TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Sunday, April 8, 2018
Saturday, April 7, 2018
PHÊ BÌNH SINH THÁI HAY THỜI SỰ VĂN CHƯƠNG - Phạm Xuân Dũng
Phạm Xuân Dũng
PHÊ BÌNH SINH THÁI HAY THỜI SỰ VĂN
CHƯƠNG
(Nhân đọc cuốn sách “Rừng khô, suối
cạn, biển độc … và văn chương”, phê bình sinh thái của Ts Nguyễn Thị Tịnh Thy,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2017.)
Năm 2017 có một tác phẩm nghiên cứu
phê bình văn chương không gây ồn ào nhưng lại được dư luận chú ý và được tái bản,
và điều này cũng có thể xem như một hiện tượng xuất bản trong lĩnh vực vốn được
coi nặng tính hàn lâm và thường khô khan, khó hiểu. Một điều lạ là tên gọi của
nó nghe qua lại quá ư báo chí nhưng tựu trung vẫn là thời sự văn chương, hay ít
ra cũng nhắc nhở về một thời sự mà văn chương nước ta cần hướng đến.
Cuốn sách hơn 500 trang với 4
chương chính. Chương một: “Các khái niệm tiền đề”, chương 2: “Văn học sinh
thái”, chương 3: “Phê bình sinh thái” và chương 4: “Thực hành nghiên cứu”.
Mặc dù phê bình sinh thái được
trình bày trước hết dưới góc nhìn học thuật nhưng tác giả chuyên luận này không
sa đà kinh viện mà luôn gắn tác phẩm của mình với đời sống xã hội, thậm chí nhấn
mạnh đến những vấn đề cấp thiết không chỉ là vấn đề thời sự của báo chí mà còn
là ( và phải là) thời sự của văn chương. Trong lời mở đầu “Lắng nghe trái đất”
người viết đã tâm sự : “ Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến
đổi khí hậu. Ô nhiễm môi trường từ sinh hoạt và sản xuất đã, đang và sẽ là vấn
nạn, đại nạn đối với con người và vạn vật. Rừng khô, suối cạn, biển nhiễm độc,
cá chết, lũ lụt, hạn hán, vỡ đập, tràn bùn…liên tục ập đến như những mối “họa
vô đơn chí”. Vì thế, với động thái trách nhiệm và lắng nghe trái đất, nghiên cứu
văn học từ góc nhìn sinh thái học chắc chắn không phải là “thấy người ta ăn
khoai, mình vác mai đi đào”, cũng không phải thương vay khóc mướn, mà là công
việc cần làm, phải làm của người trong cuộc, thể hiện sự hồi đáp của khoa học
văn chương đối với tiếng kêu cứu của môi trường sinh thái” (Rừng khô, suối cạn,
biển độc… và văn chương, trang 17)
Bởi là một chuyên luận, hơn thế,
còn là một chuyên luận về địa hạt khá mới mẻ đối với văn chương Việt Nam nên
tác giả đã trình bày có thứ tự, lớp lang để người đọc có điều kiện tìm hiểu về
văn học sinh thái một cách bài bản và cơ bản, tránh được những quan niệm thô giản
về sinh thái cũng như văn học sinh thái. Chẳng hạn như cho rằng người Á Đông vốn
có truyền thống yêu chuộng thiên nhiên nên thuận lợi trong việc bảo vệ môi trường
sống trong lúc đó lại đang là vấn nạn lớn đối với nhiều nước đang phát triển ở
khu vực này, trong đó có Việt Nam. Cũng theo tác phẩm này thì văn học sinh thái
chính thức ra đời khoảng thập niên 70 của thế kỷ XX. Chức năng cảnh tỉnh của
dòng văn học này được đặt lên hàng đầu “ để cảnh báo nhân loại cần thay đổi
phương thức sống, thay đổi quan niệm về giá trị, quan niệm về tự nhiên. Bởi vì
nguy cơ sinh thái không chỉ là nguy cơ môi trường mà còn là nguy cơ đạo đức,
nguy cơ tư tưởng và nguy cơ văn hóa.”(trang 80, sách đã dẫn). Hay khi bàn về một
đặc trưng rất quan trọng của tác phẩm văn học sinh thái chính là sư kết hợp giữa
khoa học và văn học, tác giả lý giải : “ Văn học sinh thái có sự kết hợp giữa
tính khoa học của thể loại phi hư cấu và tính văn học của loại hình nghệ thuật
ngôn từ. Tính khoa học thể hiện những kiến thức của nhà văn về thế giới tự
nhiên. Qua tác phẩm, độc giả hiểu biết nhiều hơn về thế giới mình đang sống, hiểu
biết để trân quý, yêu thương và bảo vệ. Đó là con đường đi từ lý trí đến tình cảm
của “tính khoa học”. Đồng thời con đường đó cần phải có những nhịp cầu thẩm mỹ
của thi pháp văn chương, nghĩa là tính văn học, thể hiện văn tài của tác giả và
tạo nên sức hấp dẫn, sức thanh tân cho tác phẩm văn học sinh thái” (trang 95,
sách đã dẫn). Cuốn sách còn cung cấp cho người đọc nhiều kiến thức nhập môn cần
thiết về văn học sinh thái còn mới mẻ không chỉ với độc giả phổ thông như : triết
học sinh thái, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái, thần học sinh thái, mỹ học sinh
thái và tất nhiên cả phê bình sinh thái. Tác giả đã diễn giải một cách dễ hiểu
nhiều điều được coi là khó hiểu nên người đọc thuận lợi trong tiếp nhận.
Dù phần học thuật thiên về lý luận
đã được người viết cố gắng trình bày mạch lạc, sáng sủa và dễ hiểu nhưng tác giả
vẫn dành hơn 200 trang sách để phê bình tác phẩm cụ thể trong chương 4: “Thực
hành nghiên cứu”nhằm minh họa sinh động một số cảm thụ văn chương dưới góc độ của
người làm nghiên cứu phê bình. Đây là động thái cần thiết, bởi văn học sinh
thái còn khá lạ lẫm đối với nhiều độc giả, kể cả những người thường xuyên có
quan hệ với văn chương. Hơn nữa, nói như nhà phê bình Đỗ Lai Thúy trong lời giới
thiệu cuốn sách : “Chuyên luận phê bình sinh thái của Tịnh Thy giới thiệu khá đầy
đủ về lý thuyết, nguồn gốc, phát sinh , phát triển, sự khác nhau về các quan niệm,
quan điểm của phê bình sinh thái. Điều đó rất cần nhưng chưa đủ. Bởi tỳ vị người
Việt vẫn chưa quen với lý thuyết thuyết chay và chỉ dễ tiếp nhận khi lý thuyết ấy
được hóa thân vào sự thực hành phê bình tác phẩm.”(trang 9, sách đã dẫn)
Khi vận dung lý thuyết phê bình
sinh thái, tác giả đã chỉ ra những đóng góp quan trọng của nhà văn Trần Duy
Phiên qua tác phẩm của mình. Bộ ba truyện ngắn vừa độc lập vừa liên hoàn trong
tính tương đồng của “Mối và người”, “Kiến và người” và “Nhện và người” của ông
đều có chung một motif con người đối nghịch với thiên nhiên. Nhân vật chính chỉ
muốn thống trị thiên nhiên, muốn ăn thua đủ với với cả những con vật bé nhỏ như
mối, kiến và nhện theo một quan niệm thiên lệch ăn sâu vào xương tủy của người
phương Đông : “Con người là chúa tể của muôn loài”. Thay vì sống hòa thuận với
tự nhiên, nương tựa vào tự nhiên thì trái lại, họ chỉ muốn chế ngự, chà đạp bằng
mọi giá. Rốt cuộc, những nhân vật được cho là có khả năng, tài trí đã thất bại
trước những sinh vật nhỏ nhoi nhất. Những kết thúc dù bi kịch hay hài kịch đều
cho thấy sự cần thay đổi quan niệm sống của những con người này, ở đây là với
thế giới tự nhiên. Theo nhà phê bình thì những biện pháp nghệ thuật từ chuyện đặt
tên tác phẩm theo mệnh đề “A và B” tạo quan hệ đẳng lập, hơn thế, việc để các
con vật được đặt ở trước trong nhan đề truyện ngắn còn có mục đích đề cao vai
trò tự nhiên; rồi bút pháp “đòn bẩy” lúc đầu tán dương sau “hạ bệ” vị trí những
nhân vật chính vốn không chịu thua mọi thứ, kể cả với côn trùng; giọng tự sự đa
thanh, đối thoại đã đạt đến tầm diễn ngôn của tư tưởng sinh thái là những điểm
đặc sắc của các truyện ngắn này. Tiểu kết sau là một nhận định rất thẳng thắn
và thời sự cần được lưu tâm đúng mức: “Với Kiến và người, Mối và người , Nhện và
người, nhà văn Trần Duy Phiên đã mang đến cho người đọc những tác phẩm văn
chương đích thực. Trong bối cảnh văn học nước ta gần như đang bàng quan trước
những tổn thất do thiên tai, những hành động tàn phá môi trường mà cả dân tộc
và nhân loại đang phải đối mặt và gánh chịu, những tác phẩm trên của Trần Duy
Phiên thật cần thiết và có ý nghĩa. Chúng đáp ứng được tính tất yếu và tính cấp
thiết, đáp ứng yêu cầu thời đại, cảm thức thời đại, thể hiện sự gắn bó thiết thực
đời sống văn chương với đời sống xã hội, phát huy trách nhiệm của nhà văn trong
việc bảo vệ môi trường và ngăn chặn nguy cơ sinh thái” (trang 296, sách đã dẫn)
Tiểu thuyết “Trăm năm còn lại”
cũng của Trần Duy Phiên lại là sự thể hiện tính man rợ, độc ác đến mức “rừng
rú” của những con người thực chất là ác nhân của ba thế hệ trong một gia đình sống
ở nơi thâm sơn cùng cốc. Họ tàn bạo với thú tính gần như không giới hạn trong
việc ăn tươi nuốt sống thiên nhiên. Nhân nào quả nấy, thủ phạm cũng là nạn nhân
khi kết thúc tác phẩm. Nhà phê bình đánh giá : “Tiên phong, tài hoa, cá tính, lạnh
lùng, dữ dội và bạo liệt, Trần Duy Phiên đã mang lại cho văn đàn một tiểu thuyết
sinh thái đích thực, đầy hấp dẫn và rất có giá trị. Dồn nén đời sống, đời suối,
đời núi, đời người ngập tràn thù hận, “tội ác và trừng phạt” vào trong khoảng
250 trang viết, từ góc nhìn sinh thái, Trăm năm còn lại mở ra một chiều kích
cho việc sáng tác và tiếp nhận trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay…” (trang
316,317 sách đã dẫn)
Nhà phê bình còn dành nhiều công
phu trong việc phán tích một tác phẩm đa thanh, phức hợp của văn học đương đại
Trung Quốc, đó là tiểu thuyết “Tôtem sói” của nhà văn Khương Nhung. Tên gọi tiểu
thuyết đã như mặc định quan niệm vật linh luận qua một sáng tác văn chương kỳ
vĩ, ngợi ca “tính cách sói” như một sức mạnh tinh thần độc tôn của thảo nguyên
Mông Cổ và suy rộng ra của cả Trung Hoa. Đây là tác phẩm cũng đã gây nhiều
tranh cãi. Dưới góc nhìn phê bình sinh thái, nhà phê bình nhận định về tác phẩm:
“ …mang đậm đặc trưng tam hiếu của Trung Quốc: hiếu sử, hiếu sự, hiếu kỳ. Chất
lịch sử, chất sự kiên, chất kỳ ảo ngập tràn trong tác phẩm được mệnh danh là một
kỳ thư này. Chính liên văn bản đã tạo nên một cuộc đối thoại lớn giữa quá khứ
và hiện tại như là sự đối lập giữa thiêng liêng và phỉ báng, sinh trưởng và tàn
lụi, sở hữu và đánh mất trong quốc dân tính của Trung Hoa. Đánh mất sói tính,
khinh rẻ dân du mục là vong bản, là quên cả tổ tiên…”(trang 411, sách đã dẫn).
Tuy vậy, tác phẩm này không chỉ tiểu thuyết sinh thái mà nó còn có dụng ý đề
cao thái quá bản tính sói, cổ xúy cho tư tưởng bá quyền. Chính vì vậy, nhà phê
bình có một lưu ý quan trọng: “ Và với tư cách là người đọc nghiên cứu, chúng
tôi nhận thấy mình có trách nhiệm tham gia vào cuộc đối thoại này, thể hiện
quan điểm không đồng tình với Khương nhung, đặc biệt là lập luận : “ Thảo
nguyên tàn khốc và đẹp đẽ không chỉ là đất tổ của dân tộc Hoa Hạ mà còn là đất
tổ và cái nôi của toàn nhân loại”. (trang 415, 416, sách đã dẫn). Sợ mình chưa
nói hết ý, tác giả còn nhấn mạnh thêm một điều rất đáng suy ngẫm cho chính hôm
nay : “Đó chính là lý tưởng bảo vệ sinh thái thâm trầm và huyền nhiệm phương
Đông của Tôtem sói. Tuy nhiên những khẳng định của Khương Nhung về mối liên
quan giữa “tình thần sói”, “tính cách sói” và các dân tộc mạng sói tính cũng
như con đường chấn hưng tinh thân dân tộc của Trung Quốc lại làm nảy sinh thêm
một kiểu một kiểu đối thoại nữa chưa đến hồi kết. Đó là đối thoại cần có sự
tham gia của chính kiến và sự phản biện của người đọc.”(Trang 417, sách đã dẫn)
Nhà phê bình Nguyễn Thị Tịnh Thy
còn phân tích cuốn tiểu thuyết “Thập giá giữa rừng sâu” của nhà văn Nguyễn Khắc
Phê và thơ Haiku (Nhật Bản) cũng dưới góc nhìn văn học sinh thái với nhiều ý kiến
xác đáng và thú vị.
Trong điều kiện văn học đương đại
Việt Nam vẫn còn thiếu vắng các sáng tác văn học sinh thái cũng như thưa thớt
và chưa có hệ thống nghiên cứu lý luận phê bình về dòng văn học này thì cuốn
sách của tác giả Tịnh Thy trong chừng mực nhất định cũng xứng đáng được coi là
một cơn mưa đúng lúc( “cập thời vũ”), góp phần kích hoạt sáng tạo trong văn học
sinh thái; công trình này là một cuốn cách công cụ kịp thời, dễ đọc và đáng đọc
về sinh thái và văn học sinh thái. Đây, như chúng tôi đã nhấn mạnh, cũng là vấn
đề thời sự xã hội, thời sự của báo chí mang tầm phổ quát nhân loại. Và đó cũng
là câu chuyện của những người trí thức, những người cầm bút kể cả trong và
ngoài văn chương. Để kết thúc bài viết này, xin nhắc lại câu nói của một người
thầy như một chia sẻ thời cuộc, đương nhiên không ngoại trừ văn chương : “Hãy lễ
độ với thiên nhiên !”
***
Ts Nguyễn Thị Tịnh Thy hiện
là giảng viên Khoa Ngữ Văn, ĐHSP Huế, tác giả và đồng tác giả của nhiều tác phẩm
nghiên cứu phê bình văn học, có thể kể ra:
-Tự sự kiểu Mạc Ngôn, NXB Văn học-Trung
tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội,2013 (tác giả)
-Văn học hậu hiện đại-Lý thuyết và
thực tiễn, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2013 (Đồng tác giả)
-Phê bình văn học hậu hiện đại Việt
Nam, NXB Tri Thức, Hà Nội, 2013 (Đồng tác giả)
-Văn học và ngôn ngữ-Một số vấn đề
nghiên cứu và giảng dạy, NXB Thuận Hóa, Huế, 2007 (Đồng tác giả).
PXD
*****
Bài đã đăng trên Nguyệt san Báo QUẢNG TRỊ tháng 3/2018.
TRƯỜNG LÀNG TÔI - Lê Văn Huấn
TRƯỜNG LÀNG
TÔI
Lê Văn Huấn
Trường làng tôi mái ngói, tường rêu, được ôm ấp bởi
những hàng tre bốn mùa rợp bóng. Không biết trường được xây dựng từ bao giờ,
nhưng chắc hẵn phải trước tôi sinh ra nhiều lắm, vì theo tôi biết, thì các thế
hệ đàn anh của tôi cũng đã học ở nơi này.
Tọa lạc trên khoảnh đất rộng chừng nửa hecta, thuộc
Xóm Quán, thôn Mỵ. Trường có hai dãy, dãy chính day mặt ra hướng đông nam, nơi
có con sông quê hương hiền hoà chảy qua. Dãy phụ nhìn ra hướng đông bắc, nơi có
ngôi đền thờ Phái họ Trương, một nơi
thâm nghiêm cổ kính của làng.
Trước phòng học lớp Năm (lớp một) có một cây cổ thụ,
dang rộng những tán lá che kín cả một góc sân, đây là điểm quần tụ của lũ chúng
tôi trong những giờ ra chơi khi gặp buổi trời nắng gắt. Phía trước hành lang
của trường từ lớp Tư (lớp hai) cho đến lớp Nhì (lớp bốn) thẳng tắp một hàng vú
sữa, với những chiếc lá mang hai sắc màu sáng tối. Vây quanh bồn cây là những
viên gạch đỏ thẩm được chôn nghiêng, chúng kết thành một diềm tròn với những
hình tam giác đứt đoạn. Bên hông phải của lớp Nhất (lớp năm) chạy ra đến cổng
trường, đứng rì rào trong gió là hàng bạch đàn cao ngất với những thân cây bạc
phếch, trên đó hiện lên dọc ngang những dòng chữ được khắc như vết xâm trên da
thịt, kỷ niệm học trò của các anh chị đã rời trường từ những năm về trước.
Phía sau phòng học lớp Năm, có cái giếng gạch xanh
rêu, nước trong vắt, nơi chúng tôi thường kéo gàu múc nước rửa chân trước khi
vào lớp, nhưng thỉnh thoảng đôi khi khát chúng tôi vẫn giành nhau uống một cách
ngon lành. Chính diện giữa sân trường là chiếc cột cờ cao chót vót đứng trụ
trên bệ xi măng được xây theo khối vuông có bậc tam cấp, nơi mỗi sáng sớm trong
lễ chào cờ, các anh chị lớp Nhất thường đứng kéo cờ theo hiệu lệnh của thầy cô.
Có lẽ đẹp và uy nghiêm nhất chính là chiếc cổng
trường, với hai trụ xi măng đã ngã màu xám xịt, được chắn bởi cánh cổng sắt
xanh màu lá. Phía trên là tấm bảng màu xanh lơ, nổi bật với hàng chữ màu trắng:
TRƯỜNG TIỂU HỌC CỘNG ĐỒNG TRƯỜNG SANH. Đây là hình ảnh thân thương, niềm tự
hào, của bao thế hệ học sinh trường làng.
Thuở ấy đến trường, lũ chúng tôi nhiều đứa chẳng bao
giờ mang dép, đội mũ. Áo quần thì chẳng phải đồng phục, mặc loại nào, màu nào
cũng được, nhiều cu cậu vô học lớp một mới biết bận quần. Cả lớp chỉ có vài đứa
sắm nổi cặp, còn lại đa số chỉ đựng vở trong túi nylon, nhưng túi nylon cũng là
mặt hàng hiếm, nhiều đứa dùng lâu ngày đến nổi túi ngã màu vàng ngoạch, rách
trên, lủng dưới vẫn chưa có cái khác để thay.
Vì phải viết bằng bút tre chấm mực nên đâu đâu cũng
dính mực, mực dính trên quần áo, vương vãi trên bàn ghế, loang lỗ trên tường,
bết đầy tay chân mặt mủi. Còn trong tập vở thì khỏi phải chê, vệt mực đôi khi
nhiều hơn chữ viết, sau khi viết một đôi hàng là phải dùng giấy thấm, không có
giấy thấm thì dùng phấn lăn lên, gặp phải loại tập xấu nhiều khi chưa kịp thấm,
mực đã loang ra trông rất bẩn.
Việc mang kè kè bình mực mỗi buổi đến lớp là cực hình
của lũ con trai, nên những đứa ngồi gần nhau thường phân công thay phiên đem
mực mỗi ngày. Vậy là một bình mực đôi khi có ba bốn cây bút xỉa vào (Vì cộng
thêm những đứa hết mực chưa có tiền mua, hay quên đem mực). Gặp phải giờ viết
chính tả thì thật là lôi thôi, đứa chưa rút bút ra, đứa khác đã đâm vào. Nhưng
xui xẻo nhất vẫn là lúc đứa được phân công lại để quên mực ở nhà, lúc này giải
pháp tình thế là ăn cắp mực của tụi con gái, thế là bài chính tả đôi khi được
viết với hai màu mực (chúng tôi chuyên viết mực màu xanh, đám con gái chúng
thường viết màu tím). Việc ăn cắp mực đôi khi rất công khai mà chẳng phải sợ
chúng thưa cô, thưa thầy. Vì đứa nào lỡ thưa, ra sân chơi sẽ bị phá phách, hay
nặng hơn là bị bắt sâu đo bỏ lên đầu, đây là món đòn hết sức hiệu nghiệm, đám
con gái đứa nào cũng ớn.
Việc đâu đâu cũng nhìn thấy mực, ngoài những bất cẩn
trong lúc viết lách đôi khi còn do một số đứa hứng khởi dùng mực làm vũ khí
truy kích nhau. Đứa nào sắm áo mới dễ trở thành mục tiêu cho tụi bạn rảy mực.
Là học trò tiểu học trường làng, ngày ngày đến trường,
việc chơi chẳng kém gì việc học. Tùy mùa mà chúng tôi có những trò chơi khác
nhau. Lũ con trai chúng tôi quanh đi quẩn lại cũng chỉ dăm ba trò: Bắn bi, nạp
vụ, căng cù (đánh trỏng), tạt loong ... và đánh nhau, trong đó, vui nhộn nhất
là môn sau cùng này, một môn chơi chẳng cần trang bị bất cứ dụng cụ gì, chỉ cần
có cơ bắp thật khoẻ để tấn công như rút chạy. Môn chơi này được hầu hết nam
sinh lớp tôi hưởng ứng. Một phe công thành (ở dưới đất), một phe thủ thành (cố
thủ trên bệ ximăng cột cờ). Trong lúc xung trận, có những chiến binh bị dính
đòn tơi tả, nhưng khi tiếng kẻng hết giờ chơi vang lên, là chúng tôi vội vã sắp
hàng vào lớp bỏ lại ngoài sân tất cả những ân oán của chuyện giao tranh.
Không ồn ào như lũ con trai chúng tôi, đám con gái lại
có nhiều trò chơi hơn, chúng rất khéo léo trong môn nhảy lò cò, thục mạng, chơi
chặt, chuyền cành cao chuyền cành thấp, nhưng chúng cũng cãi vã không kém phần
dữ dội trong các trò chơi ô làng (ô ăn quan) hay nhảy dây, ù mọi...
Có lẽ vui nhộn nhất là môn ù mọi, gặp lúc cao hứng
chúng vẫn đánh vật nhau huỳnh huỵch như thường. Môn này nói là trò chơi của tụi
con gái, nhưng nhiều lúc vô công rồi nghề, do nghịch ngợm hay ngẩu hứng, lũ con
trai chúng tôi cũng xáp vô ăn thua đủ.
Ngoài các trò chơi trên, một môn mà hai phái chẳng ai
kém ai, đó là môn ăn quà vặt. Kẹo Nouga năm đồng ba cái, ba que cà-rem giá cũng
chỉ năm đồng, rồi kẹo chanh kẹo dẽo, kẹo cau năm đồng là có cả vốc.
Nhưng hấp dẫn nhất vẫn là những bịch kẹo me, ngoài cái
vị chua chua ngọt ngọt mỗi bịch kèm theo hình các tài tử rất đẹp, nhiều đứa
thích sưu tầm chúng có cả xấp. Và với hình những chiếc xe, chiếc tàu lửa bắt
mắt có được trên vỏ kẹo Singum, chúng tôi thường đem dán trên cột nhà hay trên
cặp, bìa sách của mình, đôi lúc hứng chí lại dán lên tay như những hình xăm của
các tay anh chị dân chơi thứ thiệt.
Nói thế không có nghĩa lúc nào chúng tôi cũng có tiền
mua quà. Học sinh trường làng năm thì
mười họa mới có tiền. Những lúc rỗng túi, chúng tôi lại đi tìm những món ăn dân
giã có sẵn chung quanh trường. Khi thì dăm ba trái mắm nêm (chùm bao), vài chùm
muống chuổng. Công phu hơn thì kiếm dái mít giã chung với lá bùi nhùi trộn
muối, cùng nhau nhấm nháp cũng thấy ngon miệng. Chẳng biết tí gì về chuyện trầu
cau, vậy mà chúng tôi vẫn têm những lá trầu xinh xắn, ngọt ngào, nguyên liệu
chỉ là những lá keo bên ngoài bọc lá mồông cồông.
Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng yên bình, hạnh
phúc. Một mùa hè, không giống như những mùa hè êm ả khác, chiến tranh đã xảy
ra, lúc đó tôi vừa tròn tám tuổi. Lúc cùng gia đình gồng gánh di tản ngang qua
trường. Nhìn sân trường vắng hoe không một bóng người, cánh cổng xanh đứng im
thiêm thiếp, hàng bạch đàn xào xạc run run. Một nỗi buồn từ đâu bỗng ập đến,
tôi cảm thấy nghèn nghẹn trong lòng. Với trí óc non nớt của trẻ thơ, tôi thầm
nghĩ chỉ dăm ba bữa thôi chúng tôi sẽ trở về, sẽ được nô đùa cùng đám bạn bè
cùng lớp.
Nhưng có ai ngờ rằng trong giây phút vội vàng đó,
chính là thời khắc thiêng liêng, tôi được chứng kiến lần cuối ngôi trường thân
yêu của mình ...
Hai năm biền biệt tha hương nỗi nhớ thầy cô bè bạn
chẳng lúc nào vơi. Nhớ thầy Thuận hiệu trưởng, có khuôn mặt hiền hậu, nhớ thầy
Tùng có chiếc xe máy màu đỏ, nhớ thầy Tú có mái tóc bóng mượt, nhớ thầy Nhũng
có giọng nói Quảng Nam, nhớ thầy Sùng có chiếc áo len màu xám tro,... Tôi nhớ
hình ảnh ông phu trường, ngày ngày vào lớp phát bánh mì cho học sinh...
Tôi nhớ về lớp Ba của tôi, tôi hình dung ra từng lối
đi, từng chỗ ngồi trong lớp, thằng Bàn trên đầu có nhiều sẹo mà chúng tôi vẫn
chọc gọi là Bàn trẹo, Thằng Nam (Bút) thủ lĩnh của chúng tôi trong những trận
thư hùng. Trương Huê đệ nhất môn chơi bi của trường, mỗi lúc vào cuộc chơi ít
đứa nào so bì kịp, tài năng của Huê làm mấy anh lớp trên luôn phải ngán ngại.
Thi, Thuận được liệt vào hàng nhát như thỏ trong những lúc lâm chiến và còn
những đứa khác mỗi đứa mỗi tính mỗi đứa mỗi cách, Trung, Đợi, Triều, Trà, Sơn,
Liên, Hoa... đám bạn lớp Ba của tôi.
Nhớ những buổi bị phạt quỳ, bị đánh roi do quá ham
chơi nghịch ngợm, và những buổi trốn học rũ nhau ra cồn Đình, cồn Vạn bắt dế
hay lêu têu đi bắt tắc kè... Thật ngọt ngào biết bao với một khung trời đầy ắp
những kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ.
Hai năm sau chúng tôi được hồi hương, trong tâm trạng
bồi hồi của những người con xa xứ, nóng lòng mong gặp lại người xưa cảnh cũ,
nhưng thật xót xa thôn xóm hoang tàn, cửa nhà đổ nát. Tại bãi đổ, xe chưa kịp
dừng tôi đã phóng xuống, thật quá đỗi bàng hoàng khi tôi không thể nhận ra được
làng xóm thân yêu của mình và cũng chẳng biết mình đang đứng ở nơi đâu, mãi một
lúc sau định thần lại tôi mới ngỡ ngàng nhận ra: Cái trụ xi măng đỗ nát trước
mặt tôi chính là chiếc cổng trường, còn ngôi trường đã biến mất đi đâu mất,
thay vào đó là những hố bom sâu hoắm, những lùm cây cây dại um tùm, những tấm
tôle cong queo bẹp dúm, lỗ chỗ trên thân mình đầy những vết đạn.
Trong giây phút thẩn thờ, tôi rưng rưng đứng nhìn
chiếc cổng trường lở lói, chơ vơ gục đầu trong bạt ngàn cỏ dại. Ngôi trường
thân yêu của chúng tôi không còn nữa.
Vĩnh biệt lũ học trò chúng tôi, ngôi trường mãi mãi ra
đi. Còn đâu nữa những hàng cây xanh rợp bóng, còn đâu những gàu nước trong vắt
ngọt ngào từ cái giếng xanh rêu, còn đâu chiếc cổng trường có bảng biển màu
xanh quen thuộc, và đâu rồi phòng học lớp Ba yêu quý của tôi...
Thấm thoát thời gian trôi nhanh, cuộc chia ly ấy nay
đã hơn bốn mươi năm. Giờ đây, thầy cô nhiều bậc đã vong niên, còn lũ học trò
chúng tôi mỗi người một ngã. Mặc dầu vậy, khi hoài niệm về quê hương hay lần
giở những trang ký ức tuổi thơ, mỗi chúng vẫn bồi hồi nhớ về trường cũ. Ngôi
trường quê thân yêu, cái nôi của bao thế hệ học sinh trường làng: Trường Tiểu
học Cộng đồng Trường Sanh.
LVH
*****Đã đăng trong tuyển tập THƠ VĂN HẢI LĂNG.
Friday, April 6, 2018
DẠI KHỜ.... - Thơ - Phong Nguyễn
![]() |
| Tác giả Phong Nguyễn. |
DẠI KHỜ....
Phong Nguyễn
Tiếng chim...
Tu hú gọi mùa
Chợt hôm qua chị...vườn xưa lại về
Tuyết hoa điểm mái tóc thề
Duyên đem chị giấu... trong tà áo bay
Xưa hương...
bồ kết cay cay
Để em nhớ mãi... cái say nửa chiều
Nụ cười bất chợt nên yêu
Em về.. hát mãi.. khúc nghêu ngao tình
Thương đêm...
Trăng bạc mái đình
Chéo khăn... chị nhốt... cả hình bóng em
Có thật.. là chị.. Đã quên
Cái lần chị hứa... Em nên... mãi chờ...
Bao năm...
Chị cứ giã vờ
Cải ngồng mấy độ... Khạo khờ trổ hoa
Khê giang bến vắng khách qua
Cây đa thuở ấy... Đã già bóng thêm
Cớ chi...
Đợi đến trăng rằm
Dấu chân xưa lại... Về thăm quê buồn
Dây trầu vàng võ thời gian
Hương cau... Đã nhạt bao lần...thở than!!
Hôm nay...
Trời trở nàng bân
Chéo khăn ngày ấy... Cũng ngần nếp mơ
Thôi thì... Cái thuở ... Dại khờ...
Em xin... Trả chị... Cái khờ ngày xưa
18-1-2018. PN
THÁNG TƯ - Thơ - Nguyễn Đại Duẫn
Hoa loa kèn khoe sắc gọi hè
Trong trắng, trinh nguyên, tinh khôi óng ả
Ngậm giọt sương treo dịu dàng e lệ
Chúm chím, khiêm nhường nỗi bật long lanh
Những cánh hoa cúc dại mỏng manh
Vàng rực li ti đang cùng rạo rực
Như tình yêu tràn đầy thổn thức
Nồng nàn khao khát độ xuân thì
Tháng tư về giục gọi nắng hè
Hong cái rét nàng Bân còn sót lại
Chút hương xoan cuối mùa ngai ngái
Hương sữa nồng nàn
Thoảng hương lúa mênh mang
Gió nhẹ bay làn tóc liễu nhẹ nhàng
Man mác hương cau căng mình tạo quả
Cây bằng lăng trong nắng chiều lả tả
Lá vàng rụng rơi bung nụ tím thơ ngây
Nụ phượng hồng mĩm mĩm từng ngày
Xòe hoa lửa, ve râm ran tản mạn
Nước mắt trong veo ngày chia tay bè bạn
Chợt nhận ra thời gian quá trôi nhanh
Ôi! tháng tư khúc giao mùa trong xanh…
Nguyễn Đại Duẫn
Hội VHNT Trường Sơn.
Tiểu khu 5, thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
MÂY MƯA - Thơ - Lê Văn Thanh
MÂY MƯA
Ta nương theo dòng xuôi
Bồng bềnh ra ngàn khơi
Em mây ngàn rong chơi
Ngao du trong bầu trời
Ta cùng em xa xôi
Là dòng sông – mây trôi
Lên non và ra khơi
Thương nhau đành xa vời
Trời sinh ta cùng em
Trùng phùng theo thời gian
Chan hòa nuôi muôn loài
Sinh sôi muôn màu tươi
Thời gian trôi - mây trôi
Làm mưa tuôn nơi nơi
Chung lòng tay trong tay
Song hành cùng vui chơi
2015 - Lê Văn Thanh
MA TÔI! / DẮT HỒN TẢO MỘ THANH MINH! - Thơ - Như Thị LĐM
MA TÔI!
Theo Làng tảo mộ Thanh minh
Mà nghe hương khói điêu linh lềnh bềnh!
Cô hồn níu gót dợm quanh
Ma phiêu lãng giục chơi nhanh nhớ về…
Mà nghe hương khói điêu linh lềnh bềnh!
Cô hồn níu gót dợm quanh
Ma phiêu lãng giục chơi nhanh nhớ về…
Mắc chi Kiều phải nhiêu khê
Kết hồn ma nữ kéo lê đoạn trường
Xâu cốt nhục chuỗi tang thương
Cột tình đắm đuối gặm chương đọa đày!
Kết hồn ma nữ kéo lê đoạn trường
Xâu cốt nhục chuỗi tang thương
Cột tình đắm đuối gặm chương đọa đày!
Hồn ta rúc gió giêng hai
Lạnh bòn hớp cháo giữa đài chiêu linh
Thử đưa tay dắt vía mình
Rong chơi nghĩa địa với tinh yêu này
Lạnh bòn hớp cháo giữa đài chiêu linh
Thử đưa tay dắt vía mình
Rong chơi nghĩa địa với tinh yêu này
Giá mà còn có mai đây
Dẫu côi cút giữa tháng ngày quạnh hiu
Ma hiền một cõi phiêu diêu
Tung tăng lãm nguyệt hồn tiêu dao ...hề!
Dẫu côi cút giữa tháng ngày quạnh hiu
Ma hiền một cõi phiêu diêu
Tung tăng lãm nguyệt hồn tiêu dao ...hề!
Như Thị LĐM
DẮT HỒN TẢO MỘ THANH MINH!
Lạnh thừa tê ngọn thanh minh
Quăng đời ngắc ngoải giữa thinh âm chiều
Mơ hồ sương khói phiêu diêu
Gươm đao quá vãng chống điêu linh về
Nguyện hồn hớp ngụm tào khê
Nương thanh tịnh thủy giữa quê quán này
Thùy dương liễu vẫy- lành thay!
Mắt thương nhìn xuống pháp khai nhiệm huyền
Quán Tự Tại rực chơn nguyên
Cầm năm uẩn thấy một nguồn không hai
Mầm nứt bởi lá tàn phai
Khổ đau-hạnh phúc chính ngay đây mà
Dẫu đang vất vưởng ta bà
Thấy không thêm- bớt về nhà nhẹ tênh
Cưỡi toa dâu bể chòng chành
Nhìn không bẩn- sạch ngọn ngành như nhiên
Trầm luân cũng tại đảo điên
Hành trí bát nhã giữ yên ổn hồn
Dạo nghĩa địa biết tánh không
Thì cực lạc hiện giữa mông quạnh này
Như Thị-LĐM
ĐÊM BUỒN - Tùy bút - Trương Thị Thanh Tâm
ĐÊM BUỒN
Tùy bút
Trương Thị Thanh Tâm
Ngồi một mình giữa không gian tỉnh lặng, tôi thấy lòng mình hiu quạnh, lẻ loi...giờ đã quá nửa đêm, căn phố nghèo cũng ngủ sớm sau một ngày dài mệt mỏi mưu sinh, chỉ còn văng vẳng ngoài xa tiếng động cơ của một chiếc xe gắn máy thỉnh thoảng chạy qua rồi mất hút, khu phố lại trở về trong im vắng...
Đàn muổi cứ vo ve vang lên bên tai nghe thật mỏi mệt, ai
oán, tôi chợt nhớ đến sự tích về con muổi...
Đêm nay bầu trời đầy sao mà trăng thì bơi lội đi đâu chỉ còn
một nửa treo lơ lửng giữa vùng trời bao la, nàng trăng nầy đâu có thể nào bạc
tình như nàng muổi, hay nàng cua nào đó trong cổ tích, nàng bỏ đi mỗi tháng với
nhân tình nào đó chăng! Tôi thầm nghĩ như thế với sự vẽ vời hoang đường để khỏa
lấp nỗi buồn đang hiện hữu, gió xào xạc ở hàng chuối phía bên nhà, như thầm thì
chia sẻ nỗi buồn thầm kín trong tôi ...
Phải rồi, mệt mỏi hòa lẩn những ngán ngao trong cuộc đời tôi
bon chen vì cuộc sống, lẻ loi đơn độc trong tâm hồn mà tới giờ đây tôi cũng
chưa từng có một tri âm tri kỷ nào để chia sẻ tâm sự của mình. Tuổi xuân đi qua
vội vã, nhường cho tuổi già lừng lững đến, da mồi, răng long, tóc bạc, tôi chợt
giật mình...xoè tay đếm đốt, đã sáu sáu năm hiện diện dưới ánh mặt trời nầy, cuộc
vui chưa đến được bao lâu, thời đăng quang con gái, cái thời có kẻ đón người
đưa chưa được dài, đã lội bơi dòng nước ngược, nỗi khó khăn của gia đình, đã
làm tôi hụt hẩng, những giây phút mộng mơ của thời thiếu nữ, cởi bỏ lớp nữ
sinh, xếp lại tà áo dài trắng trinh nguyên, để nghiêng vai chia sẻ gánh nặng
trong cuộc sống gia đình.
1975 tôi chỉ vừa tròn 18, chưa kịp biết soi gương chải chuốc,
tóc còn chưa biết tếch để cài hoa, đã vội vã
đi vào đời sống thực tiển thời đó, thì mộng gì đây, mơ gì đây trong lúc
giao thời thuở đó, có, có một cuộc tình, à không có một cuộc tình vừa chớm nở
đã vội tan, chỉ lãng đãng trong những giấc mơ, những đêm giật mình tỉnh giấc
hình ảnh không trọn vẹn, để nghe con tim đau nhói, một thứ tình cảm đơn phương
mà hoài hoài thương nhớ, trong một bối cảnh nào đó không hiểu người ấy có còn
nhớ đến tôi không!
Tôi thường tự hỏi mình như thế, câu trả lời chỉ là những
dòng nước mắt, đơn phương thì có mối tình nào trọn vẹn...
Chiều càng xuống, đêm càng sâu, thì nỗi nhớ càng quay quắt,
nó xoay tròn và ngắt nhéo từng tế bào trong cơ thể tôi, tình yêu có thể mang lại
những ngọt ngào, nhưng cũng có thể xót xa đau, nhưng vẫn là cái cảm giác thật
tuyệt vời...
Tại sao lại phát sinh cái tình yêu nam nữ đó nhỉ, ông trời
rãnh rỗi quá khiến cho người dương gian chúng ta dở khóc , dở cười, một sân khấu
cuộc đời giữa bi và lạc, sự thu hút giữa điểm nhấn nào để ta chú ý và thương nhớ
luyến lưu, một ánh mắt, nụ cười, một ngoại hình, một bàn tay, một vuốt ve nào
đó đã làm ta không thể quên, ôi thượng đế...và ai đó đã se sợi chỉ hồng để buộc,
và nợ hay duyên để nhận được những ngọt ngào hay cay đắng, tình yêu cũng chẳng
phải là bậc thềm để ta phân cao, thấp, sang nghèo, thế mà ta cứ có những bước
chân vấp ngả trong cuộc đời, để giờ đây tôi như ốc mượn hồn, thỉnh thoảng thoát
ra và trốn vào cái thế giới mà tự mình bao lại...
CHẤT TÌNH YÊU
Tình yêu đâu có tuổi tên
Chỉ cần liếc mắt, nghe tim bồi hồi
Chỉ cần một nụ cười thôi
Chỉ là câu nói trên môi dịu dàng
Tình yêu cũng chẳng phân vân
Con tim hòa nhịp lâng lâng đủ rồi
Đâu cần môi sát bờ môi
Chỉ cần chạm, đã bồi hồi trong tim
Chữ tình dù đắng vẫn say
Vẫn ngây ngất nhớ, quên ngày quên đêm
Chữ tình đâu phải bậc thềm
Phân cao với thấp, phân hèn với sang
Dẫu cho tình biết lỡ làng
Con tim vẫn cứ rộn ràng đắm say
Chữ tình men rượu đắng cay
Vui trong chốc lát, lại buồn năm canh.
Nhưng nói như vậy chứ trên cõi đời nầy không có gì là tuyệt
đối, vạn vật đều có thay đổi, trời còn có lúc nắng mưa, rồi thời gian sẽ trôi
qua, ta không thể ngược dòng mãi mãi, cũng có lúc ta phải quên một mối tình nào
đó, sẽ bạc màu thương nhớ, sẽ phôi phai để đón nhận cái mới, bởi vì nếu cũ còn tồn
tại thì cái mới sẽ không đến, như tôi bây giờ đã và đang đón nhận một vầng thái
dương đã và đang đến trong tôi, dù hoàn cảnh có thể không tốt, dù tình yêu
không trọn vẹn, bởi tôi biết hoàng hôn đã làm phai màu tóc, và đã quay chậm một
vòng thì không thể đòi hỏi sự tròn vẹn tuyệt đối được, đời còn được bao nhiêu
mà hững hờ không đón nhận…
Trương Thị Thanh Tâm
Mỹ Tho.
CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ - Thơ - Võ Tấn Hùng
![]() |
| Tác giả Võ Tấn Hùng. |
CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ
Mười lăm tuổi vẫn chăn bò,
Giắt theo cây bút ra gò làm thơ.
Đôi dòng lục bát vu vơ,
Nhà bên mất ngủ, ngẩn ngơ nắng chiều?
Vần thơ loạn nhịp tim yêu,
Phập phồng, lơ lửng tiếng tiêu trăng hè
Bao lần hò hẹn triền đê,
Tóc vương hương bưởi lời thề thuỷ tinh.
Cũng do chuyện của chúng mình,
Cả hai mấy trận lôi đình mẹ cha…
Rời làng cơm áo phương xa,
Nhớ mong day dứt quê nhà bao năm,
Lỡ vương mang phận kén tằm,
Nhả tơ rối rắm thăng trầm gieo neo,
Văn thơ rẻ mạt hơn bèo,
Làm sao tính chuyện bồng đèo nợ duyên?
Rượu be ngày tháng đâm ghiền,
Câu thơ bụi bặm kim tiền lên ngôi
Tình em dang dở một đời,
Âm vang tiếng sóng cuối trời nổi trôi!
Phước Hưng, chiều 29.03.2018.
Võ Tấn Hùng
(Ảnh tác giả Võ Tấn Hùng)
Subscribe to:
Posts (Atom)






