Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, September 30, 2019

CÁI HOẠ CỦA “TÍN ĐỒ THANH TÂM TÀI NHÂN” (Bài 2) – Lê Nghị


                   Tác giả Lê Nghị


Bài 2:

CÁI HOẠ CỦA “TÍN ĐỒ THANH TÂM TÀI NHÂN”

(Tiếp theo của bài: MỘT CÁCH NHÌN VỀ HỌC THUẬT CỦA MỘT “TÍN ĐỒ THANH TÂM TÀI NHÂN CHỦ NGHĨA”)

Phần 1:
Tiếp chuyện Kim Vân Kiều truyện ở Nhật của Đoàn Lê Giang.

Trong bài 1, nói về nguồn gốc Truyện Kiều tôi chỉ phê phán những “tín đồ của Thanh Tâm Tài Nhân giáo chủ” mà thôi. Những người vô tình tin theo “học thuật tay dọc” hoặc họ đã từng tin mà đang lắng nghe thì không thuộc diện tay dọc đó.

Giáo sư Đoàn Lê Giang đã viện dẫn lại trong 2 bài của giáo sư rằng tôi cho giáo sư giả mạo tài liệu là điều không đúng sự thật. Sau khi trình bày tôi chỉ viết: Tóm lại Benoit không nói gì đến cuốn Tú Tượng Thông Tục Kim Kiều truyện, Benoit chỉ nói không có cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân dịch ra tiếng Nhật năm 1763 (trước Nguyễn Du sinh ra 2 năm). Theo thẩm định của Benoit Năm 1763 tiểu thuyết Tàu được dịch sang tiếng Nhật là cuốn Song Kỳ Mộng truyện. Rất mong giáo sư đính chính hoặc phản biện nếu không người khác trong đó có tôi nghĩ rằng giáo sư uốn cong ngòi bút và bẻ lái học thuật.

      
                             Nội dung Song Kỳ Mộng truyện 
   (dẫn theo Tôn Khải Đệ năm 1930, Trung quốc Thông sử)

Không nhắc đến không có nghĩa là không có. Dù lời bình luận ban đầu, và bài viết sau đó của ĐLG không được hay, nhưng rồi giáo sư cũng trưng ra bằng chứng ảnh chụp tư liệu Thông Tục Kim Kiều truyện bằng tiếng Nhật và cuốn A953 lưu tại Viện Hán Nôm. Xem như so sánh 2 văn bản đó giống nhau!?
Câu hỏi chính của tôi là có cuốn Kim Vân Kiều truyện bằng Hán Văn qua Nhật năm 1763 hay không? Vì sao Benoit lại nói đó là cuốn Song Kỳ Mộng truyện, thì giáo sư lại đưa ảnh các cuốn đó để tạo một suy luận trung gian thôi. Bài hôm nay tôi xin phân tích giáo sư trả lời chúng tôi trong phần bình luận. Chúng tôi vẫn xem đó là ý kiến bổ sung giải đáp thắc mắc:

“Đoàn Lê Giang:
Gửi thêm cho nhóm bác Lạc Nguyên mục từ "Kim Vân Kiều truyện" trong "Trung Quốc văn học đại từ điển", tập 5, xuất bản ở Đài Loan, 1991, trong đó có nói rõ: Kim Vân Kiều truyện là tiểu thuyết bạch thoại của Thanh Tâm Tài Nhân đời Thanh (chỉ biết hiệu như vậy mà không biết tên thật là ai), có 20 hồi. Bản cổ hiện lưu ở Thư viện Đại Liên (Đổng Văn Thành đã đọc được bản này) và Thư viện Nội các Nhật Bản. Hai bản này đều được Benoit và Nguyễn Nam nhắc đến. Tác phẩm này còn có tên "Song kỳ mộng" (bản ở Harvard Yenching có tên này). Sau đó từ điển thuật lại toàn bộ nội dung tiểu thuyết đúng như Kim Vân Kiều truyện mà ta đã biết..."
(Những nội dung Khuyên bảo khác chúng tôi không quan tâm)”

Ở bài viết năm 1995 nói trên, bài viết năm 2015 so sánh Phong tục Kim Ngư nữ với Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện. Trong đó lai lịch của Kim Ngư nữ là phóng tác từ Thông tục Kim Kiều truyện. Truyện này giáo sư cho là được dịch từ cuốn Kim Vân Kiều của TTTN năm 1763. Trong 2 bài viết 1995 và 2015 Giáo sư không hề nói Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân còn gọi là Song Kỳ Mộng truyện. Chi tiết này giáo sư mới trả lời tôi sau khi tôi hỏi lại một ngày. Vậy giáo sư thừa nhận cuốn được dịch đầu tiên ở Nhật năm 1763 tên là Song Kỳ Mộng. Benoit nói và tôi thuật lại không sai.

Mấu chốt vấn đề là chỗ đó. Nhưng còn bước thứ hai vì sao tự động giáo sư gọi tên Song Kỳ Mộng khuyết danh thành Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân?
Nếu giáo sư chứng minh được hai cuốn đó có cùng tên và cùng một nội dung thì không có gì tôi phải thắc mắc. Đương nhiên giáo sư không chứng minh được thì tôi nói giáo sư đã cố ý áp đặt để bảo vệ quan điểm của mình.

Đây là việc đối chiếu 2 tư liệu giữa Benoit và giáo sư. Giáo sư đã trình bày chuỗi suy luận trên.

Riêng đối với tay ngang thì những bằng chứng đó cho phép giáo sư suy diễn thôi, không thể xem là sự thật đã chứng minh xong. Bởi vì Thông tin Benoit vẫn khác, (có ảnh kèm). Vì vậy bổ sung của giáo sư chưa thuyết phục. Giáo sư đã có cuốn của Benoit không tin thì giáo sư so lại. Ở đây xin nhắc nhanh cho bạn đọc dễ hiểu khi đọc ảnh:

 - Một là, Song Kỳ Mộng truyện lưu tại thư viện Đại Liên khuyết danh. Nội dung Song Kỳ mộng là lược bản của Tiểu thuyết Câu Trần. Chúng tôi không biết Tiểu Thuyết Câu Trần viết gì nhưng không thể tin nội dung nó giống Kim Vân Kiều A953. Lý do Tả Đông năm 1962 miêu tả trong : “Quan vu Vương Thuý Kiều cố sự nhất điểm bổ sung” thì Song Kỳ Mộng chỉ là một bổ sung cho câu truyện Vương Thuý Kiều. Trong khi truyện ngắn Vương Thuý Kiều của Dư Hoài chỉ 3 trang giấy in. Vậy thì một điểm bổ sung, chứ không phải nhiều điểm bổ sung, cho ta biết có thêm một tình tiết nào đó, chứ không phải là toàn bộ tình tiết biến một truyện ngắn trở thành một cuốn tiểu thuyết dài hơi giống A953.

- Hai là: Song Kỳ Mộng, chính học giả người Hoa Tôn Thất Đệ đã ghi trong cuốn Trung Quốc Thông Sử năm 1930, ông còn nói Kim Vân Kiều biệt tích ở Trung Hoa. Nếu hai cuốn là một thì sao ông nói vậy? Và sao mãi đến 1981 Đổng Văn Thành mới tìm thấy? Nếu ngày nay ai đó trưng ra bức ảnh bìa rất cũ ghi Song Kỳ Mộng truyện tức KVKT của TTTN là tin được sao?

Như vậy, từ bằng chứng lịch sử thư mục người Hoa, không có lý do gì gọi Song Kỳ Mộng khuyết danh thành Kim Vân Kiều truyện tác giả là TTTN được. Cho nên cuốn Song Kỳ Mộng Truyện lưu tại Nhật không phải là Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân như giáo sư trả lời.

         
                              Thẩm tra các bản Kiều tại Nhật

Cuốn Kim Vân Kiều lưu ở Tokyo là cuốn khác với Song Kỳ Mộng truyện. Giáo sư có bị nhầm không? Các bản Kim Vân Kiều lưu tại Tokyo tiêu đề đầy đủ gần giống như A953 quyển 2: Quán Hoa Đường bình luận Kim Vân Kiều truyện (không nhắc tới Kim Thánh Thán Ngoại Thư). Đây mới là bản đáng nói, vì nó giống với A953 chứ không phải cuốn Song Kỳ Mộng truyện dịch năm 1763 mà giáo sư nghĩ là Kim Vân Kiều truyện của TTTN, do Đại Từ điển Tàu 1991 ghi ào. Họ muốn ghi sao chả được. Họ có thiệt gì đâu mà lợi là cái chắc.

Cần nói tại Nhật có 2 bản Kim Vân Kiều. Một lưu tại Đông Dương nghiên cứu Sở thuộc Đại học Tokyo, một lưu tại Nội các văn khố. Một quyển gọi là in thời nhà Thanh nhưng cả Tôn Thất Đệ lẫn Benoit không xác định được niên đại. (Nhà Thanh tồn tại đến 1914, sau Nguyễn Du mất 94 năm), do đó chưa đủ căn cứ nói “nhà Thanh” là phải trước Nguyễn Du. Theo Kin Un Gyo Ko học giả Nhật (Kim Vân Kiều khảo), mặt sau quyển 4 tức quyển cuối cùng lưu tại Đông Dương Nghiên cứu Sở có in: niên đại Văn Uyên 32 tức 1938. Nghĩa là nó được in sau A953 Việt Nam đến 54 năm. Đây mới là bằng chứng quan trọng, vừa giống A953, vừa xa niên đại 1884, cho thấy nó có thể là truyền bản của A953 Việt Nam chứ không nhất thiết từ Tàu. Vì sau 1925 thì bản A953 của Việt Nam đã được dịch và tái bản liên tục, nghĩa là các dịch giả đã có bản sao.
Giáo sư có chụp ảnh cuốn Kim Ngư nữ lẫn Thông Tục Kim Kiều truyện là 2 cuốn truyện tiếng Nhật. Cuốn trước là phóng tác cuốn sau. Nhưng cuốn Hán Văn để dịch ra Thông tục Kim Kiều truyện tiếng Nhật lại không có (vì thực sự nó không còn)

       
                                  Văn Uyên 32: năm 1938

Ảnh cuốn Kim Vân Kiều ở Nhật có ghi Thanh Tâm Tài Nhân là nguồn tin cậy nhưng như nói trên không có niên đại, và một cuốn thứ 4 niên đại 1938. Ảnh giáo sư nêu không phải là cuốn qua Nhật năm 1763, thời điểm mà chúng tôi cần chứng minh. Như chúng tôi đã nói trong nhiều bài khác, cái tên Thanh Tâm Tài Nhân xuất hiện ở Việt Nam năm 1925 và năm 1926 Cổ Thực đã ghi vào thư mục trong một cuốn văn học sử Trung Hoa rồi. Cho nên cái tên Thanh Tâm Tài Nhân 1938 không còn giá trị đối chứng với Thanh Tâm Tài Tử 1830 của Minh Mạng, xuất hiện trước 100 năm.

Tiếp thêm điểm nữa, giáo sư trả lời tôi trong phần bình luận:  
“truyện Vương Thuý Kiều được phát hiện ở nhà bác ruột của Nguyễn Du chứng tỏ Kim Vân Kiều truyện của TTTN đã từng lưu truyền qua Việt Nam”.

Xin thưa, Truyện Vương Thuý Kiều đâu phải là truyện Kim Vân Kiều? Nhận định này cho thấy giáo sư sao sao ấy! Chẳng lẽ giáo sư không biết sự khác nhau giữa một truyện ngắn và một tiểu thuyết trường thiên. Còn nếu đã biết thì vô tình giáo sư ủng hộ chúng tôi, vì chúng tôi đã khẳng định điều này.

Truyện Vương Thuý Kiều là truyện ngắn 3 trang giấy của Dư Hoài. Chính là truyện Nguyễn Du đọc trong Lục Phong Tình và đã mượn tên 3 nhân vật: Kiều - Từ Hải- Hồ Tôn Hiến cộng với các nhân vật hư cấu làm nên tập thơ Kiều. Có thể Nguyễn Du còn kết hợp thêm phần cuối truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, vai cháu rể nhưng lớn tuổi hơn Nguyễn Du, là cuốn truyện thơ Nôm hay nhất trước Truyện Kiều. Lời thơ Nguyễn Du ảnh hưởng ngôn từ Hoa Tiên khá nhiều. Ai đọc Hoa Tiên thì thấy rõ.
Nguyễn Du còn kết hợp với kiến thức uyên bác sử sách nên mới gọi đích danh: Hồ Tôn Hiến, trong khi Thanh Tâm Tài Tử chỉ gọi theo Vương Thuý Kiều của Dư Hoài là: Đốc phủ. Đương nhiên ông còn kết hợp với cuộc đời từng trải, kết cấu nên Đoạn Trường Tân Thanh.
Đồng thời truyện Vương Thuý Kiều, truyện Hoa Tiên cũng là chất liệu cho các Thanh Tâm Tài Tử đi sát bình giảng thơ Kiều hình thành nên cuốn văn xuôi A953.

Tóm lại:
Giáo sư đã đưa thông tin tại Nhật mà giáo sư biết chứ chưa phải là đầy đủ chứng cứ xác định sự thật. Sự suy diễn Song Kỳ Mộng khuyết danh là Kim Vân Kiều có tên tác giả Thanh Tâm Tài Nhân là chỗ gãy của chuỗi suy luận, nếu không muốn nói là suy luận buồn cười.

Tin vào tự điển của Tàu năm 1991 hay tin vào công trình tiến sĩ Mỹ từ 1981, là quyền của giáo sư. Nhưng những chứng cứ giáo sư đưa ra tự nó chống lại quan điểm hiện có của giáo sư.
Còn chúng tôi đã trình bày xong sự kết luận Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu qua Nhật năm 1763 là vô căn cứ.

Phần 2:
Hiện tình “kinh” Kim Vân Kiều Truyện của Ông Giáo chủ vô hình Thanh Tâm Tài Nhân tồn tại ở đâu?

Nhân việc giáo sư dẫn nguồn của tiến sĩ Nguyễn Nam trả lời thay cho giáo sư: Những thẫm định mới về Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Chúng tôi nhắc lại rằng cùng một hiện tượng, một hồ sơ thì mỗi người nhìn nhận lại khác nhau, vận dụng khác nhau. Chúng tôi cũng có chỗ chưa đồng thuận với tiến sĩ Nguyễn Nam, cũng có chỗ đồng thuận.
Nhưng qua thống kê của Tiến sĩ Nguyễn Nam đã đưa ra hai góc nhìn cơ bản về thái độ của Tàu và của Tây phương, giúp cho ta một cái nhìn tổng quát, không những liên quan đến nguồn gốc truyện Kiều mà còn cho thấy nguy cơ ta đánh mất di sản văn hoá dân tộc.

- Với Tây thì thái độ học giả vô tư, trúng trật gì cũng nói xong rồi đi.

- Học giả người Hoa thì khác, về nguồn gốc truyện Kiều, đến nay họ nói là Kim Vân Kiều truyện, tác giả tên Thanh Tâm Tài Nhân. Xem ra chỉ là một bút hiệu áp đặt mơ hồ, vì Tàu đã cố tình gán cho nhiều truyện từ 1556 - 1707 từ giữa Minh đến đầu đời Thanh nếu khuyết danh đều là của TTTN, nghĩa là ông này sống (132- 151 tuổi). Họ cũng thừa nhận như giáo sư ĐLG đã nói trong trả lời viện dẫn của Đại từ điển 1991: không biết Thanh Tâm Tài Nhân là ai.
Chính học giả họ còn cãi nhau có vị tặng cho Kim Thánh Thán, vị khác tặng cho Thiên Hoa Tàng Chủ Nhân. Nhưng nhất định không tặng cho Thanh Tâm Tài Tử Việt Nam. Vì giới học thuật tay dọc Việt Nam tự nguyện từ chối cái danh tính ấy rồi! Hội trưởng hội hữu nghị Việt - Trung Bùi Kỷ khi già đãng trí chính thức từ chối chứ ai! (Tường thuật của Hoàng Dật Cầu trong cuốn dịch Kiều ra thơ Hán- Phạm Tú Châu dịch). Tóm lại tay ngang này nghe họ nói Thanh Tâm Tài Nhân là ai họ không biết, nhưng dựa vào bút danh đó thì phải là người Hoa. Hình như họ giải thích Thanh Tâm hợp lại là tình. Tài nhân là người hầu. Tóm lại đó là một người vì tình hữu nghị lâu đời mà cung phụng!

- Từ 1957 đến nay thái độ của học giả người Hoa đánh giá truyện Kiều của Nguyễn Du khác dần. Bắt đầu là Hoàng Dật Cầu khen nức nở Nguyễn Du là thiên tài sáng tạo. Giới học thuật nở mũi vì cái tình hữu nghị ngàn đời bền vững mà Hoàng Dật Cầu nhắc lại. Sau đó về nước tặng lại cho viện Hán Nôm 3 quyển 2,3,4 của nhà xuất bản Xuân Phong Văn Nghệ in năm 1957 có in Quán Hoa Đường. Tiếp đến là Đổng Văn Thành khóc thảm thiết vì tổ quốc vĩ đại đã bỏ rơi một tác phẩm vô giá. Giới học thuật tay dọc cũng muốn tét mũi. Sau đó là Lý Chí Trung tuyên bố tìm ra cuốn Kim Vân Kiều ở thư viện Đại Liên năm 1981. Viết bằng chữ giản thể, văn phong hay hơn cuốn A953 nhiều, đến nỗi át cả Hồng Lâu Mộng. Mừng thay cho nước bạn!
Nhưng năm 1983, Đổng văn Thành bất ngờ nổ pháo vào tượng đài văn hoá Nguyễn Du: xét toàn diện thì Nguyễn Du đã làm mất vẻ đẹp của Nguyên tác. (nguyên văn bôi bác khủng khiếp chúng tôi sẽ đăng sau). Giới tay dọc Việt Nam ngơ ngác. Chú người Việt gốc Hoa An Chi viết bài phân tích thừa nhận Nguyễn Du dịch chuyện Tàu mà dịch hay, Đổng chẳng hiểu thơ lục bát. Trần Ích Nguyễn Đài Loan phản đối Đổng tựu trung cũng như An Chi. Để chắc ăn ông xin vào viện Hán Nôm tham khảo. Được tiếp đón trân trọng. Để trả ơn, Trần giúp Viện Hán Nôm sắp xếp cổ thư. Rốt cuộc tất các vị bạn bè hữu hảo đó đều xâm nhập được tài liệu viện Hán Nôm. Có tác động thế nào không rõ, nhưng Trần Ích Nguyễn nghe nói chưa vào thư viện quốc gia, nhưng thống kê trên mạng tất cả các tác phẩm nào liên quan tới Kiều đều chú thích: nguyên tác từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân! (bảng này chúng tôi đăng trong bài : Suy nghĩ về số phận của Truyện Kiều)
Và từ 1983 đến nay người Hoa đang ra sức trau chuốt lại Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (bản Lý Chí Trung). Những bài viết sau này của họ nếu không chê Nguyễn Du thì cũng khen Thanh Tâm Tài Nhân tót vời. Ngày nào đó tác phẩm Kim Vân Kiều truyện sẽ lên phim, người ta sẽ yêu nàng Kiều Trung Hoa, thế giới sẽ chỉ biết đến TTTN Trung Quốc. Không thấy diễn biến đó có gì giống như quan hệ hữu hảo để gặm dần Hoàng Sa, Trường Sa, rồi lưỡi bò, Tư Chính đó sao? Vì bản đồ biển Đông của Tàu có từ thời Đường. Theo họ là thuộc chủ quyền của Tàu không thể tranh cãi!

- Thái độ “học thuật tay dọc” Kiều học làm gì cho dân tộc trước thái độ của học giả Tàu? Họ đi từ không biến thành có, từ cái có cuốn bình giảng dỡ hơi của người Việt biến thành tuyệt tác Trung Hoa.
Khởi đầu âm mưu khó thấy, vài bậc đàn anh ngây thơ, họ đã khuất không trách. Còn tay dọc hôm nay họ làm gì? Hoá ra họ chỉ giỏi gà nhà đá nhau. Tiếp cái loa cho Tàu. Đôi người vờ phản đối trên cơ sở khẳng định Nguyễn Du đã dịch Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng như An Chi thôi, chẳng có gì lạ. Họ bỏ qua tính dân tộc, họ nhân danh điều gì? Khoa học, sự thật chăng?

Cho dù bằng chứng giáo sư nêu ra chắc ăn như bắp (huống chi bằng chứng đến nay cũng mơ hồ đã trình bày trên) thì cũng chỉ từ 1995. Thế thì sao giáo sư lại khẳng định điều này Nguyễn Du dịch Kim Vân Kiều Truyện từ 40- 50 năm trước? Có phải rằng từ thời đó “Kinh Kim Vân Kiều Truyện của ông thánh Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu” đã và đang tồn tại trong đầu các vị tay dọc, rồi truyền trong sách giáo khoa cho thế hệ sau, trong đó có giáo sư, một niềm tin vong thân không?

                                                                           Lê  Nghị

(còn tiếp bài 3: CÁC VẤN ĐỀ VĂN BẢN Ở VIỆT)
READ MORE - CÁI HOẠ CỦA “TÍN ĐỒ THANH TÂM TÀI NHÂN” (Bài 2) – Lê Nghị

MẮC SÁNG - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân


Tác giả Lê Hứa Huyền Trân


MẮC SÁNG
Truyện ngắn
Lê Hứa Huyền Trân
           
           Chị Hiền dùng hết sức mình kéo mẻ lưới cuối cùng trước khi ánh chiều tà trên con sông buồn tắt hẳn. Trời đã chạng vạng tối, trong cái nắng tắt và cả cái tiếng kẽo kẹt của khúc gỗ mắc lưới nghe đâu đó có tiếng khóc của đám trẻ đói càng làm chị mau guồng tay của mình hơn. Đàn bà chài lưới ở bến sông này đâu có thiếu, đàn bà một nách mấy con phải nuôi cũng thường. Cứ nghĩ như vậy rồi chị tự cho rằng mình không khác biệt, sẽ chẳng được trời thương trời đoái hoài gì nên thôi  mơ về những việc có phép màu, cứ tự thân mình mà sống. Thằng Đức đưa tay thắp cái đèn con móc lên phía đuôi ghe ngúng nguẩy:
-Má, nãy bắt được con chình to lắm. Má để làm chua liền hay để lu mai ăn?
-Nhà còn mớ cá cơm. Con này để lu đi.
Chị nghe trong tiếng “dạ” của thằng Đức có chiều tiếc rẻ. Đến khổ, “mớ cá cơm” mà chị nói nhà cũng cứ hâm đi hâm lại ăn mấy ngày rồi nên có lẽ thằng Đức cũng ngán. Chị muốn nói với con thôi để thay món khác nhưng nhìn cái đồng lúa mất mùa, nhìn vài đồng tiền lẻ còn trong túi chị đành im lặng. Cái bứt rứt của một người mẹ nó thấu tim gan chị, nó đi vào trong ánh mắt của thằng Đức. Nó nhìn má nó ngồi ngẩn ngơ buông tay lưới mấy lần, chị tiếc rẻ:
-Quang mẻ cuối rồi về, sắp nhỏ nó đợi.
Vừa nói xong câu đó chị nghe tiếng thằng Đức nhảy sông cái uỳnh, cứ như chờ má nó buông lời. Được một lúc nó trồi lên cười hì hì chỉ vào cái lưới kéo lên của má nó, chị còn không hiểu gì thì nó í ới chỉ vào khúc góc lưới, một ánh sáng lấp lánh vảy bạc đang mắc vào lưới, nhìn kĩ thì hóa ra một anh trắm cỏ. Nhìn thấy con trắm đó miệng chị cười tươi còn thằng Đức cũng bơi lại gỡ con trắm cho vào thuyền. Chiều nay cả nhà đổi món. Chị vẫn hay gọi những con cá mắc vào lưới những đợt cuối ấy là ánh sáng mắc vào lưới. Vì dưới buổi chiều những ánh sáng trên những chiếc vẩy bạc của chúng lấp lánh cả một khoảng trời tối mịt. Hơn nữa cái thứ ánh sáng le lói ấy lại như chiếu thẳng vào lòng chị, như một tia hi vọng đâu đó vào kế sinh nhai. Kì lạ một điều thể nào mẻ lưới cuối cũng dính cá, dù không nhiều, có khi là vài anh rô tinh nghịch không chịu về nhà, có khi là anh trắm, anh chình, nhưng nó là cả niềm vui, niềm hi vọng của chị.
         Thằng Đức cởi phăng cái áo rồi ra múc nước trong lu xối ào ào, cái lạnh cắt da làm nó hơi rúm người lại. Thằng Út chạy lon ton đón má và anh nó bĩu môi:
         -Anh Đức hôm nào cũng nhúng người ướt làm hôm sau phải giặt thêm một cái áo.
         -Ai mượn mày giặt? Có bao giờ tao để mày làm caí gì của tao đâu.
         Chị Hiền mệt mỏi đặt người xuống cái chõng tre, ba bốn đứa con chạy lại ôm lấy chị như khát thèm sữa mẹ.
Đức là con lớn của chị, nó hay theo chị ra chợ, đi dặm lúa, đi tát nước mương hay chài cá, úp cá. Nhìn nó nhỏ người vậy thôi nhưng năm nay cũng lớp tám rồi. Sau nó còn những ba đứa em mà đứa nhỏ nhất mới lên sáu. Chồng chị nghe theo người ta bỏ làng lên phố đổi đời rồi bặt vô âm tín ba bốn năm nay, mình chị ngày ngày nhận mối cá ra chợ bán, nhiều khi vườn rau trổ trái, lá xanh cây, hay chiều về sớm, chị lại cùng thằng Đức ra đồng úp cá bán thêm cho buổi chợ sớm. Thằng Đức vò vội cái áo rồi mang ra cây phơi, nằm trên chiếc chõng tre chị ngoái nhìn ra thấy nó đứng bần thần nhìn ánh trời rơi xuống vàng vọt trên vai rồi chìm trong bóng đêm hiu quạnh. Nó đứng đơ người nhìn ra cái cồng tre kéo vội một lúc lâu, chị biết cho tới tận bây giờ nó vẫn luôn mong sẽ có bóng dáng một người đàn ông đẩy cửa bước vào ôm chầm lấy nó.
        Chị ho vài tiếng làm thằng Đức giật bắn người, nó chạy như bay vào nhà, thắp trong nhà một cái ánh đèn dầu leo lét, nó ấn ấn chị nằm xuống chõng:
        -Má nằm đó, con làm con trắm này rồi bưng lên cho má ăn.
         Chị uể oải:
        -Lát chạy qua nhà bác Bốn mua ít dầu, dầu gần hết nên đèn cứ chực tắt, nó mà tắt là sắp nhỏ lại không học bài được.
         Thằng Ba chen vào:
        -Bữa giờ mình nợ bác Bốn tiền dầu, ổng hông chịu bán nợ cho mình nữa má ơi.
        -Không sao đâu má- thằng Đức ngoắt đầu- hồi sáng con bắt lũ dế bán cho tụi thằng Bếu nuôi chim, tụi nó trả con chục ngàn, để con qua trả ổng rồi mua.
        Dạo gần đây chị hay đau đầu, chợ bắt đầu cạnh tranh hàng cá, người người kiếm kế sinh nhai. Chiều trễ chị lại cùng thằng Đức ra đồng, thằng Đức lại ngụp lặn bơi, chị kéo mấy mẻ lưới liền cũng không có cá, đành buông bỏ, lại tặc lưỡi “ mẻ cuối rồi về”, thằng Đức ngồi thở dốc trên ghe co ro, cuối góc lưới, mấy anh rô hiện lên vẫy đuôi đành đạch, chị lại cười, bao giờ mẻ cuối cũng nên chuyện.
***
        Thằng Đức mếu máo vừa khóc vừa chạy về, áo quần nó xộc xệch còn mặt hơi tướm máu. Vừa thấy nó chị hoảng hồn chưa kịp hỏi thì nó đã bấu tay chị:
        -Má, má không có phải không? Tụi lớp con nói xạo phải không má?
        -Nói xạo? Nhưng nói xạo chuyện gì?
        -Tụi lớp con nói má bán cá ươn cho tụi nó, má trộn những con đó với đám cá tươi, còn mấy con ươn nặng thì má cho muối bán.
        Chị hơi bần thần không nói nên lời, thằng Đức hiểu chuyện nó khóc bù lu bù loa cả lên bỏ ăn mấy ngày liền
Sinh ốm. Kể từ ngày đồng bắt đầu ít cá mà thương lái lại cứ tăng giá thành chị mới nghĩ ra cách muối cá ươn bán, vừa bớt mùi vừa đỡ phí những con cá qua ngày. Bán lâu thì những người sành ăn cũng dần nhận ra, mặc cho bao điều tiếng chị vẫn cứ tiếp tục, bán rẻ hơn một xíu miễn là kiếm được tiền, chị vẫn cứ bỏ ngoài tai mọi thứ miễn có tiền lo được cho sắp nhỏ. Chị đã nghĩ dù thiên hạ có cười vào mặt chị cũng đành, thế nhưng dường như nụ cười mai mỉa của mọi người không thể nào bằng nổi giọt nước mắt của đứa con trai lớn khi nó gào lên trước mặt chị:” Con không tin, con không tin má làm vậy. Má dặn con không bao giờ được làm việc xấu cơ mà”. Chị nấu bát cháo hành nhưng thằng Đức không ăn, nó lên cơn sốt cứ nằm mê sảng, chị dắt thằng Ba ra đồng để chài cá, hi vọng kiếm được con cá về nấu mẳn cho thằng Đức. Nhưng chài miết cũng không thấy cá, chị bật khóc, ngay cả mẻ lưới cuối cùng cũng không có. Thằng Ba nhìn mẹ khóc rồi nói:
        -Về thôi má, hôm nay không có anh hai, mẻ lưới cuối cùng của má không có cá đâu.
        -Sao con nói vậy?
        -Anh hai dặn con không được nói với má. Hôm nào cũng vậy ảnh cũng dậy sớm úp cá hết đó. Xong ảnh giấu nó, đợi tới khi má thả lưới cuối ảnh lại giắt cá vào lưới cho má kéo.
        Chị bật khóc như mưa trước tâm tình của đứa con nhỏ. Thì ra bấy lâu nay nó vẫn luôn biết chị luôn hi vọng  vào những mẻ lưới cuối như niềm tin vào cuộc đời này nên dù trời lạnh thấu xương thì chỉ cần để ý chị nói kéo lưới cuối là nó lại nhảy ùm xuống nước để giắt cá vào. Những ánh sáng trên những chiếc vảy bạc cứ như tấm lòng mà nó giành cho má nó, giữ cho má nó chút niềm tin vào cuộc sống này. Chị chèo thuyền về nhà ôm thằng nhỏ còn đang sốt, nó thều thào:
         -Má, má về rồi hả?... Con không giận má nữa đâu.. Nhưng má đừng làm vậy nữa… Kì lắm. Con khỏi bệnh rồi mình làm lại từ đầu, làm ăn đàng hoàng má nhá.
        Chị gật đầu liên tục. Mấy đứa nhỏ nhìn má, nhìn anh hai nó khóc cũng khóc tu tu theo dù không biết rõ chuyện gì.
        Hôm nay, theo chị đi chài còn có thằng Ba, mấy đứa nhỏ ở nhà thì thay phiên nhau làm việc nhà chờ má và mấy anh về, đứa nào cũng ý thức được mình cần phải “ lớn”. Đồng về nước, cá tràn về, chị cùng hàng xóm làm cái ao nhỏ dắt nước về nuôi cá. Mấy ngày trước chị nhận được thư của anh, anh sắp về, không cần biết thành công kiếm được tiền hay không, chỉ cần anh về là chị đã thấy cuộc đời mình sẽ đổi khác. Đang miên man suy nghĩ chị nghe thằng Đức hét lên:
        -Má, má, có con cá mắc vào lưới mẻ cuối. Hệt như ánh sáng mắc vào.

Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định

READ MORE - MẮC SÁNG - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Sunday, September 29, 2019

Chùm ảnh HOA CHUỔI NGỌC - Chu Vương Miện






READ MORE - Chùm ảnh HOA CHUỔI NGỌC - Chu Vương Miện

ĐỨNG TRÊN | ĐỌC THƠ ĐỖ MỤC - Thơ Chu Vương Miện




ĐỨNG TRÊN
Chu Vương Miện
-
bến Tần Hoài
nhìn dòng nước đục
bên sông còn tiếng hát
Hậu Đình Hoa
của thuơng nữ
nước mất vẫn vui chơi
o biết nhục
-
2 bên dòng nước
mang tên Bạc Tần Hoài
giang tả rhi nhân khóc
giang hữu thương nữ cười ?
-
phía nội trị do các quan văn
phía chiến trường do các quan võ
ai  lo việc nấy
dân lo cày lo cấy
nộp thuế làm xâu
việc thơ phú
giao cho thi gia
cứ mùa xuân mùa thu
mùa nào hoa nây mùa nào thơ nấy
phong hoa tuyêt nguyệt
xưa sao nay vậy ?
ai uýnh nhau cứ uýnh
ai nhậu cứ nhậu


ĐỌC THƠ ĐỖ MỤC
Chu Vương Miện
-

Thương nữ bất tri vong quốc hận
Thương nam cũng vậy ? chả hơn gì ?
Căn bã bồng bềnh trôi trên nưóc
Bạc Tần Hoài lặng lẽ trôi đi

-
vẳng bên sông khúc Hậu Đình Hoa
đời Trần Hậu Chủ mất bao giờ ?
1 mảnh chia 2 vùng nam bắc
triều đại này qua triều đại kia
-
Nưóc mất thì kệ cha nước mất ?
vẫn bia với rưọu vẫn chơi bời
nhạc nhõe trống kèn cùng với rưọu
trần truồng múa hát thoả vui chơi

-
Bên sông còn mãi bầy trâu chó
Thưong nữ phàm phu ngoác miệng cươi ?
Nưóc mất cũng đành cho nưóc mất
lỡ nào để xổng mất cuộc vui

-
1000 năm Bắc thuộc giờ gặp lại
Xã hội ngày nay chó lẫn ngườì ?

C.V.M.

READ MORE - ĐỨNG TRÊN | ĐỌC THƠ ĐỖ MỤC - Thơ Chu Vương Miện

KHÂU TÌNH - Thơ Nguyễn Hồng Linh

Nhà thơ Nguyễn Hồng Linh


KHÂU TÌNH
Nguyễn Hồng Linh


Trăng treo ngoài hiên vắng
Toả ngát mộc lan hương
Ru ta giấc mộng hường
Kiếm tìm nàng hạ trắng

Khúc ca nào sâu lắng
Xao động trái tim côi
Góc đời riêng ngọt đắng
Tình mới vừa lên ngôi

Chiền chiện ngoài đồng nội
Bên suối hót véo von
Lá vàng bay bên đồi
Tung tăng em gót son

Khâu tình- mảnh tình son
Thềm rêu mưa lá đổ
Khát yêu bờ mi ngoan
Ru tình trên tháp cổ...

Stuttgart, 19/04/2019

N.H.L.
READ MORE - KHÂU TÌNH - Thơ Nguyễn Hồng Linh

Friday, September 27, 2019

MỘT CÁCH NHÌN VỀ HỌC THUẬT CỦA MỘT "TÍN ĐỒ THANH TÂM TÀI NHÂN CHỦ NGHĨA" (Bài 1) – Lê Nghị



                        Tác giả Lê Nghị


Bài 1: 

MỘT CÁCH NHÌN VỀ HỌC THUẬT CỦA MỘT “TÍN ĐỒ THANH TÂM TÀI NHÂN CHỦ NGHĨA”

(Nhân đọc 2 bài : “Học Thuật Tay Ngang” và “Cái họa của học thuật tay ngang” của giáo sư tiến sĩ Đoàn Lê Giang)

Phần 1 : Đôi điều về học thuật.

Tôi đọc 2 bài này trên fb của ông cách đây 2 ngày. Trong đó “người học thuật tay ngang” mà giáo sư nói đến đó là tôi với nick fb: Li Li Nghệ. Cũng xin thưa rằng tên thật của tôi là Lê Nghị, chẳng qua trên fb để nick nữ tính cho vui, chứ tôi không việc gì giấu tên, ai từng kết bạn với tôi đều biết tên thật và ảnh mặt thật của tôi. Các bạn trẻ còn tặng tôi cái tên: ông già lẩm cẩm!

Rất thú vị lần đầu tiên nghe hai khái niệm tay dọc tay ngang trong học thuật do giáo sư ngôn ngữ học Đoàn Lê Giang đặt ra. Thú vị hơn nữa khi giáo sư nâng tôi lên hàng học thuật mặc dù là tầm tay ngang.

Có lẽ bài viết của tay ngang vụng về nên vị giáo sư này không hiểu ý chính. Tiêu đề bài viết của tôi đăng ngày 4/9/19 trên fb cá nhân : Học Trò Nên Tin ai, Đoàn Lê Giang hay Charles Benoit?
Tóm tắt rất đơn giản:
Năm 1995, Giáo sư nêu rằng có cuốn Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân từ Trung Hoa, được dịch sang tiếng Nhật năm 1763. Sau đó Benoit năm 2015 lại nói Cuốn sách Tàu được dịch đầu tiên năm 1763 ở Nhật là cuốn Song Kỳ Mộng Truyện khuyết danh. Tôi không thấy giáo sư đính chính và phản biện nên có thể dễ dẫn tới hiểu rằng giáo sư áp đặt, bẻ cong sự thật. Rất mong giáo sư có bài đính chính hoặc phản biện Benoit.

        
Quyển sách ĐẠI THI HÀO DÂN TỘC DANH NHÂN VĂN HÓA NGUYỄN DU
Kỷ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du, do nxb Đại Học, Quốc Gia TP HCM, do Đoàn Lê Giang, Huỳnh Như Phương tuyển chọn

Nếu tôi đạt tầm “tay dọc” như giáo sư, lẽ ra đọc được bài này, với tư cách là một trưởng khoa ngữ văn của một trường đại học, người mà tôi đã nói các bài viết sẽ được sinh viên, phụ huynh, giáo viên tra cứu rộng rãi, giáo sư phải cám ơn tôi đã nhắc nhở. Tôi nhắc nhở phản biện là phản biện với Benoit. Nếu không biết Benoit ở đâu thì viết bài đăng rồi báo tôi đọc. Nhưng giáo sư vào trang cá nhân tôi bảo tôi “đọc sách mà hàm hồ, không nên”. Tôi làm ngơ, giải thích tóm tắt câu hỏi khi có mâu thuẫn giữa hai học giả nêu trên, giáo sư không trả lời câu hỏi, lại nói lòng vòng. Có lẽ giáo sư lo học tiếng Hán, tiếng Nhật, dạy những điều cao xa nên không hiểu câu hỏi của người tay ngang viết bằng tiếng Việt. Cuối cùng lại bảo tôi không biết giáo sư là ai!?

Chẳng lẽ lúc đó tôi lại đốp chát một cách vô văn hoá: anh là cái đinh gì mà tôi phải biết!? Anh là thầy của cháu tôi chứ có phải là thầy của trương lứa tôi đâu mà tôi phải tìm hiểu!?

Nhưng không! tôi đã lịch sự nói: anh thông cảm, tôi chỉ quan tâm tới bài viết của anh để hiểu biết thêm về kiến thức, chứ biết thêm nhiều về anh để làm gì! Khi tranh luận về học thuật thì tôi nói trung thực những hiểu biết tới hạn của mình, chứ tôi và anh có quen biết, thù oán gì đâu!? Anh đừng quan tâm chuyện cá nhân. Rồi tôi lặp lại lần thứ 3 câu hỏi tôi cần mà giáo sư quên trả lời. Tôi đang chờ chứng cứ.

Thiển nghĩ tinh thần học thuật là con đường tiếp cận sự thật, xuất phát từ cái tâm tìm hiểu sự thật để phục vụ xã hội. Trước hết, không hẳn như những lời răn đe: “biết thì nói biết, không biết thì nói không biết mới gọi là biết” của những đầu óc nhiễm hủ Nho từ Tàu. Học thuật khoa học, cái giúp cho xã hội tiến bộ là xem như không có chân lý tuyệt đối. Những người lớn tuổi, những chuyên gia trong từng lĩnh vực cần khuyến khích những người trẻ tuổi, người không chuyên biết tới đâu nói đến đó, miễn là nói phải có căn cứ. Trong bài C. Benoit và Đ.L. Giang căn cứ tôi nêu ra là sự mâu thuẫn giữ 2 người tại một thời điểm và tên một cuốn sách Tàu dịch sang tiếng Nhật. Tôi đã đưa chứng cứ từ hai phía để thấy mâu thuẫn cần giải quyết.

Tinh thần học thuật không cho phép vị nể cá nhân. Người học hàm, học vị xưng là giỏi Hán - Nôm, tài liệu phong phú, cần thuộc lòng bài học đầu tiên trong câu chuyện ví von Hạng Thác chặn xe Khổng Tử. Cần hiểu là đã chận học thuyết của Khổng tử, cái ông được Tàu tôn là vạn thế sư biểu đã phải la làng: hậu sinh khả uý, phải tìm đường khác mà đi. Thành nhỏ vẫn là thành, người học thuật khoa học cần nhìn nhận những trở ngại nhỏ nhặt nhất để tìm cách giải quyết.

Khác với học phiệt, học thuật khoa học là học thuật dân chủ. Xã hội tiến bộ là nhờ sự thay đổi cách nghĩ dẫn tới đổi cách làm. Tiến bộ xã hội không hề nhờ giữ chặt cái cũ. Nhất là khi các vị được trang bị duy vật biện chứng các vị đã thuộc làu: chân lý chỉ mang tính cụ thể, không có chân lý bất biến, không có lời dạy của ai muôn năm. Lạ thay, quá nhiều người luôn rao giảng điều đó lại làm trái với lời mình nói!

Học thuật khoa học cần giữ thái độ dũng cảm bảo vệ quan điểm của mình song song với bình tĩnh lắng nghe để đi tới chấp nhận ta hay người ai hợp lý hơn.

Thái độ trong học thuật khoa học không như học phiệt, phân ra tay dọc tay ngang. Học thuật khoa học tính dân chủ đã bao hàm tính bình đẳng, cho phép lập thuyết, suy diễn, tranh luận, miễn là trước hết phải có căn cứ, thứ đến là lập luận logic. Thực tế xuất phát không có căn cứ chả ai nghe. Cho nên điều sơ đẳng ai cũng nêu căn cứ để xuất phát tìm hiểu vấn đề.

Quan trọng là chỗ lập luận. Cùng một hiện tượng hai người có thể nhìn nhận bản chất khác nhau. Hiện tượng là chỉ là một, nhưng công chúa hay phù thủy là từ góc nhìn và một trong hai người đã chọn nhầm góc nhìn. Do đó quá trình lập luận còn tuỳ thuộc góc nhìn. Trong lập luận nếu chọn tiền đề là một tiên đề thì mọi lập luận không còn ý nghĩa. (Tiên đề là cái không thể chứng minh.) Bởi vì kết đề đã được quy định trong tiên đề rồi. Nhiều người mặc nhiên áp đặt cho mình một tiên đề, rồi dẫn chứng lẩn quẩn trong tiên đề đó, họ không biết rằng kết luận đã được họ quy định sẵn rồi. Một ví dụ: Người học thuật mà mở đầu cho rằng “Ai cũng biết Nguyễn Du viết truyện Kiều dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bên Trung Hoa” là đã tự chọn tiên đề “ai cũng biết” là một chân lý. Thanh Tâm Tài Nhân là một nhân vật không thể chứng minh. Thì sau đó bất cứ ai có cái nhìn khác thì vội cười người khác có ý tưởng điên rồ. Họ dựa vào chút bằng cấp nhiều khi được xã hội thừa nhận ở lĩnh vực học thuật khác, buộc mình và người khác phải tin vào tiên đề mình chọn. Cho nên học thuật khoa học cho phép lập thuyết khi thấy hiện tượng chứ không cho phép chọn tiên đề.

Tinh thần học thuật khoa học còn ở chỗ chưa thông thì hỏi tiếp. Truy cho đến tận cùng. Đừng vội nghĩ cái họ chưa thông là do dốt, mà đôi khi họ sáng suốt hơn mình, gài bẫy cho mình sập hầm trong đống mâu thuẫn của mình.

Trong tranh luận những vấn đề xã hội cho phép mĩa mai, châm biếm quan điểm ai đó một cách bình đẳng chứ không hề nhằm vào con người đứng trên quan điểm đó. Đó mới là tinh thần thượng tôn học thuật, như tinh thần giữa hai võ sĩ lên đài, họ tận dụng mọi sơ hở của đối thủ để tấn công. Nhưng trước khi bước xuống bục bởi ngã ngũ kẻ thắng người thua, họ ôm hôn nhau.
Vài điều trình bày trên là suy nghĩ của người mà giáo sư đã gọi là học thuật tay ngang.

Không hiểu giáo sư nghĩ sao lại viết hai bài liền nói trên. Giáo sư chê bai cười ngạo tôi nhiều chuyện, tôi không quan tâm nhưng vu khống tôi đã nói giáo sư giả mạo tài liệu là sai sự thật. Tôi có thấy tài liệu của ông đâu mà điên khùng nói ông giả mạo? Tôi nói rằng tài liệu ông công bố 85 triệu dân Việt chẳng ai có điều kiện đi Nhật thẩm tra. Ông xem như chắc ăn. (ngầm nói ông chủ quan rằng không có ý kiến trái chiều). Mà ông chủ quan thật, vì chính ông nói ông có sách của Benoit mà ông không đọc. Phải chăng có tật giật mình mà phản ứng? Hay là giáo sư đánh giá một luận văn tiến sĩ Harvard chẳng là cái đinh gì so với trình độ của một tiến sĩ Việt Nam.?

Tôi có khen ông Benoit với tính tự trọng, liêm sĩ của người cầm bút khi viết luận văn đã chịu khó thẩm tra, dù đó là việc của một nước nhược tiểu. Phải khen ông Bemoit vì ông ấy là người nước ngoài lại vì yêu thơ Kiều của Việt Nam mà phải cố công. Mặc dù quan điểm của Benoit có chỗ căn bản tôi không đồng thuận.
Ông giáo sư tự suy diễn là tôi ám chỉ ông uốn cong ngòi bút, bẻ lái học thuật chứ tôi chỉ nói : nếu ông không đính chính hoặc phản biện thì người khác trong đó có tôi, có thể nghĩ như vậy.

Tôi có nói bên nào đúng đâu?, tôi viết cả 2 chữ “Rất mong” Tiến sĩ Đoàn Lê Giang đính chính hoặc phản biện cơ mà!? Đính chính nếu ông sai, phản biện nếu ông đúng. Đó mới là tinh thần học thuật khoa học. Thôi thì tôi tay ngang, viết ông hiểu không ra, cũng chẳng sao. Nên tôi phải 3 lần lặp lại câu hỏi. Ngoài chuyện ruồi bu kể trên, ông dùng bài của tiến sĩ Nguyễn Nam để trả lời, làm như bài đó tôi chưa từng đọc. Chắc như ông nói, mới dạo mạng copy dán lên, nên chưa đọc kỹ. Vì ông không thấy trong đó tiến sĩ Nguyễn Nam đã nhấn mạnh : “Từ sự kiện lịch sử ở Trung Hoa đến kiệt tác văn chương ở Việt Nam” bảo vệ thành công tại Đại học Harvard từ năm 1981của Charles Benoit vẫn là công trình nghiên cứu tường tận nhất về cội nguồn văn-sử liệu của Kim Vân Kiều truyện cũng như của Truyện Kiều (Benoit 1981). Tôi nghĩ rằng vì trong cuốn này có điểm chống lại giáo sư ĐLG, về Kim Vân Kiều ở Nhật nên ông không đề cập. Việc ông ĐLG trưng bằng chứng bổ sung chưa đủ thuyết phục. (điều này sẽ đề cập riêng ở bài tiếp theo vì bài này quá dài)

Giáo sư khoe mình học bài bản, giỏi Hán Nôm nhưng hình như quên câu tiên lễ hậu văn trong giao tiếp. Quên câu tinh thần học thuật: Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư. Mà quan trọng nhất là tinh thần khoa học nói có chứng cứ. Ngay trong bài viết của tôi nói về ông mà ông còn dẫn trật, vu khống thì đã làm giảm lòng tin rồi. Trong bài viết của ông tôi thắc mắc một nơi ông dẫn chứng một ngã. Nhưng không sao, nếu giáo sư có thiện chí thì xem bài viết tiếp theo.

Nhưng tôi cũng không quan tâm lắm ba cái chuyện tự cao, tự đại đó. Những người tin và học trò bênh thầy tiếp tục thọt lét tôi là lẽ thường. Quả thật tôi cũng có cười nhưng không phải vì nhột. Đời ai chẳng đôi lần bị xúc phạm, hiểu lầm. Nhưng bên cạnh đó cũng nhiều người ủng hộ là vui. Họ có quen biết gì tôi mà ủng hộ tôi. Họ ủng hộ quan điểm thông tin đa chiều đấy thôi. Đó chính là tinh thần của học thuật.

Với lại tôi thấy lời bình luận của nhà nghiên cứu đứng tuổi và có tên tuổi, anh Lại Nguyên Ân. Anh em tôi khi nói về anh thường đùa cái đầu ông này là một kho sách. Chúng tôi luôn kính trọng dù đôi chỗ không đồng thuận, có tranh luận. Đó là tinh thần học thuật. Tôi nghĩ những lời của anh là đủ dạy cho ai đó cần tỉnh táo, tôi không nên can dự vào thêm. Anh Lại Nguyên Ân góp ý như sau:
“Tôi nghĩ nói nhà nghiên cứu tay ngang - dễ xúc phạm những nỗ lực can dự và phản biện các kết quả ng.cứu chuyên nghiệp của người không chuyên. Vấn đề là các nghi vấn kia có lý đến mức nào, và giới chuyên nghiệp phải hóa giải các nghi vấn ấy, chứ chỉ kết người ta là tay ngang thôi, thì lại là học phiệt rồi! Đặt ra phân biệt tay ngang là lối đặt barier lập độc quyền tiếp cận các vấn đề học thuật, và gián tiếp sẽ tạo cớ cho những ai có mấy chữ Ts. Gs. PGs. tự mặc định mình là tay dọc, là chuyên nghiệp. Đặt tay ngang là tôn xưng, tôn vinh các nghiên cứu quan phương, xem thường xem khinh mọi nỗ lực tiếp cận can dự học thuật từ các phía khác. Nên nhớ, các sự thật học thuật, theo dòng thời gian, cũng ở tình trạng đứt nối, lầm lạc, không bao giờ được chế tạo chỉ một lần là sẽ nguyên vẹn ngàn năm !”

Đã vậy, dù có góp ý của vài bạn đọc và anh Lại Nguyên Ân. Đoàn Lê Giang viết bài tiếp, phân tích thế nào là học thuật tay ngang để khỏi mất lòng các nhà nghiên cứu đàn anh. Đại để chỉ chú trọng vào những người mục hạ vô nhân thôi! Tất nhiên hiểu ngược lại người được khẳng định cao nhân phải là chính giáo sư.

Nhưng thôi, nói thế cũng quá nhiều, lẩm cẩm rồi. Bạn nào tò mò muốn đối chứng thì cứ vào trang fb Đoàn Lê Giang cũng như trang Li Li Nghệ ngày 4/9/19 đọc thêm sẽ thấy văn hoá đối đáp của tôi và giáo sư cho khách quan. Riêng tôi luôn nhủ lòng: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

      
Quyển sách DIỄN TIẾN CÂU CHUYỆN VƯƠNG THÚY KIỀU
TỪ SỰ KIỆN LỊCH SỬ TRUNG HOA ĐẾN KIỆT TÁC VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM
(Của Charles BenoitNguyễn Nam, Trần Hải Yến, Nguyễn Đào Nguyên, Mai Thu Huyền dịch)  

Điều tôi quan tâm là việc chung, là vấn đề bảo vệ văn hoá dân tộc. Qua cách trả lời và cách viết, mặc dù trước đây tôi đã thấy nghi ngờ khả năng hiểu về Truyện Kiều của vị học thuật tay dọc này rất lớt phớt. Bởi vì ông chẳng có mấy bài về Kiều. Trong khi cuốn luận văn 400 trang của Benoit được tiến sĩ Nguyễn Nam đánh giá là tác phẩm nghiên cứu về nguồn gốc truyện Kiều giá trị nhất. Giáo sư có mà không thèm đọc. Chắc ông xem đó cũng chỉ là học thuật tay ngang.
Các công trình ngoài truyện Kiều tôi không bàn. Ai cũng là chuyên gia lĩnh vực nào đó, lại là tay ngang một lĩnh vực nào đó. Giáo sư nên nhìn lại ông có riêng mấy đầu sách bàn về Kiều? Tôi chỉ thấy ông có chủ biên một cuốn sách: Đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hoá Nguyễn Du. Cuốn sách với 78 tác giả, 1000 trang, có trang ông viết chung với Huỳnh Như Phương, nên không biết ai thực chủ công. Riêng ông có bài viết 7 tờ, so sánh truyện Kiều với truyện Kim Ngư nữ, đến nay tôi thấy là đóng góp lớn nhất của ông về truyện Kiều mặc dù xuất phát và căn cứ của ông từ bài viết của một giáo sư Nhật trong thập niên 1950. Từ đó ông kết luận là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đã dịch sang tiếng Nhật từ 1763. Nhận định, đánh giá bài viết đó tôi xin dành lại phần tiếp theo bài này. Chỉ nói thêm với những nghiên cứu độ dày như trên ông tự xếp mình học thuật tay dọc về Kiều khiến tôi nghi ngờ.

Những lĩnh vực ngôn ngữ chuyên ngành của ông, ngoài lĩnh vực liên quan tới Kiều, tôi không bàn. Trên lĩnh vực Kiều, Tôi đặt cho ông một cái tên là tín đồ của chủ nghĩa Thanh Tâm Tài Nhân. Cũng như trước đây tôi từng vừa phản biện vừa công kích 2 ông giáo sư u mê: Bùi Hiển cải cách đánh vần và giáo sư sử học Phạm Hồng Tung cải cách dạy sử ở học đường. Tư duy sùng bái chủ nghĩa Thanh Tâm Tài Nhân trong quan hệ với truyện Kiều là một hình thức đội Hán như hai vị trên, là một nguy cơ cho văn hoá dân tộc.

Tại sao tôi nhấn mạnh đến hai từ kép “tín đồ”“chủ nghĩa”. Bởi vì ông Đoàn Lê Giang thừa nhận sử sách Trung quốc cũng không biết TTTN là ai, chỉ là bút danh. Nhưng ông vẫn tin bút danh đó người Tàu. Đó không phải là niềm tin tiên đề của một loại chủ nghĩa sao? Nói như nhà nghiên cứu Lại QuangNam là: mặc khải!

Phần 2: Một cách nhìn mặc khải khó chấp nhận.

Hôm nay tôi chỉ nói đến một nội dung học thuật quan trọng mà trong bài “Cái họa của học thuật tay ngang” mà Đoàn Lê Giang viết. Ông cho là tôi đưa ra một luận điểm “động trời” rằng:
1. Nguyễn Du không hề dựa vào Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu để viết Truyện Kiều.
 2. Thậm chí không có Thanh Tâm Tài Nhân nào cả, chỉ có Thanh Tâm Tài Tử là người Việt Nam diễn thơ Kiều thành Kim Vân Kiều truyện thôi!

Đúng hoàn toàn, cám ơn giáo sư. Luận điểm của tôi là như thế! Nhưng xin thưa không có gì “động trời”. Vì luận điểm đó có từ 200 năm nay. Còn luận điểm khiến giáo sư trở thành tín đồ, giáo sư chỉ mới học được từ 40-50 năm nay thôi, mà theo chúng tôi là cực kỳ sai lầm, gây hại trước mắt và lâu dài cho văn hoá dân tộc.

Bởi vì chứng cứ mà tôi thấy:

1. Nguyễn Du đã nói về nguồn gốc Truyện Kiều rồi. Mộng Liên Đường cũng đã nói rồi. Phạm Quý Thích cũng đã đồng ý như thế, từ lúc cuốn Đoạn Trường Tân Thanh được ông đem ra giảng cho học trò. Học giả Phạm Quỳnh từ 1919 đã chứng minh xong.
Không lẽ là một người nghiên cứu Kiều mà giáo sư không đọc :
- Nguyễn Du viết đoạn mở đầu:
Phong tình có (cổ) lục còn truyền sử xanh.
- Mộng Liên Đường viết đề từ trong bản Phường Phạm Quý Thích đem in: “truyện Thuý Kiều chép ở lục phong tình, lục phong tình cũng đã cũ rồi...”
- Phạm Quỳnh năm 1919 đã dịch truyện Vương Thuý Kiều trong lục phong tình.

Tôi tin rằng nếu sách giáo khoa in kèm Truyện Kiều với phần tham khảo bài đề từ của Mộng Liên Đường, bài dịch truyện Vương Thuý Kiều, bài thuyết trình của Phạm Quỳnh thì chẳng một em nào thắc mắc nguồn gốc Truyện Kiều nữa cả. Mặt khác khi so sánh giữa truyện Vương Thuý Kiều của Dư Hoài và tập thơ Kiều 3254 câu của Nguyễn Du các em tự thấy tự hào dân tộc, tự thấy thiên tài sáng tạo của Nguyễn Du. Không như ngày nay các em ngơ ngác thế giới ca ngợi thơ lục bát mà chỉ người Việt thẩm thấu ư?

Ngày nay, ta xem xét lại các bản cổ văn còn lưu, đó là căn cứ là bằng chứng. Cần phải như một phiên toà, trọng chứng chứ không trọng cung. Xét nguồn gốc ĐTTT tức truyện Kiều hoàn toàn đủ: lời khai của tác giả trong truyện Kiều, nhân chứng Phạm Quý Thích và Mộng Liên Đường, vật chứng Phạm Quỳnh đưa ra đầu tiên và đủ. Tôi, người tay ngang phục lăn Phạm Quỳnh. Chẳng những ông có óc điều tra logic mà còn tiên tri rằng thế giới sẽ cấp sở hữu trí tuệ cho Nguyễn Du, và chứng nhận non sông đất nước này đã trước bạ cho truyện Kiều. Ông còn tiên đoán rằng di sản này có khả năng phục quốc tại thời điểm còn nô lệ, cũng khả năng bị cướp mất trong tương lai. (tham khảo bài diễn thuyết Phạm Quỳnh 1924). Chúng ta nên vui mừng mới phải, sao lại xem đó là chuyện ngược ngạo động trời!?

Cái động trời mà tay ngang này nghe và đọc là trường phái của giáo sư không tin vào lời tiền nhân Việt, có khác gì tiền nhân nói láo! Xét hoàn cảnh cụ thể, ở đây không có chuyện nói đúng và nói sai. Chỉ có nói thật và nói láo thôi. Các vị hàm hồ vô lễ với tiền nhân là chỗ ấy. Xem lại các vị đó có phải là “mục hạ vô nhân” chăng? Rất mong quý vị đó suy nghĩ lại.

Đừng nói cho xa xôi: các vị muốn bác bỏ chúng tôi theo nhận định của Phạm Quỳnh, các vị phải khẳng định 3 điều cho logic trước khi các vị đi tìm một nguồn gốc mới:
- Nguyễn Du không hề nói có phong tình lục
- Mộng liên đường không hề nhắc tới phong tình lục.
- Không hề có truyện Vương Thuý Kiều trong Phong tình lục.

Đồng thời các vị có quyền bào chữa cho cái tội hỗn rằng: Nguyễn Du nói chưa rõ, các vị hiểu khác, quý vị phải chứng minh Mộng Liên Đường và Phạm Quý Thích ngu ngơ hiểu cái chữ lục phong tình sai rồi. Điều này thú thật tôi chưa thấy các vị nêu lên. Hay là các vị chưa từng đọc!
Nếu các vị giả định như tôi nêu ở trên các vị cần phải chứng minh 2 điều:

- Có những cuốn tương tự kết cấu và nội dung đi sát cốt truyện của thơ Kiều như A953 tại Việt Nam. Những cuốn đó xuất hiện trước khi Nguyễn Du qua đời. Xin các vị trưng ra cuốn đó. (để bảo đảm rằng Nguyễn Du đã từng đọc cuốn tương tự A953 nên dịch chứ không phải sáng tác. Nếu không thì các vị buộc phải tin rằng cuốn A953 là bình giảng thơ Kiều vì nó chỉ xuất hiện từ 1884, sau khi Nguyễn Du qua đời 64 năm)

- Vị nào cho rằng A953 là truyền bản của cuốn Kim Vân Kiều truyện tác giả Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu, các vị hãy trưng cuốn bên Tàu có bằng chứng niên đại trước 1884. Đồng thời các vị phải chứng minh quốc tịch người Hoa của Thanh Tâm Tài Nhân. (để bảo đảm rằng không phải cuốn sách người Việt lọt sang bên Tàu). Các vị phải trưng ra chứ không phải dẫn lời từ sách nọ sách kia. Vì sách cũ nhất của Tàu nói đến dù có nhắc 100 lần đều mới biên soạn từ 1926, sau khi Nguyễn Duy Ngung dịch cuốn A953 năm 1925.

                            Thanh Tâm Tài Tử

- Tôi nghe giáo sư nói: Thanh Tâm Tài Nhân còn gọi là Thanh Tâm Tài Tử. Nghĩa là nhân thay tử đều được. Tôi thấy hơi tức cười, vì nếu thay được từ nay học sinh có viết Khổng Phu Tử thành Khổng Phu Nhân, từ một người đàn ông biến thành đàn bà, giáo sư đừng trách.
Điều mà “học giả tự xưng là tay dọc” thì tay phải đủ dài để sờ từ đầu Đoạn Trường Tân Thanh đến thọc tận đáy của Kim Vân Kiều truyện, nhằm móc ra chứng cứ : Đây ! Mẹ đẻ của truyện Kiều đây!
Còn người tay ngang chỉ cần rút từ túi áo ngang quả tim đưa ra 5 chứng cứ là đủ.

Ngoài 3 chứng cứ về nguồn gốc Truyện Kiều nêu trên, đây là 2 chứng cứ về sự ra đời và có mặt cuốn bình giảng truyện Kiều của Thanh Tâm tài tử:
- Minh Mạng 1830 có tổng thuyết : Thanh Tâm Tài Tử cổ kim minh lương đề tập biên. (VN V 240)
- Cuốn Kim Vân Kiều truyện của Việt Nam 1884 ghi tên Thanh Tâm Tài Tử (A953)
Giáo sư vui lòng chỉ giáo đây có là bằng chứng để xem xét không? Nếu không, thì bắt đầu từ bằng chứng bằng chứng phong phú nào xa hơn nữa? Giáo sư có thể trưng bằng chứng Kim Vân Kiều Án của Nguyễn Văn Thắng năm 1830 và tổng thuyết của Tự Đức, chúng tôi cũng sẽ có bài : Hoá giải nọc độc của Kim Vân Kiều Án và tổng thuyết Tự Đức 1871 sau. Những vấn đề phát triển Kim Vân Kiều truyện ở nước ngoài gồm công trình của nhiều tác giả, kể cả những hạn chế của Benoit chúng tôi lần lượt đề cập sau. Chúng tôi có thể chưa đầy đủ nhưng không hề phiến diện như giáo sư khuyên đừng nên giữ “huyền thoại” Thanh Tâm Tài Tử. Lược hết các tác phẩm gán cho Thanh Tâm Tài Nhân thì ông này ít nhất thọ 132 tuổi. Còn xem tên Thanh Tâm tài tử thì sống không tới 64 tuổi. Chính Thanh Tâm Tài Nhân mới là bút danh “huyền thoại”. Chúng tôi đã khẳng định ngay từ đầu chìa khoá để mở lại hồ sơ: “Đại án đạo văn” chính là hai chữ TửNhân.

                   Thanh Tâm Tài Tử

Kẻ tay ngang này không biết đọc chữ Hán xin hỏi các vị tay dọc có cuốn sách nào của Tầu nói Thanh Tâm Tài Nhân: “còn gọi là Thanh Tâm Tài Tử” như giáo sư ĐLG nói, trước 1820 quá tuyệt! hoặc cho dễ hơn trước 1884 chưa? Xin vui lòng trưng ra. Trong khi bản A953 ghi chữ Thanh Tâm tài tử.

Hiện nay kẻ tay ngang này chỉ thấy quý vị gán Thanh Tâm Tài Tử là Thanh Tâm Tài Nhân. Đoàn Lê Giang cho rằng Minh Mạng tổng thuyết là tổng thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu chứ không phải tổng kết việc biên soạn Truyện Kiều. Thử hỏi mục đích tổ chức là gì? Minh Mạng là ông vua chăm lo việc nước mà huy động các quan bình phẩm một cuốn truyện mà thời điểm đó người Tàu không hề biết, xem có hài hước không? Có lần nào các vua tổ chức bình phẩm một tác phẩm nổi tiếng của Tàu ví dụ: Tam quốc Chí, Hồng Lâu Mộng chưa?

Tiếp đến chỉ cho ra trong: Thanh Tâm tài tử cổ kim lương minh đề tập biên thượng tập có chữ : Kim Vân Kiều truyện và Thanh Tâm Tài Nhân! Trong khi chúng tôi cho rằng nội dung bản tổng thuyết Minh Mạng là tổng kết đợt bình giảng thơ Kiều và chỉ thị biên soạn tiếp. Từ đó hoàn chỉnh cuốn Kim Vân Kiều truyện có tên đúng là Thanh Tâm Tài tử. Văn bản của vua và tiểu thuyết ta đều đọc được nội dung, còn các cuốn mà các vị dẫn các vị đã đọc nội dung chưa? Hay chỉ biết Tàu nói thì ta tin.

Xét về logic hình thức, trước mắt các vị không áp dụng một phép suy luận nào cả. Trước hết các vị ám ảnh đã là cuốn viết bằng chữ Hán là sách Tàu, quên rằng 100 năm sau Nguyễn Du quy tiên Đại Nam mới chấm dứt dùng chữ Hán.
Tiếp đến các vị tự xoá mâu thuẫn khi áp đặt niềm tin “không còn tranh cãi”, “ai cũng thừa nhận” vào một ông thánh Thanh Tâm Tài Nhân vô hình đã viết cuốn tiểu thuyết mà chính tiền bối và cả quý vị chê là dỡ ẹc. May mà các vị không được phép ngồi xử án tranh chấp tài sản. Nếu các vị khẳng định đó là tiên đề, là mặc khải, cho chúng tôi đầu óc trần thế tay ngang sao mà hiểu được, thì tay ngang này rút lui cuộc tranh luận với quý vị.

Bài quá dài, chúng tôi dành riêng một bài cho chủ đề: đằng sau việc giành cho được Kim Vân Kiều truyện là của Tàu là điều gì, đến nỗi Đồng Văn Thành phát biểu: khi nghe tìm ra cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở Thư Viện Đại Liên tôi vui mừng đến nghẹn lời! Mừng còn hơn cha chết rồi sống lại! Các vị có đặt ra nghi vấn hắn đã hoàn thành nhiệm vụ phá hoại văn hoá được giao không? Có bao giờ quý vị nghi vấn cuốn mà Lý Chí Trung tìm ra là trau chuốt lại cuốn A953 không? Việc này sẽ đòi hỏi thêm thời gian và công sức mới sáng tỏ. Nhưng có dấu hiệu và trước mắt không nên tiếp tay hợp thức hoá.

Ở đây chỉ xét rằng năm 1981 Tàu mới công bố tìm ra được cuốn Kim Vân Kiều truyện hệt nội dung cuốn A953 mà năm 1926 lại ghi vào sách Văn học sử của họ rồi. Đó là căn cứ để tìm hiểu. Các vị không thấy đó là làm giấy khai sinh trước rồi 64 năm sau mới đẻ không? Giáo sư lại viện dẫn sách Từ Điển Văn học mới soạn của Tàu ghi là tin. Tay ngang đòi là sách của nhà Thanh ghi rõ Thanh Tâm Tài Nhân viết Kim Vân Kiều truyện kìa. Có điều này các vị nên tin: vài năm tới Tàu sẽ cho ra một nguồn cổ thư nào đó, niên hiệu đầu Thanh có ghi nội dung trên thậm chí còn chứng minh được Thanh Tâm đẻ ở đâu, hoàn cảnh nào mà viết Kim Vân Kiều truyện, các vị ráng qua đó mà xác minh. Chứ cho đến năm 1925, chẳng ai nghe, chẳng ai thấy nói ở Tàu có cuốn KVKT nào! Lỗ Tấn cũng chẳng đề cập.

Riêng xét tại Việt Nam cho đến thời điểm này, Tại sao giữa 2 tác phẩm thơ và văn xuôi giống nhau đến từng tình tiết, giáo sư buộc người khác phải hiểu từ văn xuôi diễn thơ mà không cho phép hiểu ngược lại. Xin hỏi từ lúc đi học đến lên hàng giáo sư có khi nào nhà trường bắt giáo sư phải dịch một truyện ngắn ra thơ chưa? Hay là chỉ thấy đề là một bài thơ đưa ra phải giảng nghĩa thế nào cho hiểu câu thơ, hiểu tâm lý nhân vật hoặc tác giả, dài dòng thêm thắt cả vài trang giấy mà thường là sai và dỡ hơn nguyên bản.? Giữa truyện Kiều và A953 tương tự, cũng là cơ sở để suy luận. Sắp tới chúng tôi sẽ chứng minh Kim Vân Kiều truyện đã chôm thơ Nguyễn Du như thế nào, tương tự ta trích một câu thơ tiếp ý thay vì phải diễn một đoạn văn. Kim Vân Kiều truyện đã lấy lời và ý từ sách nào ở Việt Nam để dẫn truyện. Ví dụ mở đầu hồi một, lấy ý và lời mở đầu truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự mà làm lời dẫn.

     
             A953, trang đầu hồi 8 bản Lý Chí Trung 1981

Sao chưa ai đặt vấn đề: Truyện Kiều nổi tiếng ở Việt Nam đã lan tỏa ra các nước dùng chữ Hán từ 1820, người ta cũng phóng tác theo. Các nhà truyền giáo đọc được chữ Nôm thì đôi học giả nước khác cũng có thể biết chữ nôm đọc Kiều vậy. Cũng có thể người ta cũng có truyền bản A953 bằng Hán văn để khi đọc dễ hiểu.
Ví dụ Kim Ngư nữ tại Nhật xuất bản 1829. Sau Nguyễn Du mất 9 năm, đoạn đầu cho đến khi gặp Từ Hải khá giống nhau, chứ không hoàn toàn giống, nhưng sau đó có khác nhiều hơn trước. Trước Kim ngư truyệnThông tục Kim Kiều truyện nguồn gốc không rõ ràng. Nội dung chưa được biết. Hai bản cách nhau 60 năm. Lại có tác giả nghi ngờ thời điểm phát hành.

Hoặc thậm chí ở Trung Hoa, trong đó có Quảng Tây thời đó có một huyện thuộc Việt Nam, sau Pháp cắt giao cho nhà Thanh. Chữ Nôm và Hán ắt có người cùng đọc được. Truyện Kim Trọng- A Kiều xuất hiện ở vùng này, kể cả truyền miệng trong dân tộc Kinh vùng này. Cho nên tất cả đến nay còn mơ hồ. Thế mà 40-50 năm trước đã có người cho là chân lý thì khó mà nghe được.

Cuốn A953 và trên 300 tác giả khác, trong 100 năm đã sáng tác đủ các thể loại, thơ, phú, hát, chèo, đóng phim… kể cả vài cuốn truyện văn xuôi đều cùng một mục đích bình giảng Kiều như A953. Nhưng ở Tàu 500 năm, chỉ có chưa quá 30 tiểu phẩm quanh chuyện bà Vương Thuý Kiều chính sử. Một nỗ lực truy tìm nguồn gốc từ 1957 đến nay cũng chỉ vậy, nhưng không có cuốn nào phù hợp hoàn toàn với cốt truyện Kiều. Trừ cuốn mà Lý Chí Trung công bố, giống hệt cuốn A953 đến 99%. Kết luận đó là cuốn F2, thậm chí là F3, tức là truyền bản của A953.

Phần 3: Học thuật là lĩnh vực vô tận. Động cơ của chúng tôi.

Hiện nay, giáo sư ĐLG và nhiều người có trọng trách giảng dạy văn hoá, văn học sử, Việt Nam học ...chỉ có niềm tin, không có chứng cứ tồn tại nhân thân Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu, chính giáo sư đã khai Tàu cũng chẳng biết Thanh Tâm Tài Nhân là ai? Vậy niềm tin đó vững chắc tới đâu mà các vị đem vào giảng dạy và khẳng định trên học đường? Lẽ ra những gì còn mơ hồ các vị phải đứng về phía dân tộc. Từ 1957 người Hoa biến không thành có, biến dỡ thành hay. Họ ra quân ào ạt, còn chúng ta tách rời văn học với lịch sử - chính trị.

Nghe trình bày trên, có người sẽ cười mĩa hoặc còm mĩa: Tay ngang này là người theo chủ nghĩa yêu nước cực đoan! Hơi đâu mà nghe làm nhiễu học thuật hàng dọc.

Xin thưa, chúng tôi không làm nhiễu học thuật mà khẳng định đang lật ngược vấn đề độc quyền học thuật của các vị. Các vị cứ tiếp tục mĩa mai nếu thấy các vị có lý, cũng như chúng tôi đang mĩa mai ai đó. Chúng tôi đã hình dung trước và chấp nhận đó là lẽ thường. Các vị thông cảm hợp tác thì còn gì quý bằng.

Chúng tôi nhận thức học thuật không tự một ai dựng lên nổi mà từ sự đóng góp liên tục của xã hội. Chúng tôi không phải là người đầu tiên, chỉ góp phần khơi mào việc lật ngược, sẽ tiếp tục và tin tưởng sẽ có người hỗ trợ, nếu thế hệ này chưa kịp thành, sẽ có lớp hậu sinh kế tục để làm sáng tỏ sự thật và dập tắt âm mưu xâm lược văn hoá. Đó là lý do vì sao chúng tôi chống lại việc khôi phục dạy chữ Hán cho học sinh. Đồng thời chúng tôi góp chút tài hèn sức mọn, quét mọi mầm độc văn hoá dù vô tình hay cố ý. Có đụng chạm ai nếu không thông cảm, phản ứng thì đâu có gì lạ?

Mục tiêu đầu tiên là góp phần đấu tranh loại cái tên Thanh Tâm Tài Nhân ra khỏi sách giáo khoa học sinh Việt Nam.

Trên mặt trận bảo vệ văn hoá chúng tôi xem nó quan trọng còn hơn bảo vệ lãnh thổ. Nước ta đã mất lãnh thổ 1000 năm, còn giành được một phần. Mất văn hoá là mất tất cả và mất vĩnh viễn.

(còn tiếp)
                                                                         Lê Nghị

READ MORE - MỘT CÁCH NHÌN VỀ HỌC THUẬT CỦA MỘT "TÍN ĐỒ THANH TÂM TÀI NHÂN CHỦ NGHĨA" (Bài 1) – Lê Nghị

SỢ ĐÊM... - Trần Mai Ngân





SỢ ĐÊM... 

Em sợ đêm về...
Sợ nghe tiếng uềnh oang của chú Ễnh Ương
Tiếng kêu hay tiếng khóc tình vương
Em sợ... sợ mình còn thương!

Em sợ đêm về
Cánh cửa sổ nơi phòng ngủ mở toang
Em tìm vầng mây... mây vô tình bay
Vuốt mái tóc còn xanh - đây mộng cũ...

Em sợ đêm về
Không có nắng hoa Tường Vi ủ rũ
Màu nhạt nhoà trong ánh sáng của trăng
Em sợ tro tàn nguội lạnh vắng tanh...

Ôi! Đêm loanh quanh, loanh quanh quá
Chú Ễnh Ương ru ngủ
Một điệu buồn
Nhắc tình xanh đã qua nhanh, qua nhanh...
... Phải rồi
Cuộc đời vốn mong manh!

                                     Trần Mai Ngân

READ MORE - SỢ ĐÊM... - Trần Mai Ngân