghé lại tiệm bánh, móc mấy đồng bạc lẻ ra, mua cho mỗi đứa một cái bánh trung thu nhỏ nhất, mà đã không còn thừa, một đồng rách góc nào, để bỏ vào cho ấm túi. 

                 Đời tôi đã không được chơi lồng đèn kéo quân vì thương ba mẹ, xót bao mồ hôi nước mắt, không lòng nào đem đánh đổi một đồ chơi. Đến đời con, tôi lại cũng không có khả năng, mua cho con ít đồ chơi ra hồn ra vía, vì không đủ tiền mua sữa nữa là. Để mỗi lần ngang qua phố thị, là thấy ánh mắt chúng như háu đói, khao khát đủ thứ đồ, mà chẳng được ba mua cho. Chẳng biết ai sao, chứ tôi thời khốn khó, thấm thía cảnh bần hàn, khiến con người ta đôi khi, biết mà không thể thực hiện được, ước mơ dù nhỏ bé của con cái, đành nhắm mắt làm ngơ, hoặc hứa lần hứa lữa, trông thảm hại vô cùng, như xuống trai đột xuất. Khi tôi có khả năng, thì các con đều khôn lớn, khiến tôi suốt đời nợ tuổi thơ của các con mình, những mơ ước nhỏ nhoi.

                Bao năm trôi qua, trong tôi vẫn còn đứa trẻ, cùng ước mơ mỗi Tết trung thu. Và vào một đêm trung thu, khoảng đã quá tứ tuần, tôi đứng khóc ngon lành, khi thấy một đứa trẻ áo đứt hết nút, tay cầm trống cóc khóc huhu, bị đoàn lân chen lấn, xô ngược đẩy xuôi, mắc kẹt ngay lũng bùn, trống rơi xuống ướt lấm lem. Thương nó như thương mình, tôi cầm trống đánh bum bum, mà chỉ nghe bụp bụp. Tôi liền vào nhà, lấy cái trống cóc tự chế hồi nhỏ, bằng cái sọ dừa, cắt mặt như cái gáo, con tôi chẳng thèm chơi, vì trông nó xấu xí. Mở ra cột lại mặt trống cho thật căng, đóng vội dăm cây đinh guốc cho chắc, rồi khỏ bum bum mới đưa cho nó. Đường lờ mờ ánh trăng, nó cười lên rạng rỡ, lòng tôi dâng lên niềm hạnh phúc vô bờ. Cảm động quá! Tôi đứng khóc khi thấy mình trong nó, vào những Tết trung thu khói lửa mịt mù. Tôi ôm nó như ôm mình thuở ấy, khi vào nhà tôi đã làm bài thơ “Thằng cu đón tối trung thu.”

                 Giờ đầu hai thứ tóc! Mỗi khi nghe tiếng trống lân, hay thấy bé xách lồng đèn trống cóc, tuổi thơ trong tôi liền sống lại, đưa tôi về với khung trời dĩ vãng, thuở chỉ biết chơi thôi chẳng biết gì. Có má còn duyên dáng, luôn kéo tôi vào tắm rửa bởi chơi dơ. Có chị mua cho đôi giày, cái mũ mới. Có ba thường chở đi dạo phố, thỉnh thoảng cho tôi uống ly sinh tố, hoặc ly nước mía, thanh ngọt mát tê mê, dường đến tận bây giờ.

                  Cái lồng đèn kéo quân có là bao, mà cả đời ba, đời tôi, không thể nào với tới được. Để cái lồng đèn kỳ diệu đẳng cấp trong tôi ấy, mãi như một món hàng xa xỉ quá tầm tay. Giờ trong cuộc sống đủ đầy, chẳng biết với thế hệ thứ ba trong gia đình, cái lồng đèn kéo quân, có còn là mơ ước của tuổi thơ không? Nếu không, coi như tôi chẳng còn cơ hội. Để suốt đời tôi, cái lồng đèn như thế giới cổ tích của tôi ấy, mãi mãi nằm cựa mình trong ước mơ tôi, vào những tối trung thu.

                 Năm nay, năm đầu tiên trong lịch sử, mùa trung thu im lìm trong đại dịch, với những cá nhân đơn lẻ, gắng tạo niềm vui cho con cháu. Nhưng không thể nào mang lại cho các em thơ, một cái Tết trung thu cổ truyền, như đã có tự ngàn xưa. 

                Cứ mỗi lần, đêm vui Tết trung thu qua đi, tôi lại thấy lòng buồn hiu hắt. Tôi nghe từ sâu thẳm trái tim mình, những mơ ước khát khao, đã queo lại thành nỗi đau nho nhỏ, trong đáy tim từ bé dại, không thể nào bù lấp được. Và hình ảnh ba tôi, trong những mùa trung thu thuở ấu, luôn hiện về chất ngất yêu thương, trong khung trời kỷ niệm tuổi thơ tôi. 

                                                  Trung thu, mùa COVID 2021

                                                           Lưu Lãng Khách

            luulangkhach@gmail.com


READ MORE - TRUNG THU THUỞ ẤU - Truyện ngắn: Lưu Lãng Khách

Monday, September 2, 2024

Chùm ảnh HOA SỨ NHÀ NÀNG - Chu Vương Miện

Bấm chuột vào hình để phóng to.





 

READ MORE - Chùm ảnh HOA SỨ NHÀ NÀNG - Chu Vương Miện

HỎI MÙA THU CÓ QUA ĐÂY - Thơ: Song Phố


 

HỎI MÙA THU CÓ QUA ĐÂY

 

Chỉ là vạt nắng vàng trôi

Mà mênh mông trải bên trời thênh thang

Heo may cũng đứng xếp hàng

Lá tròn xoe mắt ngỡ ngàng nhận ra

Mùa đang dìu bước chân qua

Khoảng trời xanh, nắng và hoa cúc vàng

Cánh đồng mây trắng lang thang

Lúa gờn gợn sóng chiều đang xuống dần

Mượn con đường vẽ dấu chân

Mượn cơn gió họa bức tranh giao mùa

Nhịp nhàng cánh võng đung đưa

Bến sông rày vắng đò thưa ngang chiều

Bãi bồi vãn gió đăm chiêu

Thương cây cọc nhọn còn neo bóng mình

Tiếng chim bìm bịp gọi tình

Bầy thòi lòi sợ giật mình cong đuôi

Thời gian chỉ thoáng qua thôi

Mà thương nhớ cứ bồi hồi trong nhau

Đợi chờ suốt cả canh thâu

Qua sông mỗi bận mà lâu thế này

Hỏi mùa Thu có qua đây

Sao người xưa thức đêm dài nhớ thương

SONG PHỐ

 

READ MORE - HỎI MÙA THU CÓ QUA ĐÂY - Thơ: Song Phố

GIẤC MƠ HẠT NHÂN –Thơ: Lê Minh Hiền

 


Lê Minh Hiền

GIẤC MƠ HẠT NHÂN


Thằng bé nhìn thấy rõ ràng
chính nó đang nằm ngửa,
và bất động
trong khi một cơn mưa bom hạt nhân
đang rơi xuống
trên thân thể nó và chung quanh...
.
cảm giác kinh hoàng xảy đến trong chớp nhoáng và chấm dứt cũng nhanh không kém
trong nó chỉ còn
một nỗi bất lực chuyển dần qua trạng thái chấp nhận tuyệt nhiên
nó nghe không những linh hồn nó mà ngay cả thể xác nó dường như nhẹ tênh đang bềnh bồng đâu đó
trong vùng không gian bụi phóng xạ vừa phủ kín toàn thân nó
cùng lúc
nó thức giấc!
nỗi kinh hoàng như vừa đánh thức trở lại
giữ thân xác nó tiếp tục bất động giây lâu
trong một nỗi cô đơn khôn cùng
trong tay nó là
quyển sách kiến thức phổ thông nó đã lén lấy xuống từ tủ sách có cả trăm quyển sách đủ mọi thể loại của ba nó nó vẫn thường xuyên đọc say mê ngay bên cạnh góc nhà yên tỉnh ngay cả người nhà cũng không vào quên cả thời gian không gian chung quanh những khi ba nó vắng nhà...
.
hơn 50 năm hơn nửa thế kỷ trôi qua nhanh như giấc mơ hạt nhân ngày nào
thằng bé ngày xưa đang già đi rồi
những kho vũ khí hạt nhân
đã mọc lên như nấm
sau một cơn mưa xuân
trên hành tinh xanh
thằng bé ngày xưa từ một thời xa lơ lắc xa lơ
nay đang ngồi kể lại giấc mơ hạt nhân kinh hoàng kỳ lạ ngày xưa còn bé của nó
trong khi nắng chiều vàng mật ngọt sóng sánh bên ngoài khu vườn sau
và thật lạ... nó như nghe có âm thanh của một cơn sấm ở xa... xa lắm vọng về
chắc đêm nay có mưa
thằng bé ngày xưa trong thân xác một người đàn ông đang già đi
nghe có gì bần thần, tiếc nuối
về một thời xa xưa...
chiều về dưới mái hiên tây
nơi xứ người lâu dần đã nên cố quận
người ba, một ông giáo nghiêm khắc
đã ra đi về một nơi nào đó không còn vô thường... lâu lắm rồi
trong lòng thằng bé ngày xưa hay trong lòng người đàn ông đang già đi đang tồn đọng
một nỗi cô đơn khôn cùng!


Stanton Jan. 2021- Sept. 01st, 2024 (6:01 sáng chủ nhật)
L.M.H.
 hienlehuong@gmail.com


READ MORE - GIẤC MƠ HẠT NHÂN –Thơ: Lê Minh Hiền