Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, September 16, 2020

CÁNH ĐỒNG MÌ TRÊN NÚI CAO _ Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

 

Nhà văn Lê Hứa Huyền Trân


CÁNH ĐỒNG MÌ TRÊN NÚI CAO

Truyện ngắn

LÊ HỨA HUYỀN TRÂN


Lâu lâu có dịp tôi lại thử tìm niềm vui thú ở những mảnh đất mà mình chưa bao giờ đặt chân đến. Những nơi tôi đi qua thường để lại trong tôi rất nhiều dư âm và những cảm xúc thú vị mà không bút mực nào có thể viết nổi. Tôi thích những điều mới lạ, tất cả cứ như huyền ảo thôi thúc tôi cái sức mạnh mãnh liệt ấy khiến tôi khoác balo thực hiện hành trình của cuộc đời mình. Cũng đã lâu rồi kể từ ngày ấy, ngày tôi đặt chân đến mảnh đất của huyện Sơn Hòa, một huyện miền núi thuộc tình Phú Yên, ở nơi đây không chỉ mảnh đất mà cả con người của huyện miền núi ấy để lại trong tôi những kỉ niệm tưởng chừng như đã khắc sâu trong kí ức, không cách chi phai mờ.

Phải mất hơn 1 tiếng đi xe máy men theo lưng chừng núi tôi mới tới được Sơn Hòa. Con đường tôi đi choáng ngợp bởi gió trời thổi mạnh, tưởng chừng như đang quật ngã người cầm lái. Cái nắng gay gắt oi ả của những buổi trưa hè dường như muốn thiêu đốt thể xác tôi, nhưng nó chẳng là gì so với sự thôi thúc đang cháy bỏng trong tim tôi lúc ấy. Càng lên cao con đường càng trở nên khó đi hơn, thi thoảng có vài chiếc xe của những công ty khai thác đá đang cào đá thành từng tảng, vận chuyển xuống núi. Lại bắt gặp ở từng đoạn đường có những người công nhân đang làm đường, họ mang một tâm trạng hối thúc và vội vã, cứ như họ đang muốn dùng sức lực nhỏ nhoi của mình bồi đắp cho con đường trở nên dễ đi hơn để kéo gần cuộc sống của người miền ngược, kẻ miền xuôi.

Quang cảnh mà tôi đứng nhìn thực sự làm tôi choáng ngợp. Cái thứ gió mạnh mẽ giờ đã nhường dần cho những cơn gió hiu hiu, thi thoảng se sắt làm bay tóc tôi thổi tung cùng mây trời trắng xóa. Tôi dừng xe lại, đứng ở lưng chừng núi. Có vài chiếc xe đi ngang qua nhìn tôi như ánh nhìn dành cho một kẻ lãng du, có chút dư vị phấn chấn, nông nổi và hơi điên. Nhưng tôi không thể không dừng chân lại, bởi trái tim tôi đang rạo rực thôi hồi thành những nhịp trống dồn dập trước quang cảnh mà tôi đang nhìn thấy. Có đứng ở trên cao người ta mới nhìn thấy mọi thứ dưới kia thật nhỏ bé. Những ngôi nhà thưa vắng chỉ có thể nhìn thấy những chấm đỏ, có chăng là những cột khói đang bay lên khiến tôi tưởng như bếp nhà ai đương nấu bữa trưa. Cả thế giới dưới chân tôi đột nhiên biến thành những đường cắt xẻ, nó tạo thành một bức tranh với những mảng màu, những khoảng trống và cả những ô vuông đầy màu sắc. Nếu tôi không dùng ý thức kiềm lại có khi tôi đã muốn thả mình bay bổng vào bức tranh thiên nhiên vô cùng tận ấy. Tôi giơ tay ra như muồn chụp lấy. Nhưng ô vuông của những mảnh đất đang trồng hoa màu trông thật nhỏ bé và xa vời, cũng vì tôi biết mình đang ở trên cao nên có thể nhìn thấy nó bao la vô cùng tân tới thế nào. Những cánh rừng với những thân cây cao su cao vút phía xa xa và cả những cây xanh um tùm bao bọc hết cả một mảng trời phía dưới núi. Gần hơn một chút tôi thấy dưới kia những mảng đồi đang nhảy múa uốn lượn. Có chỗ thoai thoải, có chỗ ngang bằng, lại có chỗ thẳng đứng, và trên đó người ta trồng đủ thứ, có thể là lúa, có khi là mía, có khi là những cánh đồng mì.

Dường như ở nơi phố núi này người ta trồng mì là chủ yếu. Trong suốt cả quãng đường tôi đi những cánh đồng mì trải dài một màu xanh thật mát mắt. Chúng chỉ mới cao tới bắp chân tôi, lại gần nhìn hơn thì chúng như những bàn tay đang đưa ra tận hưởng những giọt nắng đang tưng tăng nhảy đùa trên lá. Càng lên cao không khí ở vùng núi này càng khiến tôi chớm lạnh, thế nhưng những chiếc lá mì vẫn cứ tung xòe, có lẽ chúng đang thèm những cơn mưa, vì ở vùng này nước hãy còn là một điều xa xỉ lắm. Có vài nơi mì đã cao ngang người tôi, ấy là lúc chúng bắt đầu có thể thu hoạch để đón tết về, lại có những nơi mì chỉ mới là những chiếc lá đang nằm dài trên mặt đất, chuẩn bị vươn cao trỗi dậy. Ngôi nhà của người quen tôi lọt thỏm giữa cánh đồng mì. Đó là một ngôi nhà tọa lạc ở vị thế thật đặc biệt. Nó được xây trên mảnh đất mà nếu đi xa hơn nữa sẽ là lưng chừng núi, trông nó lại thoai thoải và khá nguy hiểm, ấy thế nhưng họ đã sống trong ngôi nhà này từng ấy năm.

Cũng không phải ngẫu nhiên vô cớ mà loài cây này chiếm hữu tâm trí tôi. Bởi nó cũng là thứ hoa màu chính mà người dân nơi đây trồng. Và qua vài ngày ngắn ngủi dong ruổi cùng họ, tôi cũng biết họ đã phải đổ bao nhiêu mồ hôi cho loại cây này. Tôi cùng bạn đi làm rẫy, tôi, người thành phố, cầm cuốc đã rất khó, thứ tiết trời lúc nóng lúc lạnh, lại có khi còn chớm hơi sương của những buổi đi làm sớm khiến tôi gần như kiệt sức. Thế nên tôi mới thấy họ thật phi thường. Dậy sớm, ăn miếng cơm dắt bụng, họ đi bộ hàng cây số tới vùng rẫy của họ. Tôi chi nhớ tới được đó chân tôi đã sưng vù. Dưới cơn mưa hay dưới trời oi ả, họ vẫn quần quật, khi thì bỏ củ xuống gieo, khi gieo trông hết rồi, phải xách nước thật xa mà tưới, rồi lại cả chưa kịp nghỉ ngơi thì phải đi cuốc cỏ vì cỏ mọc nhanh. Nhìn bạn tôi ngày nào cũng lấm tấm mồ hôi tới tận trưa rồi sập tối tôi ngầm thán phục bạn. Mồ hôi họ đổ xuống cho những cây non trưởng thành. Tôi thích ngắm những chiếc lá mì rồi tò mò ấp bàn tay mình vào đó, chúng trông như những bàn tay vậy, khi gió thôi bàn tay như chụm lại trêu đùa với tôi.

Cuộc sống của những con người nơi mảnh đất phố núi đầy sương này hãy còn gian khó lắm. Hầu như họ ăn những sản phẩm mình làm ra vì chợ trở nên quá xa xôi khi ở tít tận thị trấn. Chỉ khi có lễ lạt gì to lắm thì họ mới đi cả tiếng đồng hồ xuống đó, còn không thì cây nhà lá vườn cũng làm nên bữa ăn. Họ yêu những cơn mưa vì sẽ tưới mát cho cánh đồng xanh của họ và nắng trời trở thành những thứ họ ghét bởi nó sẽ cướp đi miếng ăn họ, như mới đây có những cánh đồng mía không mọc nổi vì hạn lên. Tôi thích ngồi cùng bạn vào những buổi đêm tận hưởng những khi sương xuống, nhưng chắc chắn chúng tôi không dám ngồi quá lâu vì trời sẽ rất lạnh. Những vì sao cứ như gần hơn mà tôi có thể đưa tay ra chạm phải. Bạn dẫn tôi ra phía sau nhà nhìn xuống khoảng trống bên dưới, ở nơi xa thật xa dưới kia có những ánh sáng chớp lòe của rất nhiều đèn nơi phố thị, chúng trở nên nhỏ xìu cứ như những tinh tú trên trời cao. Gần chúng tôi hơn chỉ có những mảng màu đen bao trùm vì cả vùng dưới chân núi đã bắt đầu chìm vào giấc ngủ. Sương bắt đầu cựa mình thức giấc rơi xuống vai chúng tôi, sương rơi cả lên đầu bạn tôi cứ như những hạt mưa, sương rơi trên những chiếc lá mì và chúng động đậy rùng mình thưởng thức. Và khi gió trời bắt đầu trở lạnh, tôi trả lại màn đêm cho những ánh sao rồi chìm vào giấc ngủ…

Ngày tôi về, gia đình bạn tôi xào cho tôi ăn một dĩa to tướng những cái đọt non của mì, đăng đắng, ngai ngái chấm mắm rất ngon. Bác nhà cứ dúi vào tay tôi cả buồng chuối to quà nhà mang về thành phố. Tôi vẫy tay chào tạm biệt,gia đình bạn tôi, những cánh đồng mì như cũng vẫy tay chào tôi, tôi khẽ cười và dong xe đi xa rời vùng phố núi ấy…Phố núi mướt màu xanh!


Tác giả  : Lê Hứa Huyền Trân

Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định


READ MORE - CÁNH ĐỒNG MÌ TRÊN NÚI CAO _ Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

NGUYỄN AN BÌNH VÀ TIẾNG ĐÀN TRÊN ĐỈNH SƠN TRÀ - Trương Văn Dân

 

Nhà thơ Nguyễn An Bình




Trong khoảng thời gian chừng 5,7 năm trở lại đây, người có thơ được phổ nhạc nhiều nhất ở Việt Nam có lẽ là nhà thơ Nguyễn An Bình. Điều này khẳng định thơ của anh tạo được cảm xúc trong lòng các nhạc sĩ và được nhiều nhạc sĩ yêu quý: Nguyễn An Bình đã có hơn 700  bài thơ phổ nhạc, một con số kỷ lục! 

Lý giải về điều đó, nhà văn Nguyên Cẩn cho rằng “Thơ Nguyễn An Bình giàu nhạc tính, những bài thơ của anh, vần điệu du dương, dễ gợi ý hay nhạc hứng trong lòng các nhạc sĩ, từ thơ bốn chữ , năm chữ , sáu chữ … 

Em tươi non như ngàn  lá, 

 Môi hồng thơm cánh lưu ly.

Về ngang nhà thờ  ngày nọ, 

 Chuông mơ còn dấu  tình si.

( Mùa thu xuống phố ) 


 Chúng ta đọc tiếp 

Về đâu sông ơi, 

Sao đi mải miết . 

 Đưa người xa người 

 Tháng năm biền biệt.

(Về đâu sông ơi ) 


…đến thơ tám chữ 

Nghe ai hát bản tình ca say đắm, 

 Khúc boléro chiều mượn chút men cay. 

Tôi và em tình một thời lận đận,  

Lan huệ thương hoài một sợi tóc mai”

( Khúc tình sầu boléro) 

Nhà văn Nguyên Cẩn còn gọi Nguyễn An Bình là nhà thơ của tình yêu vì “Tình yêu luôn tồn tại trong mọi bài thơ, luôn trẻ trung, luôn thao thức dù ở tuổi nào…Ta ngờ như tác giả vẫn nuôi dưỡng tình yêu trong tâm hồn mình… Những cảm xúc không trôi đi mà đọng lại, thời gian và không  gian đặc quánh tình yêu từ khi yêu 16 đến hơn 60 không có tuổi, mà chỉ có những rung động bao giờ cũng bồi hồi .”

 

            &


Như thế thì tâm hồn Nguyễn An Bình là của chất thơ và vần điệu nên khi nhận được tập truyện Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà… tôi vừa ngạc nhiên vừa thú vị. Tất nhiên nhiều nhà thơ chuyển sang viết văn xuôi gần đây không ít, những lúc ấy tôi chợt nhớ đến một giai thoại mà Nguyễn Tuân đã kể: “Khi viết văn bí chữ, nhà văn Nguyên Hồng lấy xe đạp phóng đi một chập và vừa đạp ông vừa làm thơ vì “viết truyện đầu dễ bốc khói, thỉnh thoảng làm ít câu thơ cho người nó dịu đi” và thế là “khi xây dựng nhân vật, lúc cao hứng, ông dẹp truyện qua một bên và sang sảng ngâm thơ của mình.” 

Tôi chợt liên tưởng vậy thôi chứ trường hợp của Nguyễn An Bình thì ngược lại, là nhà thơ viết văn và với tính cách điềm đạm, anh không có máu lãng tử như nhà văn Nguyên Hồng và cũng không mấy khi anh đưa thơ vào văn xuôi như nhà văn Kiệt Tấn.

Trong những năm gần đây Nguyễn An Bình in khá nhiều sách, cả thơ lẫn văn, thì hiểu là anh hết mực yêu văn chương, vì cái nghề văn không hề nhàn hạ thảnh thơi mà phải lao động cật lực, đêm ngày cày trên cánh đồng chữ, cẩn trọng trong từng dấu phẩy, chưa kể sự miệt mài quan sát, tìm tòi và suy nghĩ mới có thể kết hợp nhiều yếu tố trong nghệ thuật. 

  Vì làm gì có con đường tắt nào cho văn chương!

  Nhìn chung thì tập truyện Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà của Nguyễn An Bình có 15 truyện ngắn, có vài truyện khá dài (như Xóm Trọ hơn 7000 chữ, Bên dòng Potomac 5000 chữ, Còn xanh bóng núi 4300 chữ… ) nhưng phần lớn các truyện đều hiền lành và dung dị như chính con người anh. Cách viết của Nguyễn An Bình là pha trộn giữa truyện ngắn với bút ký, mỗi nét trong bức tranh đời người được anh kể lại bằng chất thơ của câu chữ nên ta thấy cuộc sống vùng sông nước phần êm dịu và nhẹ nhàng. Các chất liệu sống đều được anh sử dụng với một văn phong trong sáng, dễ hiểu, đọc lúc nào cũng thấy được tâm tình của tác giả.

Trong Chuyện tình trên phá Tam Giang ( 4920 chữ)  kể về tình yêu cổ điển và có hậu của hai ngư dân nghèo. Mối tình của họ tuy chưa hẳn là trắc trở nhưng vẫn còn những toan tính thiệt hơn của người cha cô gái, rồi chỉ sau khi ông bị tai nạn từ cuộc trộm cá bất thành… mà tình  duyên của họ được vuông tròn. 

Chuột và người  (4800 chữ)  là một câu chuyện rất đời thường: Do tình cờ mà lão thợ hồ thất nghiệp trở thành kẻ bắt chuột lành nghề và kể từ đó thì vợ lão không cằn nhằn mà trở thành người cộng sự đắc lực, giúp chồng mọi việc. Nhưng đứa con trai thấy công việc này vừa hôi hám vừa thất đức, can không được, bỏ nhà ra đi. 

Một buổi chiều lão Thìn đang khề khà bên ly rượu đế với các món thịt chuột thì bụng đau oằn oại, mắt trợn trừng, miệng ọc máu, vợ nghe kêu chạy vào thì lão đã ra đi. Trong đám tang, mặt hàng xóm đều có vẻ buồn nhưng bụng mừng thầm vì thoát được cái mùi hôi thối từ ngôi nhà lão. Chỉ có ông y tá già mới biết được nguyên nhân cái chết: Mấy tháng trước ông đã thấy triệu chứng bất thường, da và tròng mắt lão Thìn ngã màu vàng nghệ, bụng trương lên… 

Nguồn cội ( 3200 chữ)  Kể về chuyện một thanh niên bị đưa qua Mỹ, trong chiến dịch babylift, muốn tìm lại cội nguồn. Do tình cờ anh biết được tên người sĩ quan trước đây đã cứu giúp mình. Anh hỏi xin địa chỉ, về Việt Nam tìm, và được ông cho biết là trên đường chạy loạn thấy bé bị thương và thất lạc người thân nên ông phải gửi vào viện mồ côi. Chuyện cảm động nhưng các tình tiết hơi bị guợng ép.

Bến sông quê (2300 chữ)  Chuyện nói về tiếng đàn buồn và xót xa của người đàn ông bị vợ bỏ: Bị mù từ năm 7 tuổi, anh mê nhạc, học và đàn vọng cổ rất hay. Do tình cờ cứu 2 mẹ con bị ghe lật nên được bà mẹ gả con. Sau 8 năm chung sống, người vợ không chịu nổi kham khổ với người chồng tật nguyền, đã bỏ đi. 

  Tình tiết đơn giản nhưng truyện có nhiều đoạn tả cảnh hay và một đoạn kết có hậu: “Năm Can ngước mặt nhìn ra bến sông. Anh biết con nước giờ nầy đã đứng lớn và sắp chuẩn bị cho đợt nước ròng. Một tiếng chim vịt kêu nhưng lần nầy anh không còn cảm thấy buồn tẻ lẻ loi nữa, hình như nó đã tìm được bạn tình

  Tấm thẻ bài. (3200 chữ) Là câu chuyện về một tình yêu bị chia cắt vì chiến tranh: Một người lính bên thua trận phải ra trình diện để học tập chính sách trong vài ngày, nhưng bị giữ gần 6 năm! Khi ra trại, thì người yêu đã vượt biên cùng gia đình. Anh xin đi Mỹ theo diện HO, nhưng hồ sơ bị thiếu. Thất vọng và giận dữ, anh bỏ lại thẻ bài ở phòng phỏng vấn. Rồi sau 2, 3 lần vượt biên, anh cũng qua được Mỹ. 

Đến nơi anh quyết tìm người yêu nhưng vô vọng. Một hôm anh nhận được thẻ bài, do người con của người phỏng vấn ngày xưa gửi đến: Ông ân hận, vì bị vướng nguyên tắc, không giúp được anh, nên nhờ con trai tìm anh để trả lại thẻ bài. Câu chuyện tình người, cảm động. 

Nhưng có thẻ bài mà người yêu còn sống hay đã chết? Anh ném thẻ bài xuống biển.

 Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà  (3900 chữ)  

Phạm Đạt rất yêu quí đàn voọc chà vá chân nâu sống trên đỉnh Sơn Trà. Trong  một chiều lên núi để chụp cảnh hoàng hôn thì bất chợt mưa gió đầy trời. “Mây đen đã bắt đầu quần tụ kéo tới xám xịt mỗi lúc một dầy thêm trên bầu trời, gió từ phía biển u u thổi càng lúc càng mạnh vào vách núi, anh nghĩ chắc có khi mình không kịp xuống triền núi về phía cây đa ngàn tuổi..” 

Trong lúc tiến thoái lưỡng nan, Đạt nghe có tiếng đàn và trong màn mưa anh còn thấy có ánh lửa chập chờn, anh lần đến ngôi nhà nhỏ và  gặp một người con gái. Khi gõ cửa và bước vào trong, ánh lửa bập bùng làm anh ấm áp. Sau một lát chuyện trò, cô gái đánh đàn, âm thanh của núi rừng từ chiếc đàn đá tạo thành một bản trường ca bất tận. Anh xúc động cúi xuống hôn lên tóc, lên môi và 2 người có 1 đêm ân ái, nhưng khi thức giấc, anh không nhìn thấy nàng đâu. 

Nhờ bức thư anh mới hiểu cô gái chính là 1 con voọc chà vá bị sụp bẩy mà anh đã giải cứu nhiều năm trước. Hoang đường như chuyện Liêu trai!

 Nhiều lần quay lại “Hai mươi năm trôi qua tôi mong gặp lại nàng nhưng nàng và đồng loại nàng đã thật sự bỏ chốn cũ rời đi tìm chốn an bình trước cơn lốc hủy diệt tàn bạo của loài người

Tưởng như chuyện thần tiên, nhưng đoạn kết là lời tố cáo bọn người đang âm mưu chiếm Sơn Trà làm của riêng, băm nát thiên nhiên.

Khác với các truyện ngắn trước, truyện có ý thức bảo vệ môi trường và gìn giữ thiên nhiên. Đoạn kết làm người đọc ấm lòng: “việc bảo vệ ngọn núi thiêng, bảo vệ màu xanh muôn đời của Sơn Trà đã có kết quả bước đầu thắng lợi, tất cả các dự án xẻ thịt Sơn Trà đều buộc phải dừng lại.

  Qua thơ hay văn người đọc dễ nhận ra là Nguyễn An Bình một nhà thơ có tâm hồn nhạy cảm, cảm giác như anh vừa sống vừa lắng nghe, ghi nhận những gì xảy ra xung quanh bên ngoài và cảm xúc bên trong lòng mình để suy nghĩ và sáng tác. 

Là người điềm đạm, Nguyễn An Bình không dùng chữ to tát, cường điệu, anh viết truyện bình dị như tính cách của mình. Cái tên An Bình như vận vào những chuyện kể nhẹ nhàng, hiền hoà của anh. Ít khi thấy truyện ngắn có những xung đột dữ dội hay nhiều kịch tính. 

 Là nhà thơ viết truyện nên trong văn xuôi của Nguyễn An Bình không thể thiếu những hình ảnh, âm thanh và nhạc điệu. Xin được trích ra đây những đoạn văn tả cảnh rất có hồn:

- “ Con nước bắt đầu lớn, nước từ sông cái chảy vào kênh Cái Sâu lờ đờ bình lặng, từng vạt lục bình trôi dạt vào kênh điểm xuyến mấy chùm bông tim tím làm cảnh vật bớt buồn tẻ, đơn điệu. Lâu lâu một vài trái bần già rụng xuống dòng kênh nghe lỏm bỏm, trong không gian trầm lắng đó người ta lại nghe tiếng đờn vọng cổ cất lên từ trước nhà Năm Can, tiếng đờn như ai oán, nhớ thương chất chứa bao niềm tâm sự.” (tn Bến sông quê)

- “Nếu ai đã từng đi núi gặp phải cơn mưa rừng mới thấy hết cái dữ dội hung dữ của nó. Nó đến rất nhanh không kịp trở tay, có thể ào ạt chớp nhoáng rồi nhanh chóng đi qua như người khách lạ, có lúc lại dai dẳng nhiều ngày như một kẻ thù truyền kiếp đeo bám không rời. Tiếng mưa rào rạt đập vào các thân cây cành lá nghiêng ngả tạo nên những cơn dư chấn domino khiến người lạc trong núi phải khiếp vía. Trên độ cao hơn ngàn mét thần gió mặc sức hoành hành, những đám mây xám từ biển cứ ồ ạt kéo về, nước từ trên đỉnh núi theo các khe suối nhỏ ào ạt trôi băng băng xuống triền dốc như một cơn lũ dữ.”(tn Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà )

Trong truyện ngắn hiện đại, ít thấy ai tả cảnh. Mà tả cảnh hay thì càng hiếm. Con người đang gục đầu trên máy tính, ngập trong hàng đống giấy tờ, số liệu… mấy ai còn có thời gian nhìn ngắm thiên nhiên!  

Bài viết này không có tham vọng phê bình mà chỉ là những cảm nhận cá nhân khi đọc tập truyện ngắn Tiếng đàn đá trên đỉnh Sơn Trà để chia sẻ cùng tác giả Nguyễn An Bình nên chắc sẽ có bạn đọc nhìn qua một tâm cảm hay một góc nhìn khác. Để dẫn chứng tôi trích ra vài đoạn, phần còn lại xin dành cho độc giả đọc và khám phá.

Trương Văn Dân

                                                  Milano 20/8/2020


TIẾNG ĐÀN ĐÁ TRÊN ĐỈNH SƠN TRÀ

Tập truyện gồm 15 truyện ngắn được tác giả viết trong nhiều năm, có lời giới thiệu và cảm nhận của nhà văn HOÀI HƯƠNG và nhà văn TRƯƠNG VĂN DÂN. Sách dày 272 trang, giá 130.000 đồng do NXB Thanh Niên cầp giấy phép năm 2020

*Các bạn yêu văn hay muốn ủng hộ xin mail cho tác giả: luongmanh2106@gmail.com hay số điện thoại: 0909697644


READ MORE - NGUYỄN AN BÌNH VÀ TIẾNG ĐÀN TRÊN ĐỈNH SƠN TRÀ - Trương Văn Dân

Tuesday, September 15, 2020

NGƯỜI TRỞ VỀ - Thơ Lê Thanh Hùng


Nhà thơ Lê Thanh Hùng


 Người trở về

Ngày trở về tóc đã hoa râm

Ướp mặt vào cỏ non tươi mới

May là vẫn còn đây, chỗ đợi

Tiếng chim sâu, lích chích thì thầm

                     *

Vẫn còn nguyên một thoáng xa xăm

Dáng nhỏ trên đồng sâu quạnh quẽ

Cánh đậu biếc bên bờ rung nhẹ

Sáo gọi bầy, vọng đổ vang âm

                    *

Người đã đi và cũng trở về

Ngoài xa vắng, lạc loài kỷ niệm

Chuyện hồi đó còn gì giấu diếm

Một quảng đời vụng dại đam mê

                    *

Con đường này của một ngày xưa

Cỏ vẫn non tơ, sao lạ lẫm

Điều gì đó ẩn mờ sâu đậm

Cũng nơi này, năm đó chiều mưa

                    *

Gió vô tình thổi rối ưu tư

Mõi mắt ngóng đường xa đăm đắm

Bóng nắng đổ chiều nghiêng chầm chậm

Ngõ hẹp cong, lóng ngóng chần chừ ...

Lê Thanh Hùng



READ MORE - NGƯỜI TRỞ VỀ - Thơ Lê Thanh Hùng

EM TIN - Tác giả: Trần Mai Ngân - Tiếng thơ: Thanh Quý - Dựng video: Lê Khắc Đức


 


EM TIN

 

Màu son tím sen trên đôi môi em

Anh tham lam đã làm phai nhạt mất

Em không trách bởi thời gian chật vật

Nhưng trong em nỗi buồn tủi khôn nguôi...

 

Lời nói thật - giọt nước mắt đàn ông

Chưa rơi xuống nhưng lòng em đau buốt

Ngoài khung cửa kính buổi trưa trong suốt

Nắng dịu dàng cho mây nhẹ bay qua...

 

Màu tím sen trên cánh môi thật thà

Còn hờn giận, còn ghen...anh uống cạn...

Đôi chúng ta những con người ngạo mạn

Thà chia xa, thà im lặng đớn đau.

 

Em tin. Tình yêu này mãi của nhau

Dù góc bể chân trời... em vẫn thế

Em cất giấu đê mê trong xa lạ

Trong lạnh lùng, trong phụ rẫy tình anh

 

Anh nhìn kia... hoa và lá rất xanh...

Em tin.

Giọt nước mắt chưa rơi xuống là thật

Ta đi mãi trong cuộc đời tất bật

Nghĩ về nhau và luôn nhớ về nhau

 

Em tin. Người đàn ông vốn tự cao

Khi anh khóc... chắc là điều rất thật!

 

Trần Mai Ngân.

READ MORE - EM TIN - Tác giả: Trần Mai Ngân - Tiếng thơ: Thanh Quý - Dựng video: Lê Khắc Đức

Sunday, September 13, 2020

TẢN MẠN VỚI “SAY CỐ NHÂN” THƠ TRẦN MAI NGÂN - Châu Thạch


          


SAY CỐ NHÂN

Rót một ly gọi nhau cố nhân
Một ly xin lỗi hết ân cần
Con đường thẳng tắp xa nhau mãi
Mùa hạ cháy nồng hay xuân phai

Rót một ly ta say, ta say
Bóng em trong đáy cốc hay ai
Chiều nay giăng tím chiều hôm ấy
Em đến bên trời ta mơ hoa

Rót một ly xin lỗi nhạt nhoà
Ký ức bây giờ như vệt tro
Rải trên sông lạnh làm tang chế
Khóc một thời yêu "dáng hoa" xưa...

Rót một ly uống hết không chừa
Nỗi đau, nỗi nghẹn bình rượu đắng
Khứa nát linh hồn ta như dao
Nhớ em ta uống cạn nghìn sau...

Cứ thế ta uống cùng gió sương
Tình em... xin nợ một vết thuơng
Rót thêm ly nữa sầu cô quạnh
Em biết gì không... sao xa nhau !

Em biết vì sao ta xa nhau
Em biết gì không sao xa nhau !

                      Trần Mai Ngân
                          9-3-2019


    


TẢN MẠN VỚI “SAY CỐ NHÂN” THƠ TRẦN MAI NGÂN     
                                                                        Châu Thạch                                                                                                                                               
     Không ngờ một phụ nữ lại làm thơ như một hảo hán. Đọc bài thơ tôi lại nhớ đến những nhà thơ mà tôi có diễm phúc được ngồi uống rượu với họ như Kha Tiệm Ly, Lê Giao Văn, Lê Đình Hạnh, Lê Thiên Minh khoa, Nguyên Bình, Ngã Du Tử, Hải Thụy, Du Phong, Lang Trương…vv.

     Ngồi với những nhà thơ say nầy, tôi thấy mình nhỏ bé lại, nhưng cũng ngập tràn trong lòng sự thích thú. Nhìn họ cụng ly say sưa, đọc thơ nghiêng ngã, mình cảm tưởng như được nhìn những cơn phong ba bão táp đang dậy lên, vừa cuồng nhiệt vừa ướt át làm mê say con mắt ái mộ của mình. Nhìn họ, như đang nhìn những sự kiện ghi lại trong lòng dấu ấn hạnh phúc. Nhìn họ, như được ngắm những hình tượng nghệ thuật hóa thân thành người trước mắt. Nói như thế có quá không? nhưng thật thì trong lòng tôi như vậy.

    Thật tình, tôi thích ngồi với những nhà thơ hơn là đọc thơ của họ. Đọc thơ thì chỉ là nhìn cái bóng của tác giả. Ngồi với nhà thơ, tức là tiếp xúc trực tiếp đến tận nguồn thơ, vì người thơ chính là nguồn thơ vậy.

     Tôi có may mắn gặp nhà thơ Trần Mai Ngân một lần, nhưng chỉ được đưa đi thăm sông nước Vĩnh Long, ăn trưa cùng các bạn tại nhà hàng trong khu vườn sinh thái, nhưng chưa có cơ hội được ngồi uống rượu cùng bạn ấy. Hôm nay đọc bài thơ “Say Cố Nhân” của Trần Mai Ngân viết cho một chàng trai nào đó, nhưng biết đâu có thể viết cho chính mình vì nhà thơ thường dấu tâm tư dưới những điều hư cấu hay gởi nỗi niềm mình vào những ẩn dụ chứa trong thơ.

     Bây giờ thử đi vào khổ thơ đầu tiên:                                        

Rót một ly gọi nhau cố nhân                 
Một ly xin lỗi hết ân cần                 
Con đường thẳng tắp xa nhau mãi                 
Mùa hạ cháy nồng hay xuân phai

     Đây là ly rượu quyết định số phận của cuộc tình. Ly rượu đầu tiên như một lưỡi đao oan nghiệt cắt đứt ngàn sợi chỉ hồng bện thành sợi dây quyến luyến, sợi dây cột chặc hai tâm hồn đam mê lại với nhau.

     Rồi thì mắt ta nhìn thấy một con đường vắng tanh ngun ngút, không mưa sa, không giá lạnh nhưng sầu đến não nuột: “Con đường thẳng tắp xa nhau mãi/ Mùa hạ cháy nồng hay xuân phai”

    Ít khi tôi đọc được một bài thơ thất tình mà ý thơ lạ lùng như vậy. Con đường thất tình thì phải hiu hắt gió sương, mưa rơi và lá rụng, chớ sao con dường đẹp quá, mà lại nồng nàn nắng hạ và hương hoa còn phảng phất buổi xuân phai. Thế nhưng đọc bốn câu thơ, lòng tôi lại cảm nhận thấy mối tình đẹp quá, nó sưởi ấm cả cuộc đời, dầu cho cuộc đời ấy cô đơn và vắng lặng như con đường dài kia kéo đến cuối chân trời.

    Thế rồi nhà thơ chỉ rót thêm một ly thứ hai đã nói “ta say, ta say”:
                      
Rót một ly ta say, ta say                    
Bóng em trong đáy cốc hay ai                     
Chiều nay giăng tím chiều hôm ấy                     
Em đến bên trời ta mơ hoa

     Đúng rồi, vậy cho nên cái đầu đề bài thơ là “Say Cố Nhân” nghĩa là tác giả say hình bóng người xưa chớ không phải say rượu. Chỉ mới ly thứ hai mà bóng em đã hiện trong đáy cốc, nghĩa là tác giả đã nhớ em mà đi uống rượu chớ chẳng phải rượu vào làm cho nhớ em. Nhà thơ đi uống rượu vì “Chiều nay giăng tím chiều hôm ấy” tức là chiều nay tâm trạng nhà thơ đang tím, tím cả cõi lòng vì nhớ đến chiều tím nào đó đã tiễn em đi “đến bên trời”. “Bên trời” có thể là bên kia đại dương, cũng có thể là bên kia thé giới.

     Khổ thơ cho ta nhìn thấy nhà thơ chưa say, nhưng khổ thơ cũng cho ta nhìn thấy nhà thơ buồn đến cực độ. Tôi dùng chữ “buồn” chớ không dùng chữ “sầu” vì với tôi, buồn thì còn cảm giác, nhận biết được chung quanh, còn sầu là tê cứng mọi cảm giác của mình.

    Thế rồi qua khổ thơ sau, Trần Mai Ngân hỏa thiêu tình yêu của mình, rải tro tình yêu trên dòng sông định mệnh:                      

Rót một ly xin lỗi nhạt nhoà                       
Ký ức bây giờ như vệt tro                      
Rải trên sông lạnh làm tang chế                      
Khóc một thời yêu “dáng hoa” xưa...

     Hai câu thơ “Ký ức bây giờ như vệt tro / Rải trên sông lạnh làm tang chế” phác họa một hình ảnh sống động, ảm đạm và kéo dài nỗi buồn thâm nhập vào tâm hồn ta miên man. Đọc thơ, không ai không nghĩ đến con thuyền trên dòng sông và những vệt tro cốt nổi bồng bềnh trôi dài trên sóng nước. Vệt tro rải trên sông lạnh có thể chỉ là biểu tượng của mối tình ly biệt, cũng có thể là tro cốt của nàng đã vĩnh viễn ra đi.

     Nhà thơ uống đến ly thứ tư thì bây giờ nỗi đau ùa đến ngập tràn tâm khảm. Từ đây nhà thơ uống liên tiếp và uống đến ngàn ly:  
                   
Rót một ly uống hết không chừa                       
Nỗi đau, nỗi nghẹn bình rượu đắng                      
Khứa nát linh hồn ta như dao                      
Nhớ em ta uống cạn nghìn sau...

     Đọc cái say của Trần Mai Ngân đến đây, tôi lại nhớ đến cái say của Kha Tiệm Ly. Hai cái say đồng điệu nhau ở lúc nầy. Hãy đọc Kha Tiệm Ly:                      

“Ta bước chân đi vương sợi tóc                          
Đủ làm choáng váng giấc mê say                          
Tàn đêm rượu cạn bao nhiêu cốc                           
Mà ảnh người, như khói thuốc bay!                                        

Réo rắt đàn xưa cung lỗi nhịp                          
Bâng khuâng hồ rượu biết vơi đầy?                          
Ta thèm một chút hương thừa cũ                           
Sao cứ mơ màng như bóng mây?                           

Phật thệ khói sương mờ bốn nẻo                          
Huyền Trân nào lạc bước nơi đây!                          
Bồng bềnh tóc rối bời năm cũ                          
Mãi quyện hồn ta bao ngất ngây!                                                      
Rượu đắng lung linh mờ dáng ngọc                          
Cho ngàn đêm nhớ, với đêm nay. 

             (Tình Say Kha Tiệm Ly)

     Nhà thơ Kha Tiệm Ly thì “Cho ngàn đêm nhớ với đêm nay”, còn Trần Mai Ngân thì “Nhớ em ta uống cạn nghìn sau…”. Hai câu thơ đều nhớ tất cả nhưng Trần Mai Ngân đến bây giờ mới thật sự uống, Ta cứ thử tưởng tượng họ ngồi đối ẩm với nhau đi, mới thấy “uống cạn nghìn sau” và uống “cho ngàn đêm nhớ” nó túy lúy làm sao và nó thi vị biết bao!

    Cuối cùng rồi Trần Mai Ngân cũng phải khóc, cuối cùng rồi cũng thổn thức, cuối cùng rồi cũng bật lên thành lời cay đắng. Đó là lúc hỏi. Hỏi nhưng mà không cần câu trả lời, vì đã say quá đổi, đã đem cơn nhớ đi vào giấc ngủ miên man:                         

Cứ thế ta uống cùng gió sương                         
Tình em... xin nợ một vết thuơng                          
Rót thêm ly nữa sầu cô quạnh                         
Em biết gì không... sao xa nhau !                         

Em biết vì sao ta xa nhau                         
Em biết gì không sao xa nhau !

     “Em biết gì không ta xa nhau” lặp đi lặp lại nhiều lần là lúc chìm vào trong hôn mê, rượu đã nói thay lời!

      Chiều nay Châu Thạch tôi trốn dịch Covid, đi tìm thơ giãi khuây trên trang facebook. Gặp lại bài thơ của cô em bạn thơ kết nghĩa, cảm động thì viết tản mạn, vì bài thơ cho tôi và những ai đọc thơ, chắc cũng thích có một cơn “Say Cố Nhân” như thế!     
                                       
                                                                       Châu Thạch

READ MORE - TẢN MẠN VỚI “SAY CỐ NHÂN” THƠ TRẦN MAI NGÂN - Châu Thạch