Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, May 1, 2015

KIM LŨ Y CÓ PHẢI LÀ THƠ? - Phạm Đức Nhì



Tác giả Phạm Đức Nhì


Phạm Đức Nhì

KIM LŨ Y CÓ PHẢI LÀ THƠ?


Mới đây, trong lúc dạo internet, tôi tình cờ đọc được bài Kim Lũ Y – Thơ Xưa Mà Vẫn Mới của Nguyễn Khôi trên trang VanDanViet.Net (vandanvn.net). Phải công nhận bài viết ngắn nhưng được viết công phu, qua đó tác giả đã biểu lộ một kiến thức sâu rộng về văn chương chữ Hán, và đặc biệt, sự yêu thích bài Kim Lũ Y của ông. Sau phần nói sơ qua về sự hình thành và phát triển thơ Đường, ông giới thiệu tác giả “bài thơ” là Đỗ Thu Nương. Sau đó, ông đưa ra hai cách đánh giá bài Kim Lũ Y:

  Đánh giá về bài thơ "Kim Lũ Y" hiện nay có 2 loại ý kiến :

        *1- Nhiều người cho đây là một bài thơ xưa rất độc đáo, hiếm hoi, tuy đã qua trên nghìn năm mà rất hiện đại: bài thơ cảnh báo những người tuổi trẻ phải biết quý tuổi xuân, không lãng phí thời gian, nếu không hậu quả sẽ thảm khốc.

   Nói một cách khác: bài thơ khuyên người ta phải biết tranh thủ sống với thời gian thực tại, phải biết giành lấy hạnh phúc (hưởng thụ) ngay khi còn đang tuổi trẻ, đừng chờ đợi (bỏ phí tuổi xuân xanh) mà chạy theo những cái gì ảo tưởng xa vời (thả mồi bắt bóng hão huyền) mà bỏ qua hạnh phúc trần gian hiện có... nghĩa là bài thơ khá hiện đại, rất hiện sinh ? !

       *2- Có ý kiến phản bác cho rằng "Kim Lũ Y" không phải là Thơ, đó chỉ là những lời giáo huấn khuyên bảo của bậc trưởng thượng đối với người tuổi trẻ "đừng phí tuổi xuân". Những lời giáo huấn đó xuất phát từ "ý", chứ không phải là "tâm", hoàn toàn không có chút "cảm xúc" nào, mà "Thơ là cảm xúc"(nói theo kiểu Ts. N.H.Quốc ở Úc): ta đi tìm đồng cảm để phân biệt Thơ với các lọạị hình nghệ thật khác (dẫn theo Phạm Đức Nhì trên T.Vấn & bạn hữu). 

Ông dành phần còn lại của bài viết chứng minh Kim Lũ Y là một bài thơ, và hơn thế, là Thơ Xưa Mà Vẫn Mới.

Tôi xin phép được trao đổi với ông Nguyễn Khôi vài điểm.

Để mở đầu cho phần chứng minh ông Nguyễn Khôi viết:
             
Xét về nguồn gốc thì Thơ Ca ra đời từ khi chưa có chữ viết (văn tự), thuở sơ khai các bậc huynh trưởng dùng Thơ Ca để giáo huấn (dạy) con em, để chúng trở thành người chính trực, ôn nhu, rộng lượng, kiên nghị, cứng cỏi mà không thô bạo, giản dị mà không ngạo mạn. Thơ dùng để nói Chí (thi ngôn chí). Ca (hát) dùng để ngân dài lời thơ cho nó ngấm sâu vào lòng người.

Vâng, lúc ấy chưa có chữ viết, hoặc nếu có, cũng còn ở dạng sơ khai nên khi muốn truyền đạt những điều cần giáo huấn người ta dùng “thơ”, trong đó có vần điệu, để dễ nhớ, dễ thấm sâu vào lòng người. Xã hội dần dần phát triển, nhưng người được đi học chưa nhiều, người nhuần nhuyễn chữ nghĩa để có thể làm thơ lại càng ít. Thêm vào đó quan niệm “văn dĩ tải đạo” đang giữ địa vị thống soái trong xã hội nên thông điệp mang tính đạo lý của Kim Lũ Y được ưa thích, được coi trọng. Vâng! Trong hoàn cảnh ấy Kim Lũ Y, La Cống Khúc và một số bài văn vần khác được quý trọng, được đồng hóa, được gọi chung là “thơ”.

Sau đây là vài bài thơ Đường thực sự, cảm xúc dạt dào:

Hoàng Hạc Lâu: Thôi Hiệu
Phong Kiều Dạ Bạc: Trương Kế
Bạc Tần Hoài: Đỗ Mục
Đề Đô Thành Nam Trang: Thôi Hộ
Tĩnh Dạ Tứ: Lý Bạch
Lương Châu Từ: Vương Hàn

Ngày tôi còn mài đũng quần ở trung học, thơ được hiểu là một loại hình nghệ thuật dùng chữ, có vần điệu để biểu lộ một cảm xúc hoặc diễn đạt một ý tưởng cao đẹp (noble thought). Khi tôi vào đại học, Kim Lũ Y là bài thơ Đường được giảng dạy ở Văn Khoa. Nhưng khoảng mấy thập niên sau này cái phần đuôi của định nghĩa thơ: hoặc diễn đạt một ý tưởng cao đẹp (noble thought), trong rất nhiều sách và trang web thơ ca, đã lặng lẽ biến mất.

Theo Nguyễn Đình Thi thì “Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói -tức là chữ- để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển mạnh mẽ khác thường”… "thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý, bởi nếu thế, thơ đã bị đánh đồng với đạo đức (luân lí), triết học... Con đường của thơ hướng tới việc "lay động những chiều sâu của tâm hồn, đem cảm xúc mà đi thẳng vào sự suy nghĩ.”  … (Mấy Ý Nghĩ Về Thơ)

Vậy “tình” ở đây thoát ra từ những lời khuyên (ý), nếu không phải từ tâm (cõi lòng) không có cảm xúc thì làm sao bột phát (xuất thần) ra được một ý mới/ tứ lạ như Kim Lũ Y? (Nguyễn Khôi)

Cảm xúc để làm nên thơ là cái cảm xúc của người trong cuộc, của người đã bước vào khung cảnh thơ. Nó hoàn toàn khác với “sự khao khát” (ý chí) của người viết muốn truyền đạt kiến thức, quan điểm, học thuyết của mình. Không phải cứ “bột phát (xuất thần) ra được một ý mới” thì bắt buộc tâm (cõi lòng) phải có cảm xúc. Giữa Tâm và Trí thì Trí nhiều quyền lực hơn, thường tỉnh thức để điều khiển hầu hết mọi hoạt động của con người. Những lúc “Trí lộng hành” thì Tâm nằm im re hay trốn biệt. Đó là trường hợp của Đỗ Thu Nương khi viết Kim Lũ Y; chữ nghĩa, ý tưởng hoàn toàn là sản phẩm cuả lý trí. Rất hiếm hoi mới có lúc “Tâm độc diễn”, là lúc cảm xúc trào lên lấn át lý trí. Vơí người làm thơ thì đó là lúc “nổi điên”, cao hứng. Nhưng khi chữ nghĩa đã đổ lên trang giấy thì Trí có quyền phủ quyết. Nó có thể chấp nhận hoặc hủy bỏ toàn bộ bài thơ. Nó cũng có thể yêu cầu sửa chữa, thêm bớt … nghĩa là có sự thương lượng để Tâm Trí hoà hợp. Thông thường, Trí càng lấn lướt thì bài thơ càng dở vì thiếu chất “tình”. Nói vậy không có nghĩa là anh không được dùng thơ để chuyển tải đến người đọc những gì mình tin là đúng, là tốt. Nhưng khi làm thơ đừng viết lý thuyết suông, những thứ đang nằm trên bề mặt ý thức trong đầu anh. Nó chỉ là LÝ. Phải biến nó thành SỰ. Phải tạo ra hoàn cảnh trong đó anh sống, tương tác với những người khác (theo quan điểm của mình) và lúc đó phải có ít nhất một trong những trạng thái tâm sau đây: hỷ nộ ái ố ai lạc cụ (thất tình) và ham muốn về sắc thanh hương vị xúc pháp (lục dục). (1)

"Hình ảnh của thơ trái lại, phải là hình ảnh thực nẩy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hoặc trạng thái nào đấy. Đụng chạm với hành động hằng ngày, tâm hồn nẩy lên bao nhiêu hình ảnh như những tia lửa toé lên khi búa đập vào sắt trên đe. Người làm thơ lượm những tia lửa ấy, kết nên một bó sáng, nó là hình ảnh thơ". (Nguyễn Đình Thi, Mấy Ý Nghĩ Về Thơ)

Lý tiềm ẩn trong Sự.

Sự là phương tiện để hiển (diễn đạt) Lý.

Lý chỉ là lý thuyết

Sự mới là cuộc sống. Chỉ có SỰ mới có chỗ cho Thơ nảy nở.

“Mọi lý thuyết đều xám xịt. Chỉ cây đời là mãi mãi xanh tươi.” (Goethe).


Ta thử so sánh hai bài dưới đây:


   KIM LŨY

   Khuyến quân mạc tích Kim Lũ Y
   Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì
   Hoa khai kham chiết trực tu chiết
   Mạc đãi vô hoa không chiết chi.

Dịch:

ÁO KIM TUYẾN

Khuyên anh đừng tiếc áo thêu vàng
Khuyên anh nên tiếc thời trẻ trung
Hoa nở đáng bẻ thì nên bẻ
Đừng chờ hoa hết, bẻ cành không



KHUYẾN HỌC

Hỡi các cậu bé con
Các cậu tuổi còn non
Các cậu phải chăm học
Có học mới nên khôn 

Cả hai bài đều là những lời khuyên, sản phẩm của lý trí (ý). Không thấy bóng dáng của tâm. Không có lấy một chút cảm xúc (thất tình, lục dục) nên không thể gọi là thơ.

Và hai bài kế tiếp: 

LA CỐNG KHÚC

       Kỳ nhị

Mạc tác thương nhân phụ
Kim thoa đương bốc tiền
Triêu triêu giang khẩu vọng
Thác nhận kỷ nhân thuyền.
          ( Lưu Thái Xuân)

Dịch:

BÀI CA LA CỐNG

(Bài 2)

Chớ làm vợ khách thương
Thoa với tiền: đồ bói
Sớm sớm ngóng đầu sông
Nhận nhầm thuyền khách tới


KHUYÊN CON GÁI

Con gái phải giữ mình
Chớ bồ bịch linh tinh
Chớ hộp đêm, khách sạn
Kẻo rồi lại mất trinh

(PĐN chế ra để làm thí dụ) 

Cả hai bài:

Tâm chưa đối cảnh nên chưa khởi.
Tâm chưa khởi nên chưa có cảm xúc.
Tất cả chỉ là sản phẩm của lý trí.


KHUYẾN HỌC và KHUYÊN CON GÁI không phải là thơ. Điều đó dễ được chấp nhận. Cái chính vì nó là sản phẩm của lý trí, nhưng phần khác vì nó đơn giản, nôm na, dân dã. KIM LŨ Y và LA CỐNG KHÚC - những con tương cận - được ông Nguyễn Khôi cho là thơ vì nó có vẻ “bác học” và được viết bằng chữ Hán chăng?


Thử xét 2 bài kế tiếp.

HÃY TIN CHÚA

Hãy tin nơi Thiên Chúa
Hồn xác dâng cho ngài
Hãy sống theo lời Chúa
Chết, sẽ về nước Trời

Hoặc:

LỜI PHẬT DẠY

Thông hiểu Tứ Diệu Đế
Thực hành Bát Chánh Đạo
Thân tâm thường an lạc
Đó là lời Phật dạy

Mặc dù tác giả rất mong muốn người đọc nghe lời mình tin Chúa để được cứu rỗi hoặc nghe lời Phật dạy để thân tâm thường an lạc, nhưng ông ta chưa bước vào khung cảnh của bài thơ nên đó vẫn chỉ là lời khuyên, sản phẩm của lý trí, không có cảm xúc, không phải là thơ.

Sau đây là vài cách nhìn nhận thơ ca nhấn mạnh vào cảm xúc.

Thể trong thơ là toàn bộ "hình ảnh, âm và nghĩa" quyện với nhau, gây nên cảm xúc. Thể là nhân, cảm xúc là quả. Thể truyền cho người đọc cảm xúc, rung động. Và ở đâu có rung động là có thơ: Tình yêu là một bài thơ không chữ, không vần (Thụy Khê, Cấu Trúc Thơ).

Poetry is the spontaneous overflow of powerful feelings. Poetry is a matter of mood and inspiration. Poetry evolves from the feelings of the poet. Poetry’s source is the feelings in the heart, not the ideas of the intellect. (Wordsworth William)

Tạm dịch:

Thơ  là sự trào dâng tự phát của những cảm xúc mãnh liệt. Thơ là vấn đề của tâm trạng và cảm hứng. Thơ tiến hóa từ những cảm xúc của nhà thơ. Nguồn thơ là cảm giác ở trong lòng, không phải là ý tưởng của trí tuệ.

Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu" (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ Điển Thuật Ngữ Văn Học)


KẾT LUẬN:

Con người càng văn minh thì vỏ bọc văn hóa càng dầy. Họ phải ứng xử với môi trường xã hội ngày càng khách sáo, giả tạo. Và họ đã vong thân, đánh mất chính mình, trở thành những “Kẻ Xa Lạ” ngay trong thân xác mình.

Nếu thi sĩ trong lúc cao hứng, lạc thần trí – quên hẳn những lối suy nghĩ, phong cách ứng xử văn hóa của người đời, bỏ hết những quy luật giao tế xã hội, tống cổ “Kẻ Xa Lạ” ra khỏi thân xác mình - viết lên những vần thơ biểu lộ cảm xúc chân thật từ con người nguyên thủy của minh, và người đọc - nếu hiểu được, đồng cảm được với tác giả - sẽ tìm lại được “cái tôi đã mất”, gặp lại được “bản lai diện mục”của họ. Chỉ cần vài bài thơ như vậy thi ca cũng có thể góp công lớn giúp khai phóng con người, giải thoát họ khỏi những trói buộc nội tại, đưa họ – không chỉ đến gần – mà còn đến đúng ngôi nhà mà Chân Thiện Mỹ đang cư ngụ.

Chú thích:

Thất tình: hỷ nộ á ố ai lạc cụ (vui, giận, yêu, ghét, buồn, vui, sợ)

                Lục dục gồm:

              1. Sắc dục: ham muốn nhìn thấy sắc đẹp.
              2. Thanh dục: ham muốn nghe âm thanh êm tai.
              3. Hương dục: ham muốn ngữi mùi thơm dễ chịu.
              4. Vị dục: ham muốn món ăn ngon miệng.
              5. Xúc dục: ham muốn xác thân sung sướng.
              6. Pháp dục: ham muốn ý nghĩ được thỏa mãn.


                                                          PHẠM ĐỨC NHÌ


                                                      nhidpham@gmail.com


PHỤ LỤC:
Nguyễn Khôi: "KIM LŨ Y" - THƠ XƯA MÀ VẪN MỚI
READ MORE - KIM LŨ Y CÓ PHẢI LÀ THƠ? - Phạm Đức Nhì

THU VƯƠNG NỖI NHỚ - Thơ Nhật Quang


Tác giả Nhật Quang











THU VƯƠNG NỖI NHỚ

Đêm thao thức bên song quạnh vắng
Ôm trái sầu lẳng lặng niềm đau
Thu vương lay lắt lá nhàu
Ngu ngơ ta để lạc nhau kiếp nào

Chiều tàn Thu lao xao nỗi nhớ
Giấc mơ hoang trăn trở mộng du
Giọt sầu đong đẫm tương tư
Giọt thương lưu luyến kể từ biệt nhau

Em viễn xứ ru sầu duyên lỡ
Anh phố nghèo dang dở tình xưa
Ngậm ngùi ôm lạnh đêm mưa
Lênh loang kỷ niệm như vừa vỡ tan.

                                     Nhật Quang
                                     (TP. HCM)

READ MORE - THU VƯƠNG NỖI NHỚ - Thơ Nhật Quang

Thursday, April 30, 2015

BƯỚC CHÂN TRƯỜNG SƠN - Thái Lê Phương


Nữ BS. Thái Lê Phương


BƯỚC CHÂN TRƯỜNG SƠN
                         
Hồi ức của nữ BS. Thái Lê Phương
                                                  
Ngày tiễn tôi và các bạn lên đường vào chiến trường miền Nam (lúc đó gọi là đi B), một số bạn đã nói: “Lê Phương ơi, dừng lưng đèo để thở, chứ không phải để nghe suối hát đâu nhé!”. Bởi ngày đó, chúng tôi còn trẻ mới tốt nghiệp Đại học Y khoa ra trường nên lòng ai cũng đầy nhiệt huyết, ai cũng muốn được vào Nam, được cống hiến phần sức lực nhỏ bé của mình cho sự nghiệp giải phóng quê hương, đất nước. Vào chiến trường Trị -Thiên khi đó, nhóm chúng tôi gồm BS Hoàng Hữu Hai, nữ BS Lê Thanh Thái, BS Nguyễn Thị Lợi, Tôi-BS.Thái Lê Phương và em Hồ Thị Kính-Y sĩ người dân tộc Pa- cô.

Chúng tôi ra đi với đầy lòng nhiệt tình sôi nổi, háo hức và pha chút lãng mạn. Và rồi con đường phía trước với bao chông gai thử thách... Rời trường huấn luyện 105 ở Hòa Bình (Ngày ấy chúng tôi nói vui là trường Biệt kích Việt Cộng), đoàn đi B chúng tôi thẳng tiến về Nam. Tăng- bo qua cầu Hàm Rồng dưới làn bom đạn, vượt Quảng Bình đất lửa; qua phà Long Đại hiểm nguy, rồi từ đây bắt đầu con đường Trường Sơn. Ngày hành quân, đến tối, chúng tôi được nghỉ ở một trạm giao liên giữa rừng. Ở đó chúng tôi chặt cây, đóng cọc, dựng tăng, mắc võng, tranh thủ lo tắm giặt, nấu ăn, rồi chuẩn bị cơm nắm và cả bi đông nước cho ngày mai lại lên đường.

Cứ vượt qua một ngày, cái ba lô trên vai càng trĩu nặng, tôi lại phải xem cái gì là không tối cần thiết để bỏ bớt ra. Các trang bìa dày của sách chuyên môn cũng xé bỏ bớt, thậm chí còn cắt bỏ đi những chiếc cúc áo, chỉ còn buộc chỉ cho nhẹ. Cứ vậy chúng tôi vượt qua đỉnh Ta -Băng, Xiê -Băng -Hiêng, sông Sê Bôn, đèo 1001, Cổng Trời.v.v… Có lúc tôi thấy mình đang đi trên mây, gió thổi ràn rạt, bạt cả chiếc mũ tai bèo… tôi lại nhớ đến hai câu thơ: “Chân đạp mây may, tóc vờn gió núi” của nhà thơ Lưu Trọng Lư. Dãy núi Trường Sơn hùng vĩ, những bước chân nhỏ bé của chúng tôi đã gặp bao gian nan nhưng vẫn luôn sẵn sàng tiến bước. Chúng tôi đi dưới những tán rừng già. Cùng với chúng tôi đi trên con đường đó, là bộ đội, thanh niên xung phong, cán bộ, giáo viên và nhiều nhiều người trên con đường vào chiến trường…

Là con đường bí mật như vậy, nhưng máy bay OV-10 của địch thì cứ bay rì rầm trên các tán cây rừng để thám thính, nếu phát hiện ra chỗ nào có dấu hiệu nghi ngờ là chúng liền oanh tạc và trút bom xuống ngay. Không khí rừng núi trong thời chiến tranh là vô cùng căng thẳng. Cứ ngày hành quân, đêm đến yên tĩnh, thỉnh thoảng tôi lại viết thư về nhà cho ba má tôi và những người thân. Trên thư đều có đánh số thứ tự để ở nhà biết mà đoán là con mình đã đến đâu, vẫn an toàn. Những bức thư của chúng tôi được theo các giao liên mà đưa ra Bắc. Cũng có trường hợp khi ở nhà nhận được thư thì người thân đã hy sinh trước đó rồi. Trên đường đi ngoài chuyện phải lo tránh bom đạn kẻ thù, còn phải lo chống loài sên vắt, muỗi rừng,… thì còn một thứ cũng vô cùng đáng sợ, đó là bệnh sốt rét.

Có một hôm, chúng tôi đang đi, thì gặp một cơn mưa rừng ào ào đổ xuống, tôi lên cơn sốt rét. Nhiệt độ 39 độ rồi trên 39 độ, nhưng vẫn phải gắng đi không thể dừng lại. Đến khi trước mặt xuất hiện con thác A-Cho cuồn cuộn chảy. Thật khó lòng vượt qua!. Thế rồi giao liên và đồng đội đã đưa tôi vượt qua suối, lại tiếp tục đi… người tôi hầm hập sốt … Đến lúc chóng mặt, chân không còn vững nữa, tôi trượt chân lăn xuống vực. Một vực quá sâu giữa rừng già. Lúc đó, giao liên bất lực, nghĩ rằng thế là hết, chắc sẽ nói lời vĩnh biệt tôi. Nhưng thật là may cho tôi, cái quai ba lô của tôi đã mắc vào gốc cây cụt và tôi được giữ lại ở đoạn dốc mà không lăn thẳng xuống vực sâu. Lúc đó tôi nghĩ rằng mình được quý nhân phù trợ. Đồng đội và các anh giao liên đã xuống kéo đưa tôi lên. Bác sĩ Lợi đã kịp thời lấy kéo cắt một ít tóc tại chỗ da đầu bị rách và băng bó vết thương.

Chúng tôi lại tiếp tục đi về phía trước. Có những lúc vượt qua những chặng đường trọng điểm bị địch đánh phá ác liệt, ở đó những cánh rừng đã bị hủy diệt, trơ trụi cành cây tán lá. Những đoạn đường như thế, tôi cùng mọi người phải chạy vượt qua nhanh, trong lúc hai chân đã tê dại. Đến một đoạn đường an toàn hơn, được nghỉ lấy sức, tôi và BS Lợi ngồi dưới một bụi cây chưa đủ che kín người, Lợi nói với tôi: “Nếu tau mà chết, đến ngày giải phóng mi nhớ về thăm mẹ và kể với mẹ về đoạn đường mà hai đứa đã đi”. Tôi “ừ”. Nhưng nghĩ lại rằng, trong những ngày chiến tranh gian khổ này thì biết ai còn, ai mất, mà vào thời khắc cả nước lên đường, cả nước cùng đánh giặc thì mạng người mất còn cũng là chuyện thường tình. Và rồi chúng tôi lại vui vẻ lên đường, vừa đi, vừa hát… Ngày đó chúng tôi thường hát những bài ca về Trường Sơn, bài “Việt Nam trên đường chúng ta đi”, bài “Hành quân xa”, những bài ca quen thuộc, hùng tráng ấy đã thúc dục chúng tôi vững bước lên đường. BS.Lợi có giọng hát hay và chúng tôi thích nhất nhưng câu như: “Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi…”. Nghe nó thúc dục, đầy khí thế để đi về phía trước, như chúng tôi đang đi để góp những bước chân nhỏ bé của mình vào đoàn người trùng trùng, điệp điệp… trên dãy Trường Sơn cho đến ngày toàn toàn thắng.

40 năm đã trôi qua, những ngày gian khổ hào hùng của đất nước một thời chưa xa đã làm nên Đại thắng mùa xuân 1975 vĩ đại, đã đem lại một đất nước hòa bình thống nhất hôm nay. Tôi và một số bạn bè của tôi giờ đây được sống với gia đình, con cháu trong không khí hòa bình, hạnh phúc, nhưng còn một số bạn bè tôi như Võ Thị Hương, Huỳnh Yến, Hoàng Mai v.v… và bao nhiêu người nữa đã không trở về... Họ mãi mãi nằm lại ở tuổi thanh xuân!...


Hằng năm, vào dịp này, trong tôi luôn trào dâng một tình cảm hạnh phúc, thương nhớ… Và đặc biệt là nhớ về những người đã cùng tôi đi qua năm tháng đó, những người còn sống và những người đã mất… Xin được xẻ chia và tưởng nhớ. Bởi những con đường Trường Sơn năm xưa đã in dấu những bước chân của chúng tôi lên đường chống giặc Mỹ  xâm lược.

                                                                    TLP
READ MORE - BƯỚC CHÂN TRƯỜNG SƠN - Thái Lê Phương

MƠ - chùm thơ Trương Đình Phượng

Tác giả Trương Đình Phượng











Trương Đình Phượng


(viết cho những giấc mơ)

một ngày chết gió
tôi ngồi nghĩ về em
về tôi
về những phận người chưa tìm ra cột mốc
và những giấc mơ không định vị
những lời hứa không gia tốc
của loài thú ăn đêm...
một ngày biển động
tôi ngồi mơ về những mùa sóng ngủ quên
về những kiếp phi lao chắn bão truyền đời
vô tư canh giấc ngủ cho người
để nhận về hai tiếng "vô ơn"
một ngày dòng sông cạn đáy
tôi ngồi mơ về những mùa quằn quại lũ nguồn
loài phù du thoát thai ra bể lớn
ngỡ mình hóa thành rồng...
một ngày bầy thú hoang bị giam cầm giữa chiếc lồng đại ngàn
tôi ngồi mơ về những cơn mưa trái vụ
hồi sinh những thung lũng điêu tàn...



NÓI VỚI MÌNH

Thôi
đành về "giỗ" giấc mơ còng gió
biển kia có cạn bao giờ
mà chờ viên tịch bão giông?
Khắc khoải gần nửa đời
chờ nỗi đau phân huỷ
chăm bón mầm hi vọng
đâu ngờ cằn cỗi tương lai?
Về thôi
trời có chật bao giờ
mà mơ chạm tới vầng trăng viên mãn?
tháng ngày thương vay khóc mướn vật vờ
sa mạc đời vẫn bặt tăm bóng hình ốc đảo !
Về thôi
mùa đông có hết lạnh bao giờ
mà mơ mái nghèo nụ cười mẹ già khởi nắng
đêm cô tịch có khi nào không quạnh vắng
mà mơ tâm tư
tìm thấy một chân trời?


VỀ

trở về thôi trở về thôi
nằm nghe sương gội mồ côi kiếp mình
chiều liêu hoang bóng điêu linh
buồn lem vũ trụ chân tình mù tăm!
chiếu chăn khóc mụn góc nằm
bụi hèn phủ kín dấu dằm chờ mong...


Trương Đình Phượng
Địa chỉ: Khối 3, thị trấn Cầu Giát, 
huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Điện thoại: 0984387485)
READ MORE - MƠ - chùm thơ Trương Đình Phượng

TÓC EM THƠM NẮNG SÀI GÒN - thơ Trúc Thanh Tâm






Trúc Thanh Tâm

TÓC EM THƠM NẮNG SÀI GÒN

Chiều của dạo nào xa lắm
Bên góc Vương cung thánh đường
Người ta bên nhau cầu nguyện
Chúng mình xưng tội lỡ thương

Em mở lòng trang lưu bút
Thư tình mực tím mồng tơi
Hương của một thời con gái
Tràn về ngập cả hồn tôi

Em kề vai tôi thỏ thẻ
Trên cành chim hót xa xa
Phượng hồng trên môi em đỏ
Một thời áo trắng Văn khoa

Chiều nay áo bay dưới phố
Khung trời xanh lá me non
Mùa xưa còn tôi đứng lại
Tóc em thơm nắng Sài Gòn .

                            TTT

                     ( Châu Đốc )
READ MORE - TÓC EM THƠM NẮNG SÀI GÒN - thơ Trúc Thanh Tâm

CHIẾC LÁ - thơ Hoài Huyền Thanh












Hoài Huyền Thanh

CHIẾC LÁ

Li ti những chồi xanh
Vươn mình thành chiếc lá
Biêng biếc ngoan đến lạ
Giữa mây trời mênh mang

Mặt trời trao ánh mắt
Nắng hồng tặng nụ cười
Gió đu đưa nốt nhạc
Đời! Đẹp sao lá ơi!

Lá xanh xanh thắm đẫm
Vi vu giữa hàng cây
Hạ về cao tiếng hát
Lá yêu thương tặng đời

Chợt vàng thu thuở ấy
Lá mơ chân trời xa
Tháng năm dài quạnh quẽ
Hắt hiu nhớ quê nhà

Cội nguồn nào xa khuất
Lá thu phai nghẹn ngào
Nhớ hương đời rất thật
Mơ hồ chạm nỗi đau

Mong ngày mai sẽ khác
Không còn chuyện bể dâu
Lá mơ miền cố thổ
Dấu xưa thôi ngậm ngùi!


                                 HHT
READ MORE - CHIẾC LÁ - thơ Hoài Huyền Thanh

TÌNH KHÚC HẠ - thơ Lý Đức Quỳnh






Lý Đức Quỳnh

TÌNH KHÚC HẠ

Hạ về mây gió lãng bồng
Em xa nơi ấy môi hồng còn thơm
Ngày đi trĩu nặng tủi hờn
Chân sầu đưa bước giẫm bờn bợt đau

Trùng dương gió sóng con tàu
Mang theo nửa mối tình đầu chia hai
Nào khi gót ngọc trang đài
Giờ đây lặn lội trần ai xứ người

Đường mây chia cắt phương trời
Cành yêu đang tuổi hót đời líu lo
Tung lòng cánh vỗ tự do
Hồn nhiên áo trắng học trò trinh nguyên

Ta về trọ chốn vô duyên
Đêm gầy chờ tiếng đỗ quyên não nùng
Hạ huyền trăng quạnh viễn trùng
Nghiêng trời lẻ khuyết sương đùng đục khuya

Nghe trong thinh lặng chuyển mùa
Nồng nàn héo rụng gió lùa qua khe
Từng ngày kết chuỗi lê thê
Lưu đày nỗi nhớ vào tê tỉ lòng

Ngàn xưa mây trắng phiêu không
Bây chừ mây trắng vẫn lồng bồng phiêu
Ta như ngọn gió cô liêu
Tiễn đưa chiếc lá rụng chiều hoang vu

Vời trông cánh nhạn mịt mù
Dư âm tiếng hát thiên thu gọi hồn
Tóc xanh bạc trắng bồn chồn
Tìm bờ dâu bể sóng cồn dạt trôi

Lưng chừng phượng đỏ giữa trời
Tuần hoàn máu ngược mãi bồi hồi đau
Non thề biển hẹn cùng nhau
Chỉ còn ve tụng kinh cầu xốn xang!

LĐQ


                              
READ MORE - TÌNH KHÚC HẠ - thơ Lý Đức Quỳnh

CHUYỆN CHÚNG MÌNH - Chùm thơ Phạm Phan Hòa

Tác giả Phạm Phạn Hòa


Phạm Phan Hòa  
                          Chùm thơ dành tặng NTBTM ngày xưa


CHUYỆN CHÚNG MÌNH          

Chuyện mình…  kiếp trước của nhau
Kiếp nầy mỗi đứa mỗi đầu sông thương!
Chuyện rằng một buổi yêu đương,
Nhả sầu giăng thủa - buồn vương quanh đời...



NGHE MƯA

Nghe mưa ngày lạnh ấm lòng
Giọt tan giọt vỡ... giọt nằm môi hoa
Mưa về gõ nhịp chân xa...
Tiếng mưa nhói buốt lụa là...tình ơi!!.



SẦU RỤNG

Trái sầu rơi giữa hồn hoang
Hóa thành cánh nhớ lang thang đêm ngàn.
Lời yêu chưa trỗi điệu đàn
Âm buồn rụng vỡ - vọng ngàn tiếng tơ.



MÃI HẸN

Bữa về xa lắc người ơi!
Chừng mô mới mớm nhau lời rằng yêu?
Ngày đi nắng ngủ lưng chiều,
Cây bàng bạc lá vẹo xiêu ngõ về



QUAY VỀ
           
Tôi tìm về nhìn em ngồi Trầm Mặc...
lặng lẽ trong màu áo nâu,
thì thầm lời trăm năm mờ phai
hòa cùng khói sương chiều bay lên
loãng tan
                         
Lần về bờ giác lánh mê                  
Xa rồi dòng cuộn tái tê, não nùng                       
Nhẹ nương sang cõi trùng phùng                 
Rủ bao phàm ngã chập chùng cỏ-hoa!...                       
Hồng ân-son chuổi ngày xa                
Dần buông cạm-dỗ lụa là sắc không

                    
                     Quảng Nam, tháng 4/2015

                                     PPH


READ MORE - CHUYỆN CHÚNG MÌNH - Chùm thơ Phạm Phan Hòa

RƯỢU TÌNH TA UỐNG CÙNG EM - thơ Trúc Thanh Tâm






Trúc Thanh Tâm


RƯỢU TÌNH TA UỐNG CÙNG EM

Vườn tình đâu cũng quen hơi
Đèn khêu ngọn nhớ một thời chưa quên
Tóc thề xưa tuổi thần tiên
Trên hàng mi khép đêm huyền diệu mây

Bên vùng mắt biếc ta say
Nét tình lồng lộng áo bay phía trời
Xa cành từng chiếc lá rơi
Bướm xa bến đợi theo đời lãng du

Tình nhau mấy ngã tương tư
Yêu nhau từ độ lối thu nhuốm buồn
Vẫn còn em với con đường
Vẫn còn sông để nhớ thương nhịp cầu

Vớt giùm ta nhánh bể dâu
Cho ngàn xưa với ngàn sau nối liền
Rượu tình ta uống cùng em
Để nghe trời đất đảo điên lâu rồi !

TTT
( Châu Đốc )


READ MORE - RƯỢU TÌNH TA UỐNG CÙNG EM - thơ Trúc Thanh Tâm

SÔNG QUÊ VÀ EM - chùm thơ Huy Uyên

  



Huy Uyên
    
Sông Quê và Em

Em một mình bên bến sông quê
ngợp lòng mùa vào tháng chạp
qua rồi tháng năm chìm khuất
tình đi nào có quay về.

Ô-giang ngày hoa sim nở
tím mãi tim ai đợi chờ
nguyền xưa kể từ buổi đó
cây đời trút lá tương tư.

Xao chi sông chẻ hai dòng
võ vàng mấy bờ thương nhớ
dăm sầu ai đi chia bỏ
xa nhau hỏi em buồn không?

Phai trôi màu chiều xa vắng
bên đồi nhạt sắc hoa mua
suối xô dặm lòng nhịp sóng
trao lại cho ai khi về.

Một mình em với sông quê
đợi chiều mênh mông nắng tắt
người ơi sao nỡ quay đi
thương ai lòng đau muối xát.

Ngờ tình mắt môi chát đắng
đợi sông quê một ngày nao
dỗ lòng chiều đi vắng lặng
tiễn bóng ai xưa qua cầu.

Bên người còn chăng hình bóng
nụ hôn xưa mấy bẻ bàng
trôi đi theo từng năm tháng
tình giờ đem trao ai mang.
                                  Huy Uyên 


       
Xa Rồi Quảng-Trị

Về Diên-sanh với em gái quê buồn
chiều bơ vơ trên đồi cát
sầu lòng theo từng câu hát
tóc bay xuôi ngược đầu thôn.

Dài mấy lối về cuối chợ
bên nhà thờ nghiêng bóng một mình
em có quên chưa con đường nhỏ
thư gởi người héo từng con tim.

Lối về mang gió bay theo lá
ngờ ai xưa từng nhặt chép bài thơ
phải em dòng nước trôi ra biển cả
Mỹ-Thủy bờ xa ai chờ.

Có phải em chiều lên Phe-Tư
chạnh lòng ai buồn trăm ngã
để Phe-Nhất nhớ tự bao giờ
tình trao lâu rồi từ thuở.

Yêu người
chôn sâu mà chưa được nói
ngẫn ngơ riêng một mình tôi
cầm giữ nụ hôn lòng níu kéo .

Em bây giờ không là của tôi
buổi theo chân người về Bến-Đá
ai một lần ngồi lại bên cầu
vui chi thuyền không bến đậu
đá mòn, sông cạn, tình sâu.

Ngược tình lên Mai-Đàn,Thượng-Xá
rừng dài thêm giây phút đợi chờ
em bạc tình tôi từ đó
về bên đồi xưa
lặng lẻ hái
chùm hoa-bơ-vơ.

Thôi trả em về với đất Câu-Hoan
tiếp sầu dài Trung-Đơn, Hải-Quế
để Diên-Sanh ôm mãi kỷ-niệm buồn
vĩnh biệt tình ơi Quảng-Trị.
                                      Huy Uyên                                       

    


READ MORE - SÔNG QUÊ VÀ EM - chùm thơ Huy Uyên

Wednesday, April 29, 2015

TA XA HÀ NỘI - Thơ Nguyễn Khôi


Tác giả Nguyễn Khôi. Sinh 1938.
Quê: Phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đ/c: 39/259 phố Vọng, quận Hai Bà Trưng - Hà Nội. 


              TA XA HÀ NỘI
(Tặng Nguyễn Như Phong - Petrotimes)
                    
Ngày nghỉ lễ
Thôi, ta xa Hà Nội
về Nhà Quê nghỉ dưỡng thỏa tâm hồn
Xa để "thoát" lấn chen, xô đẩy
tìm nơi "buồn" yên tĩnh, dịụ dàng hơn...
ÔI Hà Nội,
Đi xa cho bớt "sợ" :
-Đường cây xanh bị "đốn" nắng vỡ đầu
-Xe ùn tắc, kinh bọn len cướp giật
"Người Tràng An thanh lịch" ở đâu đâu ?
Ôi Hà Nội,
Phố phường xây chắp vá ,
cầu Long Biên để "rỉ" đến bao giờ ?
Đường gốm sứ bụi bám hoen mưa nắng
Gái quần đùi đến bẹn phóng xe đua...
Ôi Hà Nội,
Còn mấy Nàng thỏ thẻ ?
- mở miệng  ra là "đ. mẹ" chửi thề
Dân tứ xứ vào Kiếm Tiền, chụp giựt...
Còn góc nào thanh thản
uống Cafe' ? !
Ôi Hà Nội,
có điều gì không ổn ?
như trên mây
trên gió "cấp điều hành " ?
Mong, sớm có một Tràng An thanh lịch
để ta về
soi bóng xuống Hồ Gươm.
            
Viết tại Gia Lộc - Hải Dương 28-4-2015
                             NGUYỄN KHÔI
                            (Nhà văn Hà Nội)

READ MORE - TA XA HÀ NỘI - Thơ Nguyễn Khôi

Tuesday, April 28, 2015

VỀ NGUỒN - Thơ Trương Đình Đăng







VỀ NGUỒN


Cây có cội

Nước có nguồn

Hai tiếng thiêng liêng NGUỒN CỘI

Đưa con về viếng Tổ Hùng Vương.


Thăm Mẹ Âu Cơ

Năm trăm ba chín bậc đá dẫn lên Đền Hạ

Con càng hiểu thêm hai chữ ĐỒNG BÀO

Vào Đền Trung như thấy ngày nào

Chàng Lang Liêu dâng cha tấm lòng hiếu thảo

Những chiếc bánh tự tay giã nấu

Biểu tượng Đất Trời từ hạt gạo làm ra

Lên Đền Thượng bao la

Con chiêm ngưỡng một thời Vua Tổ

Trên đài lễ

Người tế Trời cầu phúc cho dân

Nơi suốt mấy ngàn năm con cháu tụ quần

Kính cẩn dâng hương tỏ lòng ơn Tổ

Từ núi Cả

Người đang đứng đó

Trông coi bờ cõi cho con cháu ngàn sau

Con đến Minh Nông, Thượng Lâu

Nghe lời Tổ dạy trồng dâu trồng lúa

Cẩm Đô đó - Tổ rèn quân một thủa

Thanh Cát đây - Người kén rể chiêu hiền

Tiếng chày Thậm Thình dư vọng đêm đêm.

Kim Đức, Hồng Lô - Người nghe câu xoan câu ghẹo

Thăm Đền Giếng nhớ mối tình Tiên - Chữ

Lời Bác Hồ tạc vào bia đá

Hoá lời thề tâm nguyện toàn dân.

Từ Nghĩa Lĩnh nhìn ra khắp biển cả non ngàn

Niềm tự hào dâng - Con Hồng cháu Lạc

Thiêng liêng hai tiếng CỘI NGUỒN - DÂN TỘC 

Nhìn về quá khứ, nghĩ đến tương lai

Bốn hướng non sông điệp trùng gấm vóc

Nòi giống Rồng Tiên góp sức đua tài

Đấu cật chung lưng giữ nước xây đời

Cho dân tộc trường tồn xanh tươi vạn thuở

Về viếng Tổ

Con sáng thêm chân lý CỘI NGUỒN !

                    TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG

READ MORE - VỀ NGUỒN - Thơ Trương Đình Đăng