Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, July 16, 2018

NHỮNG MỐI TÌNH LÃNG MẠN - Nguyên Lạc


       
                       
     Nhà thơ Nguyên Lạc


NHỮNG MỐI TÌNH LÃNG MẠN
                             Nguyên Lạc

*
Sụt sùi tình lệ giãi bày
Khốc văn một bức tuyền đài gởi em!
(Viết giùm Phạm Thái gởi Quỳnh Như -  Nguyên Lạc) 
*

VỀ CHỮ ROMANCE

Romance (danh từ)
- Câu chuyện tình lãng mạn; mối tình lãng mạn.
- Sự mơ mộng, tính lãng mạn.
Romantic
(Tính từ): - Lãng mạn, xa thực tế,
-Viển vông, hão huyền,
(Danh từ): Người lãng mạn
Romantic love tiếng Pháp là Romance d’amour
@_Vâm nhạc
Vâm nhạc, Romance thường được hiểu là “Tình ca” , là loại nhạc viết cho guitar, xuất phát từ Tây Ban Nha . Thuật ngữ Romance thoạt đầu mang ý nghĩa “Bài hát thế tục” để phân biệt với các ca khúc Tôn giáo bằng tiếng Latinh. Dần dần, ngôn từ Romance được phổ biến, phát triển rộng rãi ra ngoài biên giới Tây Ban Nha và trở thành tên gọi cho một thể loại "thơ ca trữ tình" Đến đầu thế kỷ 19, Romance mới được khẳng định như thể loại ca khúc nghệ thuật hàn lâm, phổ biến trong giới quý tộc.

*
Người Việt chúng ta hình như mang tính vọng ngoại, cái gì của người khác, nhất là của Trung Quốc, của Tây Phuơng đều hít hà khen ngợi, chê cái của riêng mình.  Khi liên hệ đến tình lãng mạn (Romance, romantic love) ai cũng thường cho là chuyện "ông Tây bà Đầm" Romeo & Juliet hoặc "Phượng Cầu Hoáng" - Tương Như & Trác Quân, Thôi H... của Tàu là nhất. Họ đâu biết chúng chỉ là hư cầu, hoặc có "ý đồ", chưa lãng mạn "tới bến" làm người đầy lệ cảm thương như những chuyện của Việt Nam : Trương Chi & Mị Nương , Phạm Thái & Trương Quỳnh Như...
Ta th lần lượt xét từng chuyện tinh lãng mạn

ROMEO & JULIET

Romeo và Juliet là một vở bi kịch được viết bởi nhà văn đại tài của nước Anh William Shakespeare. Cốt chuyện là tình yêu say đắm với kết cục bi thảm của hai người thuộc về hai dòng họ vốn đã thù hận nhau nhiều thế hệ. Có thể nói Romeo và Juliet là vở kịch xuất sắc và nổi tiếng nhất của Shakespeare
Câu chuyện bắt đầu tại thành Verona, hai dòng họ nhà Montague và nhà Capulet có mối hận thù lâu đời.
Romeo (con trai họ Montague) và Juliet (con gái họ Capulet) đã yêu nhau say đắm ngay từ cái nhìn đầu tiên tại buổi dạ tiệc hoá trang tổ chức tại nhà Capulet ( vì là dạ tiệc hoá trang nên Romeo mới có thể trà trộn vào trong nhà  đó được). Đôi trai gái này đã đến nhà thờ nhờ tu sĩ Friar Laurence bí mật làm lễ cưới.
Một sự việc đột nhiên xảy ra : _ Do xung khắc, anh họ của Juliet là Tybalt đã giết chết người bạn rất thân của Romeo . Để trả thù cho bạn, Romeo đã đâm chết Tybalt. Mối thù giữa hai dòng họ càng trở nên sâu nặng.
Vì tội giết người nên Romeo bị trục xuất khỏi Verona và bị đi đày biệt xứ. Khi Romeo đi rồi, Juliet bị cha mẹ ép gả cho Bá tước Paris. Juliet cầu cứu sự giúp đỡ của tu sĩ Laurence. Tu sĩ cho Juliet uống một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ khiến nàng giống như người đã chết. Thuốc có tác dụng trong vòng 24 tiếng. Tu sĩ sẽ cho người tìm báo  Romeo biết sự việc rồi đến hầm mộ cứu Juliet trốn khỏi thành Verona.
Đám cưới giữa Juliet và Paris trở thành đám tang. Xác Juliet được đưa xuống hầm mộ. Tu sĩ chưa kịp báo cho Romeo thì từ chỗ bị lưu đày nghe tin Juliet chết, Romeo đau đớn trốn về Verona. Trên đường về chàng kịp mua một liều thuốc cực độc dành cho mình. Tại nghĩa địa, gặp Paris đến viếng Juliet, Romeo đâm chết Paris rồi uống thuốc độc tự tử theo người mình yêu. Romeo vừa gục xuống thì thuốc của Juliet hết hiệu nghiệm, nàng tỉnh dậy và nhìn thấy xác Romeo bên cạnh đã chết, Juliet rút dao tự vẫn chết theo.
Cái chết tang thương của đôi bạn trẻ đã thức tỉnh hai dòng họ. Bên xác hai người, hai dòng họ đã quên mối thù truyền kiếp và bắt tay nhau đoàn tụ, nhưng câu chuyện tình yêu ấy vẫn mãi sẽ là nỗi đau rất lớn trong lòng những người biết đến họ.(Wikipedia)

THÔI HỘ & ĐÀO HOA NHÂN DIỆN

Tứ tuyết sau đây chắc ai thích thơ Đường cũng đều biết
Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu  đông phong*.
(Thôi Hộ)
Dịch nghĩa
Cửa đây năm ngoái cũng ngày này,
Má phấn, hoa đào ửng đỏ hây.
Má phấn giờ đâu, đâu vắng tá,
Hoa đào còn bỡn gió xuân đây.
(Tản Đà)
------------
[*] Đông phong: Gió từ phương đông thổi tới, nghĩa là gió đại dương, một làn gió mang hơi mát. Với người Hoa, đó là gió mùa xuân.(Laiquangnam Lai)

Truyện rằng: Thôi H, nhân tiết thanh minh, một mình đi chơi về phía nam Đô thành. Thấy một ấp trại chung quanh đầy hoa đào, Thôi Hộ gõ cửa xin nước uống. Một người con gái mở cổng, hỏi tên h, rồi bưng nước đến dâng chàng . Người con gái sắc đẹp đậm đà, duyên dáng. Đôi mắt nhìn nhau, lòng đầy tình ý.
 Năm sau, cũng vào tiết thanh minh, Thôi Hộ trở lại tìm người cũ,  thấy cửa đóng then cài, mới đề lên cánh cửa bên trái bài thơ trên, rồi bỏ đi. Người con gái xem bài thơ, nhớ thương rồi bệnh sắp chết. Thôi Hchợt trở lại ấp trại hoa đào, nghe tiếng kêu than bèn chạy vào, vội ôm nàng mà khóc. Người con gái bỗng hồi tỉnh, rồi sống lại. Ông bố bèn đem cô gái gả cho Thôi Hộ.
Cũng từ điển tích này, người ta thường ví mặt người con gái đẹp với hoa đào.(Tình s - Phùng Mộng Long)

TƯƠNG NHƯ & TRÁC VĂN QUÂN

Phượng Cầu Hoàng là một điển tích của "nước chính giữa"  (Trung Quốc) chắc có lẽ các bạn ai cũng biết. Nhạc khúc Phượng Cầu Hoàng thường được hiểu là khúc hát của tình yêu chân thực, lãng mạn (romantic love).
Điều này có đúng không?
Xin được trích ra đây sơ lược chuyện tình Tư Mã Tương Như & Trác Văn Quân từ bài PHƯỢNG CẦU HOÀNG đã đăng
Tư Mã Tương Như người ở Thành Đô, Thục Quận (nay là Tứ Xuyên) thời Tây Hán. Tương Như sốt sắng đến Lâm Cùng, vì chàng ta nghe nói địa phương này có ông nhà giầu họ Trác — Trác Phú Ông – có cô con đẹp tên là Trác Văn Quân. Văn Quân đẹp, con nhà giầu, cao số, lấy chồng mới có một năm, (còn gần như "mới nguyên" - Hoàng Hải Thủy); chồng chết, trở thành sương phụ, trở về nhà sống với cha.
Tương Như ôm mộng chiếm được Văn Quân làm vợ. Tương Như nhờ người bạn ở địa phương (Vương Cát là quan lệnh ở huyện) vận động. Ông bạn  của chàng đến gặp Trác Ông, nhờ uy tín là quan lệnh ngỏ lời muốn Trác Ông mở tiệc rượu ở nhà để mời Tương Như đến khoản đãi. Trác Ông vốn không ưa gì văn chương, ông lại càng không thích giao thiệp với những người làm văn nghệ; nhưng nể  bạn là quan huyện, ông cũng mở tiệc mời Tư Mã Tương Như đến nhà.
Văn Quân được biết ngày ấy, tối ấy Tư Mã Tương Như đến nhà nàng. Nàng nấp sau màn, lén nhìn dung mạo Tương Như trong bàn tiệc.
Tương Như đã dặn trước ông bạn, khi tiệc rượu nửa chừng, hãy khoe chàng có tài đàn và yêu cầu chàng trổ tài đàn một bản để tạ tình chủ nhân. Vương Cát làm y theo "ý đồ" Tương Như .
Thế rồi Tương Như cầm đàn, liếc mắt thấy Trác Văn Quân núp sau rèm nhìn lén bèn đàn bản "Phượng Cầu Hoàng". Lời nhạc làm nàng Văn Quân "ngất ngư con tầu đi". Đó là lời tả chuyện con chim phượng  (chim trống)  đi tìm con chim hoàng  (chim mái). Chỉ nghe nhạc thôi, nàng biết chàng chơi bản đàn ấy cho nàng nghe, rằng chàng yêu nàng, chàng muốn có nàng.
Sau khi nghe lén bản nhạc"dụ khị" này, kiều nữ Trác Văn Quân lòng say mê, "ngất ngư con
tầu tình", giữa đêm khuya bỏ nhà chạy đến gõ cửa phòng Tương Như xin "ty nạn tình yêu",
thề sống với chàng suốt khoảng đời còn lại.

Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam!   (ca dao)

Trác ông hay chuyện tức giận, quyết định từ con cấm vận không chi tiền.
Sau cùng Trác Ông đổi ý, gọi hai người về và chịu chi.  Họ đưa nhau đi sống yêu thương nhau sung sướng kiếp đời.
Về sau Tương Như được Vua Hán vời ra làm quan, vinh hiển, phong lưu một đời.
Đây là trích đoạn lời của bản đàn "dụ khị"

Phượng hề, phượng hề quy cố hương,
Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng,
...
Hà duyên giao cảnh vi uyên ương
Tương hiệt cương hề cộng cao tường.
Dịch thơ:
Chim phượng, chim phượng về cố hương,
Ngao du bốn bể tìm chim hoàng
...
Ước gì giao kết đôi uyên ương,
Bay liệng cùng nhau thỏa mọi đường.  (Nguyễn Tử Quang)

TRƯƠNG CHI & MỊ NƯƠNG

Sơ lược truyện:
Trương Chi là một cô gái xinh đẹp tuyệt trần, con của một vị quan đại thần, lúc nào cũng buồn bã. Cha nàng thấy vậy liền cất cho nàng một ngôi nhà nhỏ ở bên con sông cạnh nhà để nàng ra đó thư giãn.
Trương Chi, một anh thanh niên ở làng chài ven sông, thổi sáo hay nhưng tướng mạo vô cùng xấu xí. Mì Nướng rất yêu thích nghe tiếng sáo của Trương Chi. Bỗng có một thời gian tiếng sáo không còn xuất hiện, Mị Nương do quá thương nhớ tiếng sáo mà sinh bệnh. Đã rất nhiều vị đại phu được cha nàng mời đến mà vẫn không tìm ra nguyên nhân căn bệnh.
 Cha nàng tình c biết được tiếng sáo của anh thanh niên tên Trương Chi chính là nguyên nhân của căn bệnh. Ông liền mời chàng đến để chữa bệnh cho Mị Nương.
Vừa thấy Trương Chi, Mị Nương đã vô cùng thất vọng vì dung mạo của chàng vô cùng xấu xí. Nàng tý lạnh nhạt, bảo Trương Chi đi ra, và không còn mê tiếng sáo của chàng như trước kia nữa.
Trương Chi thất vọng và đau buồn  mang bệnh tương tư, , sầu héo dần mà chết.
Mỵ Nương nghe hát thì thương
Nhưng trông thấy mặt anh chường lại chê
Trương Chi buồn bã ra v
Cắm sào giữa bến hát thề một câu
Kiếp này đã dở dang nhau,
Thì xin kiếp khác, duyên sau lại lành.
(Trương Chi và Mị Nương - bài ca Quan h  Bắc Ninh)
Đến khi bốc mộ, mọi người thấy  thịt xương Trương Chi đã tan rữa, duy chỉ có trái tim biến thành một khối hình cầu đẹp sáng như ngọc,  to bằng quả cam và  trong suốt như pha lê bèn đem gắn vào mạn chiếc thuyền cũ của chàng.
Một lần tình cờ, cha Mị Nương đi ra bến sông, thấy có một viên hình cầu đẹp và sáng như ngọc ở mạn một chiến thuyền câu, liền mua về rồi sai thợ ngọc làm thành chiếc chén uống trà. Nghe nói cha vừa đặt làm chiếc chén mới rất đẹp Mị Nương đòi cha cho dùng thử. Nhưng vừa rót trà vào, nàng thấy trong chén trà hiện lên hình bóng Trương Chi, tức thì tiếng sáo năm xưa hiện lên như than như trách.
Mị Nương chạnh lòng nhớ lại mối tình đã qua. Một giọt nước mắt của nàng rơi xuống chén và chiếc chén tan ra thành nước.
Đó là chuyện tình lãng mạn (romantic love) thứ nhất của Việt Nam. 

PHẠM THÁI & TRƯƠNG QUỲNH NHƯ

Chuyện thứ hai này, theo tôi cực kỳ diễm lệ, lãng mạn "tới bến"
 Phạm Thái (1777-1813) Ông người xã Yên Thượng, huyện Đông Ngàn, nay phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh. Ông định nối chí cha, đi tìm người đồng chí để lo sự khôi phục nhà Lê chống Tây Sơn.
Phạm Thái được dịp biết người em gái của Trương Đăng Thụ (người đồng chí) là Trương Quỳnh Như. Hai người thầm lén yêu nhau, làm thi văn tương tặng. Cha Quỳnh Như là Trương Đăng Quỹ biết rõ gốc gác Phạm Thái, cũng muốn gả con gái cho, nhưng bà mẹ không ưng. Bép lấy một người nàng không thuận, Quỳnh Như buồn bực mà chết (có sách chép là nàng tự ải). Phạm Thái từ khi công việc chống Tây Sơn thất bại lại mất người yêu, sinh ra chán đời, chỉ uống rượu li bì, tự hiệu là Chiêu Lì, đi lang thang khắp nơi, năm 37 tuổi thì mất ở Thanh Hóa.(2)
Bài văn tế Quỳnh Như  trước mộ nàng, có chỗ thảm thiết như:
"Ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi tình cho nấn ná nhân duyên - Mình long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận hóa ngang tàng tính mệnh.
Cho đến nổi hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm, chua xót cũng vì đâu, não nuột cũng vì đâu. Nay qua nắm cỏ xanh, thương người phận bạc, xụt xùi hai hàng tình lệ, giãi bày một bức khốc văn, đốt xuống tuyền đài, tỏ cùng nương tử."
(Văn tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái)

NHẬN XÉT

1. Vchuyện tình Tương Như & Trác Văn Quân
Tương Như với bản "Phượng Cầu Hoàng"  "dụ khị" Trác Văn Quân, theo Nguyên Lạc tôi không phải là tình lãng mạn. Một truyện tình sử dụng nhạc khúc có Ý Đ (cơm no bò cưỡi), có TÍNH TOÁN, có LÝ TRÍ xen vào thì làm sao chân thực, lãng mạn "tới bến"được.?
2. Về chuyện tình Thôi H: Theo tôi chuyện tình này cũng khá lãng mạn. Tuy nhiên vì không đẫm lệ chia ly,  hai người tình sau cùng tái hợp nên duyên, "sắt cầm hảo hợp"nên sự lãng mạn chưa "tôi bến"
3. Vchuyện tình Romeo và Juliet
Qua một thời gian đi sâu nghiên cứu, Giáo sư S.Clifford rút ra kết luận rằng “chuyện tình bất hủ” giữa Romeo và Juliet đã làm xúc động nhiều thế hệ khán giả trong suốt hơn 5 thế kỷ qua thực ra là dạng truyện hư cấu, ông đã kiên nhẫn đợi dịp chính thức công bố giả thuyết mới tại Viện Hàn lâm Olympic ở Vicenza, nhân dịp 450 năm ngày sinh của W. Shakespeare (26/4/1564 - 26/4/2014).(1)
Vậy rõ ràng đây chỉ là chuyện hư cấu, chuyện chỉ có trong văn chương, kịch nghệ.
Hai chuyện còn lại của Việt Nam nêu xét kỹ đúng là  tình lãng mạn "tới bến" vì đẫm lệ phân ly và có thật do được ghi trong sử sách. Nhất là chuyện tình giữa Phạm Thái và Trương Quỳnh Như
4. Thử đọc bài thơ  Phạm Thái  tỏ tình thương nhđến người yêu Trương Quỳnh Như

GỬI TRƯƠNG QUỲNH NHƯ
Dảy hoa đun lá bởi tay trời,
Nghĩ lại tình duyên luống ngậm ngùi.
Bắc yến nam hồng thư mấy bức,
Đông đào tây liễu khách đôi nơi.
Lửa ân dập mãi mà không tắt,
Bể ái khơi hoài cũng chẳng vơi.
Đèn nguyệt trong xanh mây chẳng bợn,
Xin soi xét đến tấm lòng ai.
*
Sẳn mời các bạn đọc trích đoạn thơ "hay hết ý" về Phạm Thái - Trương Quỳnh Như của thi sĩ tài hoa Nguyễn Đình Toàn
...
Cơn say dở khóc dở cười
Thành nghiêng, núi lở, đất trời là đâu
Chuông run đã lọt tiếng cầu
Em ơi tỉnh dậy nghe sầu vào thơ
...
Ta nhớ nàng điên cuồng lên tiếng gọi
Quỳnh Như ơi !
Quỳnh Như ơi !
Ai đội mộ nàng lên
Thơ này buồn thành những chiếc gai êm
Mọc lên giữa linh hồn ta sầu tủi
...
Mộ nàng bao cúa
Lòng ta mấy xót xa
Rưng rưng chén nhỏ trào tâm s
Ta thương nàng hay ta thương ta ?
(Phạm Thái - Trương Quỳnh Như . Thơ  Nguyễn Đình Toàn)
*
Cuộc tình Việt Nam này mới đúng là romantic "tới bến", mới làm người đầy lệ cảm thương, Một thiên tuyệt tinh phải không bạn?
Để kết thúc bài, mời các bạn nghe bản Romance d’amour (Tiếng Anh: Romantic love), thường vắn tắt là ROMANCE - KIỆT TÁC CỦA ÂM NHẠC - Sáng tác: Narcisco Yepes (1934)

Nguyên Lạc 
--------------------

Ghi chú:
(1) Sự thật về cặp tình nhân huyền thoại Romeo và Juliet - Giáo sư S.Clifford
(2) TRƯỜNG HỢP PHẠM THÁI QUỲNH NHƯ
----
Mời các bạn nghe bản Romance d’amour (Tiếng Anh: Romantic Love), thường vắn tắt là ROMANCE - KIỆT TÁC CỦA ÂM NHẠC - Sáng tác: Narcisco Yepes (1934)


READ MORE - NHỮNG MỐI TÌNH LÃNG MẠN - Nguyên Lạc

Sunday, July 15, 2018

DƯỚI CÁNH BAY ĐÊM - Bút ký - Chế Cẩm Đình


Tác giả Chế Cẩm Đình (phải) 

DƯỚI CÁNH BAY ĐÊM
Bút ký
CHẾ CẨM ĐÌNH

Người Ê Đê sống bên bờ sông
Người Mơ Nông ở bên bờ suối
(st)

Tôi lại phải rời Ban Mê về Sài Gòn sau mấy ngày lặn lội khắp vùng đất yêu thương ấy. Dưới cánh bay đêm xa kia lập lòe những đốm sáng của ánh đèn điện đã vào tận mỗi buôn làng, ngồi trên cao nhìn xuống tôi hãy còn sững sờ tiếc nuối. Là vì, chỉ được có ba ngày ngắn ngủi, dù đã ngược xuôi khắp nơi từ Quỳnh Ngọc đến Kim Châu thuộc huyện mới Cư Quin, từ Eaka lên Krong Pak, lại Krong Ana sang Buôn Hồ, rồi đi Ea H'leo, đi qua Pandrang, băng về Ea Sup, mà còn chưa thỏa lòng trầm mình trong từng cơn gió đại ngàn thổi rạt rào hơi man mát, báo hiệu những ngày nắng trơ gốc cà của mùa khô sắp sửa đi qua.

Rừng cao su lấp lánh hằng sa số cánh bướm vàng mơ bay dập dờn sau mỗi làn gió thốc nhẹ. Ngang qua rẫy, những chú ong rằn nâu bằng ngón tay út giật lên giật xuống trên mấy tàng hoa nở muộn của chọm cây chôm chôm rừng. Màu trời vẫn xanh ngăn ngắt trên vài vạt rừng già còn sót lại, nhưng đã loáng thoáng xuất hiện những bồng mây trắng trôi có vẻ vội vàng, như để kịp kéo hơi nước lên làm mưa cuối tiết tháng tư.

Mùa này, bơ sắp vào vụ hái. Bơ sáp, bơ lóng, rồi cả bơ ghép, bơ lai được trồng khắp nơi thi nhau dậy mùa, từng quả từng quả sai dày lúc lĩu trên cành, chờ đôi tuần nữa sẽ được hái xuống gùi từng gùi đóng xe gửi về xuôi. Kèm đó, những sọt mít ken đầy như nhốt đàn lợn choai béo ú, thêm những gùi mãng cầu gai với sầu riêng chớm vụ cũng đóng khạp theo về.

Qua buôn Ê Đê, gặp anh Eniek, nghe nói tiếng chào "Hưn kơ găp thâo, anei lĕ ama kâo". Gặp chị H’Maryam Niê giơ cả chùm ngón tay dạy tôi học đếm "sa, duo, clo, pak, ma, năm, chuc" mới biết ngày xưa người Ê Đê chỉ dùng hệ số thất phân, nên đến số tám nói lặp lại là  "sa păn", rồi số chín là "duo păn" và số mười là "pluk".

Cũng lần hồi tìm người M'nông tận Dakmâm giữa núi rừng Krongno, họ ở lẫn người Kinh với người Ê Đê một cách hòa thuận. Tuy vậy, họ vẫn giữ riêng bản sắc và tiếng nói gốc Khơ Me của mình, chứ không nói tiếng Nam Đảo như tôi vẫn tưởng. Nghe nói dưới Đak Min, Dak Song còn có nhiều buôn M'nông sinh sống hơn, chắc bận sau phải lần qua thăm cho thỏa lòng khám phá. Còn phải ghé qua Nam Nung, Nam Dong thăm bản người Tày, người Nùng, chắp tay nói "sabaidee" với các "noọng ngam" vận y phục có diềm ngũ sắc rất đẹp để làm quen. Ánh đèn dưới xa kia chắc hắt lên từ các ngôi nhà sàn trong bản Thái, mạn từ Krong Pak đổ qua tận đường dây 500kv trên đường ra Cư Jut. Những bà con người Thái tận ngoài Thanh, Tuyên chuyển vào từ năm tám mấy, nay vẫn còn đếm "nừng, xóng, xám" để tính tiền với khách mua cà, mua ngô. Ở đó, lại có cả làng người Vân Kiều, di cư từ phía Tây Quảng Trị tới ở đây tự lâu lắm rồi, tận hồi trước bảy lăm, mà không biết có còn giữ tục đi sim của con trai con gái tuổi dậy thì hò hẹn cùng nhau ngoài rừng cả đêm để tự tình.

Vạch màn đêm từ trên cao, thật khó đoán định được phương hướng, chừng tôi có thể đoán sai nơi, thì cũng không sao cả, bởi bạt ngàn bên dưới đâu đâu cũng có đồng bào tôi sinh sống. Nên có khi đó là bản người Lào ở buôn Đôn, có "phù nhin", "phù xao" đang tắm cho voi dưới làn suối mát sau một ngày cùng nhau lao động nhọc nhằn kiếm sống. Biết chừng, đó là những làng người Raglai bên ngọn Phượng Hoàng cánh M'drak đổ về Dục Mỹ thuộc Khánh Hòa. Nơi đó đang có những sơn nữ ngồi xem các chàng trai của mình đang tụ tập học chơi đàn Chapi từ các già làng để tiếp nối việc giữ hồn đại ngàn. Tôi tự nghe trong thâm tưởng mình từng tiếng nhạc trầm đục vang lên từ những sợi dây đàn Chapi bằng cật tre khi khảy, mà bất giác thì thầm lời bài hát của nhạc sĩ Trần Tiến "khi rung lên, từng sợi dây, đàn đã đong đầy, hồn người Raglai..."

6/2016
Chế Cẩm Đình


READ MORE - DƯỚI CÁNH BAY ĐÊM - Bút ký - Chế Cẩm Đình

HOA THANH LONG - Chùm ảnh - Chu Vương Miện






READ MORE - HOA THANH LONG - Chùm ảnh - Chu Vương Miện

VỀ "BÀI THƠ" “ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN” - Phạm Đức Nhì

Tác giả Phạm Đức Nhì





VỀ “BÀI THƠ” “ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN”   
Phạm Đức Nhì


             
Từ Một Bình Luận Trên Facebook 

Dưới bài “Em Còn Trẻ Và Em Không Thể Biết” Của Nguyễn Đức Tùng Có Phải Là Thơ? (1) do tôi (Phạm Đức Nhì) viết và đăng trên Facebook đã khá lâu, chị Kim Phượng Ngọc Huỳnh mới đây đã có bình luận như sau: 

Anh PĐN ơi!
Bài thơ Đồng Dao Cho Người Lớn của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, theo em thấy nó "khô" quá. Vậy có phải là thơ không anh? 

Đọc bình luận của chị xong tôi vào Google tìm đọc Đồng Dao Cho Người Lớn thì thấy bài thơ đã đuợc khá nhiều người bình. Nó cũng được nhạc sĩ Đỗ Triệu An phổ nhạc và còn được lấy tựa đặt tên cho cả một tập thơ của thi sĩ. (2) Với bài thơ được đọc và yêu mến rộng rãi như thế mà chị KPNH lại chê là “khô” và lại còn đặt câu hỏi “Vậy có phải là thơ không anh?” thì đúng là chị đã hơi bị “to gan” mà lại còn “làm khó” tôi nữa. Tuy nhiên, vì câu hỏi liên quan đến bài viết của mình nên tôi bỏ thời gian đọc kỹ bài thơ và “gồng mình” viết thêm một bài ngắn trả lời chị. 

Dưới đây là cả bài thơ: 

ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN              

Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi 
có con người sống mà như qua đời 
có câu trả lời biến thành câu hỏi 
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới 
có cha có mẹ có trẻ mồ côi 
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi 
có cả đất trời mà không nhà ở 
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông 
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ 
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió 
có thương có nhớ có khóc có cười 
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi. 

Nguyễn Trọng Tạo - 1992 

Trước hết, xin cảm ơn chị Kim Phượng Ngọc Huỳnh. Chị có con mắt thơ rất tinh. Đúng như chị nói, “bài thơ” ấy “khô”, chẳng có tý cảm xúc nào. Còn nó có phải là thơ hay không thì bây giờ tôi sẽ giải thích. 

Đồng Dao Và Vè 

Đồng dao là lời hát dân gian truyền miệng của trẻ em, thường kèm một trò chơi nhất định. (3) 

Sau đây là một ví dụ: 

DUNG DĂNG DUNG DẺ

Dung dăng dung dẻ 
Dắt trẻ đi chơi 
Đến ngõ nhà Trời 
Lạy Cậu lạy Mợ 
Cho chó về quê 
Cho dê đi học 
Cho cóc ở nhà 
Cho gà bới bếp 
Ngồi xệp xuống đây 

Theo Wikipedia Tiếng Việt thì: 

“Vè là một trong những thể loại văn học dân gian Việt Nam. Vè được sáng tác bằng văn vần, sử dụng nhiều hình thức khác nhau: câu bốn chữ, năm chữ, lục bát, hát giặm, nói lối. Có vè đồng dao, là những bài hát của trẻ em. Có vè thế sự, về người thật việc thật, phản ánh, bình luận những câu chuyện thời sự địa phương, những truyện đồi phong bại tục, những chuyện áp bức bóc lột của cường hào địa chủ và đời sống khổ cực của dân nghèo trong làng xóm. Những người đặt vè, bẻ vè, nói vè phần nhiều thuộc tầng lớp dưới trong xã hội.” 

Dựa vào thông tin trích dẫn ở trên có thể kết luận mà không sợ sai lầm, xét về mặt thể loại, đồng đao cũng là một loại vè, không phải là thơ. 

Trở Lại “Đồng Dao Cho Người Lớn”. 

Theo Đỗ Trọng Khơi, “Đồng Dao của Nguyễn Trọng Tạo viết ở nhịp 8 chữ nhưng soi chẻ rạch ròi vẫn thấy cái dư khí của hồn bốn chữ dân gian”. Tôi đồng ý với anh ở điểm này. Cho nên ĐDCNL – đúng như cái tựa của nó – là một bài đồng dao. Và theo tôi, khi chọn cái tựa ấy, về mặt hình thức, tác giả đã vô tình tự xếp loại nó là vè. 

Về nội dung thì “bài thơ” ấy chỉ là một tập hợp “hổ lốn” những câu nói, những phát biểu của nhà thơ, xếp đặt tùy tiện, không theo một cấu trúc hay một thế trận nào. Mỗi phát biểu là một “triết lý vụn” về một khía cạnh nào đó của cuộc đời. 

Những phát biểu kiểu “triết lý vụn” ấy đã được ông góp nhặt từ quá trình học hỏi cũng như kinh nghiệm sống của mình. Lúc cơn hứng đến hoặc có gì đó khơi gợi, thôi thúc, ông cho nó tuôn ra và dùng kỹ thuật thơ của mình ghi lại. Rất tiếc, ông đã quên tạo ra một khung cảnh để mời tâm hồn của mình bước vào cho “tâm đối cảnh” và “tức cảnh sinh tình”. Cái gọi là “tứ thơ” chỉ là dòng ý tưởng – hoàn toàn là sản phẩm của lý trí - tuy mở ra nhiều miền nghĩa nhưng lại không có tâm hồn và cảm xúc làm bạn đồng hành nên khô cứng như một cái xác không hồn. 

Như vậy, Đồng Dao Cho Người Lớn – đúng như tác giả đã vô tình tự xếp loại – là một bài vè, không phải là thơ. 

Những Vòng Nguyệt Quế 

Đồng Dao Cho Người Lớn không phải là thơ nhưng, không biết tại sao, lại được dân chơi thơ chấp nhận, tán thưởng và trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: 

1/ Được nhạc sĩ Đỗ Triệu An phổ nhạc.

2/ Được lấy tên đặt cho cả một tập thơ cùng tác giả (2)

3/ Được ít nhất 3 người viết lời bình. (Đỗ Trọng Khơi, Trần Kim Lan và Trần Trung) (4) 

4/ Được chọn là một trong 100 Bài Thơ Hay Thế Kỷ 20.

5/ Bài do Trần Trung viết lời bình được đưa vào tập Bình Thơ Từ 100 Bài Thơ Hay Thế Kỷ XX - Tập Hai 

Kết Luận:

Nhận diện thơ – phân biệt thơ với những thứ không phải là thơ - lẽ ra phải là bài học đầu tiên cho thi sĩ, cho nhà phê bình và cả những người thưởng thức thơ. Nhưng bài học nhập môn này thường không được giới chơi thơ coi trọng hoặc tìm hiểu đến nơi, đến chốn. 

Thỉnh thoảng có một bài vè đi lạc vào vườn thơ cũng không phải là chuyện lạ. Vè được nhạc sĩ phổ nhạc cũng chẳng có gì đáng nói. Vè mà được lấy tên đặt cho cả một tập thơ, tuy có hơi ngược đời nhưng đó là quyền của tác giả. Vè mà được mấy người chơi thơ xúm vào viết lời bình, tuy hơi lạ nhưng cũng dễ hiểu – đó là quyền của người bình; hơn nữa họ thuộc trường phái bình thơ không bàn thi pháp - chỉ đem ý tứ tán rộng ra – thì thơ có khác gì văn xuôi, thơ với “không thơ” cũng “cá mè một lứa”. 

Tuy nhiên, để một bài vè như Đồng Đao Cho Người Lớn, một thứ cây dị chủng, chưa đủ điều kiện để được gọi là thơ, không những lọt vào vườn thơ mà lại còn được đặt vào chỗ trang trọng nhất, được chọn vào danh sách 100 Bài Thơ Hay Thế Kỷ 20, thì quả là trái khoáy và bất công đến độ lố bịch. Lạ lùng thay, sự trái khoáy và bất công ấy vẫn cứ ung dung tồn tại suốt bao nhiêu năm nay. Mãi cho đến tuần lễ cuối tháng 6 /2018  mới có người lên tiếng phản bác. Một lần nữa, cám ơn chị Kim Phượng Ngọc Huỳnh, người có tấm lòng vàng với thơ, đã mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình. 

 Xin những người có trách nhiệm canh giữ Vườn Thơ Việt Nam và những người yêu thơ khác cùng góp tiếng nói để lấy lại công đạo cho thơ. 

Texas, ngày 10 tháng 7 năm 2018.
Phạm Đức Nhì 
nhidpham@gmail.com 
phamnhibinhtho.blogspot.com 

CHÚ THÍCH:


1/ Trang Facebook nhipham
2/ Đồng Dao Cho Người Lớn, Nhà Xuất Bản Văn Học, Hà Nội 1994.
4/
Đỗ Trọng Khơi trong Bàn Về Đồng Dao Cho Người Lớn Của Nguyễn Trọng Tạo
Trần Kim Lan trong Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Đồng Dao Cho Người Lớn Của Nguyễn Trọng Tạo 
Trần Trung trong “Đồng Dao Cho Người Lớn”
Bình Thơ Từ 100 Bài Thơ Hay Thế Kỷ 20 (Tập Hai), Vũ Quần Phương Chủ Biên, Nhà Xuất Bản Giáo Dục 2008.
Cả 3 người bình đều gọi ĐDCNL là bài thơ.

READ MORE - VỀ "BÀI THƠ" “ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN” - Phạm Đức Nhì

Friday, July 13, 2018

CÓ NGƯỜI, CUỐI NĂM - Thơ Chu Vương Miện và Khanh Tương


       

    

CÓ NGƯỜI

chỉ trà rượu đàn bà
có người hit tô phe cơm đen
có người rượu trắng lạc rang
có người hết vịt tới gà
có người chỉ trà bánh đậu xanh mạch nha
có ngừơi chuyên làm thơ nghĩa địa
"hồn ma"
mỗi ngừơi mỗi vẻ toát nét phong ba
trong hoàn cảnh đó
chỉ có mỗi Bà Huyện Thanh Quan
yêu nước thương nhà
có thêm cụ Phan Bội Châu
xuôi ngược bôn ba
Đông Du tìm đường cưu nứớc
ngoài hai người dưới
bọn bên trên
toàn là đồ chó chết ?

-
có nước nước không có
có nhà biến nhà không
nước trong tay vô tài làm mất ?
rồi lưu vong chết
hóa thành chim Đỗ Quyên
gắng nuốt nhục mà sống
kêu mỏi môm khản cổ
nước không còn ?
cây gãy tổ nát
bầy đa đa dông mất
ngoảnh lại cội xưa kêu mãi gia gia
số phận lang thang kiếp sống vịt gà
vừa cạp cạp và cục ta cục tác
làm cái kiếp bèo lục bình
sáng nam chiều bắc
trở mùa trở nước lại dạt đông tây
qua mùa hè đỏ lửa  tới gió heo may
đủ gió chướng thổi kiếp người xơ xác
mắt nhòm mãi Trường Sơn lẫn vào Savannakhet
ôi Quảng Trị Đông Hà quê hương ta ?
làm một chuyến tàu xuôi ngược bao ga ?


CUỐI  NĂM

đoạn tháng
mưa vẫn rơi
nước vẫn lụt
đêm vẫn lạnh
trời tối thiu
vườn cậy không cỏ
than cậy không hoa
xa xa nơi đầu núi
toàn tuyết phủ
-
Quê  người thì như vậy
Còn bạn hữu nơi nhà
nuớc tràn trên đồng ruộng
lóp ngóp nơi vỉa hè
hỡi nước ơi là nước
dâu còn Sải Bích La
đến làng chài Mỵ Thuỷ
trôi dạt theo ông  bà
hàng thuỳ dương đứng khóc
bốn phía sóng la đà
Quảng Trị ơi Quảng Trị
Giờ tụ lại Đông Hà
Nhìn cát ngoài Ái Tử
Mà chợt nhớ Hạnh Hoa
Mơi mốt về Ba Bến
Con kinh đào quá  già
Nhà thơ xưa đã khuất
Còn ta và mỗi ta ?
-
Ngày làm việc tám giờ
hai giờ xe đi và về
tuần năm, sáu ngày
tối tăm mặt mũi
về tới nhà ăn qua loa
lăn ra ngủ
sáng dậy nhai tạm miếng bánh mì
cà phê gói
lái xe vội vội
đi một đàng về một lối
cứ vậy
lãnh lương nuôi con nuôi vợ
lâu lâu đi sòng bạc
phụ tiền dầu đèn
không còn biết đế bà đến con
còn mất

Chu Vương Miện và Khanh Tương

READ MORE - CÓ NGƯỜI, CUỐI NĂM - Thơ Chu Vương Miện và Khanh Tương

CÒN MÃI TUỔI 15, thơ: Lê Thiên Minh Khoa, nhạc: Trọng Vĩnh, biểu diễn: Công Pho, (Youtube)

READ MORE - CÒN MÃI TUỔI 15, thơ: Lê Thiên Minh Khoa, nhạc: Trọng Vĩnh, biểu diễn: Công Pho, (Youtube)

BIỂN KHÔNG EM - Thơ - Tăng Tấn Tài

Tác giả Tăng Tấn Tài.
BIỂN KHÔNG EM 

Biển không em chiều nghiêng xao xác sóng
Cứ đi về lòng dậy cõi mênh mang
Đâu là nguồn là suối mở dòng sông
Dấu chân mềm tìm đâu, bờ cát mịn?

Bao lần chia xa vàng mây bịn rịn
Vạt áo chiều nghiêng cuối phía hoàng hôn
Em là ai mà sóng cứ dập dồn?
Tim muốn nói điều gì, mà nôn nao lồng ngực!

Tay trong tay, bóng đời in rất thực
Ảo ảnh giờ đây gác mái thuyền trôi
Cứ dặn lòng, dấu chân còng mất lối
Em cũng về, năm tháng mãi dần xa .

Con sóng theo em, con sóng thật thà
Cao nguyên lộng, bình minh từ phía lặng
Ánh mặt trời soi, dòng ru yên ắng
Lời cứ đa đoan, xa vắng có theo về?

Đâu lời hứa, ánh trăng dồn mặt sóng
Thả hồn trôi gom góp lại mảnh vàng
Em thả bóng, bóng mờ chìm xa khuất
Biển không em, bão sóng dội xô lòng .
1.7.2018
Tăng Tấn Tài 

READ MORE - BIỂN KHÔNG EM - Thơ - Tăng Tấn Tài

Thursday, July 12, 2018

CHÙM TRANH NGÔ VÔ HƯỚNG (2)






READ MORE - CHÙM TRANH NGÔ VÔ HƯỚNG (2)