Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, October 17, 2023

MƯA THÁNG MƯỜI – Thơ Trần Mai Ngân


   


MƯA THÁNG MƯỜI
 
Cuối tháng Mười
Mưa thao thức cùng đêm
Tiếng cơ hồ rất nhẹ
Đọng lại trên kẽ lá
Ướt mềm nụ hoa khát…
 
Cuối tháng Mười
Mưa vô tình gợi nhớ
Hương tóc ủ tình nồng
Với tay tìm bóng hình
Một mình đêm - một mình!
 
Cuối tháng Mười mưa thêm
Dày đặc đen - đôi mắt
Mở - mở… mở thật to
Tìm hôm qua - đâu rồi!
 
Cuối tháng Mười
Mưa cố nhạt, cố nhoà
Thao thức ngoài cửa sổ
Cuối cùng cũng bỏ lại
Giọt - trên dây kẽm gai!
 
            Trần Mai Ngân
              17-10-2023

READ MORE - MƯA THÁNG MƯỜI – Thơ Trần Mai Ngân

GẠO QUÊ | HOA NGỌC ANH - Thơ Vũ Hùng

 



GẠO QUÊ

Bất ngờ nhận món quà quê

Một túi gạo trắng nhìn mê lắm rồi

Phước Hưng quê lúa lên ngôi

Gạo thành hàng hóa,  đổi đời nông dân

Một thời cơ cực bản thân

Nắng  mưa mấy vụ chỉ cần đủ ăn

Giờ thì hạt hạo tung tăng

Vào Nam ra Bắc sánh bằng người ta

Phước Hưng gạo trắng như ngà 

Cơm  thơm mềm dẻo đậm đà vị quê!

Bình Định, 17.10.2023

Vũ Hùng 


HOA NGỌC ANH

Sáng ra điện cúp bất ngờ

Muốn lướt Facebook đành chờ chiều nay

Đâù tường hoa nở, ô hay

Mong manh trắng muốt hương bay thơm lừng 

Vài ba động tác ngập ngừng

Ngại làn hương vỡ giữa chừng tiếc thay!

Bình Định,11.10.2023

Vũ Hùng 


READ MORE - GẠO QUÊ | HOA NGỌC ANH - Thơ Vũ Hùng

Monday, October 16, 2023

HỒ NHƯ... - Thơ Nguyễn An Bình

 




Nguyễn An Bình


HỒ NHƯ...


Như khuya hứng giọt sương mai

Như con gái ghét con trai - giả đò

Xoay lưng mắt lại mộng mơ

Bạch mã hoàng tử biết chờ ai đây.


Như trời thổi gió lên cây

Như con trai nhớ con gái – điệu đàng

Me chua tê lưỡi bàng hoàng

Đường xiên chiếc bóng bước chân đổ dài. 


Như xưa biển ngắn sông dài

Như con gái né con trai – giận hờn

Sợ đời suối cạn khe mòn

Sợ trăm năm nặng vàng son vơi đầy.


Như hoa vừa chớm chớ phai

Như con trai yêu con gái – thật lòng

Nghe buồn tiếng sáo vượt sông

Bỏ quên cánh bướm phượng hồng cho ai.


Như hồ ngọn cỏ lắc lay

Một người quen nhớ chiều nay... nước ròng

Thả chi sợi khói quay vòng

Con trai con gái đèo bồng... thế thôi.


27/9/2023

luongmanh2106@gmail.com






READ MORE - HỒ NHƯ... - Thơ Nguyễn An Bình

THƯƠNG LẮM MIỀN TRUNG - Thơ Nguyễn Đại Duẫn

 


THƯƠNG LẮM MIỀN TRUNG

Dải đất miền Trung cái eo gian khó
Đòn gánh cong cong gánh hai đầu đất nước
Bão lũ chưa tan biển động triều cường
Bao con người dải nắng dầm sương
Chống thiên tai chống gian tham phá rừng ngăn biển
Sông lở núi vùi bao cuộc đời cảm mến
Mưa bão lại về
Thương lắm miền Trung

Nguyễn Đại Duẫn

Quảng Bình

<nguyenduanqh@gmail.com

READ MORE - THƯƠNG LẮM MIỀN TRUNG - Thơ Nguyễn Đại Duẫn

CỘI NGUỒN QUÊ HƯƠNG CỦA NGUYỄN HOÀNG - Lê Quang Thái


Tượng chúa Nguyễn Hoàng ở Bảo tàng tỉnh Quảng Trị - Ảnh: internet


CỘI NGUỒN QUÊ HƯƠNG CỦA NGUYỄN HOÀNG

Lê Quang Thái


Ngày sinh, nơi sinh, ngày mất, nơi mất, nơi an táng, nơi cát táng là những mốc thời gian quan trọng, đáng nhớ của đời người và con cháu vì dân gian coi đó là việc thể hiện hiếu đạo đối với người đã mất, với tổ tiên, ông bà: Sống nhà thác mồ.

Trong các giấy tờ tùy thân thì giấy khai sinh là văn bản gốc quan trọng nhất, trên giấy này ghi rõ họ và tên, ngày tháng năm sinh, quê quán... Con cháu nhiều thế hệ sau phải nhớ cho rõ, cho đúng với quê quán của Tiền nhân đã khai sáng ra dòng tộc.

Tuổi tác, ngày sinh, nơi sinh được ghi trong gia phả có khác với giấy khai sinh, sai chậy năm tháng với giấy khai sinh của nhiều người. Nhưng tuyệt nhiên giấy khai sinh là văn bản pháp quy, pháp định. Đối với tiền nhân thì người nghiên cứu tiểu sử và sự nghiệp đều dựa vào bản gốc gia phả hoặc sắc phong, văn bằng, học vị, văn bia, khế ước giao kèo.

1. Nơi sinh, nơi mất của Nguyễn Hoàng

Nguyễn Hoàng sinh ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu (28/8/1525) tại Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa.(1) Chúa Nguyễn Hoàng mất ngày mồng 3 tháng 6 năm Quý Sửu (20/7/1613) tại Dinh Cát thuộc làng Ái Tử, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa, thọ 89 tuổi. An táng ở núi Thạch Hãn gần sông Thạch Hãn thuộc địa phận làng cổ Thạch Hãn, làng này vào thời điểm lịch sử ấy thuộc huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong. Xin lưu ý đơn vị hành chính “phủ” Triệu Phong vào thời điểm năm 1613. Đời vua Duy Tân có huyện Triệu Phong (nhưng phủ lúc này tương đương với huyện dẫu rằng phủ lớn hơn huyện về đất đai và dân số cỡ bên 10, bên 8). Tiền thân của phủ Triệu Phong ngày nay là huyện Đăng Xương, cải đổi thành Thuận Xương vào năm Kiến Phúc nguyên niên, 1884.

Với tài năng và đức độ của con người phi thường, chúa Nguyễn Hoàng giữ chức Trấn thủ Thuận Hóa vào tháng 10 năm Mậu Ngọ, 1558, rồi Tổng Trấn hai xứ Thuận - Quảng từ tháng giêng năm Canh Ngọ, 1570 cho đến ngày 3 tháng 6 năm Quý Sửu, 1613. Trong 56 năm cai trị, nhà Chúa đã mất hơn 15 năm bình định vùng biên viễn của nước Đại Việt từ ác địa trở thành thiện địa. Công lao khai hóa của Chúa thật lớn lao như trời biển.

2. Gia Miêu ngoại trang (嘉苗外莊).

Gia Miêu là danh từ riêng chỉ tên “trang” tức trang trại, thôn ấp ở miền bán sơn địa của huyện Tống Sơn. Huyện này có tên là Tống Giang vào triều nhà Trần. Đến đầu đời Hậu Lê được cải đổi tên gọi là Tống Sơn. Huyện ấy gồm 31 xã, 2 bãi, 9 trang, 1 trại. Đất Gia Miêu đã được phân chia thành 2 trang là Gia Miêu nội trang và Gia Miêu ngoại trang theo làn ranh của chân dãy núi Thiên chạy dài từ phía Tây sang phía Đông. Năm 1803, vua Gia Long đổi tên Gia Miêu ngoại trang thành Quý Hương, huyện Tống Sơn thành Quý Huyện.

Theo tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, chữ trang (莊) có đến 7 nghĩa; nghĩa thứ 6: lập riêng cơ sở ở ngoài thành thị cũng gọi là trang. Làng gốc thường lập thêm trang trại ở vùng núi hoặc biển. Cả hai trang nội và ngoại trước xưa được gọi tên là Bái Đáp(2). Ở tỉnh Ninh Bình ngày nay như xưa kia Thanh Hoa ngoại trấn có địa danh Bái Đính nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh.

Văn tế chiến sĩ trận vong của Tiền quân Nguyễn Văn Thành, người làng Bác Vọng, từng giữ Tống Trấn Bắc Thành dưới triều vua Gia Long có câu: “Ba nghìn họp con em đất Bái”. Đất Bái tức Bái Đáp, đầu đời vua Minh Mạng có tên Bái Trang như Ngự chế bài Minh khắc vào văn bia Triệu tổ Nguyễn Kim ở núi Triệu Tường, tỉnh Thanh Hóa: “Nghĩa động quỷ thần, cong truyền vũ trụ/ Cõi trần rời bỏ, lăng ở Bái Trang”. Ở Thừa Thiên có làng Bái Đáp thuộc tổng Hạ Lang, huyện Quảng Điền. Phép dùng điển trong văn học thật thâm sâu và thâm hậu, có dụng ý xa vời vợi mà ít người tra cứu cho tận ngọn nguồn lạch sông. Thật đúng như lời cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nói: “Học Sử nghĩa là sống với người chết, học Địa là sống với non sông”.(3)

Lê Quý Đôn viết xong sách Kiến văn tiểu lục vào tháng 5 năm Đinh Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng tức năm 1777.

Sau 6 tháng ở Thuận Hóa giữ chức Hiệp Trấn năm 1776, Lê Quý Đôn trở về Thăng Long lãnh chức Cơ Mật sự vụ kiêm Chưởng Tài Phủ. Sách có đoạn viết:

“Tôi [Lê Quý Đôn] đã được coi quyển gia phả của người cháu xa đời viên Chiêu Huân Công (昭 勳公) xuất trình. Trong phả có chép việc về năm Thuận Thiên năm thứ 2 (1429), cấp ruộng lộc cho viên chỉ huy khai quốc công thần là Nguyễn Công Duẩn (阮公筍) như sau:

“Chuẩn lấy Trang Xã ở huyện Tống Sơn là ruộng của nhà thế gia triều trước, nay tuyệt, không người thừa kế. Và ruộng đất bỏ hoang, cho Công Duẩn làm của riêng, cọng 470 mẫu”. (4)


3. Bái Trang, Bái Đáp

Chiêu Huân Công là gọi tắt tước hiệu vua Lê Trang Tôn ban tặng cho Nguyễn Kim (1468 - 1545) sau khi mất. Đúng ra đầy đủ 4 chữ Chiêu Huân Tĩnh Công. Vua Lê Trang Tông (1533 - 1548) ban chiếu tặng Nguyễn Kim làm Chiêu Huân Tĩnh Công, thụy là Trung Hiến. Đại Việt sử ký toàn thư viết:

“[Vua Lê Trang Tông] sai người rước Linh cữu về Bái Trang, huyện Tống Sơn làm lễ chôn rất hậu. Phong cho con trưởng là Uông làm Lãng Quận Công, con thứ là Nguyễn Hoàng làm Hà Khê Hầu, sai coi quân đánh giặc”.(5)

Vậy thì tên gọi “Bái Trang” có trước Gia Miêu ngoại trang mà phần dẫn ở bên trên chúng tôi đã tìm ra địa danh “Bái Đáp”. Chưa biết rõ ràng địa danh Bái Trang có trước hoặc sau địa danh Bái Đáp. Chúng tôi có tư kiến riêng cho tên gọi Bái Trang phải có sau Bái Đáp; và tên gọi địa danh Bái Trang có trước tên gọi địa danh Gia Miêu ngoại trang mới thuận nghĩa lý. Thiết nghĩ đó những địa danh cần được tra cứu và giải thích rạch ròi.

Năm 1545 tước của Nguyễn Hoàng là Hà Khê Hầu; năm Mậu Ngọ 1558, Nguyễn Hoàng lãnh tước vua ban Đoan Quốc Công, lúc này Nguyễn Hoàng tuổi đời 34 năm. Lúc Nguyễn Kim mất Nguyễn Hoàng đã 21 tuổi. Nguyễn Uông đã lãnh tước Lãng Quận Công - Trịnh Kiểm giữ chức Thái sư cho vua Lê và được ban tước Lạng Quốc Công.

Cụ Tôn Thất Hân chấp bút viết Phổ hệ nhà Nguyễn trước Gia Long bằng chữ Hán. Dịch ra tiếng Pháp là công của thông ngôn Tây Âu Bùi Thanh Vân nhờ sự hỗ trợ của nhà nho Trần Đình Nghi. Dịch ra tiếng Việt là hai dịch giả Bửu Ý và Phan Xưng. Nguồn sử liệu này rất quý giá. Cái đáng bàn là văn phong bản dịch từ không nhuần nhuyễn từ bản tiếng Pháp sang tiếng Việt.

Theo Phổ hệ nói trên thì từ chúa Nguyễn Hoàng trở lên thêm được 14 đời:

Đời thứ 1: Nguyễn Bặc sinh ra Nguyễn Đạt
Đời thứ 2: Nguyễn Đạt là cha Nguyễn Phụng
Đời thứ 3: Nguyễn Phụng là cha của Nguyễn Nộn
Đời thứ 4: Nguyễn Nộn là cha của Nguyễn Thể Tứ
Đời thứ 5: Nguyễn Thể Tứ là cha của Nguyễn Điền
Đời thứ 6: Nguyễn Điền là cha của Nguyễn Luật
Đời thứ 7: Nguyễn Luật là cha của Nguyễn Minh Du
Đời thứ 8: Nguyễn Minh Du là cha của Nguyễn Biện
Đời thứ 9: Nguyễn Biện là cha của Nguyễn Lữ
Đời thứ 10: Nguyễn Lữ là cha của Nguyễn Sự
Đời thứ 11: Nguyễn Sự là cha của Nguyễn Công Chuẩn
Đời thứ 12: Nguyễn Công Chuẩn là cha của Nguyễn Như Trác
Đời thứ 13: Nguyễn Như Trác là cha của Nguyễn Văn Hưu
Đời thứ 14: Nguyễn Văn Hưu (Hựu) là cha của Triệu Tổ tức Nguyễn Kim

Nhờ công trình biên khảo của cụ Tôn Thất Hân, mà phần Thủy Tổ Phả của sách Nguyễn Phúc tộc thế phả của các tác giả Vĩnh Cao, Vĩnh Dũng, Tôn Thất Hanh, Vĩnh Khánh, Tôn Thất Lôi, Vĩnh Quả, Vĩnh Thiều trở nên có giá trị hơn về mặt sử học và gia phả. Xin liệt kê các thế hệ gồm 15 đời.

I. Thủy tổ NGUYỄN BẶC (924 - 979)
II. Đệ nhị tổ NGUYỄN ĐÊ (? -?)
III. Đệ tam tổ NGUYỄN VIỄN (? -?)
IV. Đệ tứ tổ NGUYỄN PHỤNG (? - 1150)
V. Đệ ngũ tổ NGUYỄN NỘN (? - 1229)
VI. Đệ lục tổ NGUYỄN THẾ TỨ (? - ?)
VII. Đệ thất tổ NGUYỄN NẠP HÒA (? - 1377)
VIII. Đệ bát tổ NGUYỄN CÔNG LUẬT (? - 1388)
IX. Đệ cửu tổ NGUYỄN MINH DU (1340 - 1390)
X. Đệ thập tổ NGUYỄN BIỆN (? - ?)
XI. Đệ thập nhất tổ NGUYỄN CHIẾM (? - ?)
XII. Đệ thập nhị tổ NGUYỄN SỪ (? - ?)
XIII. Đệ thập tam tổ NGUYỄN CÔNG DUẨN (? - ?)
XIV. Đệ thập tứ tổ NGUYỄN NHƯ TRÁC (? - ?)
XV. Đệ thập ngũ tổ NGUYỄN VĂN LỰU (? - ?)(6)

Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả bằng tiếng Việt đời nay là một công trình biên soạn từ nhiều năm trong hoàn cảnh đầy khó khăn về tư liệu, về nhân sự... Các soạn giả đã làm sáng rõ thêm về nguồn gốc triều đại các chúa Nguyễn, vua Nguyễn, làm xích lại khoảng cách giữa nhân gian với dòng tộc Nguyễn Phúc vì địa bạ và gia phả các làng xã, họ tộc một thời trong quá khứ đã có những bậc tiên hiền, quan lại, danh tướng, phò mã, phủ thiếp phụng sự quốc triều Nguyễn trong việc khai hóa quốc dân, mở mang bờ cõi đất nước bằng con đường hòa bình và nhân ái. Ngoài dân gian, dù cho là người bình dân đã kết tình thông nghị với hậu duệ dòng tộc Nguyễn Phúc đúng nghĩa với quan niệm “thông gia là bà con tiên”.

Đối chiếu hai bản của Tôn phả chép về các thế hệ trước Triệu Tổ Nguyễn Kim và Thái Tổ GIA DŨ HOÀNG ĐẾ húy Nguyễn Hoàng (1525 - 1613) thì dễ thấy những khuyết nghi mà đời sau đã bổ sung cho đời trước.

Định Quốc Công húy Nguyễn Bặc (924 - 979) được xem như Thủy Tổ của dòng tộc Nguyễn Phúc. Chữ lót giữa họ và tên này còn được đọc là “Phúc” ở ngoài dân gian. Ngày xưa, những ai là họ Nguyễn thuộc bách tánh đã nghiêm túc kiêng tránh chữ lót này. Phụ chính Đại thần Nguyễn Văn Tường, người làng An Cư, huyện Thuận Xương (Triệu Phong ngày nay) do nhầm lẫn lấy tên họ Nguyễn Phúc Tường bị buộc phải cải đổi từ Nguyễn Phước Tường thành Nguyễn Văn Tường. Có rất nhiều sĩ phu, quan lại, danh tiếng, thí sinh được các vua Nguyễn cho đổi tên, đổi chữ lót. Cụ thể là Phụ chính Đại thần Trần Tiễn Thành lúc đi thi đỗ Tiến sĩ dưới triều vua Tự Đức được nhà vua cho đổi tên cũ Trần Thời Mẫn thành họ tên mới là Trần Tiễn Thành và họ Trần ở thôn Minh Thanh, huyện Hương Trà lấy tên “họ Trần Tiễn”. Người Nam Kỳ lục tỉnh rất biết ơn sâu của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn nên đã nghiêm cẩn trong việc gọi tên làng, tên họ, tên người.

Sách Nguyễn Phúc tộc thế phả đã dẫn ở bên trên đã chép và xếp NGUYỄN CÔNG DUẪN (? - ?), Đệ thập tam tổ (trước Nguyễn Kim 4 đời, trước Nguyễn Hoàng 5 đời). Ở trang 78 sách vừa nói trên có viết:

Ngài [Nguyễn Công Duẫn] được thăng làm Phụng Trực Đại Phu Đô Đốc thiêm sự, Đô kiểm sự, lãnh việc quân dân ở huyện Tống Sơn và được vua ban cho gần 500 mẫu ruộng. Ngài được xếp vào làng Khai quốc Công thần bình Ngô và được ban quốc tính Lê”.

Nay chúng tôi tra lại sách Đại Việt sử ký toàn thư, tr.102 viết:

“Năm Kỷ Dậu thứ 2 niên hiệu Thuận Thiên [tức năm 1429]: Tháng 5, ngày mồng ba ban biển ngạch công thần cho 93 viên: Huyện thượng hầu 3 người là Lê Vấn, Lê Sát, Lê Văn Xảo, Thượng hầu 1 người là Lê Ngân; Hương thượng hầu 3 người là: Lê Lý, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng; Đình thượng hầu 14 người là: Lê Chích, Lê Văn An, Lê Liệt, Lê Miễn, Lê Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Lê Lỗi, Lê Nhữ Lâm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Lật; Huyện hầu là 14 người là Lê Bi, Lê Bì, Lê Bĩ, Lê Náo, Lê Thu, Lê Lôi, Lê Khả, Lê Bôi, Lê Khả Lang, Lê Xí, Lê Khuyển, Lê Bí, Lê Quốc Trinh, Lê Bật; Á hầu 26 người là bọn Lê Bạn, Lê Trãi; Quan nội hầu 16 người là bọn Lê Cuống, Lê Dao. Thượng trí tước phục hầu 4 người là bạn Lê Khắc Phục, Lê Hài” (7)

Trong Quốc sử đời Hậu Lê, không ghi đầy đủ tên họ 93 viên được phong khai quốc công thần và ban quốc tính mà chỉ ghi tên 42 viên. Chúng tôi tin rằng tên của bậc tiền bối Nguyễn Công Duẫn còn đọc là Nguyễn Công Chuẩn (viết dấu hỏi).

Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu cho biết:

Chữ Duẫn (viết có dấu ngã (~): 尹 (tr.560) và chữ Duẩn (viết dấu hỏi (?) 筍 (tr.563) được dùng nghĩa như chữ 筍 (Duẩn) có nghĩa là măng tre, cái xà ngang để treo chuông khánh. Chữ 筍 còn đọc là tấn: cái xe bằng trúc.

Chữ Chuẩn (tr. 56, 369, 425, 585, 924) viết dấu hỏi có đến 5 chữ đều có mặt chữ không giống với chữ của Lê Quý Đôn đã viết trong sách Kiến văn tiểu lục. Lần lượt ghi lại 5 nghĩa: định đúng, gọt gỗ cho ngàm vào đúng mộng, bằng phẳng, thành thực, một loài chim cắt.

Tôi chọn chữ Duẫn (viết dấu ngã) như Nguyễn Phúc tộc thế phả, không đồng tình với dịch giả Lê Mạnh Liệu bởi lẽ cụ Liệu không phải là “người trong cuộc” như hậu duệ nhà Nguyễn hôm nay đã thấm chữ nghĩa của tên húy tận máu thịt. Chỉ tiếc một điều là do hạn chế của nhà in sách năm 1995, đã viết giúp chữ Hán sai thiếu nét ngang dài. Tôi viết ra hai chữ: chữ đúng của chữ Duẫn (尹); chữ Duẫn do in sai thiếu nét ngang dài 一, một việc nhỏ mà bỏ qua là có tội! Vua Lê đã phong cho Nguyễn Uông làm Lãng Quận Công, Nguyễn Hoàng làm Hà Khê Hầu vào năm 1545 (lúc này Nguyễn Hoàng đã hơn 20 tuổi) vào năm 1545 dưới thời vua Lê Trang Tông mà sách Từ Điển Nhà Nguyễn của Võ Hương An xuất bản năm 2012 tại nước ngoài cụ thể là Mỹ Quốc cho rằng năm 1545 Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng “đang còn nhỏ”.(8)

Tìm về quê hương nhà Nguyễn, trước tiên và cũng là bước đầu là tìm hiểu về tiểu sử của Nguyễn Công Duẫn được xem như Thủy tổ của Gia Miêu ngoại trang nay là thôn Gia Miêu thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Nhưng tiểu sử của Nguyễn Công Duẫn còn nhiều khuyết nghi, ngay cả năm sinh và năm mất vẫn còn là hai dấu hỏi.

Lê Quý Đôn phanh phui ra cái chìa khóa là ruộng lộc của ông được nhà vua cấp 470 mẫu(9) là ruộng bỏ hoang do triều trước để lại.

Cụ Tôn Thất Hân đã tìm ra nguồn tư liệu gốc rất tôn quý là “Biên bổn Gia Miêu Ngoại Trang công tính chính chi khai trần phổ hệ”, để khẳng định:

“Vị tổ đầu tiên là Nguyễn Công Chuẩn, phong hàm Thái Bảo Hoàng Quốc Công, con trai thứ tư của Chiêu Quang Hầu. Ông được phong Công Thần Khai Quốc và họ của ông được đổi thành Lê do Lê Thái Tổ (1428 - 1433)”.

Như trên đã nói trong Đại Việt sử ký toàn thư cho biết trong 93 viên được phong Khai quốc Công thần thì chỉ ghi rõ họ và tên 42 viên, trong đó không có tên Nguyễn Công Chuẩn. Danh sách 42 vị được kê tên là Khai quốc Công thần và đổi họ gốc sang quốc tính họ Lê. Đó là một nghi án lịch sử. 51 vị còn lại trong tổng 93 viên không được nhà Lê cho đổi họ sang họ Lê không có tên ông Chuẩn. Khai quốc công thần có 2 loại: đổi họ, không đổi họ.

Ở sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, Sđd xuất bản năm 1995 lại hé lộ cho tôi một hướng đi tìm ở cho ra cái mà mình đang bí. Ở phần chú thích ở trang 78 có chú thích (1) như sau: “Trích chiếu tuyên dương công trạng năm Thuận Thiên thứ 2”. Trình độ của tôi hạn chế, tôi lại tìm đọc Đại Việt sử ký toàn thư, đặc biệt chú ý đến niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 tức năm Kỷ Dậu 1429, cho nên mới phát hiện ra điều này. Tôi đọc biên niên sử 3 triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông nhưng không tìm thấy danh xưng Thái Bảo Hoàng Quốc Công Nguyễn Công Chuẩn.

Căn cứ vào sổ bộ của Gia Miêu ngoại trang thì từ Nguyễn Bặc cho đến Nguyễn Văn Lưu là cha của Triệu Tổ hay Nguyễn Kim là 14 đời. Còn theo Nguyễn Phúc tộc thế phả là 15 đời. Chúng tôi tin là có ông NGUYỄN CÔNG DUẪN (trước phiên âm là Chuẩn); đời vua Gia Long phiên âm là Chuẩn, như sổ bộ của Gia Miêu ngoại trang; còn chức tước và phẩm hàm Thái Bảo Hằng Quốc Công thì tra cứu chưa ra ở sách Đại Việt sử ký toàn thư. Có thể phẩm hàm ấy được chép từ một nguồn sử liệu nào thì chúng tôi chưa biết. Đó là một nghi án, cần rà soát lại để dễ thuyết phục người đọc thì càng quý giá.

4. Quê hương viễn xứ của chúa Nguyễn Hoàng

Tìm chữ chưa ra, tạm dùng chữ “Tiền thân” của Gia Miêu ngoại trang nghĩa là trước đời Nguyễn Công Chuẩn (đời thứ 13 theo Nguyễn Phúc tộc thế phả năm 1995; đời thứ 11 theo Sổ bộ của Gia Miêu ngoại trang) thì đời Nguyễn Sự ở sơn động như các vị đời trước. Sách này lấy Thủy Tổ của dòng họ Nguyễn Phúc là Quốc Công Nguyễn Bặc (阮匐), có quê hương Đại Hoàng, Gia Viễn, Ninh Bình. Về quê hương của Nguyễn Bặc vẫn chưa khẳng định, người thì bảo là Gia Miêu ngoại trang, người thì là làng Đại Hữu, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đây lại thêm một khuyết nghi lịch sử nữa, cần được khai tỏ.

Đến đây, chúng tôi phải tra cứu Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi:

“Phủ Trường Yên (Tràng An) có 3 huyện, xưa phủ này có tên là Đại Hoàng, có 3 huyện, 263 xã. Huyện Gia Viễn có 73 xã, 4 trang, 1 trại, 2 phường, 1 tuần. Thời nhà Lý thì Gia Viễn, Trường Yên (Tràng An) thuộc phủ THANH HOA”.

Năm 2008 chúng tôi đi Ninh Bình rồi ra tham dự Hội thảo tại Văn Miếu, Hà Nội năm 2008 về chủ đề Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đến thăm mộ tổ của họ Châu, họ Lê ở Ninh Bình. Chúng tôi đã khảo cứu Tràng An (tức Trường Yên) đầy đủ, đăng trên Tập san Hội nhà báo Thừa Thiên Huế, cuối năm 2008 nhân dịp Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đó là cớ sự khiến tôi đi ngược dòng lịch sử để tìm hiểu về Tây Đô, về Tràng An. Nay có duyên tôi viết tham luận này. Gia Viễn tức tên mới Đại Hoàng có từ đời nhà Lý. Đại Hoàng là tên huyện chứ không phải tên làng như một số người đã nhầm lẫn.

*




Tìm về quê hương viễn xứ của chúa Tiên Nguyễn Hoàng thật là lý thú dẫu rằng rất mệt, tổn hao nhiều công sức. Nhưng lý thú là tìm ra được một cầu nối mà chúng tôi thường hay nói là “cầu không vận” giữa ÁI TỬ - TRÀ BÁT - DINH CÁT với THANH HÓA, NINH BÌNH.

Khởi nguồn cho việc chúa Nguyễn Hoàng mang gươm đi mở nước và giữ nước bằng đường lối hòa bình, ÁI TỬ (Quảng Trị) trở thành bệ phóng, mà nguồn gốc phát tích là TRÀNG AN - GIA MIÊU thuộc Thanh Hoa ngoại trấn và Thanh Hoa nội trấn.

Thật là hưng phấn tinh thần khi tìm ra cội nguồn quê hương của nhà Nguyễn. Khảo luận này với một số nghi án mong được cẩn án làm sáng tỏ thêm lên về quá trình giữ nước và mở nước của nước Việt oai hùng mà giặc ngoại bang không hiểu, không nghiên cứu sâu xa cho nên đành đầu hàng, cuốn cờ mà chạy thục mạng về nước.

Huế, tháng 8 năm 2013
L.Q.T
(SDB10/09-13)


---------------------
1. Đời Lê Trung Hưng trở về trước chưa có đơn vị tổng (gồm làng). Thanh Hóa tên gốc ban đầu Thanh Hoa nội tức Thanh Hóa. Thanh Hóa ngoại tức Ninh Bình. (Xem Dư địa chí của Nguyễn Trãi).
2. Bái Đáp là nơi an táng Nguyễn Kim như sách Đại Việt sử ký toàn thư đã chép, tr.626 và Thực lục tr.26, Sđd, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2004, tr.26.
3. Quốc sử tạp lục, Nguyễn Thiệu Lân, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1969, tr.51
4. Kiến văn tiểu lục, Lê Quí Đôn, Lê Mạnh Liệu dịch, Sài Gòn, 1973, tr.217
5. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb. Văn Hóa - Thông Tin, Hà Nội, 2004, tr.626
6. Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả; Sđd tr. 17
7. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.102
8. Từ điển Nhà Nguyễn, Võ Hương An, Nxb. Nam Việt, Califonia, USA, 2012, tr.431
9. Có một sai số khá lớn giữa 470 mẫu ruộng lộc cấp cho ông Nguyễn Công Chuẩn, với con số gần 500 mẫu đã ghi trong Nguyễn Phúc tộc thế phả xuất bản năm 1995.


***

Nguồn: Tạp chí Sông Hương, 29/10/2013.







 


READ MORE - CỘI NGUỒN QUÊ HƯƠNG CỦA NGUYỄN HOÀNG - Lê Quang Thái

Sunday, October 15, 2023

ĐỌC “LUNG LINH TÌNH ĐẦU” TẬP THƠ PHƯƠNG TẤN - Châu Thạch


Nhà thơ Phương Tấn
 
Nhà thơ Phương Tấn là một chân dung văn học sống và viết đều đẹp. Thiết nghĩ không cần giới thiệu ông nhiều ở đây để bài viết thêm dài. Bởi vì giới yêu mến thi ca không mấy ai không biết Phương Tấn, và ai không biêt Phương Tấn là một điều thiếu sót, nên tự tìm hiểu về nhà thơ để giàu thêm kiến thức.
 
“Lung Linh Tình Đầu” là tập thứ 2 nằm trong “Thơ Phương Tấn Tuyển Tập 1”. Tuyển tập 1 gồm có 154 bài thơ được chọn từ 6 tập thơ, mỗi tập thơ có một tên khác nhau. “Lung Linh Tình Đầu” có 46 bài thơ được sáng tác từ năm 1960 đến 2020, chiếm 40 trang trong gần 350 trang của tuyển tập 1.
 
Nhà thơ Phương Tấn sinh năm 1946, như thế bài thơ đầu tiên trong “Lung Linh Tình Đầu” làm năm 14 tuổi và bài thơ cuối trong “Lung Linh Tình Đầu” ông làm khi đã 74 tuổi. Bây giờ xin quý bạn đọc cùng tôi, ta hãy đi vào từng giai đoạn của “Lung Linh Tình Đầu” thử xem nó có lung linh không và lung linh như thế nào. Tất nhiên ta chỉ lấy một vài bài thơ tiêu biểu để cảm nhận chớ không thể đem hết 46 bài thơ của “Lung Linh Tình Đầu” đứa vào đây được.
 
Trong tập thơ “Lung Linh Tình Đầu” nhà thơ Phương Tấn còn ghi chú riêng có 3 phần. Phần có chủ đề “Lung Linh Tình Đầu” gồm 13 bài thơ lục bát, mỗi bài 4 câu. Phần có chủ đề “Ngọt Ngào Bướm Hót Giữa Lòng Thế Gian” gồm có 18 bài thơ lục bát, mỗi bài 4 câu. Phần nầy đã được nhạc sĩ Lam Duy chia 18 bài thơ làm 3 phần, mỗi phần phổ thành một ca khúc mang tên Bóng Duyên 1, Bóng Duyên 2, Bóng Duyên 3, ca sĩ Tâm Thu trình bày. Phần thứ 3 là những bài thơ còn lại, phần nầy thơ nhiều thể loại và không có chủ đề chung.
 
Bài thơ đầu tiên của Lung Linh Tình Đầu nhà thơ Phương Tấn làm ở độ tuổi thiếu niên (chắc là ở tuổi 14) là bài thơ “Tỏ Tình”:
 
Im nghe bàn ghế thầm thì
Nghe trong sách vở li ti là tình
Phấn cười bảng cũng lung linh
Mực vui chữ cũng chia tình cho em
 
Có lẽ ai đọc cũng nghĩ nhà thơ tỏ tình ở tuổi 14 là một điều táo bạo. Thật ra 4 câu thơ không có chữ nào nói tác giả đã tỏ tình mà chỉ nói đến miềm vui của đồ dùng học tập mà thôi. Đồ dùng học tập thì vô tri, vậy niềm vui đó là niềm vui của tình yêu đến trong tâm hồn tác giả.
 
Tình yêu đến trong tuổi thơ ngây đã làm cho cái nhìn tác giả hóa lung linh trên đồ dùng học tập của mình. Như thế thơ đã nhân cách hóa bàn ghế, sách vở, phấn, mực và chữ đều có linh hồn, và những linh hồn đó đều đáng yêu, chúng thầm thì trò chuyện, chúng vui cười, chúng trao đổi nhau như chia cho nhau những phần quà tình yêu đẹp lung linh trong lớp học.
 
Vậy thì qua thơ ta có thể phỏng đoán chàng nam sinh Phương Tấn chưa tỏ tình với cô nữ sinh nào đó, mà Phương Tấn chỉ tỏ bày cho dụng cụ học tập của mình biết tất cả những lung linh của tình yêu vừa xảy ra trong tâm hồn tác giả.
 
Đây là một bài thơ giống như của thần đồng thi ca, bởi những tứ thơ dùng ảo ảnh quang học làm hoạt hình đồ dùng học tập, rất hồn nhiên, rất trẻ thơ, bày tỏ tình yêu đầu đời của mình, gây hiệu ứng hình ảnh tươi vui, ngây thơ và trong sáng trong lòng người đọc. Đọc thơ người ta hình dung được một cuốn phim hoạt hình vui nhộn, làm trẻ thơ lại tất cả mọi tâm hồn.
 
Từ bài thơ đầu tiên khi tình yêu chớm nở trong lòng, thơ Phương Tấn mỗi ngày mỗi lung linh thêm. Ta có thể thấy 13 bài thơ lục bát trong chủ đề Lung Linh Tình Đầu bày tỏ cốt cách mỗi ngày mỗi lớn nên hình hài vóc dạc, Phương Tấn thành chàng thanh niên như cây si cao lên theo ngày tháng.
 
Phương Tấn bây giờ yêu không bày tỏ với đồ dùng học tập nữa, chàng đã biết đi theo em không khác gì “Ngày Xưa Hoàng Thị” của Phạm Thiên Thư nhưng lời thơ rất ngắn, để người đọc thẩm thấu ẩn dụ chứa trong mạch thơ vào tâm hồn dày tưởng tượng tùy theo mỗi người:
 
Lên xe lục cục qua cầu
Ôi anh lẽo đẽo trông rầu rĩ ghê
Nghe trong tiếng guốc đi về
Và trong vành nón xum xuê là tình
                                       (Lẽo Đẽo)
 
Phương Tấn bây giờ đã thất tình, chàng đã biết sầu ngẩn ngơ vì em đã bỏ trường. Phương Tấn bây giờ biết gởi tâm sự vào vạn vật vì tình yêu chàng lớn hơn, cao rộng hơn, sâu đậm hơn và chững chạc hơn:
 
Em xa, xa lắc xa lơ
Tôi buồn lớp cũng ngẩn ngơ với trường
Tiếng ve sầu rụng bên đường
Hạ chưa hết hạ chuồn chuồn kêu thu
                                      (Bỏ Trường)
 
Rồi thì, thơ Phương Tấn qua chủ đề “Ngọt Ngào Bướm Hót Giữa Lòng Thế Gian” vụt như cánh chim bay cao lên, đã lung linh càng lung linh trên bầu trời thi ca. Mỗi bài thơ lục bát ngắn gọn đúng như một cánh bướm giữa lòng thế gian như chủ đề của tác giả. Bướm mà hót là điều hiếm có trên đời:
 
Lượn lờ đọt lúa giỡn cây
Tre kêu kẻo kẹt vướng đầy bến sông
Mây xanh xanh bướm hồng hồng
Ngọt ngào bướm hót giữa lòng thế gian
                                           (Bướm Hót)
 
Tất nhiên đây là bài thơ tả cảnh nhưng cảnh sinh tình. Bướm thì không hót nhưng tất cả những vẻ đẹp của lung linh tình đầu như từng cánh bướm hóa thơ. Hóa thơ thì ngọt ngào và âm vọng, khác gì như tiếng hót của loài chim giữa thế gian nầy. Vì vậy nhà thơ nói bướm hót là một hư cấu chứa một ẩn nghĩa xâu xa và trườu tượng mà qua mắt đọc ta thấy cảnh trong thơ, qua trực giác ta thấy có bướm trong hồn của thơ sâu nhiệm.
 
Trong chủ đề này, Phương Tấn có những câu thơ làm rúng động con tim người đọc:
 
Em cười yểu điệu mà mê
Chừng nghe xuân động bốn bề ra hoa
                                     (Bóng Duyên)
 
Đọc hai câu thơ nầy ta tưởng như em có phép lạ diệu kỳ, chỉ nở nụ cười và chỉ có bóng duyên của nụ cười thôi, đã làm cho động mùa xuân và bốn hướng hoa đều nở rộ. Chắc chắn nụ cười em không làm cho hoa nở mà câu thơ của Phương Tấn đã làm động mùa xuân hoa nở trong lòng người. Hoặc 4 câu thơ của Phương Tấn trong bài “Cõi Mộng” đã đưa ta vào một cõi mơ hồ thụy du ngay tức khắc:
 
Có người phụng phịu ghét ghê
Ngăm nghe bỏ phứt lại mê đến già
O từ cõi mộng bước ra
Gần gần như bướm xa xa như người.
 
Chỉ hình ảnh người con gái nũng nịu thôi, vậy mà làm cho chốn hiện thực trở thành huyền thoại, bướm và người, người và bướm lẫn lộn trong con mắt yêu suốt một đời.
 
Xin đọc một bài thơ nữa trong chủ đề nầy:
 
Sầu tình, dầu lấy gàu sòng
Tát thiên thu vẫn không mong cạn sầu
Bóng câu khoe trúc bạc đầu
khoe mai tàn cánh khoe màu thời gian.
                                            (Sầu Tình)
 
Tất nhiên thiên thu không cạn sầu vì thực lòng tác giả “không mong cạn sầu” thì làm sao sầu cạn được. Nhà thơ hảnh diện với tình yêu chung thủy của mình như trúc khoe bạc đầu dưới trăng, như hoa mai khoe bông tàn vì trương trải với thời gian nên không thể quên được tình, từ đó sầu tình còn chất chứa trăm năm. Bài thơ nầy hay ở chổ diễn đạt một nghịch lý để bày ra con tim yêu vĩnh cửu, yêu vượt trên phôi pha và bất hạnh.
 
Bước qua phần cuối của tập thơ “Lung Linh Tình Đầu” gồm những bài thơ không có chủ đề chung. Đó là những bài thơ thật sự tác giả đã “Cảm xúc, thoát hồn và ngôn ngữ tràn ra giấy” như ông đã thổ lộ từ trang đầu tuyển tập. Phần nầy chỉ có 10 bài thơ không nằm trong chủ đề chung, nhưng trong đó đã có 5 bài thơ rất dài viết về Phương.
 
Phương là một nhân vật lung linh nhất trong “Lung Linh Tình Đầu” của Phương Tấn. Nàng như ngọn hải đăng soi sáng cho con thuyền tình yêu để Phương Tấn nhắm hướng quay về. Nàng như vì sao lung linh rực rỡ trên bầu trời để con thuyền Phương Tấn định hướng tình yêu. Nàng như “Cây cỏ đùa vui nên tóc xanh mượt” làm cho nhà thơ Phương Tấn phải “Ai thương ai hoài riết tình lên men”. Hình tượng Phương tuyệt đẹp, cao sang như thần như tiên đến nỗi Phương Tấn phải dùng thơ để tôn vinh thờ phượng nàng: “Thơ thắp cho cao soi tay lụa trắng/Phương đứng bên trời chải tóc trong mai/Nắng thả lầu cao nhỏ xuống hai vai/ Chim cũng chuyền vui reo đầy vạt áo”.
 
Và cuối cùng Phương Tấn yêu mãnh liệt, tha thiết, chân thật, cảm động. Qua bao tháng ngày ngang trái sức sống tình yêu trong tâm hồn Phương Tấn vẫn bền bỉ, lớn thêm trong bài thơ “Chờ Đến Thiên Thu Một Bóng Người”. Bài thơ không nói đến tên Phương nhưng biết đâu là cũng viết cho Phương. Khổ đầu của bài thơ như sau:
 
Chiều xuống sâu buông tiếng thở dài
Đêm Sài Gòn chạm bóng thu phai
Có cô gái nọ ngồi hong tóc
Ngỡ gió lùa mây xỏa xuống vai.
 
Chỉ cần nhắc đến Sài Gòn đã làm cho hằng triệu trái tim rung động. Hình ảnh cô gái ngồi hong tóc như trong cổ tích, như trong Đường thi làm Sài Gòn lùi lại thời thanh bình một thuở.
Khổ thơ thứ hai:
 
Sóng cuộn đời sông sông bạc phếch
Giang hồ xếp vó tự bao năm
Nhớ em mình nhớ thời yêu mệt
Ngóng mãi bên đường bóng biệt tăm
 
Hình ảnh ban đầu tuyệt đẹp đã gợi nhớ, gợi buồn không chỉ cho người ngồi ngắm đó, mà cho cả một thế hệ của Sài Gòn đã “xếp vó tự bao năm”. Bây giờ người ngồi đó “ngóng mãi bên đường” chờ em, cũng có thể ngóng quá khứ vàng son quay lại. Buồn thay quá khứ ấy biệt tăm.
Khổ thơ thứ ba:
 
Ai lỡ đưa người qua bến sông
Hình như bến lạc sóng mênh mông
Sóng xô thuyền mắc bờ nước lạ
Mình kẻ lạc loài giữa gió đông.
 
Ai trong thơ chính là ta. Ta ân hận vì đã đưa em qua sông, để người lạc trong mênh mông, bị sóng xô mắc nơi bờ xa lạ. Còn ta cô đơn như kẻ lạc loài giữa gió đông.
Khổ thơ thứ tư:
 
Và như pho tượng trên triền núi
Chờ đến thiên thu một bóng người
Chờ đến xuân già sông rã nhánh
Ô hay mình cứ tuổi hai mươi.
 
Hình ảnh hòn vọng phu được dựng lên trong khổ cuối của bài thơ, tác giả hóa mình thành đá để “Chờ đến thiên thu bóng một người”“Chờ Đến Thiên Thu Bóng Một Người” là một bài thơ lung linh trên mọi sự lung linh của tình đầu, vì nó sống mãi tuổi hai mươi với những dòng thơ yêu say đắm, chung tình, nhớ da diết, tiếng thơ như gió thở dài, như dòng chảy, như sóng mênh mông. Bài thơ hay trên những bài thơ hay về sự thiên thu của mối tình hóa đá.
 
Cuối cùng, tập thơ “Lung Linh Tình Đầu” nằm trong “Thơ Phương Tấn Tuyển Tập I” là một khuôn viên thơ lung linh sắc màu thật sự, nằm trong một vườn thơ có nhiều kỳ hoa dị thảo. Tôi nói như thế không quá, vì sự nghiệp văn chương của nhà thơ Phương Tấn thi thật sư là một kho tàng văn chương quý giá mà không mấy ai không biết!

Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “LUNG LINH TÌNH ĐẦU” TẬP THƠ PHƯƠNG TẤN - Châu Thạch

BÊN HỒ TRĂNG CŨ, DƯỚI ÁNH TRĂNG THU, KHÚC TRẦM THU – Thơ Tịnh Bình


   
            Nhà thơ Tịnh Bình

 
BÊN HỒ TRĂNG CŨ...
 
Em đang nghe gì không?
Một mầm hoa diễm tuyệt
Kịp phôi thai tượng hình
Mơ hồ trong nước biếc
 
Em đang nghe gì không?
Búp thanh tân rẽ nước
Tiếng giọt sương khẽ cười
Lắc lay cành lá mượt
 
Em đang nghe gì không?
Trong hơi mai lành lạnh
Có lẽ bông hoa kia
Đang dần bung từng cánh
 
Em có nghe gì không?
Vô tình trong gió sớm
Vừa rụng chớm làn hương
Đóa từ bi huyền nhiệm
 
Em nghe... Nghe gì không?
Vô thanh hoa tàn nở
Hoa trước cùng hoa sau
Như nhiên hồ trăng cũ...
 
 
DƯỚI ÁNH TRĂNG THU
 
Về thôi... đã mỏi chân đời
Sau cơn mưa tạnh lại ngời trăng thu
Sớm chiều chuông mõ công phu
Lời kinh tiếng kệ hiền nhu cõi lòng
 
Trăng cười một nụ thong dong
Bận chi tròn khuyết thu đông bốn mùa
Đường trần lối gió êm khua
Buồn vui thương ghét hơn thua mặc người
 
Về thôi... tàn cuộc rong chơi
Hồn nhiên quảy gánh túi đời mây bay
Trà thiền chưa uống đã say
Sen thơm một đóa khép ngày an yên
 
Dặn lòng muôn sự tùy duyên
Hồ tâm lặng sóng não phiền sân si
Trăng thu tỏa ánh nhu mì
Ngỡ mình hóa trẻ anh nhi rước đèn...

 
KHÚC TRẦM THU
 
Những hàng cây vàng lên sắc lá
Một mùa thu bâng quơ đi qua
 
Khúc trầm thu mơ hồ xa vắng
Giọng hát ai buồn đến nao lòng
 
Khung trời cũ quê hương cố xứ
Ngõ hoàng hoa năm tháng phai dần
 
Gõ vào khuya lanh canh chuông gió
Nỗi niềm gì thao thiết âm xưa
 
Vụn thơ rời treo cành hoang tưởng
Mắt nhện chùng chình giăng sương rơi
 
Vương chiếc lá từ độ nào thu biệt
Một trăng
Một gió
Một hồn tôi...
 
                                      Tịnh Bình
                                     (Tây Ninh)

READ MORE - BÊN HỒ TRĂNG CŨ, DƯỚI ÁNH TRĂNG THU, KHÚC TRẦM THU – Thơ Tịnh Bình

SAO TÌNH HƯ VÔ, CHIỀU THU XƯA – Thơ Nguyên Lạc


  \
                Nhà thơ Nguyên Lạc


SAO TÌNH HƯ VÔ?
 
Nhớ không đêm ấy gió lùa?
Áo em hở vạt cho vừa nụ hôn
Và rồi từ đó trăm năm
Trong ta ngất mộng trăng rằm ngực em
 
Liêu trai mơ dáng em nằm
Đêm xanh huyễn mộng ôm nhầm hư không!
Vuột tay thân quế môi trầm
Còn gì đâu nữa mà mong túy quỳnh?
 
Moi tim xem thử riêng mình
Vẫn màu máu đỏ sao tình hư vô?
Đêm say huyễn mộng giấc hồ
Nguyệt rằm vẫn rạng bến bờ tử sinh
 
Thiên hương vẫn mãi bóng hình
Áo ai hở vạt dâng tình đêm nao
Ngực thơm môi ngọt hồng đào
Nghe như ngăn nhớ vỡ trào mùi hương
 
Thôi em lạc mất thiên đường
Nghìn xa cố quận miên trường mộng đau!

  
CHIỀU THU XƯA
 
Bao năm rồi em hỡi?
Chiều vườn thu lá rơi
Vai gầy thương tóc rối
E ấp nép bên người
Ngẩng khép mi dâng hiến
Ngọt ngào nụ hôn môi
Chim giật mình bay biến
Không làm chứng tình đôi!
Thì thôi vàng cánh lá
Reo khúc hát yêu người
Ửng hồng đôi má thắm
Ngất ngây tình men say!

*
Tang thương ngày tháng ấy
Oan khiên bao đắng cay!
Nộ cuồng cơn bão dữ
Cuốn vạn đời xa bay!
Bao năm rồi tôi hỡi?
Thu phong lá rơi đầy
Xạc xào thu cô lữ
Cố lý sầu khôn nguôi!

*
Em bây giờ có lẽ
Hết còn tuổi dại khờ
Ta bây giờ cũng thế
Tóc sầu theo nắng mưa
Em bây giờ có lẽ
Trơ lưng khổ nắng đời
Ta bên trời lận đận
Xứ người nát mộng thôi!

*
Bao năm rồi tôi hỡi?
Thu lại về hôm nay!
Cũng chiều nghiêng hoa nắng
Cũng lá vàng chao bay
Nhưng đâu hồng má thắm?
Chim mừng hót trên cây?
Đâu phiến môi ngây dại?
Dâng hiến tình men say
Đâu lời yêu thủ thỉ?
Chỉ tiếng thu thở dài!

*
Ta cách gì có thể
Quên nhớ chiều thu xưa?
Làm sao mà có thể?
Quên bờ môi dại khờ!
Chiều vườn thu xứ lạ
Lữ thứ buồn thiết thê!
Thu nơi nầy sao thế?
Thu phong lạnh buốt hồn!
Ta bây giờ sao thế?
Thấy đời toàn hư không!
 
                   Nguyên Lạc

 

READ MORE - SAO TÌNH HƯ VÔ, CHIỀU THU XƯA – Thơ Nguyên Lạc