Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, October 27, 2018

NHẠC CÁCH MẠNG 1946-1954 - Lê Thiên Minh Khoa


NHẠC CÁCH MẠNG 1946-1954             
                                                          LÊ THIÊN MINH KHOA

  1. C:\Users\TTC\Pictures\CA KHÚC (In) copy (1).jpg


Phác thảo bìa cuốn sách “9 thập kỷ ca khúc tân nhạc Việt Nam”- Lê Thiên Minh Khoa.

    Từ tháng 9.1945, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công đến cuối năm 1946, khi Pháp đã đổ quân vào Nam bộ, Lưu Hữu Phước và nhóm Hoàng Mai Lưu vẫn tiếp tục sáng tác nhiều ca khúc yêu nước và cách mạng: Đoàn quân du kích (Bài hát của quân du kích Nam bộ - 23.9.1945), Đoàn quân địch vận (1945 - lời: Phòng địch vận khu X), Đoàn quân ma (1945), Bóng người núi Lam (1946), Vượt trùng dương (1946), Lục quân Trần Quốc Tuấn (1945), Hướng đạo cứu quốc Việt Nam (Hướng đạo hành khúc- 1946)… Hướng đạo cứu quốc Việt Nam sau này trở thành Hội ca chính thức, hát trong nghi lễ của Hội Hướng đạo VN.

    Image result for nguyá»…n văn thương nhạc sÄ©


          Trong thời điểm này, những nhạc sĩ thuộc nhiều dòng nhạc khác nhau đã tuôn về một dòng sông âm nhạc chung và viết lên những ca khúc giá trị: Hoàng Quý với Tiếng gọi non sông (10.1945); Việt Lang với Chiều Yên Thế (10.1945); Lê Yên với Kỵ binh hành khúc (Ngựa phi đường xa - 1945); Nguyễn Xuân Khoát với Tiếng chuông nhà thờ (1946); Phan Huỳnh Điểu với Giải phóng quân (1945 - sau đổi tên thành Đoàn vệ quốc quân), Mùa đông binh sĩ (1946), Những người đã chết (1946 - thơ Tế Hanh) và Tạ Thanh Sơn với Nam bộ kháng chiến (1946) trở thành nhạc hiệu của Đài phát thanh Nam Bộ. Đáng ghi nhận là Văn Cao với một loạt ca khúc cách mạng viết chỉ trong năm 1945: Bắc Sơn, Chiến sĩ Việt Nam, Bài ca chiến sĩ hải quân, Không quân Việt Nam… Và Đỗ Nhuận cũng với một loạt ca  khúc đỏ viết trong hai năm 1945 - 1946: Bé yêu Bác Hồ, Ngày Quốc hội, Tiếng súng Nam Bộ, Đường trường vô Nam, Đoàn lữ nhạc (1946). Hầu hết ca khúc cách mạng viết trong hai năm đầu Cách mạng Tháng Tám thành công, 1945 và 1946 có giai điệu: nhịp đi, nhanh, hùng, mạnh.

     Image result for Nguyá»…n Đình Thi
NS Nguyễn Đình Thi

         Sang năm 1947-1948, sau ngày “Toàn quốc kháng chiến", 19.12.1946, khi chiến sự bùng nổ khắp ba miền, các nhạc sĩ bước vào “trường kỳ kháng chiến” với những bài ca xung trận. Năm 1947, Nguyễn Đình Thi với Người Hà Nội; Lương Ngọc Trác với Mơ đời chiến sĩ, Lô giang Lời thề quyết tử; Việt Lang với Những hình bóng qua; Văn Cao viết Làng  tôi và bản trường ca đầu tiên của tân nhạc Việt: Trường ca Sông Lô, Nguyễn Đình Phúc với Chiến sĩ sông Lô và trường ca thứ hai của tân nhạc Việt: Bình ca, v.v…           
       Đến năm 1948, Văn Cao với Ngày mùa; Đỗ Nhuận với Áo mùa đông; Lương Ngọc Trác với Trường chinh ca (lời Lê Minh); Huy Du với Sẽ về thủ đô; Bùi Công Kỳ với Ba Đình nắng (lời Vũ Hoàng Định); Nguyễn Văn Thương với trường ca Bình Trị Thiên khói lửa; Lưu Hữu Phước với ca khúc hợp xướng Ngọn cờ dân chủ, Việt Lang với 5 ca khúc giá trị trong một năm: Đoàn quân đi, Bài ca Quốc tế lao động, Mùa không biên giới, Thu trên sông, Đàn xuânHơi trái với giai điệu của hai năm trước đó (1945 và 1946), hầu hết ca khúc đỏ viết trong hai năm này thường có giai điệu: chậm vừa, thong thả, nhẹ nhàng, tình cảm, có khi dịu dàng, tha thiết… với ca từ là ngôn ngữ trong sáng, giản dị mà điêu luyện, giàu hình tượng văn chương mang nội dung trữ tình, lãng mạn hơn, như dòng nhạc tiền chiến, mà sau này các nhà nghiên cứu gọi là lãng mạn cách mạng. Một trong những cách giải thích cho sự khác biệt nầy là trong hai năm sau, các nhạc sĩ đã “điềm tĩnh” bước vào “trường kỳ kháng chiến”, vẫn nhiệt tình yêu nước nhưng đã qua rồi cái tâm trạng hồ hởi, sôi nổi, nhiệt huyết “bốc” lên như hai năm đầu vừa mới được tận hưởng không khí tự do, được sống trong  một đất nước độc lập, dân chủ.

    https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEh2txImLXTIjqstM2xMWmH3z-895p0lrmHuUNEL23M6XMo9F5fqLqDX2ayTCSuJ56DhYyH3w_PXmKfTsBy-wFxfFFVRWEtwAkHvVGpQja7VLIGKFolMkb-ud7Px1y8__tYPBMz1AGRVqfcB/s320/nhacsi+LATHANG+va+nhac+si+HO+BACHUY+THUCv.jpg
    NS La Thăng và NS Hồ Bắc     

       Xu hướng nhạc cách mạng đã hình thành từ 1930 với Cùng nhau đi hồng binh của Đình Nhu và thành cao trào từ 1941-1945. Nhưng phải đến khi xảy ra cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954), cùng với những nhạc sĩ đã viết ca khúc “nhạc đỏ” từ trước, nhiều nhạc sĩ thuộc dòng nhạc hùng, nhạc lãng mạn đi theo kháng chiến, sáng tác những ca khúc mới thì dòng nhạc cách mạng mới thực sự định hình và phát triển thành nhiều giai đoạn sau này theo  biến chuyển của tình hình lịch sử xã hội Việt Nam. Các ca khúc “nhạc đỏ” mới có giai điệu hùng tráng và nội dung động viên, cổ vũ tinh thần yêu nước, yêu Tổ quốc, đồng bào, yêu lý tưởng cộng sản, phục vụ sự nghiệp kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, phục vụ sự  nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và từ năm 1949, do hoàn cảnh lịch sử đã tập trung cao độ vào đề tài kháng chiến chống Pháp:   

     Văn Chung - Thổi hồn quê vào nhạc - Ảnh 1.

            NS Văn Chung  


         Ở miền Bắc, Đỗ Nhuận viết Du kích sông Thao (1949), Hành quân xa (1953); Văn Cao đã sửa lời Bến xuân (viết chung lời với Phạm Duy) thành Đàn chim Việt và viết Tiến về Hà Nội (1949); Từ Phác viết Tiếng hát quay tơ (1949); Lê Yên viết Đoàn kỵ binh Việt NamTrận Đoan Hùng (1949), Bộ đội về làng (thơ Hoàng Trung Thông - 1950), Chiều hậu phươngLúa mới; Hoàng Vân viết Hò kéo pháo (1953); Tô Hải với Toàn dân kháng chiến trường kỳ, Chiến sĩ khu Ba; Hồ Bắc với Làng tôi (1949), Bên kia sông Đuống (thơ Hoàng Cầm - 1950), Gặt tay nhanh (1952),  Giữ mãi tuổi xuân (1954); Hoàng Hà với Vui lên đường (1949), Hò dân công (1952), v.v…
      Tham gia kháng chiến, Phạm Duy  viết nhiều ca khúc nổi tiếng  về  đề tài cách mạng: Chiến sĩ vô danh, Bà mẹ Gio Linh,  Xuất quân, Chinh phụ ca, Gươm tráng sĩ, Thu chiến trường, Đường về quê, Nợ xương máu, Bao giờ anh lấy được đồn Tây (sau đổi thành Quê nghèo), v.v...       

Nhạc sĩ Huy Du (trái) và nhạc sĩ Trương Quang Lục



NS Huy Du (trái) và NS Trương Quang Lục
                       
      Ở miền Trung có Lời người ra đi, Con trâu kháng chiếnBà Ba kháng chiến của Trần Hoàn; Đoàn vệ quốc quân, một đàn chim của Phan Huỳnh Điểu; Du kích Ba Tơ của Dương Minh Viên; Tự túc của Dương Minh Ninh; Đánh giặc tăng gia của Văn Cận; Ai xây chiến lũy (1949), Vượt trùng dương (1952) của Nguyễn Văn Tý; Bước chân chiến sĩ của Vân Đông; Chuyến tàu trăng, Bảo vệ hòa bình, Đố cờ, Hoa bên suối của Trương Quang Lục, v.v…                                   
      Còn ở miền Nam, một lớp nhạc sĩ trẻ hơn như Hoàng Việt với Thành đồng Tổ quốc (1949), Ai nghe chiến dịch mùa xuân (1950), Mùa lúa chín (1951), Tin tưởng (1951), Đêm mưa dầm (1951), Lên ngàn (1952), Nhạc rừng (1953);  Nguyễn Hữu Trí với Tiểu Đoàn 307 (1950 - phỏng thơ Nguyễn Bính); Trần Kiết Tường với Anh Ba Hưng; Quốc Hương với Du kích Long Phú (1949), Cô gái Vĩnh HanhĐoàn người đi tòng quânTầm Vu (viết cùng Đắc Nhẫn - 1951)… Lưu Hữu Phước và nhóm Hoàng Mai Lưu tham gia Nam bộ kháng chiến đóng góp vào những ca khúc như: Cô gái Củ Chi (1947), Bài hát Đoàn thiếu nhi nghệ thuật (1948), Thanh niên ca (1950), Em yêu chị Ray-mông (1950), Xuân Việt - Trung - Xô (1954), Ðoàn quân ma, Ca ngợi Hồ Chủ tịch, Hăng-ri Mác-tanh (Henri Martin), Cả cuộc đời về ta và ca khúc hợp xướng Đông nam Á châu (1947)..
       Cuối giai đoạn, không khí hào hùng và tinh thần lạc quan, tự hào bởi chiến thắng Điện Biên Phủ vẻ vang của nhân dân, dân tộc  đã ùa vào hàng loạt ca khúc có giá trị viết năm 1954, trước, trong và sau chiến dịch này: Trên đời Him Lam, Chiến thắng Điện Biên của Đỗ Nhuận; Quê tôi giải phóng của Văn Chung; Hát mừng anh hùng Núp,  Ngày về (thơ Chính Hữu) của Lương Ngọc Trác; Ta lớn lên (thơ Tố Hữu) của Nguyễn Xuân Khoát; Lá cờ tháng Tám của Phan Thanh Nam; Buổi sáng trên đồng nội của Trần Tất Toại; Hòa bình trên đất nước ta của Nguyễn Mạnh Thường…
      Thật thú vị khi Sẽ về thủ đô (1948) của Huy Du và Tiến về Hà Nội (1949) của Văn Cao được viết rất sớm, nhưng lại dự cảm được không khí hùng tráng, niềm vui ngút ngàn thắng lợi của năm 1954.
      Song song với  những ca khúc chiến đấu, tình cảm lãng mạn vẫn còn là nguồn cảm hứng chủ đạo trong các tình ca, như: Em đến thăm anh một chiều mưa, Tạ từ (1947), Tiếng chuông chiều thu (1948) của Tô Vũ; Lời người ra đi (1948), Tìm em, Sơn nữ ca (1950) của Trần Hoàn; Dư âm (1950), Mùa hoa nở của Nguyễn Văn Tý; Nụ cười sơn cước (1947) của Tô Hải; Ngày về (1846) của Hoàng Giác; Tình quê hương (1946), Những hình bóng qua (1947), Mùa không biên giới, Thu trên sông, Đàn xuân (1948) của Việt Lang; Tiếng hát quay tơ (1948) của Tử Phác; Ánh trăng mùa thu (1947 - ca khúc đầu tay); Tình nghệ sĩ (1947), Đường về Việt Bắc (1948),  Lá thư (1949) của Đoàn Chuẩn; Bên cầu biên giới, Khối tình Trương Chi, Cây đàn bỏ quên, Tình kỹ nữ, Chú Cuội, Tiếng đàn tôi, Đêm xuân, Tiếng bước trên đường khuya của Phạm Duy, v.v…

http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRoIF4QanMewUNiHFbI6zSmYG7lt1QF27ULN4mFedOuuROReh1wDQ

NS Trần Hoàn


      Bên cạnh đó, các nhạc sĩ đã dùng nhạc để diễn tả những bài  thơ lãng mạn của các nhà thơ: của Lưu Trọng Lư (Tiếng thu, nhạc Phạm Duy); của Nguyễn Bính (Cô lái đò, nhạc Nguyễn Đình Phúc); của Nguyễn Nhược Pháp (Ði chùa Hương, nhạc Trần Văn Khê); của Hữu Loan (Những gác chuông giáo đường, nhạc Huy Du),
       Cũng theo giọng điệu trữ tình của dòng nhạc tiền chiến nhưng với chủ để tình yêu quê hương như: Quê em miền trung du (1949) của Nguyễn Đức Toàn; Làng tôi (1947), Ngày mùa (1948), Tình ca trung du của Văn Cao; Con kênh xanh xanh (1949) của Ngô Huỳnh; Lá xanh (1951) của Hoàng Việt, Nương chiều (1947); Gánh lúa (1949) của Phạm Duy…
      Một đề tài sáng tác mới nữa của các nhạc sĩ là ca ngợi Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam mà giới nghiên cứu sau này gọi là chính ca. Đỗ Minh viết Chào mừng Đảng Lao động Việt Nam (1952); Lưu Bách Thụ viết Biết ơn cụ Hồ (9.1945); Hoàng Việt và Minh Trị viết Mong Bác Hồ vào Nam; Hoàng Hà viết Thanh niên làm theo lời Bác (1953); Lưu Hữu Phước viết Ca ngợi Hồ Chủ tịch (1948- lời Nguyễn Đình Thi); rồi cũng Ca ngợi Hồ Chủ tịch của Đỗ Nhuận. Đặc biệt, nhạc sĩ chuyên viết ca khúc thiếu nhi Phong Nhã đã viết Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng (1946) được phổ biến rất sâu rộng, v.v...
      Ca sĩ nhạc đỏ nổi tiếng thuộc thế hệ này là Trần KhánhTrần Thụ, Mai Khanh, Thương Huyền..., trong đó Nghệ sĩ Nhân dân Quốc Hương với một giọng hát giản dị, đầy nhiệt huyết mà nhiều thế hệ ca sĩ đã chịu ảnh hưởng, là một tên tuổi lớn trong nền tân nhạc cách mạng Việt Nam nhiều giai đoạn sau. Nhiều ca khúc cách mạng được ông thể hiện đầu tiên, và cũng nhiều ca khúc gắn với tên tuổi ông như: Tình ca (Hoàng Việt), Bình Trị Thiên khói lửa (Nguyễn Văn Thương), Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí)…
        (Kỳ tới: NHẠC CÁCH MẠNG 1954-1975).
                                             LÊ THIÊN MINH KHOA  
 (Trích trong cuốn  sách “9 THẬP KỶ CA KHÚC TÂN NHẠC VIỆT NAM”-  nghiên cứu, nhận định - Lê Thiên Minh Khoa -  trang169-173, sắp xuất bản, 2018).
-----------------
Nguồn ảnh: Internet và  các nhạc sĩ cung cấp.

READ MORE - NHẠC CÁCH MẠNG 1946-1954 - Lê Thiên Minh Khoa

Thursday, October 25, 2018

NHẠC VIỆT HẢI NGOẠI 1975 ĐẾN NAY - Lê Thiên Minh Khoa

NHẠC  VIỆT HẢI NGOẠI 1975 ĐẾN NAY
                                                            LÊ THIÊN MINH KHOA

  1. C:\Users\TTC\Pictures\CA KHÚC (In) copy (1).jpg


Phác thảo bìa cuốn sách “9 thập kỷ ca khúc tân nhạc Việt Nam”- Lê Thiên Minh Khoa.
       Các nhạc sĩ của Sài Gòn sau 1975 định cư tại nước ngoài vẫn tiếp tục sáng tác và cùng với những nhạc sĩ trẻ hơn đã tạo nên dòng nhạc hải ngoại với nhiều chủ đề thay đổi theo thời đoạn.        Trong những năm đầu, một chủ đề sáng tác chính của họ là hoài niệm với nỗi nhớ quê hương và Sài Gòn như: Sài Gòn ơi! Vĩnh biệt của Nam Lộc, Khi xa Sài Gòn của Lê Uyên - Phương, Đêm nhớ về Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng, Quê hương bỏ lại  của Tô Huyền Vân, Đường về quê hương của Lam Phương,...    
 C:\Users\TTC\Pictures\LTMK, NHL, phu nhân MHL, Ái vân (1).jpg
  Ca sĩ Ái Vân, vợ chồng GS-TS Nguyễn Hữu Liêm (đều định cư ở Hoa Kỳ),
vợ chồng tác giả (phải sang) tại nhà tác giả ở TP. Bà Rịa.             
     Vào thời  điểm đầu, chủ đề thân phận lưu vong cũng được nói đến trong nhiều ca khúc: Tị nạn ca của Phạm Duy, Người di tản buồn của Nam Lộc,  Ai trở về xứ Việt của Phan Văn Hưng, Một chút quà cho quê hương của Việt Dzũng... Nhiều tác giả viết về đề tài  phổ biến nữa là ngục tù, phản kháng như Phạm Duy, Trần Thiện Khải, Hoàng Nguyên Linh, Nguyệt Ánh, Nguyễn Hữu Nghĩa,  Hà Thúc SinhChâu Đình An, v.v…   
      Đến giữa  thập niên 1980, sau khi trong nước đổi mới, các nhạc sĩ hải ngoại bắt đầu bỏ các  chủ đề trên, quay lại viết nhạc trẻtình ca. Tình ca hải ngoại là sự tiếp nối vài dòng nhạc ở Miền Nam trước 1975, nhất là nhạc vàngtình khúc. Nhưng ranh giới giữa hai dòng nhạc này trong nhạc hải  ngoại không còn rõ rệt như thời kỳ trước năm 1975 ở Miền Nam.

http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQnjfO9IRApFRq3J6x9poicQBta6BMtOf-ItzT8AjpqY-2cQYY4Sg

NS Hoàng Thi Thơ và vợ - ca sĩ Thuý Nga
      Nhạc hải ngoại cũng ít nhất là ba thế hệ nhạc sĩ. Thế hệ thứ nhất là các nhạc sĩ tình khúc và nhạc vàng trước 1975 di tản ra nước ngoài. Nhạc sĩ tình khúc 1954-1975 có Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Đức Huy, Từ Công Phụng, Nguyễn Hữu Nghĩa...  Phạm Duy vẫn sáng tác mạnh theo nhiều thể loại, và cùng với con trai là Duy Cường thử nghiệm cả nhạc new age, thực hiện các băng nhạc “Minh họa truyện Kiều”. Vũ Thành An tiếp tục những Bài không tên số 11 đến Bài không tên số 50 và nhiều tình khúc khác, Đức Huy với Và tôi cũng yêu em, Khóc một dòng sông, Và con tim đã vui trở lại, Từ Công Phụng với Khi tôi đến nơi đây, Đừng nữa nhé, chia ly, Nguyễn Hữu Nghĩa với Tình ca, Ngô Thụy Miên với  nhiều sáng tác mới, trong đó Riêng một góc trời nổi tiếng viết năm 1997...


https://i1.wp.com/cothommagazine.com/nhac1/LamPhuong/LamPhuongPhamDuy.jpg
NS Phạm Duy và Lam Phương ở Paris      

"Nhạc sĩ nhạc vàng 1954-1975 có Lam Phương, Nhật Ngân,  Song Ngọc, Anh Bằng, Phan Ni Tấn... Song Ngọc với Đàn bà, Hà Nội ngày tháng cũ, Hương đồng gió nội...; Nhật Ngân với hai ca khúc viết tiếp bài Xuân nầy con không về: Xuân nầy con sẽ về, Xuân nầy con về mẹ ở đâu; Phan Ni Tấn với Lý con sáo Bạc Liêu; Lam Phương với Bé yêu,  Mùa thu yêu đương, Tình vẫn chưa yên, Bài tango cho em (1991) và hàng loạt ca khúc tiêu đề chỉ có một chữ khi đau xót vì  hạnh phúc gia đình tan vỡ như Điên, Say, Tiếc..., trong đó nổi tiếng nhất  là Lầm với câu hát "Anh đã lầm đưa em sang đây". Đặc biệt, Anh Bằng sáng tác rất nhiều, trong đó có cả những tình khúc phổ thơ như Cánh phượng hồng thuở  (thơ Trịnh Bửu Hoài), Khúc thụy du (thơ Du Tử Lê), Chuyện giàn thiên lý 1, 2 (ý thơ Yên Thao), Anh còn nợ em và Anh còn yêu em đều phổ thơ của Phạm Thành Tài, v.v..."
     
      Từ giữa thập niên 80, xuất hiện một lớp nhạc sĩ mới với những tình canhạc trẻ. Tình ca hải ngoại  có các nhạc sĩ như Nguyễn Đình Toàn, Võ Đông Điền, Đăng Khánh, Vũ Tuấn Đức, Diệu Hương, Ngọc  Trọng, Lê Tín Hương, Ngọc Loan, Thanh Trang, Trúc HồTrịnh Nam Sơn, Trần Quảng Nam, Hoàng Thanh Tâm, Trần Duy Đức, Trần Đức, Mai Anh Việt, Hoàng Việt Khanh, Hoàng Trọng Thụy, Phạm Anh Dũng, Trần Chí Phúc…  Nhạc trẻ hải ngoại có  Jimmii Nguyễn, Lãnh Ngọc Tâm, v.v...
      Có thể kể ra vài ca khúc tiêu biểu của thế hệ nhạc sĩ mới này: Trần Quảng Nam với Mười năm tình cũ; Hoàng Thanh Tâm với Tháng sáu trời mưa; Trúc Hồ với Trái tim mùa đôngNgọc Trọng với Buồn vương màu áoTrịnh Nam Sơn với Dĩ vãng, Quên đi tình yêu cũ; Nguyễn Tâm với Rong rêu; Phạm Anh Dũng với Dạ quỳnh hương;  Lê Tín Hương với Có những niềm riêng, v.v…       
    Từ giữa thập niên 1990, các thể loại nhạc new age, new wave, rap, hip hop lời Việt đựơc nhiều nhạc sĩ  như Phong Lê, Heart2 Exist (Lê Huy Phong & Lê Huy Phát)… sáng tác.
    Đầu thế kỷ 21, xuất hiện dòng nhạc trẻ hải ngoại với nhiều tiết điệu mới (và cả cách phối khí mới) bởi các nhạc sĩ trẻ như Huỳnh Nhật Tân, Nhật Trung, Đồng Sơn, Lê Xuân Trường... Một số nhạc sĩ sáng tác tân nhạc lời Anh  như Vũ Tuấn Đức, Kristine Sa, Lê Tâm, Cardin Nguyễn, Trish Thùy Trang, Alan Nguyễn, Vy Nguyễn... Tuy nhiên, phần nhiều ca khúc VN ở hải ngoại ca từ vẫn là lời Việt.


      http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSl535Tr98SMudBJL82Dck3uovG8m2qcPfln6jV7SZwWTzQiiupgw


         Nhạc hải ngoại cũng có sự nối kết và liên hệ với nhạc trong nước, nhất là kể từ khi trong nước đổi mới, các ca sĩ và  nhạc sĩ ở hải ngoại được về nước biểu diễn đã tạo nên sự giao thoa, trao đổi nghệ thuật (âm nhạc) giữa hai bên. Nhiều ca khúc trong nước được các ca sĩ hải ngoại biểu diễn rất thành công. Và ngược lại, nhiều ca sĩ trong nước thể hiện các tình khúc hải ngoại được công chúng yêu thích, như: Thanh Lam, Hồng Nhung, Mỹ Linh, Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Quang Dũng, Thanh Long Bass, Hồng Ngọc, Song Giang, Tùng Dương, Lệ Quyên, Hoài Phương, v.v…
     Các nhạc sĩ trong nước như: Lê Hựu Hà, Trịnh Công Sơn, Tùng Giang, Quốc Dũng, Vũ Đức Sao Biển, Bắc Sơn, Trần Quang Lộc, Ái Lan… cũng tham gia thị trường âm nhạc hải ngoại bằng những tình ca mới và lúc đầu, gần như các tình ca mới này của họ chỉ được hát tại hải ngoại. Các ca khúc của nhạc sĩ Bảo Chấn, Phú Quang, Nguyễn Ngọc Thiện được trình bày và nổi tiếng tại nước ngoài từ những năm đầu thập niên 1990. Đức Trí, Việt Anh, Nhật Trung, Nguyễn Xinh Xô trong thời gian du học cũng sáng tác nhiều ca khúc cho thị trường âm nhạc tại hải ngoại. Nhiều nhạc sĩ đã nổi tiếng từ trong nước trước khi ra định cư tại nước ngoài và trở thành nhạc sĩ hải ngoại như Sỹ Đan, Quốc Hùng, Ngọc Lễ… Sau này, một số nhạc sĩ trẻ trong nước như Lê Quang, Hoài An, Nguyễn Nhật Huy, Nguyễn Kim Tuấn, Thái Thịnh, Minh Nhiên, Minh Khang, Vũ Quốc Việt... cộng tác và bán độc quyền một số ca khúc của họ cho các Trung tâm hải ngoại. Các ca sĩ trong nước nổi tiếng như Trần Thu Hà, Bằng Kiều, Thu Phương, Kiều Hưng, Ngọc Anh, Lam Trường, Thủy Tiên, Quang Dũng, Nguyễn Hồng Nhung, Xuân Mai…  sau này định cư tại hải ngoại cũng tham gia sinh hoạt âm nhạc tại đây và rất được nhiều người hâm mộ... Hầu hết các ca sĩ tình ca trong nước đều đã từng lưu diễn tại  hải ngoại.    

http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQTzOrn-n34sWAthXe22tFp644oKyS476eC5BeA3ZSy1c9aK8m26w
NS Nguyễn Đình Toàn  
              
      Trong những năm 1991-2000, riêng Trung tâm Mưa Hồng đã phát hành tại Mỹ hơn 400 tựa CD với các giọng ca quốc nội như Bảo Yến, Nhã Phương, Đình Văn, Bích Phượng, Cẩm Vân hát nhạc hải ngoại, tình khúc 1954-1975 và tình ca quê hương và làm những ca sĩ này rất nổi tiếng tại hải ngoại. Trung tâm Làng Văn/Lạc Vũ cũng đặt hàng và phát hành rất nhiều CD với các giọng ca trong nước và sau này thực hiện các chương trình Duyên dáng Việt Nam trong nước.

Nhạc sĩ Trần Quang Lộc và danh ca Thái Thanh (ảnh nhân vật cung cấp).
NS Trần Quang Lộc và danh ca Thái Thanh- 2015
      
        Từ năm 2000, một số ca khúc nhạc hải ngoại bắt đầu được phép lưu hành chính thức trong nước (tuy rằng trước đó và sau đó, một số ca khúc hải ngoại phải thay tên tác giả để qua kiểm duyệt, như trường hợp Em đã quên một dòng sông của Trúc Hồ lại ghi là tác giả Hải Triều, Cơn mưa hạ của Trúc Hồ - Trầm Tử Thiêng, ghi là nhạc Hoa, Vì đó là em của Diệu Hương do Quang Dũng thể hiện đoạt giải Mai Vàng 2003, nhưng sau đó bị rút giấy phép khi biết Diệu Hương ở hải ngoại). Một số nhạc sĩ hải ngoại sau này về thực hiện nhiều dĩa nhạc, cũng như hòa âm phối khí cho các ca sĩ và tham gia các chương trình văn nghệ trong nước như Phạm Duy, Phạm Duy Cường, Trịnh Nam Sơn, Huỳnh Nhật Tân, Trần Viết Tân, Đức Huy (đã định cư hẳn tại Việt Nam)... Một số ca sĩ hải ngoại sau này về định cư  hẳn tại quê nhà hay thường xuyên hát trong nước như Elvis Phương, Hương Lan, Duy Quang, Tuấn Vũ, Phi Nhung, Thái Châu, Ngô Thanh Vân và nghệ sĩ hài Hoài Linh, Chí Tài, Hoài Tâm… Ca sĩ nổi tiếng khác ở hải ngoại như Ái Vân, Lệ Thu, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Ý Lan... cũng đã từng nhiều lần về nước lưu diễn.  
   (Kỳ tới: PHÂN CỰC VÀ  GIAO THOA GIỮA CÁC DÒNG NHẠC 1930 ĐẾN NAY).
                                             LÊ THIÊN MINH KHOA  
 (Trích trong cuốn  sách “9 THẬP KỶ CA KHÚC TÂN NHẠC VIỆT NAM”-
 nghiên cứu, nhận định- Lê Thiên Minh Khoa-  trang169-173, sắp xuất bản, 2018).
-----------------

Nguồn ảnh: Internet và  các nhạc sĩ cung cấp.

READ MORE - NHẠC VIỆT HẢI NGOẠI 1975 ĐẾN NAY - Lê Thiên Minh Khoa