Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, May 31, 2015

LỜI DẶN DÒ BÊN DÒNG A-NO-MA - thơ Trầm Mặc














LỜI DẶN DÒ BÊN DÒNG A-NO-MA 
                                              Trầm Mặc
                                                  (NTB)

*Kỷ niệm ngày lễ Phật đản - Phật lịch 2559

Xa-Nặc ơi! Con hãy về đi!
Lưu luyến làm chi, buổi biệt ly
Ta đi quyết chí tìm đường đạo
Giải thóat, thôi về, để ta đi.

Thôi nhé! con về tâu phụ vương
Ra đi ngàn dặm, những đêm trường
Khi nào tìm được đường chân lý
Ta sẽ trở về thăm cố hương

Con ngựa kiền trắc của ta ơi
Hãy cùng Xa-Nặc trờ về thôi!
Rừng đêm thanh vắng mau về nhé!
Ta quyết ra đi để cứu đời

Dòng A-Nô-Ma một đêm khuya
Không gian buồn vắng phút chia lìa
Thái tử Đạt Đa rời cung điện
Đạo vàng soi sáng một mai kia
                                                   31/5/2015
                                                         TM


READ MORE - LỜI DẶN DÒ BÊN DÒNG A-NO-MA - thơ Trầm Mặc

NỢ NẦN - thơ Chu Vương Miện



nợ nần

thơ chu vương miện


người ta nợ bạc nợ tiền
còn ta nợ một lời nguyền lạ ghê?
sông thương cầu nối đôi bề
bến thương đầy não cùng nề khó coi
nợ tiền trả hết lại đòi
nợ bạc bán cả ngựa voi trả dần
nợ tình đem đặt bàn cân
so le quá nặng đứt cần chổng chơ
nhẹ hều thân nhện giăng tơ
nhố nhăng giống một bài thơ lạc giòng
hai đằng nối một rặng thông
đền Hậu Quản chùa Kim Lăng quê nhà
mà dừng tình đã yên ba
thượng lưu giang thượng lòa nhòa khói vây
ờ lầu hòang hạc là đây
mà lời nguyền đã rượu say lưng trời
người đừng tịch nữa người ơi
bao năm cũng một tiếng cười vong nhân
ta bơi cái buổi phong trần
thì thôi độ lượng duyên gần quên ta

*
trăm quan mua đủ thứ trò
một quan chỉ đặt thò lò quay chơi
nghĩa đời kẻ ngược người xuôi
trò đời thì cũng vẫn lời gian ngoan
loanh quanh mang lửa thử vàng
vàng thật lẫn giả vơ quàng vơ xiên
đồng tiền ơi hỡi đồng tiền

                                          cvm


READ MORE - NỢ NẦN - thơ Chu Vương Miện

TẠ ƠN ĐỜI MỖI SỚM MAI - chùm thơ Nguyễn Ngọc Hưng



Tác giả Nguyễn Ngọc Hưng


Nguyễn Ngọc Hưng

TẠ ƠN ĐỜI MỖI SỚM MAI

Người sống với người hay sống cùng cảm quan vô thường thực ảo
Những gì giả hợp rốt rồi giả tan
Thế giới trong mắt ta là hạt hay đối hạt
Sóng hay phản sóng cũng tương tàn

Tự xây ngục tự mở đường giải thoát
Nhân loại loay hoay trong vòng xoáy chính mình
Bởi tri kiến sai lầm cái tôi trùm vũ trụ
U minh này u minh nữa u minh…

Cây một chỗ chờ chim bay quên đậu
Quay phía nào trái đất cũng đứng yên
Lặng lẽ lên xe mặt trời nổ máy vọng tâm hướng về ba-la-mật(*)
Cuộc tìm tôi xa đến mức hão huyền

Giữa rỗng không bất chợt tiếng chim chuyền
Lơ lửng rơi cái giật mình nho nhỏ
Ta ngắm ta hay ta đang ngắm làn không khí mơ hồ rung động gió
Mang âm hưởng một giai điệu cổ xưa cố vẫy vùng thoát thăm thẳm thâm u

Ngày đang sáng đêm sắp mù nay cuối hạ mai đầu thu
Hoàng hôn khép những bông sen dịu dàng rũ cánh
Bóng tối phủ màn đen lên mờ tỏ giấc mơ trăng vừa đủ lạnh
Để mỗi sớm mai cầm hoa đỏ nắng xanh hoan hỷ tạ ơn đời!
______________

(*) Ba-la-mật: Viết tắt của Ba-la-mật-đa, là cách phiên âm thuật ngữ tiếng Phạn pāramitā . Ba-la-mật được dịch nghĩa là Đáo bỉ ngạn, Độ vô cực, Độ, Sự cứu cánh. Cách dịch "sự cứu cánh" (chỗ tối hậu của sự việc) được nhiều người cho là đúng hơn cả.

                                                               NNH



NGÀY YÊU THƯƠNG NHỚ MẸ

Tăm tăm bóng mẹ cuối trời
Ba thập niên
Gió
Lá rơi ngập đường
Con ngồi trông nắng mà thương
Nghe mưa mà nhớ góc vườn quê xưa

Chiều nương sắn
Sớm nà dưa
Một tay vun xới cày bừa
Một tay
Ngược xuôi ăn bữa chạy ngày
Nhịp chày đơn độc
Cối xay mỏi mòn

Cho con êm giấc trăng tròn
Một mình mẹ gánh nắng non sương già
Hết lo gần lại lo xa
Mai cơm ai thổi
Mốt nhà ai chăm…

Cuối trời bóng mẹ tăm tăm
Khổ thân con một chỗ nằm nhớ suông
Mấy thương
Mấy xót
Mấy buồn
Cũng đành bấm bụng
Mệnh khuôn đúc rồi!

Hiu hiu gió thổi run đồi
Cỏ vàng chân mộ
Mây trôi sẫm trời
Hoa hồng ai nhận, mẹ ơi
Ngày yêu thương
Bỗng nghẹn lời yêu thương…
                                            NNH


HƯƠNG CỐ LÝ

Không kịp gửi cho em một tẻo teo nào
Dù chỉ đơn sơ chùm bông bưởi rưng rưng trời cố lý
Hay một vài dải gió lơ ngơ cắp hương ổi đào thổi suông 
                                                                     qua vườn thị
Tí đỉnh gọi là thơm thảo quà quê

Không kịp gửi cho em cánh bướm rập rờn đôi lá cỏ ven đê
Vàng sót cọng rơm sau vụ gặt hè thu ngậy nắng
Giọt nước sông xanh ngấm phù sa đỏ nặng
Vẫn mê mải về xuôi nuôi nấng dưỡng chăm những xôi mật bãi bờ

Không kịp gửi cho em vài khẩu khói lam đôi chút sương mờ
Ngày ướp gió heo may đêm đẫm mùi hoa sữa
Câu thơ vội còn lửng lơ một nửa
Ngập ngừng tay chẳng dám trao tay

Không kịp gửi cho em ngay cả một lời say
Dăm tiếng ngọt dẫu men rượu mật đường ối a trời đất
Trăn trở lòng quê sá cày đang dở dang trở lật
Sẽ ra sao những hạt giống gieo nhằm giông tố bão bùng

Đã tơ tằm tơ nhện chi chi mà vương vấn lạ lùng
Ẩn hiện nhớ thương trong tất cả những vui buồn thân thuộc
Chiều cuối thu khắc khoải nổi chìm trong đục trong tiếng cuốc
Chưa kịp gửi gì em đã nhận gì đâu!

Tâm tư khổ qua này lặng lẽ xỏ thành xâu
Nỗi niềm cam thảo đây anh âm thầm kết chuỗi
Dòng năm tháng mải miết miên man trôi không đầu không cuối
Ai còn chín nhớ mười thương hương cố lý mơ về!

                                                                       NNH




Trích từ tập thơ
Bài Ca Con Dế Lửa,
Tác giả Nguyễn Ngọc Hưng,                                       
NXB Hội Nhà Văn 
và Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ngãi,
2012 .           

Tác giả gởi tặng.



VNQT: Bạn đọc yêu thơ Nguyễn Ngọc Hưng và muốn mua sách, xin vào FaceBook của nhà thơ để liên hệ.



READ MORE - TẠ ƠN ĐỜI MỖI SỚM MAI - chùm thơ Nguyễn Ngọc Hưng

HAIKU CHIỀU - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân




HAIKU CHIỀU 


Bài 1

Vườn nhà yên tỉnh quá
chú chim si tình hót nghe lạ
réo rắt buổi chiều thơm


Bài 2

Chiều ghé xuống bên đồi hoa dại
giật mình chạm phải giọt chuông
chùa xa vọng lại
                                                                


                                                      
3.10.2014
                                        

Nguyễn Hữu Minh Quân



READ MORE - HAIKU CHIỀU - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân

HY VỌNG CỦA "THĂNG TỬ HÌNH" - truyện ngắn Trạch An - Trần Hữu Hội

        


Trạch An -Trần Hữu Hội

HY VỌNG CỦA "THĂNG TỬ HÌNH" 
                                                    


      Ô cửa sáo mở ra đột ngột, một gương mặt nghiêm khắc của cán bộ biệt giam nhìn chòng chọc vào tôi và phạm nhân chung phòng, cuối cùng một ngón tay chỉ đúng vào tôi:
      -Chuẩn bị đồ đạc.
      Khẩu lệnh này đã quá quen thuộc với tôi vì đã hơn hai năm nằm biệt giam, chuyển phòng không biết bao nhiêu lần. tuy vậy lần nào cũng hồi hộp lo âu vì không biết là chuyển phòng hay chuyển trại.
       Lần này thì tôi biết chắc là chuyển phòng, bởi sáng nay, cán bộ phát hiện “ chậu hoa” trên ô cửa phòng tôi và lập tức tịch thu với anh mắt ngờ vực, đe dọa.
       Từ ngày vào tù. tôi vào ngay biệt giam, chỉ những lần hỏi cung là được ra ngoài, còn lại, nằm trong căn phòng 2x2 mét. Một bệ xi măng cao hai mươi phân, rộng một mét hai mươi phân cho hai người nằm, nhưng thường thì một người nằm trên và một người nằm dưới. tôi luôn chọn nằm dưới. Khoảng này tám mươi phân, hẹp hơn, không tô láng. dành cho sinh hoạt và để thùng cầu. Có những lúc xui xẻo gặp thùng câu thủng là suốt đêm phải ngồi, luôn tay dùng giẻ thấm rồi vắt ngược vào lại thùng cho đến sáng! Bù lại. nằm dưới có cái lợi là có thể nghe dộng tỉnh bên ngoài dễ hơn, thấy bóng cán bộ rình nghe lén và mát hơn nhờ cửa chính có một khe hở nhỏ chừng năm, bảy ly. Năm bảy ly thôi nhưng là cả một “khoảng trời mênh mông”đối với người nằm dưới.
       “Chậu hoa” chúng tôi bị tịch thu sáng nay là một mất mát lớn, bởi công sức chăm trồng của cả hai chúng tôi hơn tháng nay!
        Trong biệt giam, cứ chừng vài tháng là có lệnh xem lại những đồ đạc ít dùng. Những món đồ thường dùng thì để trước cửa phòng, những gì ít dùng tới, cho vào giỏ gởi phục vụ đem đến phòng đồ đạc tập thể. Khi xem lại đồ dùng, tôi thích thú vì bao nilon đựng hạt ném(*) tua tủa mầm xanh. Mẹ tôi luôn gởi ném cho tôi, bà dặn là khi nào cảm hay đau bụng thì nhai vài hạt sẽ bớt ngay. Bởi ít khi bị cảm, nên tôi cho vào giỏ đồ ít dùng. Tôi và bạn cùng phòng, một phạm nhân hình sự, tội mổ bò lậu. Biệt giam luôn bố trí cho tù chính trị ở chung với hình sự. Tuy mới ở tù bốn tháng nhưng bạn tù chung phòng với tôi cũng rất thích thú khi nhìn những hạt ném mọc mầm xanh tươi. Chúng tôi giữ lại bốn hạt có mầm cao nhất với ý định trồng. Muốn trồng những hạt ném sẽ cần một cái chậu, nhanh trí, tôi lấy lại hai hộp diêm rồi gởi lại giỏ đồ cho tù phục vụ mang lại phòng kho.
       Tôi mở hẳn hộp diêm ra rồi cắt đôi, ghép lại thành một ô chữ nhật, cao chừng  ba phân, đặt chồng lên nắp hộp diêm, như vậy là có một cái chậu đủ cho bốn hạt ném. Bây giờ cái khó là đất, phòng luôn sạch không một chút bụi, kiếm ra đất thật khó! Tôi nghỉ đến chuyện khi nào đi hỏi cung, trong này thường gọi là “đi làm việc”, sẽ lén lấy một nắm đất. Ý tưởng này trở thành khó thực hiện vì tôi  từ hơn một năm nay không thấy gọi đi làm việc, bạn chung phòng cũng hình như đã kết cung, chờ ra tòa. Hai chúng tôi cùng chọn cách lót dưới một lớp giẻ, dặt bốn hạt ném vào rồi xé vụn giẻ nhét thêm xung quanh. Sau một hồi “hì hục”, đã có một chậu ném tươi xinh tua tủa mầm…Chúng tôi nhỏ nước hàng ngày làm chất dinh dưỡng…May mà hộp diêm bằng gỗ, hơn tháng rồi vẫn chưa bị hư!
        Suốt ngày, hai chúng tôi nhìn những lá xanh tăng trưởng! “Chậu hoa” được đặt cuối phòng, đến chừng sáu giờ chiều, chúng tôi đứng lên vai nhau, cho“chậu hoa” lên ô cửa có song sắt hóng sương đêm, rồi sáng mai, nán đến chín giờ cho hoa tắm nắng mai, rồi lại đứng lên vai nhau đưa trở lại phòng. Chúng tôi nâng niu hộp diêm như một chậu hoa hồng mỏng manh.
        Chúng tôi ngây thơ, sau khi phát hiện và tịch thu chậu hoa, tôi bị lên phòng đều hành trại, cán bộ hỏi tôi là đã làm ám hiệu liên lạc với ai. ở nhà nào ?
( Nhà là trại tập thể, ở chừng ba, bốn chục người.) Lúc này tôi mời biết là có thể bỏ một vật gì đò lên cửa sổ, làm ám hiệu cho bạn tù ở ngoài định vị phòng biệt giam mình đang ở, trong những lần trốn trại trước dây đã xảy ra đều này.
       Vậy là tôi bị chuyển phòng!
                                                             oOo

        Phòng tôi chuyển đến nằm dãy đối diện với phòng cũ, vừa chào bạn tù mới, đã nghe tiếng gõ tường, Tôi đưa mắt hỏi bạn mới:
         - Ai bên phòng đó vậy?
         - Thăng tử hình!
         “Thăng Tử hình” là đồng hương với tôi. Tội đốt kho lương thực, chung vụ của Thăng gần như cả phòng lương thực, trưởng, phó phòng và hai mươi mấy nhân viên. Phiên tòa lớn nhất từ trước tới nay, phải hơn hai năm mới kết cung và xét xử, Thăng là thủ kho, tự tay châm lửa, lãnh án nặng nhất: Tử hình, còn lại chung thân, hai mươi hai năm, mười tám năm… Thăng đang chờ ân xá hoặc giảm án. Theo nguyên tắc, tù nhân sau khi tuyên án, có quyền xin phúc thẩm hoặc viết đơn lên Chủ tịch nước xin ân xá. Bởi chỉ là nguyên tắc nên không mấy khi tù nhân được thỏa mãn. phần nhiều được phê “Y án tỉnh Ninh Thuận”. Lúc này, tù nhân chỉ còn chờ ngày thi hành án: Xử bắn !
         Nguyên tắc này cho tù nhân tử hình kéo dài thời gian có khi cả năm, bởi đơn đi và về rất lâu.
         Tôi biết mình sẽ chuyển phòng lần nữa vì sớm muộn gì ban đều hành trại giam cũng phát hiện ra sơ suất của cán bộ: Tôi và Thăng tử hình là đồng hương.
         Thăng bị cùm cố đinh, khác vời cùm thường là không thể di chuyển, cùm cố định được xuyên qua tường, sau khi xỏ hai chân vào, cán bộ đích thân bấm khóa từ bên ngoài. Bên trong, tù nhân chỉ được đứng, ngồi hoặc nằm tai chỗ!
         Lại nghe tiếng gõ tường, tôi vờ hỏi bạn mới:
         -Thăng tử hình nói gì vây?
         -Anh ấy hỏi có phải anh Hân chính trị, ở Sông Pha không?
         Tôi vờ không biết nghe và gõ tường vì chưa thể tin bạn mới, tội liên lạc với nhau có thể bị còng hoặc cùm 15 ngày đến một tháng!.
         -Trả lời giùm anh với, nói là đúng rồi.
         Bạn mới gõ tường, tiếng gõ thật nhanh chứng tỏ cũng đã ở biệt giam lâu rồi.
         Qua phút làm quen ban đầu, tôi có thể tin là bạn mới không tố cáo, tôi tự mình nghe và gõ lại. Có hai bảng mã cho tù nhân dùng liên lạc với nhau bằng cách gõ lên tường. Cách liên lạc này cần một vật cứng, nhỏ chừng ngón tay, thường thì dùng cán quạt, rồi lấy thun quấn chặt là có thể gõ. Có hai bảng mã thông dụng cho biệt giam: Bảng 5x7 và 6x7. Bảng 5x7 là 5 ô hàng ngang và 7 ô hàng dọc, mỗi ô chứa một chữ cái theo mẫu chữ a, ă, â,b,c….Thí dụ chữ  “a”, nằm ô thứ nhất hàng ngang và cũng ô thứ nhất hàng dọc, gõ: Cạch cạch liền nhau…Hàng ngang được gõ trước, hàng dọc gõ sau. Xem thật là khó khăn và rắc rối, nhưng như người xưa nói: “Nước sông, công tù”. Trong tù ai cũng tỷ mỷ và kiên nhẫn bởi suốt ngày nằm không, tháng này qua tháng nọ, năm này qua năm kia!
        Thăng ở đã lâu, dùng mẫu 5x7, tôi lại quen dùng mẫu 6x7, ban đầu có khó hiểu đôi chút nhưng rồi chuyển đổi rất nhanh.
         Thăng tâm sự nhiều về vụ đốt kho, hỏi tôi chuyện ở địa phương, ngoài đời…và cuối cùng thì hỏi tôi có biết Hương, người yêu của Thăng không?
         Thăng bị bắt từ khi tôi còn ở ngoài, bởi Thăng nhỏ hơn tôi nhiều nên cũng ít quan tâm, nhưng Hương thì tôi biết, tôi có dạy Hương năm lớp chín. Hương bỏ học sớm để giúp gia đình. Sau khi Thăng bị bắt, tình cờ tôi gặp Hương trong một hoàn cảnh, mà nói ra chắc Thăng sẽ thất vọng và đau lòng lắm!
         Tôi trả lời là không biết.
         Thăng kể chuyên tình của mình thật lâm ly, thật đẹp! Hôm ra tòa, Hương khóc lóc và hứa ở vậy không lấy chồng nếu Thăng bị tử hình thật! Thăng luôn hy vọng là được ân xá, giảm án qua chung thân, rồi giảm qua 22 năm, nếu chấp hành tốt thì sẽ được giảm dần và cuối cùng thì chừng 12 năm là có thể trở về sống hạnh phúc cùng Hương ! Có đều làm Thăng cứ ray rứt băn khoăn là không hiểu tại sao, từ sau ngày ra tòa, không thấy Hương thăm nuôi. Nhưng Thăng cũng tự an ủi là có lẽ trại không cho phép vì Hương không phải là vợ, chỉ cho gia đình thăm mà thôi.
        Tôi an ủi Thăng là hắn đã nghỉ đúng, trong lòng mong sớm chấm dứt câu chuyện!
        Phát hiện của trại giam nhanh hơn tôi tưởng. Ô cửa sáo lại mở ra, may là cuộc chuyện trò của tôi với Thăng vừa dứt, nếu không, không những chuyển phòng mà còn bị lãnh cùm vào chân!
        - Chuẩn bị đồ đạc!
        Tôi khỏi chuẩn bị vì chưa kịp soạn đồ dùng cá nhân ra.
                                                      oOo
        Trước khi bị bắt, cũng như bao người trong địa phương tôi sinh sống, làm nông thì chỉ là công việc phụ bởi chẳng đủ sống, đi buôn mới là công việc đem lại cái ăn hằng ngày. Không kể đàn ông hay đàn bà, cứ còn sức khỏe thì đi buôn. Khi thì hàng nông sản, khi thì hàng điện máy linh tinh. Nông sản có gạo từ Tuy Hòa, Quảng Ngãi… Thuốc lá, đậu xanh, mì lát, từ Cam Ranh vào Sài Gòn. Điện máy là gọi cho to tác thế chứ thực ra chừng chục, mười lăm kg đinh, dăm cái bóng đèn tròn… mua được ở cửa hàng phân phối cũng mang vào Sài Gòn kiếm lời. Ga tàu là nơi hội tụ nhiều hạng người lăn lộn mưu sinh.
        Hung thần của ga là Thuế vụ, Du kích. Mọi mặt hàng đều là hàng lậu.
        Bởi ga là nơi dễ gặp, dễ quen nhau, nhất là người cùng địa phương. Tôi gặp Hương một vài lần. Hương thuộc hạng buôn lớn, hàng nhiều và là hàng có lãi cao. Hương thuê người áp tải hàng, lo chuyện vào ga, lên tàu thì thường ngồi trên toa Trưởng tàu và Kiểm soát viên. Dưới ga có thuế vụ che chở, lên tàu có Kiểm soát viên bao che.
       Hôm ấy, tôi mang một ba lô 6kg và một túi xách 4kg thuốc lá ra Nha Trang. Mười kg thuốc lá là cả một gia tài, tất cả vốn liếng của tôi là đó!
       Đang ngồi một góc trong sân ga, nơi có đám tranh lúp xúp, chờ tàu chợ từ Sài Gòn ra thì Thuế vụ cùng Du kích xuất hiện. Cả ga nhốn nháo, con buôn chạy mọi hướng. Tôi không kịp mang ba lô, chụp vội túi xách chạy theo những con buôn khác.
       Tàu vào ga nhưng con buôn hầu hết kẹt không lên tàu được. Khi tàu đã qua, tôi dấu túi xách vào nơi khác rồi trở lại tìm ba lô, không còn ở đó nữa!
       Tôi thất vọng vì hơn phân nữa vốn liếng nằm trong ba lô. Mua thêm hàng thì không có tiền, đi ra Nha Trang với 4kg thì lỗ chi phí! Tôi quết định vào xin lại ba lô hàng. Với giấy đi lại là giáo viên, tôi hy vọng các nhân viên thuế thông cảm. Giáo viên thời này, thỉnh thoảng, vào dịp nghỉ, cũng đi buôn gọi là “cải thiện”.
        Chờ cho trạm thuế vắng người, thường thì khi tàu ra khỏi ga chừng hai tiếng thì sinh hoạt sân ga vắng lại.
         Tôi vào trạm với tâm trạng hồi hộp lo âu. Nhìn đống hàng ngổn ngang, đảo mắt qua tìm cái ba lô có nằm ở đó không nhưng không thấy, có lẽ nó nằm dưới những bao hàng khác. Thấy cửa phòng khép hờ, tôi cố xua đi nỗi sợ hải thường trực, đẩy cánh cửa. Hai tấm thân trần truồng trên chiếc sạp gỗ sau bàn làm việc, họ bật dậy vội vã kéo tấm chăn che, tôi nhận ra Hương và một nhân viên thuế vụ.
          Đóng nhanh cửa, tôi ra ngoài với nỗi thất vọng tột cùng, trong lòng cứ nghỉ giây phút chứng kiến vừa qua là một tai họa, bởi nhân viên thuế sẽ ác cảm không hy vọng gì cảm thông, cho tôi lại ba lô!
          Nhưng Hương lại là cứu tinh, tôi đang ngồi bần thần lo lắng nơi một góc của quán nước gần trạm thuế thì Hương đến.
          -Thầy bị mất hàng à?
          Tôi không còn đi dạy, nhưng trong địa phương vẫn quen gọi bằng thầy.
          -Ừ, tôi bị mất một ba lô thuốc lá.
          -Thầy vào đây.
          Tôi theo chân Hương vào trạm thuế
          - Cái nào là của thầy?
          Anh thuế vụ ngồi sau bàn làm việc nhìn tôi dò xét, ánh mắt lườm lườm ác cảm. Tôi tìm trong đống hàng, ba lô của tôi nằm dưới mấy bao hàng khác, có bao là gạo, có bao là đậu đen…Tôi xách lên đưa cho Hương.
         -Thầy mang ra đi, cẩn thận nghe thầy! Thầy của em đó anh!
         Tôi cảm ơn rồi đi nhanh ra khỏi trạm, như sợ chậm chân sẽ làm gã thuế vụ đổi ý, lòng băn khoăn sao mọi chuyện lại dễ dàng như thế!
         Qua ngày hôm sau, trong lúc chờ tàu, gặp một đồng hương, anh này là tay buôn chuyên nghiệp, hôm qua biết tôi bị mất hàng:
         -Xin được rồi à, nhờ Hương phải không?
         -Vâng.
         -Gặp Hương là hên rồi, “vợ bé” trưởng trạm đó.
                                                 oOo
         Sau cuộc chuyện trò ngắn ngủi trong biệt giam, Hai tháng sau tôi được ra trại. tháng sau nữa  thì nghe tin Thăng bị đưa đi xử bắn ở Cà Đú!
         Tôi băn khoăn không biết trong thời gian ngắn ngủi đó, có ai biết sự thật phủ phàng về Hương, vô tình hay cố ý,  tiết lộ với Thăng không?!
         Mong rằng đừng có ai, cho hắn mang theo niềm hy vọng thủy chung của Hương về bên kia thế giới, như thế vẫn tốt hơn!

                                                         Sài Gòn, tháng 5, năm 2015.
                                                             Trạch An-Trần Hữu Hội

(*) Hạt ném (còn gọi là nén) : dạng củ, giống như củ hành, nhưng nhỏ hơn, chỉ bằng ngón tay, màu trắng đục, chứa nhiều nước, có vị hăng, dùng để giải cảm, đau bụng rất tốt.
READ MORE - HY VỌNG CỦA "THĂNG TỬ HÌNH" - truyện ngắn Trạch An - Trần Hữu Hội

CHỈ MỘT CHÚT VÀNG PHAI - Thơ Đình Xuân





  CHỈ MỘT CHÚT VÀNG PHAI


  Vắt hết màu chiều chỉ một chút vàng phai

  Gom hết những cuộc tình chỉ trong lần nhớ

  Tất cả qua mau trong cơn mê ngú ngớ

  Đến bao giờ ta mới vớ được nhau



  Ta biết nhớ khi bào thai chưa vỡ
 
  Ta biết yêu từ ngọn cỏ chưa cong
 
  Từ đồi đông cho tới bờ tây

  Ta vò nát từng viên đá cuội


  Giờ cho ta xin bấm tuổi

  Hỏi tuổi nào buồn như hôm nay

  Góp nhặt tình

  Còn lại chỉ một chút vàng phai

                              Đình Xuân


READ MORE - CHỈ MỘT CHÚT VÀNG PHAI - Thơ Đình Xuân

Saturday, May 30, 2015

TRĂNG RẰM - Tranh-thư pháp Minh Đạo

TRĂNG RẰM

Trăng rằm tỏa sáng giữa trời không
Huyền ảo lung linh cõi đại đồng
 Trí huệ tình thương luôn tỏa sáng
Oán hờn ganh ghét chỗ không trông
Khơi nguồn trung đạo cho đời sống
Tìm lại niềm tin để sáng lòng
Tâm nguyện chúng sanh vào bể giác
An nhiên tự tại thảy dung thông

Minh Đạo - 2015


   




READ MORE - TRĂNG RẰM - Tranh-thư pháp Minh Đạo

GIẤC MƠ ANH LÁI ĐÒ HAY MỐI TÌNH VÔ VỌNG - Phạm Đức Nhì


         Tác giả Phạm Đức Nhì



GIẤC MƠ ANH LÁI ĐÒ
                                             HAY
                                                        MỐI TÌNH VÔ VỌNG
Do không có phép ẩn dụ toàn bài nên tứ và ý bài thơ giống nhau, và thật đơn giản: tác giả tâm sự với người đọc về mối tình vô vọng của mình. Bài thơ chỉ có 14 câu, có thể đọc một mạch từ đầu đến cuối mà không bị khựng ở chỗ nào. Ngôn ngữ, hình ảnh (rất Nguyễn Bính), gần gũi, dân dã.
Bài thơ có thể chia làm 4 đoạn:
                Năm xưa chở chiếc thuyền này
                Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều
Tác giả giới thiệu hoàn cảnh mà từ đó tình yêu của chàng với cô gái đã bén rễ: được mỗi chiều – bằng chiếc thuyền nhỏ bé của mình – chở cô sang bãi tước đay.
                  Để tôi mơ mãi mơ nhiều
                “Tước đay xe võng nhuộm điều ta đi
                Tưng bừng vua mở khoa thi
                Tôi đỗ quan trạng vinh quy về làng
                Võng anh đi trước võng nàng
                Cả hai chiếc võng cùng sang một đò”
Tác giả không nói gì về tình yêu nhưng khi người đọc nghe chàng tâm sự là đã đưa cô vào trong cả giấc mơ “vinh quy bái tổ” của mình thì hiểu ngay rằng chàng đã yêu cô say đắm.
                 Đồn rằng: đám cưới cô to
                Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu
                Nhà gái ăn chín nghìn cau
                Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn
Tình địch của anh lái đò quá giàu, có thể tổ chức một đám cưới linh đình để lấy cô về làm vợ. Không kể việc thuê chín chiếc đò để đón dâu, đem đến nhà gái chín nghìn cau làm lễ vật mà còn có thể nạp chín nghìn quan tiền (một số tiền rất lớn) cho khoản  tiền cheo, tiền cưới.
                Lang thang tôi dạm bán thuyền
                Có người giả chín quan tiền, lại thôi
Trong khi cả cơ nghiệp của anh lái đò – là chiếc thuyền – đem gạ bán thì người ta chỉ trả có chín quan tiền.
Nhận Định Nghệ Thuật
1.Không có hội chứng nhàm chán vần
Bài thơ chỉ có 14 câu gồm 4 đoạn nối kết nhau thành một truyện tình đơn phương, vô vọng; người đọc được cốt truyện lôi cuốn, chưa cảm thấy “ngán” cái giọng ầu ơ của thơ lục bát thì bài thơ đã hết.
2.Ngôn ngữ, hình ảnh bình dị dân dã
Nói đến thơ lục bát của Nguyễn Bính thì hình như bài nào ngôn ngữ, hình ảnh cũng rất bình dị, dân dã, dễ hiểu và dễ cảm. Người đọc yêu thơ thế nào cũng biết cái nét đặc biệt này của thi sĩ. Nhưng bình thơ Nguyễn Bính mà quên nhắc đến cái tài này (dù cứ phải lập đi, lập lại) thì lại là một thiếu sót. Đúng vậy, bài Giấc Mơ Anh Lái Đò ngôn ngữ, hình ảnh cũng rất bình dị, gần gũi với dân quê. Trong cả 14 câu thơ, 98 chữ, chữ nào cũng dễ hiểu, cũng rõ như ban ngày. Ngay cả cái hình ảnh vinh quy bái tổ “võng anh đi trước võng nàng” cũng rất gần gũi với người dân quê Việt Nam; nếu họ chưa tận mắt chứng kiến cái nghi thức có thật này thì cũng được nghe các bậc ông bà, cha mẹ kể đi, kể lại, xem như một tấm gương để khuyến khích con cháu cố công học tập, dùi mài kinh sử.
3.Dòng chảy của thơ lững lờ, chậm rãi.
Tác giả kể lại chuyện tình của mình một cách chậm rãi, có vẻ như bình thản (khác với cái vẻ háo hức của một kẻ đang yêu như trong Người Hàng Xóm). Chỉ đến hai câu cuối, bao nhiêu đau buồn tuyệt vọng bị dồn nén trong lòng mới được tuôn ra.
4.Ba trong 4 đoạn thành công với thủ pháp “bày tỏ, không kể lại” (show, not tell)
Ý định của tác giả là sử dụng thủ pháp “bày tỏ, không kể lại” trong cả 4 đoạn của bài thơ, nhưng theo tôi, ông chỉ thành công ở 3 đoạn.
a/ Năm xưa chở chiếc thuyền này
Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều
Đây chính là hoàn cảnh – cơ hội được tiếp xúc, gần gũi với cô gái – để mối tình đơn phương nẩy nở.
b/ Để tôi mơ mãi mơ nhiều
…………………………..
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò.
Tác giả chỉ nói về giấc mơ của anh lái đò – được cùng cô gái “vinh quy bái tổ” sau khi đỗ Trạng Nguyên – nhưng người đọc đã hiểu rằng anh đã yêu nàng say đắm.
c/ Đồn rằng: đám cưới cô to
Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu
Nhà gái ăn chín nghìn cau
Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn
Chữ vụng nhất và theo tôi, làm giảm giá trị của cả đoạn thơ là chữ “to”. Chính chữ “to” đã để lộ ý của tác giả trong đoạn này và đã làm thủ pháp “bày tỏ, không kể lại” thất bại. Ba câu kế tiếp chỉ làm rõ nghĩa thêm cho chữ “to” mà thôi. Nếu tác giả “dấu” được chữ “to” (thí dụ: Đồn rằng đám cưới của cô) thì 3 câu kế tiếp sẽ đóng vai trò cung cấp thông tin để từ đó người đọc tự nhận ra và tự kết luận “À! Đám cưới cô ấy to thật”. Đoạn thơ sẽ trở thành “bày tỏ, không kể lại” một cách tự nhiên, không gượng ép.
d/ Lang thang tôi dạm bán thuyền
Có người giả chín quan tiền, lại thôi.
Hai câu thơ chỉ nói đến việc dọ giá bán thuyền nhưng đã ngầm chứa nỗi đau đến xé tâm can của anh lái đò về mối tình vô vọng.
5.Hai câu kết tuyệt vời
Cái hay nhất của bài thơ chính là hai câu kết:
            Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu
            Nhà gái ăn 
chín nghìn cau
            Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu 
chín nghìn
            Lang thang tôi dạm bán thuyền
            Có người giả 
chín quan tiền, lại thôi.

Tôi không tin là trong thực tế, con số 
chín (9) hoàn toàn phù hợp với số lượng những “thứ” mà ông nói đến trong bài thơ. Đúng là ông “phịa”; nhưng ông “phịa” khéo quá, “cao tay ấn” quá, nên người đọc, theo dòng cảm xúc của mình, đâu cần biết “có đúng là chín chiếc đò đón dâu, có đúng là chín nghìn cau hay chín nghìn tiền cheo, tiền cưới hay không, mà chỉ thấy cái khoảng cách giàu nghèo giữa anh lái đò và tình địch hiện ra một cách rõ ràng và cay đắng, để rồi cái cảm giác bàng hoàng đau đớn về mối tình vô vọng của anh lái đò đã như một dòng thác đổ xuống, tràn ngập tâm hồn. Ở đây thủ pháp “bày tỏ, không kể lại” được phối hợp với phép điệp ngữ (chín) một cách tài tình đã dẫn đến 2 câu kết thật tuyệt vời.
6.Hai chữ chừng đâu hơi gượng
Người đọc, nếu để ý, sẽ thấy hai chữ “chừng đâu” không thêm được gì trong nhiệm vụ chuyển tải ý của tác giả. Hình như chúng được đẩy vào vị trí ấy (một cách gượng gạo) chỉ với mục đích tạo vần cho câu 8 (của thể thơ lục bát). Tệ hại hơn, chúng còn làm cho con số “chín nghìn” của tiền cheo, tiền cưới có vẻ không chuẩn xác lắm (“chừng đâu” có nghĩa là có thể hơn, có thể kém) và từ đó khiến người đọc hơi có cảm giác “lấn cấn” khi so sánh với giá chiếc thuyền của anh lái đò, dù rằng con số này gấp cả nghìn lần con số kia. Ở những bài thơ “thường thường bậc trung” có lẽ chả ai để ý đến cái khuyết điểm nhỏ này, nhưng đây lại là bài thơ có tầm vóc, nằm trong số những bài thơ hay của thời tiền chiến, nên nếu có bị “chẻ sợi tóc làm tư” thì chắc bạn đọc yêu thơ cũng thông cảm cho người viết bài này.
Kết Luận:
Mỗi lần đọc lại hoặc ngâm nga bài Giấc Mơ Anh Lái Đò trong đầu tôi lại hiện ra một câu hỏi: “Tại sao một tài thơ hiếm có như Nguyễn Bính lại vô ý đến độ đưa chữ “to” rất “thô”, rất vô duyên ấy vào bài thơ?” Chữ “to” ấy đã làm đoạn thứ 3 mất đi danh hiệu “đoạn thơ bày tỏ không kể lại” (show, not tell) và đáng tiếc nhất là do đó, ông đã để vuột khỏi tay chiếc huy chương dành cho thi sĩ có Thi Phẩm Hoàn Toàn Show, Not Tell.
Dẫu sao  Giấc Mơ Anh Lái Đò vẫn là một bài thơ rất hay. Đặc biệt là 2 câu kết tuyệt vời, mở cửa đổ cả một dòng thác cảm xúc làm ướt đẫm tâm hồn người đọc và đã lưu lại trong lòng họ rất lâu cái cảm giác đau buồn tê tái của anh lái đò. Tuy không có tuyệt chiêu “thi hóa thân thành họa” như Ông Đồ của Vũ đình Liên nhưng bài thơ có những ưu điểm khác (đặc biệt là đoạn kết) tạo thành một thi phẩm độc đáo, góp phần đưa Nguyễn Bính vào hàng những nhà thơ được yêu mến nhất trong thời kỳ Thơ Mới.
Thay cho phần chú thích:
Sau khi đọc bài viết, một người bạn nhắc tôi “Trong một số phiên bản khác, bài GMALĐ còn có thêm 8 câu nữa.” Điều này tôi cũng đã biết. Nhưng theo tôi, (và một số bạn thơ mà tôi có trao đổi về việc này) 8 câu thơ thêm vào (chưa biết có phải thật của Nguyễn Bính hay không) làm tứ thơ loãng và nhạt đi rất nhiều (giống như trường hợp 4 câu thêm vào đoạn cuối của Tống Biệt Hành). Hơn nữa, trong Thơ Việt Nam Thế Kỷ XX – Thơ Trữ Tình (trang 50) được nhà xuất bản Giáo Dục in năm 2004 thì bài thơ chỉ có 14 câu, ở cuối bài có ký hiệu […] mà tôi hiểu là “còn nữa nhưng xin ngừng ở đây”. Hồng Vân trên youtube, khi ngâm bài thơ này cũng chỉ ngâm có 14 câu.
Sau đây là nguyên văn bài thơ:
(8 câu thêm vào chữ màu xanh)
GIẤC MƠ ANH LÁI ĐÒ
Năm xưa chở chiếc thuyền này
Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều
Để tôi mơ mãi, mơ nhiều:
“Tước đay se võng nhuộm điều ta đi
Tưng bừng vua mở khoa thi,
Tôi đỗ quan trạng vinh quy về làng
Võng anh đi trước võng nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò.”
Đồn rằng đám cưới cô to
Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu
Nhà gái ăn chín nghìn cau
Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn…
Lang thang tôi dạm bán thuyền
Có người giả chín quan tiền, lại thôi!

Buông sào cho nước sông trôi
Bãi đay thấp thoáng, tôi ngồi tôi mơ
Có người con gái đang tơ
Vẫy tay ý muốn sang nhờ bãi đay
Sao cô không gọi sáng ngày?
Giờ thuyền tôi đã chở đầy thuyền mơ
Con sông nó có hai bờ
Tôi chưa đỗ trạng, thôi cô lại nhà.
                                                               PHẠM ĐỨC NHÌ
                                                           nhidpham@gmail.com

READ MORE - GIẤC MƠ ANH LÁI ĐÒ HAY MỐI TÌNH VÔ VỌNG - Phạm Đức Nhì