Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, June 19, 2017

HẠNH PHÚC & CẠM BẨY - Truyện ngắn của Hoàng Đằng


       
                              Tác giả Hoàng Đằng




HẠNH PHÚC & CẠM BẨY

                                   Truyện ngắn của Hoàng Đằng


Thời trai trẻ, cụ Hoành đi theo Việt Minh, tham gia kháng chiến chống Pháp, rồi sau năm 1954 ra Bắc. Năm 1975, nước nhà thống nhất, cụ cùng vợ con về sống với làng xóm.
Khác với một số người có theo cách mạng, sống trong cộng đồng, thường ra vẻ “ta đây” kể công “đuổi Mỹ đánh nguỵ”, cụ Hoành không bao giờ, cụ sống chan hoà với mọi người. Tuy nhiên, những gì riêng tư của cụ thì không ai biết dù có người, do tính tò mò, cố dò hỏi, tìm hiểu. Thậm chí bà con thân thuộc cũng thắc mắc không biết cụ đã từng làm việc gì và giữ chức gì mà nay tuổi cao về nghỉ, cụ lãnh tiền hưu lớn đến thế – nghe nói trên mười triệu đồng mỗi tháng.
Năm ngoái, cụ bà mất do già yếu bệnh tật, cụ sống với người con trai út làm viên chức nhà nước.
Cụ có bản tính năng động, thích giao lưu; ngoài thường xuyên dự các buổi họp làng, họp họ, bàn việc tu sửa các cơ sở thờ phượng bị hư hỏng do chiến tranh, việc cúng tế thần linh tiên tổ hàng năm để tri ân, cầu an, cụ còn sinh hoạt trong rất nhiều hội đoàn: đảng bộ cơ sở, hội người cao tuổi, hội hưu trí, hội cựu quân nhân, câu lạc bộ thơ ... .
Cụ cho biết quan điểm:
Tham gia hội họp, sinh hoạt hội đoàn vừa tiêu phí thời gian nhàn rỗi vừa, với tư cách và vai trò của một đảng viên nhiều tuổi đảng, góp phần giữ ổn định an ninh chính trị, trật tự địa phương.
Các bạn đồng hội, đồng đoàn cảm thương hoàn cảnh đơn chiếc của cụ. Ai cũng thì thầm, hít hà:
Dù tiền bạc không thiếu, cụ Hoành thiếu tình cảm, tội nghiệp!
Mà đúng vậy; đêm về, thằng con út cụ cùng vợ con nó vô phòng riêng đóng cửa lại; cụ một mình bên ngoài, xem TV xong, lên giường, nằm, gác tay lên trán; trong cảnh vắng vẻ, cụ buồn vui không biết san sẻ cùng ai. Lắm lúc, đang nằm, cụ gượng người dậy, ngồi, rồi lần đến bên bàn thờ cụ bà, đốt que hương, nhìn chằm chằm ảnh cụ bà – cái ảnh qua photoshop trông rất hiền thục; nỗi niềm thương nhớ chạy từng luồng trong con người cụ; rồi cụ lủi thủi trở về giường, thở ra thở vô như tiếc nuối cuộc sống hạnh phúc của mình đã vụt tắt.
*
Dạo này, các bạn đồng hội, đồng đoàn đưa ra lời thuyết phục cụ nên “đi thêm bước nữa”; người này lý luận: “con nuôi cha không bằng bà nuôi ông”; người nọ giải thích: nào là con trai thì yêu thương vợ nó, con gái thì yêu thương chồng nó, ai yêu thương cụ! nào là khi trở trời trái gió, the da nóng chắc, có nhiều việc riêng, mà dù cụ có nhờ và con cái có làm giúp cũng chỉ cực chẳng đã, chi cho bằng vợ với chồng, chỉ có vợ mới làm những việc “tế nhị” ấy chu đáo ...
Đất có khô đến mấy mưa lâu cũng thấm; những lời khuyên ấy, cụ nghe, thấy có lý; tâm hồn cụ máy động xúc cảm trở lại; nhưng nếu tỏ thái độ bằng lòng ngay, cụ sợ bị thiên hạ bêu giếu là ông già “rửng mỡ”, “mất nết; cụ giả bộ than thở:
Tui già quá rồi, còn “mần” chi được nữa mô mà lấy vợ, cặp đôi!
Nghe vậy, một cụ chừng bằng tuổi cụ trong hội người cao tuổi góp ý:
Răng mà nói không còn “mần” chi được, con người chỉ hết “mần” khi tim hết đập, máu hết chảy. Mà lo chi, không “mần” được việc ni thì “mần” việc khác; trong đời sống lứa đôi, thiếu chi việc để “mần”, cùng lắm thì “trẻ mần cấy mần giông, tra mần ông mần mụ”!
Họ mai mối cho cụ nhiều phụ nữ “rảnh tay” mà từ ngữ vùng này gọi là “cụt đọt” – chết chồng, ly dị chồng, lỡ thì.
Với những bà trên 50 tuổi, cụ từ chối, viện cớ:
Tui đã già, đem thêm một bà già nữa về trong nhà; lão thì bệnh, quy luật là thế. Khi cả hai đều bệnh, thì nhờ ai săn sóc đây. Không được, không được!
Giọng cụ vừa ngoay ngoảy vừa vung văng vừa thẳng thừng không làm cho những người mai mối thất vọng mà qua đó, họ đoán biết ông già này đúng là “ông già gân”, còn thích “cỏ non”. Thôi được ... Có đó!

*
Hội người cao tuổi làng này rất “chịu chơi”; đừng tưởng tuổi già là kèm theo vẻ đạo mạo! Mỗi lần, hội họp xong, các cụ ông cụ bà ít khi chịu về nhà ngay với con, cháu, chút, chít mà rủ nhau đi hát karaoke.
Cô Lài, chủ quán karaoke đầu làng, mới khoảng 40 tuổi; không phải là người địa phương, cô, nghe nói, từ một tỉnh nào trong Trung Trung Bộ ra đây thuê nhà mở hàng kinh doanh; dân địa phương thấy cô sống một mình, cứ nghĩ cô độc thân, chứ biết đâu cô có chồng có con trong quê!
Nhan sắc cô hấp dẫn, giọng hát cô tình tứ; khách nào muốn “hát karaoke ôm” cô cũng sẵn sàng. Mấy cụ trong hội người cao tuổi vào hát, thường mời cô tới ... hát cùng; cụ Hoành luôn được sắp xếp ngồi gần cô Lài; ban đầu, cụ bẽn lẽn, sắc mặt thay đổi, cử động luống cuống; còn cô Lài cứ xích sát vào cụ, cất tiếng hát não nùng: “Đừng để em một mình ... Đừng bỏ em một mình ... Trời lạnh quá ... Trời lạnh quá ... Sao đành bỏ em một mình ...” (1); những âm điệu lời hát của cô Lài vang lên, ngọt ngào như mật rót vào tai, níu kéo cụ Hoành; rồi cụ ngây ngất, ngửa người dựa vào ngực cô Lài.    
Sau đó ít lâu, cụ Hoành, nếu rảnh, sáng chiều kêu “xe ôm” chở tới quán, nghe cô Lài hát và trò chuyện.
Tình yêu nam nữ đã sống lại mãnh liệt trong tâm hồn, cụ Hoành cố gắng chỉnh trang cơ thể để ra vẻ trẻ trung; râu, mặt luôn cạo nhẵn nhụi; đi đứng luôn ưỡn người để uốn thẳng lại cái lưng đã còm; thỉnh thoảng, dịp cuối tuần, cụ vào các siêu thị tìm đến các quầy mỹ phẩm mua những loại nước hoa “ngoại” đắt tiền, mỗi lần đi ra ngoài, cụ không bao giờ quên ria mùi thơm rải đều lên người.
Dạo này, ai khen cụ trẻ lại, hồi xuân lại, cụ mừng lắm, cười, nhe hai hàm răng trắng bóng đều đặn do vừa mới trồng và cạo sạch cao. Cụ và cô Lài bên nhau đã có phần nào cân đôi vừa lứa, không còn lộ rõ sự cách biệt về tuổi tác như lúc mới quen.
Chiều chiều, đóng quán sớm, cô Lài đưa xe máy tới đón chở cụ đi chơi, cô lái xe, áo hở ngực, váy ngang đùi, cụ ngồi sau, quần short trắng, áo pull xanh lá cây; xe cứ tìm chạy vào những con đường vắng; những tiếng thì thầm “mình ơi, ơi mình” qua về, những nhịp đập rộn ràng từ tim của người này người kia có thể nghe rõ; đừng lầm ai già rồi thì mắt cũng mờ, tai cũng điếc! Nơi người cụ Hoành, cái dây thần kinh thính giác, xưa nay bị liệt do tuổi tác không nghe được, giờ có hơi đàn bà cũng hồi sinh.
Ngồi xe mệt, hai người vào phòng trọ, thuê giờ ... nghỉ ngơi; cô Lài tỏ ra là người từng trải: cô dựng xe máy trước phòng trọ bao giờ đầu xe cũng xoay ngoài, còn đuôi xe xoay trong, không cho người thân quen, do tình cờ, thấy biển số xe.
*
Cụ Hoành nhờ đứa cháu gọi bằng bác, lên quầy bán xe máy, chọn mua một chiếc “xịn”; chiếc xe sơn màu mỡ gà có chạy những sọc màu hồng; cụ quyết định tập đi cho được để trong một thời gian ngắn nữa cụ sẽ lái đèo cô Lài cho thuận lẽ đời – ai đời cứ để người phụ nữ “cầm cương” hoài, ôốc dộôc lắm!
Chiều hôm ấy, cụ nhờ đứa cháu đưa xe lên quốc lộ tập. Ban đầu, đứa cháu cầm lái, cụ ngồi sau, người hơi chồm phía trước; đứa cháu hướng dẫn cụ bấm nút nào để nổ máy, nhích cần số thế nào để khởi động xe, nhả ga đạp phanh thế nào để dừng xe. Cụ chăm chú nghe. Cụ thấy cũng dễ thôi, nhủ thầm: “Không có việc gì khó ... Thiên hạ lái được thì mình lái được”.
Đứa cháu cầm lái, chạy khoảng vài chục cây số, ngoái cổ hỏi cụ:
Giờ bác lái được chưa?
Cụ Hoành trả lời không chút do dự:
- Dễ ẹc, có chi mà lái không được, để đó cho bác!
Đứa cháu tạt xe về bên lề đường, dừng. Cụ Hoành loay loay, ngồi vào yên, hai tay nắm guidon, đứa cháu cẩn thận ngồi sau, sát vào cụ, có ý nếu cụ lỡ động tác nào thì chỉnh ngay.
                               *
Không biết cụ bấm nút gì, tay vặn chỗ nào, chân đạp chỗ nào mà chiếc xe vụt chạy ra giữa đường, ngung ngăng, chạy theo đường zigzag; một chiếc xe ô-tô tải đang chạy ngược chiều, trên đường trường với tốc độ cao, vụt chồm tới.
“Rầm” ... một âm thanh khủng khiếp do va chạm mạnh vang lên cùng nhiều âm thanh lẻng kẻng khác. Chiếc ô tô tải dừng lại, tiếng phanh rột roạt, đầu xe ngoặt ra giữa đường; chiếc xe máy bị hất tung nằm bên đường, đứa cháu nằm trên cỏ, xa chiếc xe máy khoảng một mét, cụ Hoành nằm sát bánh trước chiếc ô tô tải, máu lênh láng khắp cái đầu hói.
Đứa cháu may mắn, chỉ xây xát mặt mày, nó tự đứng dậy được, hoảng hồn, nhìn ngơ ngác, hình như chưa biết rõ ràng chuyện gì đã xẩy ra. Rủi cho cụ Hoành! Cụ nằm bất tỉnh. Một vài người đi đường dừng lại, la hét:
- Ông lão chết rồi kìa! Sao không sớm kiếm phương tiện đưa ông đến bệnh viện; hoạ may ...  còn nước còn tát ...

*
Xe cấp cứu đưa cụ Hoành vào bệnh viện; chẩn đoán ban đầu cho biết dù bị chấn thương sọ não, cụ còn có thể được cứu sống.
Một cụ cao tuổi tình cờ ngang qua, thấy chuyện, vội vã chạy báo với cô Lài là cụ Hoành bị tai nạn nhập viện, cô Lài giả bộ hỏi:
Cụ Hoành nào vậy!
Nghe thế, ngao ngán, thiên hạ trách cô Lài sống không tình, không nghĩa, thiếu thuỷ chung. Cô lên giọng, mắng:
Ông Hoành là cái ông có đi chơi với tôi, phải không? Ông ấy chỉ là một người khách như trăm ngàn khách khác, có chi mà phải tình, phải nghĩa. Còn chung thuỷ à! Giả dụ ông ấy là chồng của tôi, tội gì mà tôi phải chung thuỷ! Tôi lấy ông già ấy là để mong hưởng cái tiền hưu hơn mười triệu mỗi tháng, tôi không lấy ông ấy như là một ông già; huống gì bây giờ ông ấy là một bệnh nhân, là một người tàn tật nếu có cơ may sống còn! Tôi đi tìm hạnh phúc, chứ không đi rước cực khổ vào thân. Tội gì mà tôi phải săn sóc một ông già, một bệnh nhân, một người tàn phế! Tôi cũng chưa điên!  Mấy người nhiều chuyện đã hiểu chưa?

                                                       Hoàng Đằng
                                          16/6/2017 (22/5/Đinh Dậu)

(1) “Đừng bỏ em một mình”, tên bản nhạc của Phạm Duy phổ thơ Minh Đức Hoài Trinh.

READ MORE - HẠNH PHÚC & CẠM BẨY - Truyện ngắn của Hoàng Đằng

CHUẨN BỊ ĐI TẬP KẾT - Trích hồi ký “Về người cha thi sĩ” của Lâm Bích Thủy

          
                           Tác giả Lâm Bích Thủy



   CHUẨN BỊ ĐI TẬP KẾT 

  Năm 1954 Việt Nam ký Hiệp định Geneve với Pháp về việc tạm chia Việt Nam thành hai Miền. Lấy Vĩ tuyến 17, cụ thể từ cầu Bến Hải “Cầu Hiền Lương” làm đích. Từ Bến Hải trở ra Bắc thuộc lãnh thổ chính quyền Cách mạng. Từ Bến Hải trở vào Nam thuộc chính quyền Miền Nam mà Bảo Đại là Quốc trưởng, Ngô Đình Diệm là thủ trướng. Những người theo kháng chiến tạm ra Bắc hai năm, hết hạn lại trở về, còn ai thân Bảo Đại thì di cư vào Nam.

   Những tháng cuối năm 1954, tôi ít thấy ba ở nhà, ông bận đi họp, học chính trị ở Bồng Sơn.. Một hôm, sau Tết (khoảng đầu tháng 3) năm 1955, ba nói nhỏ với má “Nhà ta sẽ ra Bắc sống, chưa biết lúc nào lên đường, má sắp nhỏ chuẩn bị hành trang, có giấy triệu là lên đường” 

 Với tinh thần xác định đi xa, má tôi tranh thủ vào Nha Trang thăm bà con bên ngoại lần cuối. Lúc đó, má cho tôi đi theo. 
 Hai mẹ con đi xe ngựa vào Phú Yên, từ đây chúng tôi đi xe goòng vào Nha Trang. Xe gòong chỉ có một toa như toa tàu hỏa, không có đầu để kéo; chỉ có hai công nhân vừa chạy vừa đẩy trên đường ray; xuống dốc thì họ lên toa ngồi. Goòng băng qua bạt ngàn rừng cây. Mùi hoa, trái chín của các loài quả: ổi, chim chim, dú dẻ quyện vào nhau tạo ra một mùi thơm quyến rũ. Lúc nhỏ tôi thích mùi hương tổng hợp này lắm.  
  Ba tôi cũng đã đi trên chiếc goòng này, nên có thơ:
  Đêm ấy,
Đêm mồng một
Tháng Năm
Sao đã cháy đằng Đông,
Chiếc xe goòng lên dốc,
Chiếc xe goòng ở đây còn lên dốc
Đoàn đẩy xe hì hục bên nhau.
Vân Canh dài cánh rừng sâu,
Khói bom còn khét trên đầu ngọn cây...
Đến Nha Trang, tôi ngẫn ngơ như người trung cổ mới đến trái đất lần đầu. Trên con đường rải nhựa láng cóong, hàng cột đèn cháy sáng thẳng tắp. Tôi phục lăng người Nha Trang họ tài ghê; đèn thắp ngược, không dầu mà sáng trưng. Nhà thì cao vời vợi, lợp bằng ngói đỏ chứ không lợp tranh như nhà tôi. Lạ nhất là chiếc ô tô. Quê tôi không có con ô tô này đâu. Trời ơi, hai mắt (đèn) nó to, sáng quắt, miệng nó có từng ô bé xíu giống cái cửa sổ buồng ba má. Ông chủ lấy que sắt cong, ngoáy vào lỗ mũi thế là nó thở hắt ra nghe rất lạ: xình xình xình. Lúc nó quay đầu, ông chủ bảo tôi xê ra không bị nó cán chết. Tôi lật đật trốn sau lưng má, sợ nó ăn thịt… 
    Má cho đi thăm hết bà con bên ngoại; sau đó đến nhà bác Quách Tấn. Tôi còn nhớ như in, các con bác, cao bằng má, mà lễ phép quá chừng. Gặp má, họ vòng tay, cúi đầu chào rồi lảng ra chỗ khác, chứ không trơ mắt nhìn khách như chị em nhà tôi. Tiếp chuyện má là một người đàn ông, gầy, mặt xương, ánh mắt hiền. Tôi ngồi bên má, im lặng, để hai người lớn nói chuyện. Tôi nhìn ra sân, thấy cây mận, muốn ra hái, nhưng má níu tay tôi giữ lại. Mận mới ra trái, còn non choẹt, đầu quả có râu tua tủa…
 Nói chuyện một lúc thì người đàn ông đưa má phong bì, nói nhỏ, tôi nghe được “Thím đưa tận tay chú Lang, đừng để lọt ra ngoài, nguy hiểm lắm. Nếu thấy không thể mang ra, thím đọc rồi đốt đi, về nói lại với chú Lang cũng được.” 

 Vào Nha Trang, tôi được các cô, dì bên ngoại cưng lắm! Ở nhà, tôi là chị cả, nên cái gì má cũng bắt nhường! Vào Nha Trang sướng quá nên tôi dùng dằng không muốn trở về nhà. Các cô, dì nói: “Em về một mình, để cháu lại, các chị nuôi và cho ăn học đến nơi đến chốn”. Nếu không đi tập kết, có lẽ má đã để tôi ở lại Nha Trang rồi. Hơn nữa, chưa hỏi ý ba nên má không dám quyết. 
   Thấy tôi khóc lóc không chịu về, bà dẫn ra sau nhà dỗ dành “Đừng khóc nữa, mình về sẽ đến ở nơi sướng hơn đây con hà” Tôi nhớ, lúc đó, đã lục vấn “Thiệt không, má không được phỉnh con nhen”- “Thật chớ, phỉnh con làm gì, về nhà là đi ngay thôi ”- má tôi trả lời. Tôi vui vẻ đi chào bà con để lên chiếc xe ngựa đang đứng chờ ở trước cửa. 
  Xe ngựa đưa mẹ con tôi đến nơi giáp ranh giữa vùng tạm chiếm và vùng tự do, vào 8 hay 9h sáng hôm đó. Có lẽ, đó là nơi giáp đèo Cù Mông thì phải, tôi không nhớ rõ. Tại thời điểm đó, trên phần đất Bình Định vào Phú Yên có lệnh cấm “Không được đem một mảnh giấy có chữ ra hoặc vào trong vùng”. Đến Điểm gác, nơi ranh giới giữa vùng tự do và tạm chiếm, có lệnh: “Cấm không đem thứ  gì của vùng tự do vào vùng tạm chiếm và ngược lại” 
 Không biết trí nhớ của tôi có chính xác về cảnh tượng  xung quanh điểm canh đó không? Nhưng hình ảnh đọng lại trong tôi, nơi đó rất sơ sài, chỉ là túp lều tranh tạm bợ bằng những tấm phên đan bằng vầu, nằm lọt thỏm trong góc sườn trọc, cạnh con đường đất gập ghềnh sống trâu. Xa xa, phía dưới là vực thẳm, ai lỡ chân thì chỉ đi, không có về! Quang cảnh ở đây tuềnh toàng, đơn sơ. Ranh giới chia hai vùng là cây sào dài hơn 5m, bắt ngang qua hai trụ tre cột chéo. Cả hai bên, đều có người đứng chờ khám xét mới cho qua, lại. 

  Bên Phú Yên, mẹ con tôi chờ ra Bình Định, tôi thấy mấy ông cảnh sát trừng trừng nhìn mọi người, cơ hồ như muốn nuốt chửng họ. Tôi liếc về phía má, bà có vẻ lo lắng, bồn chồn. Trời xui, đất khiến sao, lúc ấy, tôi lại cần giải quyết vấn đề. Tôi nhăn nhó gọi “Má ơi, con mắc quá… ” Khi nghe tôi nói ra điều ấy má tôi vui lạ. Bà nắm tay tôi, lôi xuống sườn dốc. Mùi ổi chín thơm nức, khiến tôi quên việc cần giải quyết ngay. Tôi hướng theo mùi thơm tìm, và thấy cây ổi có 2 quả chin mơn mỡn trông ngon mắt. Xong việc, tôi hái hai quả ổi đó để về cho các em. Vừa lúc đó, má đến, nhét cái gì vào bụng tôi, dặn “Con đừng để ai thấy và làm rơi mất. Lúc họ khám má, con đi nhanh qua bên kia nhé”. Tôi làm theo lời má dặn. Vậy là thư bác Tấn gửi đã đến được tay ba ngon ơ!
   Sau này, nhớ lại, tôi tò mò hỏi: “Ba ơi! thư bác Tấn hồi đó có gì bí mật mà má phải giấu dím khổ sở vậy?”
- À, bác khuyên ba nên đưa gia đình đi tập kết, không nên ở lại như lời khuyên ban đầu, vì có người đang tìm cơ hội để hại ba”- ba tôi cười, trả lời.

Mẹ con tôi về kịp để ra tập trung ở Bồng Sơn. Má loay hoay mãi việc đem đi hay để lại; cầm thứ này lên rồi bỏ xuống, thứ gì cũng muốn mang theo, thứ gì cũng muốn để lại. Cứ hỏi ba, mang hay để? Ba khuyên:
- “Không nên mang nhiều phiền phức, tiền thì mang hết; đem đủ áo quần để thay trên tàu, mỗi người một ống tre để nôn. Còn tài liệu, sách vở của tôi gửi anh Ba Thành. Ra tới miền Bắc, sẽ được cấp phát đồ dùng cá nhân cho sinh hoạt hàng ngày, đem nhiều, nặng cực thân” 

  Tôi nhớ vô cùng, khi má tôi lo thu dọn hành lý, thì chị em tôi lăng xăng kiếm chỗ cất đồ chơi. Đồ chơi của chúng tôi chỉ là mấy cái khu chén vỡ, nắp họp cù là để dện bánh in đất (đất này có khi nhào bằng nước lã hoặc nước đái của chúng tôi) và mấy cái rổ tre bé tẹo ba đan cho. Tôi sợ người ta lấy mất, nếu sau này về, không có để chơi thì tiếc lắm. Tôi ấn sâu vào sau bồ lúa, rồi hỏi “Cất ở đây có ai lấy không má?”. má bảo:- Ai lấy thứ đó làm gì, cứ để ở đó, hai năm nữa về chơi. 
   
Cả nhà đi xe ngựa ra Bồng Sơn và ở đó đợi gia đình chú Mịch Quang, chú Hoàng Châu Ký, Chú Khánh Cao v.v.. ở  Phú Yên, Quãng Ngãi vào (chuyến tàu lần này là chuyến 
thứ 9, nghe nói dành cho Văn nghệ sĩ Miền Trung). 
  Sau khi các gia đình đến đầy đủ, ba tôi tìm thuê xe ngựa chở các gia đình xuống Qui Nhơn, đợi tàu ra Bắc .
  
   Ngày nay, mỗi lần đi qua Cầu Gành ở quê, tôi luôn nhớ  về buổi chia tay lần cuối với ông ngoại. Ông ngoại dáng cao, da bánh mật, nhìn chắc và khỏe; đầu ông quấn khăn lông trắng màu cháo lòng. Đêm trước khi đi, ông đến nhà, hơi thở nồng nặc mùi rượu. Ông ngồi ở bàn làm việc của ba, mắt lờ đờ, giọng đức quãng. Lúc đó, ba ở Bồng Sơn để đón các chú văn nghệ sĩ; má ru em Nhuận trong buồng. Ông ngoại say lắm, lảm nhảm đủ chuyện, tôi nghe rõ lời ông nói về má:
- “Tội nghiệp con Lan quá chừng, vì không nghe lời cha, lấy chồng nghèo kiết xác, đời nó khổ không ngóc đầu nổi. Mai rày nó lại theo thẳng (thằng ấy) đi xa lắc xa lơ, biết chừng nào gặp lại hở con !” xong ông thút thít khóc như trẻ. .. 
   Mãi không thấy má trả lời, ông loạng choạng ra về. 
   Sáng sớm hôm sau, tôi kể cho má nghe. Mặt má buồn thiu, hỏi đi hỏi lại “Có thiệt ông nói vậy không con?!” Và sau đó  mấy mẹ con đi xe ngựa ra Bồng Sơn để tập trung… 

 Tất cả các gia đình có mặt ở Bồng Sơn, thế là chúng tôi lại xuống Qui Nhơn chờ tàu. Khoảng 8h sáng, xe ngựa chở mẹ con tôi từ Bồng Sơn qua thị trấn An Nhơn. Ngạc nhiên sao, ông ngoại đã đứng bên vệ đường, vẫy tay! Xe lướt qua, ông lấp xấp chạy ở sau; theo miết...! Điều gì khiến ông lẽo đẽo theo mẹ con tôi mãi không chịu dừng? Lẽ nào ông cảm nhận-đó là lần cuối cha con ông cháu gần nhau?!... Nhưng, khi đến giữa Cầu Gành, con ngựa đột ngột trở chứng, ì ra. Chủ nó lấy roi quật lia lịa vào mông, vào bờm, cầm giây cương lôi mạnh nó đi. Con ngựa ngoan cố, chạng hai chân sau ghì lại, mắt trợn ngược chống đối. Ông chủ đành thả lỏng cương cho nó nghỉ. Lúc đó, má tôi ló đầu, ngoái lại sau, nói “Cha ơi, về đi nắng quá rồi, ốm đó cha!” Ông bước tới chỗ mẹ con tôi, miệng méo xệch, mí mắt rưng rưng “Thôi con đi hai năm con về với cha!” Tôi thấy ông nắm chéo khăn, lau vào khóe mắt. Cử chỉ của hai người làm tôi bật khóc hu hu rất to.. Má tôi mếu máo “Cha về đi, nhớ giữ gìn sức khỏe, hai năm con lại về với cha!”  Tôi nhớ tất cả chính xác vậy đó!  
                                                                                                                                                                    LÂM BÍCH THỦY

READ MORE - CHUẨN BỊ ĐI TẬP KẾT - Trích hồi ký “Về người cha thi sĩ” của Lâm Bích Thủy

NẾU ĐƯỢC YÊU LẦN NỮA - Thơ Nguyễn An Bình





NẾU ĐƯỢC YÊU LẦN NỮA

Nếu được yêu lần nữa
Hãy yêu như lần đầu
Trái tim mình thắp lửa
Nhóm một thời có nhau.

Trong rừng mơ thuở ấy
Em là đóa phù dung
Xanh bốn mùa con gái
Mắt biếc màu thủy chung.

Một ngày rất nhiều gió
Em ơi nước sông đầy
Chở tình anh qua đó
Sóng xô bờ đắm say.

Cánh chim bay chưa mỏi
Giữa khung trời chiêm bao
Lời yêu thơm hương tóc
Biết đâu tình hư hao.

Nếu được yêu lần nữa
Quên sao môi hồng đào
Tình ngày xưa bỗng cháy
Nụ hôn quá ngọt ngào.

Thời gian ơi dừng lại
Cho anh nói lời yêu
Ước chi còn phép lạ
Ta gần nhau thật nhiều.

Tình thơm mùa trái chín
Vườn yêu rụng tình cờ
Mắt người còn lúng liếng
Thương tình đầu ngây thơ.

Đường dù xa vạn dặm
Em ơi chớ quên lời
Bao dốc tình lận đận
Xin người đừng mù khơi.

          Nguyễn An Bình 

READ MORE - NẾU ĐƯỢC YÊU LẦN NỮA - Thơ Nguyễn An Bình

CHÙM THƠ TỊNH ĐÀM


                   Tác giả Tịnh Đàm



MƯA ...

Cơn mưa,
Làm nhớ cả hồn.
Giọt từ xa vắng...
                    Về hôn tóc mềm.
Nghe chừng...
                  Mắt cũng buồn thêm,
Khi chiều ngả bóng bên thềm...
                           Mưa qua.


CÒN CHÚT HƯƠNG XA

Buồn tôi,không đủ bằng lời,
Cũng đành lấy mắt nhìn đời bể dâu.
Qua đi năm tháng dãi dầu,
Thấy tôi mái tóc nhuốm màu sương pha.!
Nợ tình , còn chút hương xa.
Cuả người yêu cũ...đã là cố nhân.
Cố nhân ơi...
Hỡi cố nhân !
Yêu thương giữ lại...
                 Có ngần âý thôi.


ĐỢI...

Lặng thầm tôi,
Buổi hoàng hôn.
Đợi,
Người về lại...
Khơi nguồn yêu thương.
Và tôi,
Giữa cõi vô thường,
Hát ru tình...
Với khói sương... Mộng người.


CHỐN  TÌM

Mỗi chiều,
Tôi lại ngồi đây.
Mắt nhìn,tai dỏng nghe đầy...
                          Tiếng xe.
Người đông,
Chẳng thấy bạn bè.
Lặng im tôi,
Nỗi buồn se thắt lòng!
Cái không...
               Là những long đong.!
Cái còn có được...
                    gởi trong tình người.
Sẻ chia,
dẫu chỉ bằng lời,
Cũng mong nhận lấy để đời vui
thêm.

                        TỊNH ĐÀM
                (Hóc Môn.TPHCM)

READ MORE - CHÙM THƠ TỊNH ĐÀM

ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI (KÌ 6) - TS. Nguyễn Ngọc Kiên chọn dịch và giới thiệu thơ


               Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên



ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI (KÌ 6)

Số trước chúng tôi đã giới thiệu một số bài TÁI THƯỢNG KHÚC và TÁI HẠ KHÚC (KHÚC HÁT NƠI BIÊN TÁI) của Lí Bạch, Vương Xương Linh. Số này chúng tôi tiếp tục giới thiệu chùm bốn  bài TÁI HẠ KHÚC của Lư Luân (Trung Đường).

LƯ LUÂN 盧綸 (748-800)

Lư Luân tự Doãn Ngôn 允言, người Hà Trung (nay là tỉnh Sơn Tây). Trong thời Đại Lịch, đời Đường Đại Tông, thi nhiều lần không đậu, sau có người tiến cử ra làm quan chức uý tại Văn Khanh, lần lần thăng đến chức Hộ bộ lang trung, giám sát ngự sử. Tham gia quân đội nhiều năm, thơ ông phóng khoáng, quan tâm nhiều đến đời sống nhân dân. 

Lư Luân là một trong mười tài tử thời Đại Lịch (chín người kia là Cát Trung Phu, Hàn Hoành, Tiền Khởi, Tư Không Thự, Miêu Phát, Thôi Động, Cảnh Vi, Hạ Hầu Thẩm, Lư Đoan).

塞 下 曲 四 首 之 一 - 盧 綸 
鷲 翎 金 僕 姑 
燕 尾 繡 蝥 弧 
獨 立 揚 新 令 
千 營 共 一 呼

TÁI HẠ KHÚC (BỐN BÀI KÌ I)– LƯ LUÂN

Thứu linh kim bộc cô 
Yến vĩ tú miêu hồ 
Độc lập dương tân lệnh 
Thiên doanh cộng nhất hô

Dịch nghĩa : 
KHÚC HÁT MIỀN BIÊN TÁI (KÌ 1)– LƯ LUÂN
Đầu tiên là phát lệnh, kế tiếp là lập công, kế nữa là thoái địch, cuối cùng là ca khúc khải hoàn. 
 Mủi tên làm bằng lông con chim thứu 
Cây cờ thêu bằng đuôi con yến 
Đứng oai nghi lẫm lẫm ra hiệu lệnh 
Ngàn doanh trại cùng dạ rân 

Dịch thơ:
KHÚC HÁT MIỀN BIÊN TÁI (KÌ 1)– LƯ LUÂN
Tên Kim Bộc lông thứu 
Cờ đuôi én  rõ ràng 
Một mình  truyền lệnh mới
Nghìn trại cùng hô vang 

塞 下 曲 四 首 之 二 - 盧 綸
林 暗 草 驚 風 
將 軍 夜 引 弓 
平 明 尋 白 羽 
沒 在 石 稜 中

TÁI HẠ KHÚC KÌ 2 – LƯ LUÂN
Lâm ám thảo kinh phong 
Tướng quân dạ dẫn cung 
Bình minh tầm bạch vũ 
Một tại thạch lăng trung

Dịch nghĩa:
KHÚC HÁT MIỀN BIÊN TÁI (KÌ 2)– LƯ LUÂN
Trong rừng u ám cỏ lay động theo chiều gió 
Tướng quân đêm tối dương cung bắn ra 
Bình minh đi tìm dấu tên lạc 
Tên ngập sâu vào góc đá tới tận chuôi 

Dịch THƠ:
KHÚC HÁT MIỀN BIÊN TÁI (KÌ 2)– LƯ LUÂN
Rừng xám gió lay cỏ hải hùng 
Tướng quân đêm tối vội giương cung . 
Bình minh tìm dấu tên bay lạc 
Ngập tới tận chuôi đá lạnh lùng 

塞 下 曲 四 首 之 三 - 盧 綸
月 黑 雁 飛 高 
單 于 夜 遁 逃 
欲 將 輕 騎 逐 
大 雪 滿 弓 刀

Phiên âm:
TÁI HẠ KHÚC KÌ 3 – LƯ LUÂN

Nguyệt hắc nhạn phi cao 
Thiền vu dạ thuẫn đào 
Dục tướng khinh kỵ trục 
Đại tuyết mãn cung đao

Dịch nghĩa:
KHÚC HÁT MIỀN BIÊN TÁI (KÌ 3)– LƯ LUÂN
Trăng lờ mờ nhạn bay trên cao 
Vua Hung nô ban đêm phải bỏ chạy trốn 
(Tướng quân) muốn cưỡi khoái mã rượt theo 
 (Mà) cơn bão tuyết xuống rớt đầy cả cung đao 

Dịch thơ :
KHÚC HÁT MIỀN BIÊN TÁI (KÌ 3)– LƯ LUÂN
Trăng mờ nhạn lượn tít trên cao
Vua Hung Nô đêm trốn vượt rào
Tướng quân muốn cưỡi ngựa rượt đuổi
Baõ tuyết rớt đầy cả cung đao.


塞 下 曲 四 首 之 四 - 盧 綸
野 幕 蔽 瓊 筵 
羌 戎 賀 勞 旋 
醉 和 金 甲 舞 
雷 鼓 動 山 川

Phiên âm:
TÁI HẠ KHÚC KÌ 4 – LƯ LUÂN
Dã mạc tế quỳnh diên 
Khương nhung hạ lao tuyền 
Tuý hoà kim giáp vũ 
Lôi cổ động sơn xuyên

Dịch nghĩa:
KHÚC HÁT MIỀN BIÊN TÁI (KÌ 4)– LƯ LUÂN
Ngoài hoang dã bày đầy những thức trân quý 
Chúc mừng chiến công đuổi rợ Khương Nhung 
Say xong để nguyên áo giáp nhảy múa 
Tiếng trống vang dậy cả sông núi

Dịch thơ:
KHÚC HÁT MIỀN BIÊN TÁI (KÌ 4)– LƯ LUÂN
Thức quý bày ra khắp cánh đồng
Tiệc mừng chiến thắng bọn Khương Nhung
Uống say nguyên giáp cùng nhảy múa
Tiếng trống rền vang dậy núi sông.

Chú thích:

Tái hạ khúc: tên bản Nhạc Phủ, ca khúc ở miền biên tái 
Kim Bộc Cô: tên tiễn 
Miêu hồ: tên cờ 
Thảo kinh phong: cỏ bị gió lay động 
Bạch vũ: chỉ tiễn (cây tên) 
Thạch lăng: góc hòn đá. Lý Quảng tướng đời Hán, đi săn thấy viên đá trong cỏ, tưởng cọp, bắn, ngập tận chuôi, nhìn lại là đá 
Thiền vu: tên của người Hung nô gọi vua 
Khinh kỵ: ngựa chạy mau 
Quỳnh đình: đình tiệc trân quý 
Khương Nhung: rợ tây Nhung bộ lạc Khương 
Lạo tuyền: khao lạo, ca khải hoàn 
Kim giáp: chiến bào

                                                           Nguyễn  Ngọc Kiên  

READ MORE - ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI (KÌ 6) - TS. Nguyễn Ngọc Kiên chọn dịch và giới thiệu thơ

Sunday, June 18, 2017

CON ĐÒ BẾN CỘ - Thơ Phan Khâm - nhạc Nguyễn Tất Vịnh





Cây Đa Bến Cộ
(Bến Sông Ô Lâu) 

Phan Khâm

Khi mô về Bến Cộ
Nhớ cây đa, con đò
Nghe chuyện tình dang dở
Em nhìn chị ngẩn ngơ

À ơi con nước con đò
Trên sông ai thả câu hò lửng lơ
Cát bồi cát lỡ tương tư
Con hàu con hến ngất ngư phận đời

Khi mô về Bến Cộ
Em xin chị câu hò
Dù gặp nhiều gian khổ
Sao chị vẫn đành cho

Khi mô về Bến Cộ
Em nhớ mãi câu hò
Chim xa đàn lìa tổ
Lạnh lùng chị co ro

Khi mô về Bến Cộ
Bao giờ bới âu lo
Khua mái chèo sống vỗ
Trăm năm lỗi hẹn hò

“Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa Bến Cộ con đò khác đưa
Cây đa Bến Cộ còn lưa
Con đò đã thác năm xưa tê rồi..”

Phan Khâm 
READ MORE - CON ĐÒ BẾN CỘ - Thơ Phan Khâm - nhạc Nguyễn Tất Vịnh

EM CHỜ ANH... - Thơ Đan Thụy

Tác giả Đan Thụy



EM CHỜ ANH...
Đan Thụy


Em chờ anh đi qua mùa rét buốt
Giọt mưa xiên thấm ướt... nhọc nhằn
Chiều xuống chậm con đường qua lạnh cóng
Dấu rêu buồn... mùa đông ngã nghiêng em

Em chờ anh đi qua mùa rét buốt
Tháng mười hai mái phố ngập gió mùa...
Anh đã xa, xa nhiều ngày lá đổ
Chỉ bóng hình ngồi tự vấn con tim...

Em chờ anh đi qua mùa rét buốt
Chợt nghe đời lắng đọng câu thơ...
Tiếng hát rong nửa chừng rơi trên phố
Phố quen rồi... con phố không tên

Em chờ anh đi qua mùa rét buốt
Để lao xao, lắng lặng nhớ người
Chiếc khăn lụa thay vòng tay ấm
Tim thầm thì... thương tiếc sắc vàng phai

Em chờ anh đi qua mùa rét buốt
Anh nơi đâu?!... em mưa trắng lấp trời...


ĐT
READ MORE - EM CHỜ ANH... - Thơ Đan Thụy

“LAN MAN...” VÀ LAN MAN CÙNG ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Đỗ Anh Tuyến




“LAN MAN...” VÀ LAN MAN
CÙNG ĐẶNG XUÂN XUYẾN



Khi đọc 2 bài thơ “Lan man và…”, sáng tác theo trường phái siêu thực của Đặng Xuân Xuyến, tôi thấy “lạ” và thích nhưng không có ý định viết lời bình. 

Chiều qua, 14 tháng 06 năm 2017, đọc bài tản văn Cú điện thoại bình thơ của cùng tác giả Đặng Xuân Xuyến, tôi ôm bụng cười khi đọc lời bàn rất vui của một “ông chú” về 2 bài thơ “Lan man và...” này:
“- Thơ của cậu thế nào ý. Đấy đếch phải là thơ. Kiểu như cái bài Lan man và chuyện đàn cừu, với bài Lan man và chuyện thằng bạn. Đúng là lan man thật. Sao lại lôi con Cừu vào thơ thế? Lại bình đẳng con Cừu với Con Người Việt Nam ta là thế nào? Cậu có biết hình ảnh con Cừu trong biểu tượng văn hóa là tượng trưng cho điều gì không? Là nô lệ! Là tầng lớp bị trị ngu đần và bạc nhược! Ở Việt Nam ta có Cừu không? Có nhưng không nhiều, rất hiếm, vì đấy là hàng “nhập ngoại” nên không thể là hình ảnh tượng trưng cho bất kỳ điều gì trong thực trạng văn hóa của người Việt Nam cả. Cậu dùng hình ảnh con Trâu, con Bò hoặc con Chó, con Lợn,... còn khả dĩ chấp nhận được phần nào... Đằng này lại là hình ảnh con Cừu. Hẳn cả một đàn Cừu. Đấy. Phi thực tế như thế mà cũng đưa vào thơ được. Mà... Sao lại “bạn rủ tôi về nhà nghe hát”? Sao không là bạn rủ tôi về nhà nghe nhạc cho nó sát với thực tế, mà cũng đậm đà chất thơ? Lại còn nửa đêm sợ tiếng thạch sùng, với những tiếng tờ lạch tạch? Rất yếu đuối, rất phi thực tế. Đàn ông đàn ang, ai lại sợ những con vật nhỏ bé, yếu ớt như con thạch sùng, con gián, con kiến? Đàn bà, con gái cũng không ai yếu đuối đến vậy. Đã thế, đêm hôm không lo ngủ, hoặc lo bảo nhau làm mấy cái chuyện sung sướng lại dựng bạn dậy để khoe nhiều tiền.... Kiểu... Rất chi là vô học. Ừ. Còn lan man, vô lý ở chỗ: Đang tả bạn thờ thẫn, man dại vì thèm tiền lại nhảy sang tả khuôn mặt bạn người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm với những khuôn nét vừa của thánh nhân, vừa của quỷ dữ. Xong, chốt câu “Tôi đã từng sợ ma” để hạ màn. Vớ vẩn. Sao lại sợ ma ở đây? Chả ăn nhập gì với nhau. Linh tinh. Dở oẹt. Tóm lại, đấy đếch phải là thơ. Là tản mạn mấy tiếng thở dài của mấy thằng dở người nửa đêm nửa hôm đếch biết làm gì nên rủ nhau làm mấy cái chuyện khác người, rõ ngớ ngẩn.”

Tôi nghĩ chắc cũng không ít bạn đọc có suy nghĩ giống “ông chú” nọ, vì thế, tôi cầm bút lan man đôi điều về “Lan man và...” của Đặng Xuân Xuyến, góp thêm một tiếng nói về cách cảm nhận khác như thế về thơ anh.

1.
Lan man và chuyện thằng bạn là bài thơ lạ, nhiều tâm trạng, viết theo trường phái siêu thực mà lớp nhà thơ trẻ thường sử dụng khi muốn làm mới thơ.

Để cảm được bài thơ này, phải lý giải bằng trực giác, bằng cảm xúc mạnh của nỗi lòng. Không thể giải thích thực tế bằng lối chú giải, phân tích tẩn mẩn, cụ thể như cách cảm nhận của các nhà thơ thủ cựu. Nếu đọc và cảm Lan man và chuyện thằng bạntheo cách thủ cựu thì bài thơ này sẽ “thật vớ vẩn”, thậm chí có người sẽ nhăn mặt: Văn nhảm chứ thơ phú gì…..

Khung cảnh của bài thơ là nhà “thằng bạn”, với thời gian là cả ngày và đêm nhưng cả bài thơ, ở cả 2 phân đoạn thời gian: ngày và đêm, đều được vẽ bằng gam màu sắc u ám, lạnh lẽo, rờn rợn vì ám đầy tử khí. Sự giả dối, thói tham lam và bản tính độc ác, đểu giả của “thằng bạn” được bóc trần nhẹ nhàng, từ từ khi thời gian còn là ban ngày (khổ thơ I), nhưng khi thời gian đã chuyển sang đêm tối (khổ thơ II) thì cái mặt nạ của “thằng bạn” đã bị lột huỵch toẹt, trắng phớ, bằng những câu tưởng chẳng ăn nhập với cái hành động cũng tưởng như ngớ ngẩn của “thằng bạn”:
Đêm.
Bạn dựng tôi dậy khoe tiền nhiều
Lôi từ gầm giường những tờ tiền đỏ như rưới máu
Tôi không hỏi tiền nhiều từ đâu
Bạn tránh nhắc từ đâu tiền nhiều

Chỉ cần hình ảnh “thằng bạn” với “những tờ tiền đỏ như rưới máu” đã đủ để vạch trần tất cả: Đó là những đồng tiền dơ bẩn, những đồng tiền tội ác mà “thằng bạn” đã cướp giật từ những người lương thiện, nó thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và thậm chí cả máu, cả tính mạng của người lương thiện. Quá hiểu nguồn gốc của những đồng tiền tội ác đó nên “tôi”, nhà thơ, không hỏi “tiền nhiều từ đâu”, nhưng “bạn” vì nghĩ “tôi” ngờ nghệch, không biết nên tảng lờ, “tránh nhắc từ đâu tiền nhiều”. Giọng thơ cứ cà tang, cà tang, tưng tửng, tưng tửng mà kỳ thực lại rất tỉnh, rất lạnh, điểm suốt câu chuyện.

Bóng đêm thường đi liền với tội ác vì bóng đêm và tội ác là cặp bài trùng. Và trong bóng đêm, bộ mặt, bản chất của “thằng bạn” hiện lên thật rõ nét, vì “thằng bạn” với bóng đêm cũng chính là một cặp bài trùng. Hình ảnh “thằng bạn” lần nữa được nhà thơ đặc tả thật ti tiện, đáng sợ:
Cẩn thận
Vuốt vuốt những tờ tiền
Mắt lim dim
Bạn thả hồn vào khoảng không tối lịm

Và, trong cái “Quánh đêm” “Rờn rợn” “tối lịm” ấy, khuôn mặt “thằng bạn” sau khi bị tróc bỏ hết lớp “sơn” đã hiện ra rõ nét là kẻ giả tạo và độc ác: Khuôn mặt bạn/ Vời vợi của thánh nhân/ Ma lanh của ác quỷ.
Đến đây, người đọc chắc chắn sẽ nhận ra chân tướng “thằng bạn” của nhà thơ là ai!

2.
Lan man và chuyện đàn cừu cũng viết theo trường phái siêu thực, khước từ sự chú giải, phân tích theo lối thủ cựu:
Tôi đặt cược đời mình
Bằng nụ cười nhếch mép
Bằng vòm ngực lép kẹp
Bằng căn phòng mốc meo ướt nhép
Bằng cót két tiếng giường ọp ẹp
Bằng cả tiếng ngủ mơ chóp chép...
Tôi kỳ vọng quá nhiều!
Tôi đặt cược quá nhiều!
Hình như...

Đây là tứ thơ mới nhưng nếu cảm theo cách cảm xưa cũ thì rất dễ đưa ra lời phán: - Nhảm! Viết ba lăng nhăng! Nhưng rõ ràng đây là phân cảnh, là tâm thức, tâm trạng của những con người thuộc tầng lớp lao động, thuộc lớp dưới nhưng lại chiếm số đông trong xã hội, vất vả, cơ cực mà vẫn phải chịu cảnh đói nghèo, lam lũ. Với khát khao, mơ ước tương lai được tươi sáng, tốt đẹp hơn, “tôi” - nhà thơ, và số đông trong xã hội - đã không ngừng phấn đấu, không ngừng tin tưởng, để rồi “tôi” phải cay đắng thốt lên: “Hình như”... Câu “hình như...” nghe chua xót, tắc nghẹn nơi cuống họng làm tái tê, rức buốt nỗi lòng.
Nếu ở Lan man và chuyện thằng bạn là giọng thơ tưng tửng nhưng lạnh mà tỉnh thì ở Lan man và chuyện đàn cừu lại là giọng thơ trầm buồn, day dứt.
Nhà thơ tiếp tục câu chuyện của mình nhưng lại “lan man” sang chuyện khác, chuyện của đàn cừu:
Đàn cừu
Ngoài kia...
Cấu trúc bài thơ thay đổi.
Cấu trúc đoạn thơ cũng thay đổi:
Con đầu đàn vừa bị hóa kiếp
Cả đàn chết khiếp
Lẩy bẩy
Chen đẩy
Vào chuồng
Ông chủ oang oang
Bà chủ nhẹ nhàng
Đàn cừu
Im lặng
Cúi xuống
Nhai...

Cách ngắt câu thành nhiều nhịp để diễn tả sát từng cung bậc tâm trạng: khiếp sợ, cam chịu,... của “đàn cừu”, tượng trưng cho những kẻ bị thống trị, cùng với cách sử dụng ngôn ngữ “cũ mới nương nhau”, đã đẩy bài thơ lên tầm cao.

Thật đúng như lời nhà thơ, chủ bút trang Văn Đàn Việt, cũng là người mà nhà thơ Đặng Xuân Xuyến đề tặng bài thơ, đã viết trên trang facebook: “Tứ thơ mới. Cấu trúc mới. Ngôn ngữ mới cũ nương nhau, sắt đanh nghe chan chát, âm âm chất thời sự thật đáng thương! Chúc mừng tác giả!”
*.
Trên đây là những cảm nhận cá nhân của tôi về 2 bài thơ “Lan man và…”, sáng tác theo trường phái siêu thực của Đặng Xuân Xuyến.

Viết bài “Lan man...” và lan man cùng Đặng Xuân Xuyến, thực tình tôi không có ý muốn gì ngoài ý muốn góp thêm một cách cảm thơ khác với cách cảm nhận của “ông chú” nọ về 2 bài thơ “Lan man và…” của Đặng Xuân Xuyến, nên có điều gì sơ xuất, hoặc không đúng, không vừa ý, Đỗ Anh Tuyến tôi rất mong nhận được sự lượng thứ của quý bạn đọc.
*.
Thanh Nê, chiều 15 tháng 06.2017
ĐỖ ANH TUYẾN
Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê,
huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Email: dovantuyenbk@yahoo.com.vn
READ MORE - “LAN MAN...” VÀ LAN MAN CÙNG ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Đỗ Anh Tuyến

ĐẾN QUẢNG TRỊ, VỀ LÀNG BÍCH KHÊ - Thạch Thảo Phạm Lê

Đến Quảng Trị, về làng Bích Khê

Thạch Thảo Phạm Lê

Nằm bên cạnh dòng sông Thạch Hãn, làng Bích Khê từ lâu được biết đến như một làng cổ trên đất Quảng Trị. Làng quê hiền hòa giữa vùng đồng bằng Triệu Phong qua mấy trăm năm tuổi vẫn bâng khuâng gợi cội nhớ nguồn.



Nhóm cổ nhạc làng Bích Khê.

Nói đến Bích Khê là nói đến một vùng quê con người trung hậu, can đảm, hiếu học, tài hoa. Chúng tôi đến thăm ngôi nhà ông Đỗ Văn Thiện, một nghệ nhân cổ nhạc đã ngoài 80 mươi tuổi.

Nghề nhạc Bích Khê lưu truyền đã được gần mười đời, được mọi người gần xa biết đến. Âm nhạc truyền thống đã thấm đẫm vào tình người, tình quê. Sau những thời gian hành nghề, họ ngồi lại với nhau ôn luyện từng bản nhạc để rèn luyện tay nghề ngày thêm thành thục.

Nhìn họ tập luyện và biểu diễn say sưa, người xem có thể cảm nhận lòng yêu nghề, tâm huyết của các nghệ nhân. Họ diễn xướng không chỉ bằng bàn tay điêu luyện, đôi tai nghề nghiệp mà còn bằng cả tấm lòng giữ lại những gì tinh túy của cha ông. Điều đó đã làm nên một bản sắc độc đáo của một  Bích Khê văn nghệ, tài hoa.

Điều đáng nói là trong cuộc sống hiện đại hôm nay, nghề nhạc cổ truyền từ chiếc nôi này vẫn luôn được gìn giữ, thăng hoa vì thoải mái hành nghề, sống được nhờ nghề. Ông Đỗ Văn Thiện hào hứng kể về nghiệp tổ lưu truyền cho đến ngày nay được cháu con gìn giữ làm rạng danh tổ tiên, làng mạc.

Nhưng nói gì thì nói không thể không nhắc đến họ Hoàng Bích Khê. Họ tộc này quả thực đã đóng góp nhiều cho quê hương đất nước. Ngày xưa họ này nổi danh khoa bảng, học hành giỏi giang, đỗ đạt làm quan đến chức thượng thư cũng vào hàng khanh tướng.

Như trường hợp gia tộc ông Hoàng Hữu Xứng. Sau này những tên tuổi lừng danh trong văn học nghệ thuật như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ông Hoàng An, trưởng tộc họ Hoàng Bích Khê tâm sự :”Cho dù con cháu mỗi người mỗi nghề nhưng luôn biết nhớ về tổ tiên, nhớ về bề trên trong mọi sinh hoạt của họ tộc. Đó là điều quý giá được lưu truyền từ xưa đến nay.”

Chính họ trong cuộc sống hàng ngày, trong những câu chuyện của bà con lối xóm vẫn được người dân làng Bích Khê trân trọng và tôn vinh đúng mực, tự hào về một vẻ đẹp văn hóa của làng quê.

Ông Đỗ Xuân Hiệu, chi hội trưởng chi hội người cao tuổi Bích Khê thay mặt dân làng ghi nhận họ Hoàng làng Bích Khê là một dòng dõi có truyền thống học hành, làm được nhiều điều có ích cho làng, cho nước. Đó là cống hiến đáng kể của họ Hoàng Bích Khê từ ngày xưa cho đến ngày nay.

Họ Hoàng như đã nói có tiếng khoa cử. Ông Hoàng Hữu Bính  từng đỗ tiến sĩ hoàng giáp dưới triều vua Thành Thái năm 1889. Đang làm quan tuần phủ, chán ghét giặc Pháp nghênh ngang, ông từ quan về làm việc ở Quốc tử giám.

Được một thời gian thì cũng bỏ về làng sống chờ đợi thời cơ kháng Pháp. Bích Khê lúc ấy được coi là vườn đào tụ nghĩa tập hợp những người chống giặc ngoại xâm.

Không may ông bị bệnh rồi mất tại quê nhà. Còn ông Hoàng Hữu Xứng học hành đỗ đạt làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lễ, giám khảo các kỳ thi hương, thi hội.

Trải qua những lận đận quan trường khi vận nước rối ren, ông vẫn được nhìn nhận là một ông quan mẫn cán, thanh liêm, nặng lòng với dân với nước. Ông để lại cho đời sau cuốn sách quan trọng về bản đồ đất nước: “Đại Nam quốc cương giới vựng biên” do ông đứng ra tổ chức biên soạn và Nghĩa Trũng Đàn, một nghĩa cử sáng ngời sau hơn cả trăm năm.

Nghĩa Trũng Đàn mới vừa nhắc đến là  một nghĩa trang đặc biệt do ông Hoàng Hữu Xứng và gia đình tự bỏ tiền mua đất rồi quy tập những thi hài không nơi nương tựa.

Đó là nơi yên nghỉ của hàng ngàn linh hồn phiêu dạt tại làng Thạch Hãn gần Thành cổ Quảng Trị. Việc nghĩa này thật đáng trân trọng xiết bao. Qua hơn một thế kỷ binh đao tao loạn, nghĩa trang này đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử, được bà con Bích Khê đến khói hương, tưởng vọng những người thiên cổ.

Những dịp lễ tết, những ngày đại sự Nghĩa Trũng Đàn đã đón những khách gần xa, để cho tâm nguyện vị tha bừng sáng, lan tỏa một tinh thần, đạo lý Việt Nam: thương người như thể thương thân trong tình nghĩa đồng bào. Còn đây văn bia do hậu duệ Hoàng Phủ Ngọc Tường phụng soạn ngợi ca tấm lòng của tiền nhân đối với người đã về với cát bụi. Những tấm lòng nhân như thế dù khởi thủy từ xưa vẫn sẽ còn lại mãi mãi với muôn sau.

Đạo nghĩa mà làng Bích Khê dày công tô bồi và trong đó họ Hoàng cũng góp phần bao đời vun đắp hiển hiện trong những nhà thờ họ, thờ chi của họ này. Trước một ngôi nhà thờ Hoàng tộc Bích Khê có hai câu đối nhắc nhở con cháu và mọi người về lẽ sống : “Tri túc tâm thường lạc. Vô cầu phẩm tự cao”, tạm dịch: Biết đủ tâm sẽ vui vẻ, không cầu cạnh, phẩm giá mình tự cao. Thật đáng để đời nay suy ngẫm.

Ông Hoàng Hữu Cương hậu duệ Hoàng tộc làng Bích Khê tâm đắc với chuyện họ Hoàng dù khi còn hàn vi hay thành đạt luôn lấy đạo đức làm đầu. Đó chính là vốn quý của dòng họ qua mấy trăm năm.

Dạo quanh làng sẽ thấy dấu ấn của họ Hoàng làng Bích Khê. Hầu như vẫn còn nhiều hình ảnh và tư liệu được lưu giữ ở những nơi thờ phụng trang nghiêm.

Người đến đây sẽ có dịp hiểu thêm về một dòng tộc từ xưa đến nay nổi danh trong thiên hạ. Hầu như đời nào từ cổ chí kim họ này cũng có người thành đạt và quan trọng hơn là có đóng góp cho quê hương đất nước.

Qua hàng trăm năm thế gian biến cải, dòng họ này vẫn giữ được phong độ của mình góp nhân tài vật lực vào công cuộc hộ quốc an dân. Dù làm ruộng hay làm quan, dù ở làng hay xa xứ ai nấy đều giữ được gia phong, tự hào về truyền thống dòng họ của mình ngõ hầu nuôi chí lập thân, lập nghiệp. Đây chính là điểm đặc sắc của Hoàng tộc Bích Khê.

Về Bích Khê không thể không đến thăm nhà lưu niệm bà Hoàng Thị Ái, một bậc tiền bối cách mạng, suốt đời tận hiến cho Tổ quốc, nhân dân được đồng bào, trong đó có các Tổng Bí thư Đảng như Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu dành cho nhiều tình cảm đặc biệt.

Ngày bà tạ thế, dù được mai táng ở nghĩa trang Mai Dịch tận thủ đô Hà Nội nhưng con cháu họ Hoàng và dân làng Bích Khê vẫn nghiêng mình tưởng nhớ một người con tận trung chí hiếu của quê hương Quảng Trị. Sự tưởng niệm những người yêu nước như Hoàng Thị Ái, Hoàng Hữu Chấp sẽ vĩnh hằng ở  làng quê  như Bích Khê và không chỉ Bích Khê.


    Thạch Thảo Phạm Lê
READ MORE - ĐẾN QUẢNG TRỊ, VỀ LÀNG BÍCH KHÊ - Thạch Thảo Phạm Lê