Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, January 30, 2021

NHỚ VỀ KỶ NIỆM HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG - Nguyễn Thị Thu Sương


Tác giả Nguyễn Thị Thu Sương


NHỚ VỀ KỶ NIỆM HỌC SINH 

TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG

 

              Năm 2017, gia đình tôi tổ chức một chuyến du lịch về Đà Nẵng. Chúng tôi nghỉ dưỡng tại Vinpearl Resort &Villas Đà Nẵng. Sáng hôm sau dậy sớm, tôi cùng ba mạ và em gái ra bờ biển. Resort này nằm bên cạnh bờ biển Mỹ Thị, kéo dài đến gần núi Ngũ Hành Sơn.

             Đứng trên bờ biển, nhìn về hướng Sơn Trà, ngọn núi vẫn nằm hiên ngang hướng ra biển, mây vẫn bay lững lờ qua đỉnh núi. Sóng vẫn vỗ tung từng đợt trắng xóa vào bờ, mặt trời từ từ lên cao, mây ửng hồng cam trên bầu trời. Ánh nắng dần tỏa sáng trên khắp bãi biển, những tia sáng chiếu lung linh trên mặt biển như những viên kim cương, mà có thời bạn tôi gọi là “chùm hoa nắng”. Thiên nhiên hình như vĩnh cữu, không hề thay đổi. Cảnh vật có nhiều khác lạ: những căn nhà gỗ ngày xưa của trại lính Mỹ để lại nay không còn, thay bằng những resort và villa sang trọng của các tổ chức du lịch trong nước và nước ngoài đầu tư. Nơi đây không còn là quang cảnh công cộng, ai cũng có thể đến thưởng ngoạn được như ngày xưa. Muốn vào đây, chúng ta phải bỏ ra rất nhiều tiền mới tìm lại cảm giác thưởng ngoạn như trước đây. Con người và thời thế đã làm thay đổi tất cả cảnh quan nơi đây. Tôi bùi ngùi thương tiếc và nhớ về dĩ vãng của bốn mươi bốn năm về trước.

               Sau mùa hè đỏ lửa 1972, dân Quảng Trị chạy loạn vào các tỉnh Miền Trung, lưu lạc khắp Miền Nam Việt Nam, và nhiều nhất là ở thành phố Đà Nẳng. Hiệp định Paris 1973 được ký, quân đội Mỹ rút quân về nước, các căn cứ Mỹ bỏ lại ở Non Nước và Hòa Cầm trở thành nơi tạm cư của dân chạy loạn Quảng Trị.

             Sau một thời gian ổn định, Trường Trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị đã tổ chức học lại. Trường Trung học Nguyễn Hoàng đóng tại trại 5 Non Nước. Trường tạm thời mở tại một hội trường lớn của Mỹ để lại. Lớp học được ngăn vách bằng cót ép, để trống phần trên và phần dưới, ngồi bên lớp này có thể nghe thầy bên lớp kia giảng bài. Những ngày đầu chưa có bàn ghế, học sinh mỗi người còn phải mang theo một ghế nhỏ để ngồi. Sau một thời gian ngắn, trường đã trang bị được bàn ghế, chúng tôi được một lớp học tương đối ra lớp học.

              Những ngày nhập học chúng tôi thật vui mừng, gặp lại được bạn bè sau một thời gian xa cách, hỏi han nhau mới biết bạn nào còn, bạn nào mất, bạn nào đã bỏ mình lại Đại lộ Kinh hoàng. Lớp 6, 7/8 của tôi có nhiều bạn đi vào Miền Nam như Đinh Thị Hiệp về Mỹ Tho, Công Huyền Tôn Nữ Anh Đào, Vũ Phương Mai, Lý Thị Nhơn  vào Sài Gòn. Trần Thị Lai về Bình Định, …

            Vào lớp mới, tôi làm quen thêm nhiều bạn mới: Lê Thị Hoa, Nguyễn Thị Phục, Trần Thị Mai Anh, Tôn Nữ Thanh Hương, Lê thị Ngọc Ánh, Trần Thị Vượng, Nguyễn Thị Thanh Hà, Trần Thị Bích Huệ, Nguyễn Thị Ty, Phạm Thị Lê, Lê Thị Hiền, Cao Thị Kim Thu, Phan Ái Hồng, Trần Thị Quyên, Trần Thị Việt Anh,… Còn các bạn cũ là Đặng Thị Kim Anh, Lê Thị Bê, Lê Thị Quảng,…

             Tôi được vào lớp 8/1, học Văn với thầy Trần Văn Lữ (bút hiệu Trần Văn Lãng Tử (tức Thạch). Thầy có mái tóc muối tiêu rất đặc biệt, vì thế Thầy Phan Phụng Thạch mới có mấy câu thơ:

           “Thằng bạn chưa già tóc đã bạc,

             Bụng đầy Kinh Lễ với Kinh Thi.

            Chuyện đời hư ảo xin mày gác,

            Không lẽ mày là Ngủ Tử Tư?”

           Thầy Lữ dạy Văn cho chúng tôi rất hay và tận tâm, thầy dạy kỹ các điển tích trong các bài thơ. Thầy khuyến khích chúng tôi viết nhật ký, xem như đó là tập viết văn xuôi. Thầy hay gợi ý những đế tài rất hay như Thiên nhiên, Xuân, Hạ, Thu, Đông, … để cho chúng tôi viết cảm nhận về các hiện tượng đất trời. Tôi, Mai Anh, Ánh Hồng, Hoa, Quảng và Phục đến nhà thầy học thêm Anh Ngữ. Trại tạm cư chật chội, thầy trò học quanh cái phản gỗ ở nhà thầy. Thầy dạy các từ ngữ, với đầy đủ gốc rễ của từ ngữ, các ví dụ minh họa. Thầy dạy thêm cho chúng tôi vì thầy yêu quý các học trò như con cái của mình.

                Tôi cũng bắt đầu yêu quý và học hành chăm chỉ các môn Văn và Anh ngữ từ ấy. Chiều nào, Hoa và Ái Hồng cũng đến nhà rủ tôi đi học, đến ngã ba Hòa Long và  Trại 1 có Mai Anh, Quảng, Thanh Hương và Phục nhập bọn đi cùng. Chúng tôi đi lên đường phi đạo, áo dài trắng tung bay, tay giữ cặp và tà áo, tay níu giữ cái nón, biết đường trên cao lộng gió, nhưng đứa nào cũng thích như thế. Đường rộng thênh thang, vắng bóng người, tha hồ nói chuyện và đùa giỡn với nhau.

             Trong giờ dạy Văn, thầy ra bài viết về Thiên Nhiên, đến khi phát bài, tôi hạnh phúc được thầy đọc bài của mình trước lớp. Tôi trích lại bài văn hôm đó như sau:

          “THIÊN NHIÊN

           Theo em, thiên nhiên rất đẹp, khi người ta ca ngợi cái gì đẹp, người ta thường nói: Đẹp như Sơn như Thủy.

           Thiên nhiên đẹp, cái đẹp của nó trường tồn, không có cái gì thay thế được và rất vĩnh cữu.

           Khi nhìn cảnh mưa phùn gió bấc, cảnh tuyết rơi, cảnh bình minh trên biển cả, cảnh hoàng hôn trên sông ,… người ta thấy đẹp với ý nghĩa của nó. Riêng em, em chỉ thích cảnh mây bay, những đám mây bay lơ lững trên nền trời xanh lơ, nó thường tạo ra những hình ảnh rất đáng yêu: một ông già, một thửa ruộng, hình một cậu bé đang chạy,… Những hình ảnh ấy làm em say mê ngắm không chán mắt. Các nhỏ bạn thường đặt cho em một cái tên vui vui làm sao ấy: cô bé mộng mơ!

              Qua sách báo cũng như các văn gia và thi gia, em thấy họ thường ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên: nào là núi Phú Sĩ của xứ bồng đảo, các vịnh đẹp ở Na Uy, đó là ở ngoại quốc. Trong nước nhà có cảnh đẹp êm đềm thơ mộng của xứ Huế, nó tuy mộc mạc trầm lặng đầy vẻ thê lương như một người nhìn quê hương mình bị bom đạn giày xéo, ở đó rất hợp với những người buồn và bi quan. Đà Lạt xứ sương mù có cành thông đùa trước cơn gió nhẹ, có hoa anh đào màu trong trắng tinh khiết, có thác Cam Ly nước chảy liên tiếp  ngày đêm, có hồ Than Thở với dòng nước xanh phẳng lặng, cảnh đó dành riêng cho những người diễm phúc có tâm hồn vui vẻ yêu đời. Cũng có khi buồn người ta thường trở về với biển, bây giờ họ quên tất cả những ê chề, chán nản mà đời đã “ban thưởng”  cho họ. Ở đây họ chỉ còn nghe dư âm của sóng, những làn gió ngập mùi biển cả, bãi cát trắng phẳng lì. Họ cảm thấy mình hoàn toàn là của đại dương, của biển cả.

              Thiên nhiên đẹp với ý nghĩa của nó và hoàn cảnh riêng của mỗi người.”

              Mặc dù đã bốn mươi bảy năm trôi qua, tôi vẫn giữ gìn nó như là một kỷ niệm đẹp của thời học sinh, bắt đầu tập tễnh viết những bài văn xuôi theo ý của thầy giáo dạy Văn yêu quý: thầy Trần Văn Lữ.

             Trong nhóm bạn, đứa nào cũng có quyển nhật ký, ghi nhận hoạt động trong ngày cũng như viết về một đề tài nào mà mình yêu thích. Chúng tôi thường viết về biển, nắng, gió,… Những cô bé mơ mộng và hồn nhiên.

           Trong năm lớp 8, nhà trường có tổ chức đi chơi ở bãi Rạn Nam Ô, một thắng cảnh đẹp của Đà Nẵng. Bãi rạn Nam Ô là một bãi tắm Hoàng sơ nằm cách thành phố Đà Nẵng 17km về phía Tây Bắc. Bãi Rạn này nổi bật các lớp đá ngầm dày đặc nằm ngổn ngang ngâm mình dưới biển. Trên bờ các tảng đá thật to, nằm ngổn ngang hay chồng chất lên nhau, có các cây mọc chen lẫn trong đá, trông thật hoang sơ và rất đẹp. Tôi đã được Quảng chụp một tấm hình rất đẹp ở nơi đây.

           Cuối năm đó, lớp tôi có nhiều bạn đi di cư vào Miền Nam, Phục vào Ninh Thuận theo đoàn di cư của Cha Ái, Vượng đi di cư vào Cam Ranh, gia đình tôi đi di cư theo Chương trình Khẩn hoang lập ấp Bình Tuy. Chúng tôi viết lưu bút và bịn rịn chia tay nhau.

              Chiều đó, chúng tôi rủ nhau xuống biển Hòa Long, đi dạo biển với nhau lần cuối. Hoa, Ái Hồng, Quảng và Phục nhảy xuống tắm biển, đùa giởn với những con sóng, chạy nhảy trên bờ. Tôi không tắm biển, ngồi nhìn các bạn và ngắm biển. Biển vẫn hiền hòa bình yên, từng đợt sóng nhẹ vổ vào bờ trắng xóa như an ủi chúng tôi. Biển xanh trải rộng đến chân trời, xanh ngắt một màu, mây trắng bay lờ lững trên cao, gió từ đại dương thổi mát rượi vào bờ, thổi vào rừng dương đằng sau, tạo thành âm thanh vun vút êm tai. Tôi chạy đến cùng các bạn chơi trò xây lâu đài cát. Càng về chiều, sóng càng mạnh hơn, các lâu dài cát của chúng tôi bị các con sóng phá nát. Các đám mây chuyển sang màu hồng cam, quả cầu đỏ đang dần dần chìm xuống biển. Bầu trời chuyển dần sang màu tím nhạt, các áng mây màu cam đang chuyển dần sang màu tím, hoàng hôn từ từ buông xuống. Chúng tôi buồn bã chia tay nhau trở về.

            Hôm sau, chúng tôi đến nhà Phục lần cuối, ngồi nghe anh Phục đàn và Quảng hát. Quảng có giọng hát trầm ấm rất hay. Quảng hay hát các bài hát của Trịnh Công Sơn và nhạc ngoại qua lời dịch của Phạm Duy. Tôi nhớ mãi giọng hát của Quảng ngày ấy. Ngày ấy! Đâu rồi! Các bạn của tôi ơi!

            Tôi được ba mạ cho ở lại học tiếp lớp 9 tại trường Trung học Nguyễn Hoàng vì trường lớp ở khu định cư chưa có đầy đủ. Tôi lên trại 5 Non Nước ở với ông ngoại đi học.

          Lên lớp 9, chúng tôi học Văn với thầy Nguyễn Đức Liệu, thầy giáo trẻ mới ra trường. Năm ấy niên khóa 1973-1974 có nhiều thầy cô trẻ ra trường. Thầy Lê Thanh Trí dạy Toán, thầy Tôn Thất Cẩm Đăng dạy Sử Địa.

          Thầy Đức Liệu dạy Văn cho chúng tôi với phong cách mới. Thầy giảng bài rất hay, mắt thầy mơ màng nhìn xa xuôi, đặc biệt cuối giờ dạy hay chiêu đãi học trò một bài hát hay. Thỉnh thoảng thầy ngâm thơ cho học trò nghe. Bài thơ tôi nhớ nhất là bài “Màu tím hoa sim” của nhà thơ Hữu Loan, với giọng buồn thầy ngâm bài này thật hay, chứa đầy tâm sự. Học trò chúng tôi hay đóan già đoán non về đôi mắt buồn xa xuôi của thầy. Thầy yêu cầu chúng tôi phải luyện câu chữ, để ý dấu chấm, dấu phẩy. Thầy nói thật thất vọng khi các anh chị viết văn phạm Anh ngữ đúng mà viết văn phạm Tiếng Việt sai. Thầy khuyến khích chúng tôi đọc thêm sách về Đạo giáo, Phật giáo. Thầy còn dự đoán tương lai qua bài văn của học trò, kỳ vọng các học trò thành công trong cuộc đời. Đó là những thành tâm, hướng dẫn học trò trong tương lai.

          Dưới sự hướng dẫn của thầy Liệu, sự nổ lực của các bạn trong lớp và bàn tay tài hoa của bạn Thanh Hà, lớp 9/1 đã ra tờ báo tường bằng vải tên “Dấu Ái”. Tờ báo đã đoạt giải nhất về Bích báo của trường niên khoá 1973-1974.

         Năm lớp 9, nhà trường lại cho học trò đi tham quan thắng cảnh Nam Ô nữa, mặc dù nằm cạnh Ngũ Hành Sơn, thắng cảnh nổi tiếng nhất của Đà Nẵng, nhưng biết học trò ai cũng từng đi chơi nhiều nơi này, nên không còn nằm trong danh sách tham quan của trường nữa.

              Thầy Lê Thanh Trí dạy Toán, thầy có thành tích đáng nể, đạt Á khoa khi tốt nghiệp. Thầy dạy toán hay và dễ hiểu. Thầy hay đỏ mặt, đó là yếu điểm nên hay bị học trò kiếm cớ để chọc nghẹo thầy, nhưng cũng hãy coi chừng khi lên trả bài Toán của thầy! Nhờ học Toán thầy, tôi dần thích môn Toán và sau này tự tin chuyển qua ban B.

            Thầy Tôn Thất Cẩm Đăng dạy môn Sử Địa, với dáng vẻ thanh lịch nho nhã của người Tôn thất xứ Huế, thầy đã làm xao xuyến nhiều trái tim của học trò, tôi đã có một bài viết riêng về thầy, nên trong bài này tôi không viết lại những điều đó.

           Thầy Nguyễn Huy Vỹ dạy Anh Văn cho bốn lớp 9, trong đó ba lớp 9/1, 9/2, 9/3 (nữ) và lớp 9/4 (nam). Thầy dạy Anh ngữ rất hay và tận tâm với học trò. Thầy khuyến khích chúng tôi học hành và ganh đua với nhau. Khi vào lớp con gái, thầy lúc nào cũng khen lớp con trai học rất giỏi và cứ nói: “Sao con gái lại thua con trai hè!”. Vào lớp con trai, thầy cũng dùng chiêu thức đó, các lớp cạnh tranh nhau học hành. Cuối học kỳ 1 thầy nói: “Kỳ này thầy sẽ ra đề thi chung bốn lớp, ai đạt điểm cao nhất, thầy sẽ có phần thưởng!” Chúng tôi ganh đua nhau học. Kết quả học kỳ 1, điểm Anh ngữ của tôi là 19 ¼. 

            Tôi được một quyển tự điển Anh ngữ, đó là phần thưởng của thầy Vỹ. Nhưng đây mới là duyên cớ cho câu chuyện bắt đầu. Tôi có em trai học dưới tôi hai lớp cũng tại trường trung học Nguyễn Hoàng. Vui mừng vì chị đạt giải thưởng của thầy, em tôi đem ra khoe với bạn ngồi cùng bàn. Cậu bạn đó về kể lại cho anh trai mình. Hôm sau, bạn của em tôi nói: “Anh trai mình thua chị bạn ¼ đó, anh mình 19 điểm.” Nhưng anh của bạn ấy không đành lòng, đưa ra câu đố: “To be or not to be” là gì?, đề nghị chuyển về cho tôi trả lời.

          Thực tình, tôi không biết câu này, tôi tra tự điển mà không thấy. Tôi đành đến hỏi thầy Lữ, thầy giải đáp cho tôi. Đó là phrase bắt đầu của một lời độc thoại (soliloquy) của nhân vật Hamlet, hoàng tử xứ Đan Mạch (Denmark) trong hồi 3, cảnh 1 vở kịch Hamlet của đại văn hào và nhà viết kịch William Shakespeare nước Anh, thời Phục hưng:

               “ To be , or not to be – that is the question:

               “ Whether ‘ tis nobler in the mind to suffer

                   ……………….

            “To be or not to be” có nghĩa là: “sống hay chết, tồn tại hay không tồn tại: đó là một vấn đề nan giải” và nó trở thành câu châm ngôn bất hủ (famous quotation) của William Shakespear.

           Khi có câu trả lời, tôi viết gửi lại cho người bạn ấy và không quên ghi chú: “Đồ con nít!”

           Tôi đem câu chuyện này nói với nhóm bạn của tôi. Chúng tôi chỉ biết tên bạn ấy, nhưng không biết mặt. Hai lớp học cách buổi nên hoàn toàn không biết mặt nhau. Chúng tôi quyết định phải tìm cho biết mặt người thách đố ấy.

          Chuẩn bị cho văn nghệ Tết của trường, liên lớp 9 họp lại ban văn nghệ. Chúng tôi vào họp nhóm văn nghệ, tôi nói với nhóm bạn: “Phải tìm xem mặt chàng kia, xem mặt mũi ra sao, mà phách lối thế!” Trong lúc đó, thật bất ngờ “hắn ta” lại ngồi trước mặt chúng tôi, ôm đàn lặng lẽ cười!

           Sau này, khi xong chương trình văn nghệ, tôi mới biết mặt chàng ta.         

           Ngày liên hoan Tết cuối năm của trường, tôi nhận một thiếp chúc tết xinh xinh, ghi trong đó lời chúc tết và kèm theo câu: “Giọt sương xuân thấm lạnh lòng núi non”. Cả nhóm bạn tôi làm quen với bạn ấy và Mai Anh rất nghịch ngợm gặp người ấy đều đọc to câu đó.

           Một hôm, Quảng phát hiện ngay chỗ ngồi của tôi, có một lỗ tròn nhỏ, đặt mắt vào có thể nhìn sang bên kia. Quảng đi điều tra mới biết: phòng học của lớp tôi lại sát phòng nhà bạn ấy. (Ba bạn ấy là nhân viên của trường trung học Nguyễn Hoàng nên nhà bạn ấy ở trong trường!)

          Buổi học Anh văn, học mệnh đề IF ( Conditional sentences), các bạn có dịp chọc bạn ấy. Ở bên lớp, Quảng và Mai Anh đọc to: “If you are Mountain, I will be Dew.” Không biết ngồi bên nhà, bạn ấy có nghe rõ không? Cái nhóm bạn nghịch như quỷ này luôn gây áp đảo bạn ấy. Bạn ấy chỉ cười mà không nói gì.

            Cả nhóm tổ chức buổi họp mặt tại bãi biển Sơn Trà. Chúng tôi đi xe lam từ Non Nước qua Sơn Trà. Cả nhóm ngồi chơi đùa đến gần chiều giải tán, lúc về chúng tôi quyết định không đi xe mà đi bộ dọc bờ biển. Chúng tôi đi bộ từ bãi biển Sơn Trà về đến Mỹ Thị, đến bãi biển trại Hòa Long, Hoa, Mai Anh, Ái Hồng và Quảng đi tiếp về nhà. Tôi và bạn ấy đi bộ dọc bờ biển đến trại 5 Non Nước. Áo dài trắng bay quấn quýt theo bước chân, tóc dài bay tung trong ánh trời chiều. Ánh nắng trên biển bắt đầu dịu lại, dể chịu hơn hẳn. Chúng tôi vẫn lặng lẽ bước bên nhau, nói chuyện vu vơ về bài học này nọ. Bỗng nhiên, bạn ấy dừng lại, ngập ngừng hỏi tôi:

          -  S có cảm nhận một tình cảm nào đó về mình không?

Tôi thẹn thùng bối rối trả lời:

         -  Mình cũng không biết nữa!

          Rồi chúng tôi tiếp tục bước, mỗi người đeo đuổi mỗi ý nghĩ riêng. Tôi không thể trả lời câu hỏi của bạn ấy, tôi mơ hồ cảm nhận về nó, nhưng không thể diễn tả nó như thế nào.

           Ông ngoại tôi nổi tiếng là người khó tính. Hồi ở Quảng Trị, các bạn trai của các dì đến nhà chơi, ông ngồi quan sát và nhìn đồng hồ. Thấy không thích anh chàng nào, ông lên tiếng hết giờ đến chơi. Không biết bạn ấy lấy cam đảm như thế nào mà dám bước vào nhà tôi. Ông ngoại tôi nằm trên gường, kế bàn học của tôi lắng nghe hai đứa nói chuyện. Lúc đầu tôi sợ thật tình, nhưng khi nói chuyện về học hành, chuyện sách vở, tôi quên mất cảm giác sợ hãi. Hai đứa trao đổi nhiều đề tài từ học hành, văn học, đến chuyện khoa học… Ông ngoại vẫn lắng nghe chúng tôi nói chuyện. Khoảng gần một giờ sau, bạn ấy cúi chào và xin phép ra về.  Khi bạn ấy ra đi khỏi nhà, ông ngoại tôi khen: “Thằng nhỏ học hành được đó, nói chuyện khá, nghe được.”

         Từ đó, sau mỗi tối học bài xong, bạn ấy hay qua nhà tôi nói chuyện, dưới sự cho phép của ông ngoại. Nhà tạm cư không gian chật hẹp, chỉ có căn phòng nhỏ, nhất cử nhất động đều nằm dưới sự kiểm soát của ông ngoại. Chúng tôi vô tư nói chuyện, tôi cũng hóm hỉnh đối đáp với kiến thức có được, mang đến nhiều tiếng cười góp vui cho ông ngoại.

          Dì Út tôi từ Đà lạt về thăm ông ngoại, tổ chức chuyến đi chơi Ngũ Hoành Sơn. Vài người bạn của bạn ấy, ba người hàng xóm và hai dì cháu tôi đã thành một nhóm tham quan Ngũ Hành Sơn.

             Chúng tôi đi Ngũ Hành Sơn, nhưng chủ yếu tham quan Thủy Sơn. Tham quan nhiều đền chùa và hang động. Phong cảnh Ngũ Hành Sơn lúc nào vẫn đẹp, dù đi bao nhiêu lần, lúc nào tôi vẫn thấy khám phá ra nhiều điều mới lạ. Chúng tôi leo lên Vọng Hải Đài. Đứng trên ngọn núi cao, ngắm nhìn bao quát thành phố biển Đà Nẵng, ngắm bãi biển cát vàng vòng cung từ Sơn Trà đến Non Nước. Trời xanh và biển xanh, xanh ngắt một màu, mây trắng lững lờ trôi, ngọn núi Sơn Trà vươn dài ra biển, quang cảnh Vịnh Đà Nẵng thật đẹp như tranh. Nhìn về hướng đông nam là đảo Cù Lao Chàm, những đàm chim hải yến bay lượn dưới bầu trời xanh trong.         

          Chúng tôi đến thắp nhang ở chùa Linh Ứng và chùa Tam Thai. Chúng tôi đến động Huyền Không, đây là động lớn nhất của Ngũ Hành Sơn. Động nằm lộ thiên và có cấu trúc độc đáo ấn tượng với máy vòm bình tròn thông qua bên ngoài nên luôn tràn ngập ánh sáng. Bạn ấy quỳ cầu nguyện trước tượng Phật Quan Âm Bồ tát rất lâu. Tôi hỏi:

        - S cầu nguyện xin gì mà lâu quá vậy?

        Bạn ấy cười bảo:

         - Bí mật.

        Theo truyền thuyết, chúng tôi hứng nước trong thạch nhủ uống, với hy vọng mang nhiều may mắn trong cuộc đời.

        Dù đến Ngũ Hành Sơn nhiều lần, nhưng không lần nào tôi dám xuống tham quan Động Âm phủ, nghe nói có con đường tối om và những hình dáng tượng đáng sợ dẫn  xuống, tôi sợ không dám bước vào. Chúng tôi đã chụp rất nhiều hình, có một vài tấm hình tôi còn giữ đến ngày nay.

      Chúng tôi ngày càng thân thiết nhau hơn, thỉnh thoảng bạn ấy nhờ em trai mang qua một bài thơ nhỏ hay một lá thư cho tôi. Bạn ấy viết lưu bút cho tôi, với những tình cảm thân thương của tuổi học trò, những mơ ước tương lai của chàng trai nhiều hoài bảo. Thời gian chia ly cũng đang đến gần. Bạn ấy và gia đình quay về lại Quảng Trị, tôi cùng ông ngoại vào định cư Nha Trang. Trước khi chia tay, bạn ấy tặng tôi một tấm thiệp có hình hoa Pensée (Pansy) màu tím với những tình cảm thiết tha.

          Ngày chia tay đã đến. Sáng sớm hôm ấy, nhà bạn ấy trở về Quảng Trị. Cả nhà gói ghém đồ đạc và di chuyển trên một chiếc xe tải lớn. Trời còn tối, tôi và dì Út ra bên hiên nhà tiễn bạn ấy, bạn ấy ngồi trên xe tải pha đèn pin đến chổ tôi đang đứng. Tôi đứng đó vẫy tay chào tạm biệt bạn ấy và gia đình. Bạn ấy pha đèn pin và nhá đèn pin nhiều lần để chào tạm biệt tôi và dì Út. Chiếc xe chạy xa dần và mất hút trong bóng đêm. Tôi nhận thấy một cái gì đó vở vụn trong tôi, tôi không cầm được nước mắt. Tôi sẽ khó gặp lại bạn ấy. Bạn về quê Quảng Trị, còn tôi vào Nha Trang, địa chỉ không rõ ràng, có thể nói là chưa có, không có manh mối nào để có thể liên lạc cho nhau. Sống trong thời buổi loạn lạc, đầy bất trắc và tạm bợ này, xa nhau xem như là mất nhau, khó mà gặp lại.

              “Nàng đứng ngóng, vẫy tay buồn thê thảm

              Ánh đèn pin tôi viết chữ phân ly

              Lòng nghẹn ngào, mắt ứa lệ hoen mi

             Tình trong trắng như pha lê tan vỡ”

                           (Nam Hải Trường Sơn)

          Năm 1977, bạn ấy đến thăm tôi tại Ký túc xá trường Đại học Kinh Tế TPHCM. Dáng vóc bạn ấy vẫn như ngày nào, vẫn vui tính và dí dỏm, tôi và bạn ấy ngồi nhắc chuyện ngày xưa. Nhưng tôi biết bạn ấy bây giờ đã khác xưa, bạn ấy đã có người yêu mới. Chúng tôi bấy giờ xem nhau như những người bạn thân của ngày xưa còn bé. Tôi trân trọng tình cảm của bạn ấy, giữ gìn những kỷ niệm, những ngày tháng xưa tươi đẹp và trong sáng. Thời gian không dừng lại, như nước trôi qua cầu, đi đi mãi không bao giờ trở lại. Con người đã thay đổi, nhưng kỷ niệm xưa vẫn còn đó, nó đánh dấu một khoảng đời mà chúng tôi đã có nhau. Tôi mượn tạm mấy câu thơ của một nhà thơ để kết thúc.

                 “Duyên dang dở để ngàn thu nhung nhớ

                  Mộng trinh nguyên trôi vạn kiếp tồn lưu

                  Hạnh phúc tuổi thơ thiên trường địa cữu

                 Xin giữ gìn năm tháng đã có nhau!”

                                 (Nam Hải Trường Sơn)

   ——*———

 

Trích thêm trọn bài thơ của bạn mình ngày xưa.

 

                      TRINH NGUYÊN

  

        Ngó dòng chữ ghi đầu trang sách nhỏ

        Ngậm ngùi thương gió cuốn bụi thời gian

        Nét mực xanh, giấy thắm đã phai tàn

        Quanh ký ức bồng bềnh năm tháng cũ  

 

        Nhớ mãi mái trường xưa, người tố nữ

        Bài Anh văn cả bốn lớp thi chung

        Nàng thủ khoa nên hứng thú vô cùng

        Hoa vương miện phút giây thành hiện thực  

 

        Thua (một phần tư điểm) cứ ấm ức

        (Ai đường đường là bực đại tu mi

        Lại cam tâm lép vế “tiểu oa nhi?”)

        Nên phóng bút hiên ngang đòi hỏi đố

 

        Lời Shakespeare trong vở kịch xưa cổ

        Chàng Hamlet: “To be or not to be?”

        Đặt vấn đề sống chết với hoài nghi

        Rồi “Tồn tại hay không? Mất hoặc có?”   

 

        Thành dấu ấn khởi đầu duyên hạnh ngộ

        Tuổi học trò từ đó lắm mộng mơ

        Cát hong vàng, biển động... cũng nên thơ

        Ôm đàn hát ru trăng sao huyền ảo  

 

        Thiệp chúc Tết chua thêm dòng áo não

        “Giọt sương xuân thấm lạnh lòng núi non.”

        Lời tỏ bày trong mấy chữ cỏn con

        Mong gói trọn phiến tình son bàng bạc  

 

        Nàng trả lễ bằng ngôn từ đài các

        Bảo rằng tôi nên “gột rửa” tư duy

        Như thể yêu là bệnh dịch hiểm nguy

        Và con nít chớ điên rồ, xuẩn ngốc  

 

        Tôi khấn nguyện “tiểu oa nhi” nhiễm độc

        Để tặng nàng phương thuốc giải tương tư

        Cứu giai nhân như một đấng y sư

        Nhưng lưu bút cứ ghi “mình trong sáng”  

 

        Bờ Non Nước nàng cười như tiên giáng

        Động Ngũ Hành tôi dệt mộng Thiên Thai

        Núi Sơn Trà hai đứa nhập Bồng Lai

        Tình yêu đến tím khung trời Đà Nẵng  

 

        Nguồn thương nhớ long lanh chùm hoa nắng

        Chuỗi ngày vui như ảo ảnh hoàng lương

        Cuối dòng... sông chẻ nhánh rẽ đôi đường

        Ngày tiễn biệt bình minh còn hắc ám  

 

        Nàng đứng ngóng, vẫy tay buồn thê thảm

        Ánh đèn pin tôi viết chữ phân ly

        Lòng nghẹn ngào, mắt ứa lệ hoen mi

        Tình trong trắng như pha lê tan vỡ  

 

        Duyên dang dở để ngàn thu nhung nhớ

        Mộng trinh nguyên trôi vạn kiếp tồn lưu

        Hạnh phúc tuổi thơ thiên trường địa cữu

        Xin giữ gìn năm tháng đã có nhau!  

 

        Nam Hải Trường Sơn

        Mến tặng Thu Sương

        Canada, giữa một mùa hạ nhớ gió cát Đà Nẵng

 

Nguyễn Thị Thu Sương

12/6/2020.

thusuong041959@gmail.com

READ MORE - NHỚ VỀ KỶ NIỆM HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC NGUYỄN HOÀNG - Nguyễn Thị Thu Sương

Friday, January 29, 2021

trong bất thường tôi thấy | rất thật trong ý tưởng - thơ: khaly chàm

 


khaly chàm 

trong bất thường tôi thấy


thị thành mang khuôn mặt của nước

hàng cây thèm ngủ để thở ra bóng đêm hoài nghi dị bản

tất tả tiếng đập cánh chấp chới trong khung trời bão rớt


ý nghĩ đức tin không thể che kín một góc đời mình

tiềm thức toàn nguyên chỉ là khái niệm khi tờ lịch rơi và chúng ta không thấy được sự vỡ vụn

trôi nổi trên lòng bàn tay thứ ngôn ngữ thối rữa lụi tàn


em rót tràn môi hồng cô đặc mùi hương trang điểm 

mưa mùa thu dầm dề kích động sự rối loạn ảo giác sẽ khóc lên nức nở

tôi gõ khẽ vào chiều dài âm thanh tiếng vọng thời gian


mộng tưởng nhập nhằng rồi cũng tan trong não

hay trái đất nghiêng nhưng chẳng ai ngã sấp bao giờ

trong hun hút ánh nhìn trắng đen vẫn cứ thế mà xoay

thật ra, tôi mong chờ một tiếng gọi tên mình



rất thật trong ý tưởng


xối từng chùm ánh sáng lên đầu cái bóng
sự tan chảy trắng đẫm vào ý tưởng
những đốm màu thời gian hoại thư dần hiện ra


xòe tay cho gió đông bắc tạm trú
ảo ảnh ngả ngớn giữa hai đường tiệm cận
chúng không hề cũ, luôn tạo ra vô vàn hiệu ứng
hỗn sắc tỏa rộng lập lòe rồi biến mất


ngày tháng cạn nhanh thật sao
hãy kí họa đường vòng luẩn quẩn em nhé
khi những con chữ cong mình theo sợi nắng
câu bóng chúng ta
tắm gội đức tin bằng ánh sáng hằng mong thanh sạch


như nhiên lòng nghiêm cẩn
từng chùm hạt lượng tử trương nở diệu kỳ
những hồn linh vô tính trở về
ve vuốt những đóa hoa trương nở
tôi thầm biết ơn lời nói trong suốt


tptayninh 1/2021


READ MORE - trong bất thường tôi thấy | rất thật trong ý tưởng - thơ: khaly chàm

BẾN SÔNG QUÊ - Âm nhạc: Võ Công Diên - Ý thơ: Minh Huyền - Tiếng hát: Thu Hiền

 

READ MORE - BẾN SÔNG QUÊ - Âm nhạc: Võ Công Diên - Ý thơ: Minh Huyền - Tiếng hát: Thu Hiền

CHỖ NÀO? | ĐỂ CÁI GÌ? - Thơ Chu Vương Miện

Nhà thơ Chu Vương Miện


chỗ nào?


thơ chuvươngmiện


bao nhiêu thứ hầmbàlàng 

không còn chỗ chỉ quăng thùng rác?

bao nhiêu thứ hổ lốn tảpínlù cũng thế

bao nhiêu thơ văn lẩm cẩm

tốn giấy tốn mực?

chả tích sự gì cũng vậy?

nước chả biết từ đâu?

ở trên đầu núi đầu nguồn 

đổ xuống trước là ghềnh thác

sau là khe suối đổ vào sông?

sông cuốn theo nhau trôi về biển

biển làm sóng vỗ vào bãi cát

gió thổi qua hang phi lao tạo ra tiếng hát

sóng cũng ồn ào cây cũng ồn ào?

bầy chim đậu chơi cũng lao xao

bao nhiêu là thơ văn?

hoà vào lòng trơì kiếm hoài?

không  biết trốn chỗ nào?



để cái gì?


con chim vì miếng mồi phải bay 

con ngươì vì miếng cơm phải đi

chuyện dĩ nhiên bình thường

chả phải thanh minh thanh nga cái gì ?

sống lâu lên lão làng

xưa nay thường là thế ?

dành nhau cái hư danh

chẳng qua là cái ghế ?

trâu chết để da

còn dùng được ?

ngươì chết để tiếng ?

ích chi ?

trâu buộc ghét trâu ăn?

ghét cái chi?

ăn nhiều quá 

tao mất phần?


chuvươngmiện


READ MORE - CHỖ NÀO? | ĐỂ CÁI GÌ? - Thơ Chu Vương Miện

NGẠO XUÂN, ĐÊM TRỪ TỊCH – Thơ Tịnh Bình


 


NGẠO XUÂN
 
Xuân đi xuân đến... Lại thêm xuân
Có khác gì đâu lá với hoa
Thiên thanh trẩy hội bầy chim én
Đào mai khoe sắc giễu người qua
 
Tết rộn vờ vui lòng đám trẻ
Năm mới phong bao chúc ông bà
Quây quần con cháu mừng sum họp
Bữa tiệc trần gian khắp muôn nhà
 
Đất đất trời trời mùa khai hội
Gió gió mây mây phóng cuồng ca
Học đòi nhân thế ngồi thưởng ngoạn
Nâng lên đặt xuống một chén trà
 
Vung bút tập tành trò con chữ
Chan chứa tình thơ xuân với ta
Tiễn mùa năm trước lời chưa cạn
Xuân đi xuân đến... Lại xuân à ?!
 
 
ĐÊM TRỪ TỊCH
 
Trời lặng im...
Đất lặng im...
Nén hương trừ tịch mừng đêm giao thừa
Lắng lòng ngọn gió tiễn đưa
Hoàng mai e ấp nhặt thưa sắc vàng
Lâng lâng chuông điểm mùa sang
Giọt sương thánh thót mơ màng cỏ hoa...
 
                                          TỊNH BÌNH
                                           (Tây Ninh)

READ MORE - NGẠO XUÂN, ĐÊM TRỪ TỊCH – Thơ Tịnh Bình

Thursday, January 28, 2021

NHỮNG BÀI THƠ VỀ RƯỢU 2 – Thơ Nguyên Lạc


                        Nhà thơ Nguyên Lạc


1. ĐÔNG VỀ NHỚ RƯỢU MỘT THỜI
 
"Rượu chiều dăm bẩy chén
Giữa lúc trời mưa khan
Kéo nhau về cuối phố
Thấy trời ở dưới chân"
 
"Ta còn sống hay chết
Có xá chi lúc buồn
Hồn trong ơn mỹ nữ
Xác ngoài ơn rượu ngon" *
 
1.
Quán kia sao vui thế
Ta vào chơi xem sao
Các em đua chào hỏi
Thử coi chết thằng nào
 
Mai trở về rừng thẫm
Đêm ngắm những vì sao
Nhớ cơn say bè bạn
Nhớ mỹ nhân mời chào
 
2
Bao năm rồi tôi hỡi
Sau một cuộc ba đào
Sáng nay người lữ khách
Bên phố lạ buồn sao!
 
Ly cà- phê sao đắng!
Khói thuốc vương mắt đau!
Lặng ngồi bên góc vắng
Nhớ cơn say thuở nao
 
Bạn bè giờ ra sao?
Mỹ nhân biệt phương nào?
Cách chi tìm lại được?
Thời "một lứa cùng nhau" [**]
 
Người "lận đận" nơi đâu?
Có biết ta đang sầu?
Lưu vong đời cơm áo
Tàn xuân mộng... bạc đầu!
 
3.
Sáng nay phố người đông
Tím trắng đỏ xanh hồng
Sao lòng buồn muốn khóc
Dặn lòng quên... Sao không?!
 
Quên đi vết thương lòng!
Quên đi cuộc tang thương!
Mở chi ngăn ký ức
Để bay ra mùi hương?
 
4.
Sáng nay trời trở lạnh
Một mùa đông lại về
Bao năm rồi vẫn thế
Mùa mưng mủ vết thương!
 
Mùa đông về chi hở?
Để ta nhớ quê hương
Tuyết băng rơi chi hở?
Để ta nhớ cố nhân
 
Bao năm rồi vẫn thế!
Đông về nỗi đoạn trường
Thiên thu ta chắc thế
Lòng vẫn hoài cố hương
 
..........
 
[*] Thơ Hà Thúc Sinh
[**] "Cùng một lứa bên trời lận đận" - Phan Huy Thực/Bạch Cư Dị.

 
2. ĐỘC ẨM HỒ TRƯỜNG
 
Đông phong thấu lạnh hồn luân lạc
Nâng chén sầu ta lại mời ta!
 
1.
Ta mời Ngươi cạn bôi sầu tửu
Ta mời Ngươi nghiêng chén nhớ thương
Ta cùng Ngươi mời khắp mười phương
Ta cùng Ngươi thống hận Hồ Trường
 
Khúc ngâm Hồ Trường! Thơ cổ Hồ Trường
Ai say. Ai tỉnh? Ai còn. Ai không?
Ai giờ miên viễn hư không
Ai giờ cay đắng lưu vong đoạn trường
 
Thuở nào bão nổi đau thương
Năm nào tan tác... Cố nhân đâu mời?
Thôi thì ta cùng với Ngươi
Cạn đi bầu rượu... khóc cười thế gian
 
Tháng nào buông súng nhớ không?
Nhớ chi Ngươi hỡi? Tang thương kiếp người!
Nghẹn chi? "Bể khổ cuộc đời"
Thẹn chi? "Thời thế thế thời phải thôi"
 
Rượu hề! Ngươi hãy nâng bôi
Cạn hề! Hận tửu ta say Hồ Trường
 
"Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Nào ai tỉnh? Nào ai say?
Chí ta, ta biết! Lòng ta, ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ!
Hà tất cùng sầu với cỏ cây" [*]
 
2.
Đông phong luân lạc cô miên
Hận ta đập chén ta cuồng với ta
Cố nhân? Đầy mắt lệ nhòa
Tha hương. Cô lữ... Xót xa Hồ Trường!
 
Rượu này ta rưới mười phương
Bạn ơi có nhớ Hồ Trường cùng ngâm?
Còn gì? Thôi đã huyễn không!
Còn đây chén đắng...  hết mong lời thề!
 
3.
Hồ Trường ta rót cho ta!
Khổ đau ta nhận xót xa ai cùng?
Mọi điều rồi sẽ hư không
Lời kinh: Không Sắc... bụi hồng thế gian
 
Hợp tan tan hợp do duyên!
Bước qua bờ đó... ưu phiền còn không?
Hồn luân lạc. Lạnh đông phong
Nỗi lòng thời cũ Hồ Trường y nguyên!
 
...............
 
[*] Các câu thơ trong Hồ Trường -Nguyễn Bá Trác

 
3. ĐÈO BỒNG
(Nhại thơ Bùi Giáng)
 
Sáng nay ta bỗng đèo bồng
Bên đây rượu đế cháo lòng bên kia
Có thêm em gái ngồi kề
Trần gian tuyệt thế... có chi thiên đường?
 
Cuộc đời dù lắm tai ương
"Còn hai con mắt bình thường một con"
 
                                           Nguyên Lạc

READ MORE - NHỮNG BÀI THƠ VỀ RƯỢU 2 – Thơ Nguyên Lạc

TRƯỚC SAU – Thơ Đan Thụy


                    Nhà thơ Đan Thụy


TRƯỚC SAU

 
Em phía nắng má ửng hồng... như lá
Trong ráng chiều pha chút nét hương xa
Anh thuở ấy bên nụ cười rất thật
Thầm lặng yêu và yêu đến vô cùng
 
Giờ nơi này em đang mùa gió chướng
Lá me vương tà áo mỏng nhạt nhoà
Đêm trở giấc giật mình đan vạt nhớ
Vòng tay chiều đong đếm những... ngu ngơ
 
Như cô Tấm thảo hiền ngày xa cũ
Muốn mùa thu còn mãi nắng hanh vàng
Ta cũng vậy bên dốc đời hối hả
Nắm chặt tay người tìm lại chút bình yên
 
Này anh ạ, cuối đường nơi phía trước
Có khi nào anh buông lỏng vòng tay
Con chim nhỏ trên cành cong trước gió
Ngả nghiêng đời
chao đảo giữa mênh mông
 
Em thả gió vào cuộc tình nông nổi
Bối rối loang trên những phiến thơ buồn
Đời vay trả những tháng ngày huyền thoại
Bên hiên chiều nhặt bóng đổ chông chênh...
 
                                                  Đan Thụy
 
..............
 
Tên thật: Đàm Thị Hải
Công ty Tây Ninh CoSinCo
KM27, QL22B, Long Thành Nam
Hoà Thành - Tây Ninh
Điện thoại: 0918266282
Email: damhaitn@gmail.com

READ MORE - TRƯỚC SAU – Thơ Đan Thụy

BƯỚC RA KHỎI NĂM CŨ BẰNG ĐÔI CHÂN TRẦY TRẬT... - Thơ Trần Mai Ngân




THƠ 1-2-3
BƯỚC RA KHỎI NĂM CŨ BẰNG ĐÔI CHÂN TRẦY TRẬT...
 
Giữ giọt nước mắt không rơi vỗ về vết thương nhức nhối
Giấu vào đêm hai trái tim mùa đông đóng băng...
 
Ngày mai đón năm mới nào khăn nào áo
Rực rỡ màu bình yên in hoa trên vải lụa
Em mặc vào đi lễ phía trời xuân...
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - BƯỚC RA KHỎI NĂM CŨ BẰNG ĐÔI CHÂN TRẦY TRẬT... - Thơ Trần Mai Ngân

Wednesday, January 27, 2021

CỬA KHÉP – Thơ Lê Văn Trung




CỬA KHÉP

Hoa vội nở
Hoa vội tàn
Như thể
Xác hồn xuân không hiện hữu trên đời
Em vội đến
Em vội đi
Như thể
Em là sương, em là khói
Dễ phai phôi
Hoa vội nở giữa lòng tôi thổn thức
Hoa vội tàn rụng úa giấc mơ xuân
Ôi vạn kiếp mùa trăng em mãi khuyết
Mà tìm nhau, tìm suốt cuộc trăm năm
Chiều chưa cạn, lòng xuân nhau vội xế
Bay về đâu cánh én rẽ xa đàn
Sao vội khép! Sao đành tâm khép lại
Khung cửa đời chật quá phải không em?
 
                                         Lê Văn Trung

READ MORE - CỬA KHÉP – Thơ Lê Văn Trung

NHÀ THƠ MẠC UYÊN LINH VỚI “THƠ TÌNH KHÔNG TUỔI” - Châu Thạch



Cầm tập “Thơ Tình Không Tuổi” của nhà thơ Mạc Uyên Linh gởi tặng, nhìn tấm ảnh của nhà thơ được đăng trên trang bìa, tôi cảm thấy tấm ảnh như thể hiện thứ thơ tình không tuổi rồi. Trên trang bìa, hình một ông già thất thập, nhưng nét thư sinh vẫn còn hiện trên khuôn mặt có đôi mắt mộng mơ ẩn sau làn kính trắng, có đôi môi mím nhẹ như luôn luôn muốn hôn và có đôi má hơi gầy tượng trưng cho một tâm hồn yêu đam mê, nồng nàn, say đắm.
 
Đi vào tập “Thơ Tình Không Tuổi” tôi bắt gặp những điều tôi trông đợi, trông đợi vì tôi không lạ gì với thơ Mạc Uyên Linh, một người bạn mà tôi yêu mến, có tiếng thơ đã từng ru hồn rất nhiêu người trẻ thích tình yêu thanh khiết, và làm người già cũng say sưa, vì thấy mình như trẻ lại khi đọc thơ của người có biệt danh “Hoàng Tử Thơ Tình Mạc Uyên Linh” ấy. 
 
Thật vậy, hãy thử đọc bài thơ “Mộng Trăm Năm” của Mạc Uyên Linh để ta thấy tình yêu của tác giả không bị giới hạn bởi thời gian. Yêu đến trăm năm với đời người thì cũng như yêu không có tuổi bao giờ:                    
 
từ em lót mộng ta nằm                    
cây khô đời bỗng nẩy mầm trổ hoa                    
nghe hồn lột xác thay da                    
tinh khôi giọt rượu như là tân hôn
 
này em cạn chén trần truồng                     
để đêm trinh tiết thiên đường là đây                     
trời ơi! Chén tỉnh chén say                    
ta ôm giấc mộng đã đầy trăm năm
 
“Em lót mộng ta nằm” thì em chẳng khác chi người mẹ. Em “cạn chén trần truồng/ để đêm trinh tiết thiên đường là đây/Ta ôm giấc mộng đã đầy trăm năm” thì em chính là người phối ngẫu của thi nhân chớ chẳng có ai vào đó nữa. “Giấc mộng đã đầy trăm năm” có nghĩa là bài thơ được sáng tác ở tuổi đã già. Thơ tình cho vợ như thế đúng là “thơ tình không tuổi”, vì tuổi càng già thì thơ tình vẫn trẻ và càng thắm thiết thêm lên.
 
Đọc Mạc Uyên Linh, ta hiểu được “Thơ Tình Không Tuổi” nghĩa là tuổi nào cũng làm thơ tình được. Thế nhưng không chỉ vậy, “Thơ Tình Không Tuổi” của Mạc Uyên Linh còn có nghĩa là thơ tình sống mãi với thời gian, tình yêu giữ mãi đến trăm năm không hề phai nhạt. Hãy đọc thứ tình giữ mãi trăm năm đó của Mạc Uyên Linh, bền vững như đá và đá luôn xanh rêu:               
 
đời rách nát không che hồn tơi tả                   
áo phong trần đâu ấm nổi tình yêu                   
ta ôm mãi câu chuyện tình hóa đá                   
trăm năm rồi hòn đá đã xanh rêu
                                      (Đá Rêu)
 
Tình đã hóa đá nhưng đá không rêu mốc mà đá vẫn xanh rêu nên nhà thơ vẫn nằm mơ mộng và chờ em. Chờ em vì dẫu trăm năm xa cách, nhà thơ vẫn còn thèm da thịt với nụ hôn:     
            
đêm nằm nghe tháng ngày qua tội nghiệp                 
mùa Xuân về mờ mịt bóngThu qua                  
đêm mơ mãi chuyến tàu về cho kịp                  
em ngoan hiền về gối cánh tay ta
---------------------------------------                  
ta ngồi đây nhìn tháng ngày tàn nhẩn                  
đời không em chăn chiếu rét tâm hồn                  
đêm tràn ly trăng về rồi nguyệt tận                  
vẫn còn thèm da thịt lẫn nụ hôn
            (Vẫn Còn Một Giấc Mơ Hoa)
 
Thơ Mạc Uyên Linh là thứ thơ tình không tuổi. Không tuổi có nghĩa là già cũng làm được thơ tình, thơ tình ấy là thứ tình quyến luyến trăm năm, ngoái ra nó còn có nghĩa là thơ tôn vinh những mối tình chợt tắt như ánh chớp sao sa, nhẹ nhàng như hột mồng tơi rơi rớt, xảy ra trong phút chốc mà nhớ nhau một đời:                 
 
hôm qua rớt hột mồng tơi                 
trời mưa mọc lại thành lời yêu em                 
chờ nhau tím cả đêm nghiêng                 
mồng tơi chín rụng em biền biệt xa
 
em còn mặc áo Kiều hoa                 
ta còn nối khố nhìn tà dương rơi                 
chiều nhìn cánh lục bình trôi                 
đưa tay nhặt hột mồng tơi nhớ người
                                (Rớt Mồng Tơi)
 
Đem một hạt mồng tơi để gởi ẩn dụ vào nó, tạo thành một mối tình chia cách.
Chỉ cần đọc chữ hạt mồng tơi, hồn chúng ta cũng đã liên tưởng đến màu tím của hạt mồng tơi, màu của tình yêu thơ ngây, màu cúa tình yêu chia ly và màu của nỗi sầu thấm đậm vào tim, tràn ra trong ánh tà dương, trên hoa lục bình trôi nổi. Bài thơ cho ta thụ hưởng sự mượt mà của ý tứ, sự thâm thúy của của ca dao và cũng nhuộm tâm hồn ta một màu tím mộng mơ của tuổi ngày xanh trong ký ức.
 
Tôi lại khám phá thêm “Thơ Tình Không Tuổi” của Mạc Uyên Linh còn có thêm một ý nghĩa nữa, đó là: “Em vẫn mãi người đàn bà không tuổi”:                
 
em bước đến bên ta từ dạo ấy                
nắng cũng còn rực rỡ bóng tà dương                
đôi mắt nhắm mà đôi lòng đã thấy                
cõi trần gian cũng có một thiên đường                 
 
đời sinh ra đã lỡ lầm năm tháng                 
nên cuối đường mới vấp ngã bên nhau                 
ôi! Định mệnh khắt khe và tàn nhẩn                 
nên suốt đời sông mãi với chiêm bao                
 
em vẫn mãi NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÔNG TUỔI                
nhan sắc còn đẹp mãi những mùa hoa                
con chim cũ về cành xưa đứng hót                
nên hiên đời chỉ còn lại mình ta
                                              (Ly Tao)
 
 Ly Tao là nàng thơ, mà nàng thơ thì chẳng bao giờ có tuổi. Nhà thơ đồng hóa em với Ly Tao vì em trẻ mãi trong ký ức đời người, giống như thơ tình của tác giả không bao giờ có tuổi.
 
Tập “Thơ Tình Không Tuổi” của nhà thơ Mạc Uyên Linh có tất cả trên 70 bài thơ tình. Có thể nói mỗi bài thơ tình của Mạc Uyên Linh là một bản nhạc du dương và êm ái. Tình trong thơ Mạc Uyên Linh dầu là tình tan vỡ, tình thất vọng, tình chia ly đều không có sự khóc than bi lụy, tất cả như cung trầm cung bổng, như tiếng sáo bay qua, như tiếng tuyết rơi trên triền cao hay tiếng sóng biển vỗ về rặng thùy dương trong đêm trầm mặt,
 
Thơ tình của Mạc Uyện Linh không là thơ hư cấu, bí hiểm, ẩn dụ, không là thơ luyến láy con chữ, không cần xảo thuật ghép vần, nó là thứ nghệ thuật tự nhiên từ tâm hồn yêu biến thành thơ, như mây bay thênh thang trên nền trời, như gió thong dong qua đại dương, như trăng chiếu trên cánh đồng bất tận, và có khi như đêm trừ tịch êm đềm với ngàn tiếng côn trùng ca hát.  
 
Tôi đọc thơ Mạc Uyên Linh như tôi vừa mới lớn, tôi yêu thơ Mạc Uyên Linh như một người cao tuổi trường đời, trải qua trăm mối tình còn yêu hoài yêu mãi. Thế nhưng tôi nói về thơ Mạc Uyên Linh chỉ như hái vài quả trên một chùm nho rất mọng. Rất mong, rất mong bất kỳ ai đó, dầu 20 tuổi hay 90 tuổi chăng nữa, hãy đọc “Thơ Tình Không Tuổi” của Mạc Uyên Linh, để thấy thơ tình viết ở tuổi nào cũng là tiếng nhạc “trong trẻo vô biên và quyến luyến” rung động con tim yêu đương, biết yêu và dồi dào cảm xúc.
 
                                                            Châu Thạch 
 
READ MORE - NHÀ THƠ MẠC UYÊN LINH VỚI “THƠ TÌNH KHÔNG TUỔI” - Châu Thạch