Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, April 15, 2014

KÝ ỨC - Hoàng Kim Liên


                    



       Trong cuộc sống đời thường, bao nhiêu sự việc diễn ra trong quá khứ - nhất là thời thơ ấu – đều được ghi lại trong bộ nhớ của não một cách rỏ ràng. Nhưng  trong lúc bận rộn cho công việc mưu sinh, tất cả đều bị che lấp, nhường chỗ cho những tính toan để đối phó với những điều kiện, hoàn cảnh cay nghiệt vấp phải. Khi về già những tính toan đó không còn mà phải vui vẻ sống những ngày còn lại trong quỷ thời gian của mình thì những ký ức ngày xưa lại hiện về làm xao xuyến trong lòng, đôi lúc lại cười thầm trong bụng vì những cảnh tượng quá cách biệt giữa xưa và nay rồi thì mũi lòng, cảm động những gì mình trải qua trong quá khứ.
          Xin nhắc lại một vài chuyện mà tin chắc rằng ai đã từng sinh ra, lớn lên ở nông thôn thì thế nào cũng gặp thải.
      1.    Chuyện thắp thuốc cho ba hoặc ông bà: Ngày xưa, ít ai có được một hộp quẹt bỏ túi để thắp (đốt) thuốc như bây giờ. Người sang lắm mới có cái “máy đèn” mua ở chợ tỉnh hay của người thân quen tặng. Ngày xưa gọi là máy đèn. Một hộp chứ nhật nhỏ hai lớp làng bằng nhôm, dày khỏang 8 ly, rộng 3 phân, dài chừng 7 phân, kể cả nắp đậy. Bên trong là ruột đựng bông gòn có tấm dầu lửa, có một tim bằng sọi vải để dễ bắt lửa nhô ra ngoài, một trục bên trên gắn một bánh xe bằng thép, nhám thông vớ một ống nhỏ bên trong ống bỏ viên đá lửa nhỏ bằng que tăm, ngắn chừng 5 ly, được đẩy bằng một lò xo và con ốc vào cho viên đá luôn tiếp xúc với bánh xe, tay cầm máy đèn, ngó cái bật bánh xe toé ra lửa, tiếp xúc với tim sẽ thành ngọn lửa nhỏ để mồi thuốc. thấy cũng oai đấy chứ.
       Ba không có máy đèn.
      Giấy vấn thuốc không được cắt sẵn 4 phân x 7 phân mà cả tờ giấy quyến trắng to đùng, 1 mét x1,2 mét, mua về xếp lại, có người xếp thành tám xé vấn dần, có người thì gấp lại nhỏ đàng hoàng, lấy dao rọc ra từ lớn đến nhỏ, cất bỏ vào bao một ít dùng dần. Còn thuốc thì mùa xuân bắt đầu trồng quanh vườn, đến mùa nắng bẻ lá vào phơi khô, xếp cuốn ,bó bằng mo cau cột giữa bếp, khi hêt thuốc xắt thì lấy xuống, xé bỏ xương gân, xếp miếng to không rách ra ngoài, cuộn tròn lăn thật mạnh thành một cuộn dài chừng 30 phân, lớ gần băng ngón chân cái. Lấy một thanh tre khô bằng hai ngón tay, dài khoảng 45 phân, bào nhẳn. Cách một đầu chừng 10 phân, đục một cái lỗ tròn vừa đủ cuộn thuốc lọt qua, gọi là bàn cắt thuốc. Lấy cây rụa mài thật sắc bén. Tất cả sẵn sàng. Bàn  cắt thuốc đầu trên chống vào nách người cắt, đầu dưới chống vào giưa nền nhà. Tay trái cầm cuộn thươc đun dần dần vào, tay phải tựa theo bàn cắt nhấn mạnh xuống – đưa lên nhấn xuống liên hồi – thuốc sẽ đứt từng nhát mỏng. Thuốc xắt ra hứng trong miếng lá chuối sạch. Xắt xong, xé nhỏ thuốc bỏ vào bao hút dần. Bao đựng thuộc làm bằng bẹ chuối khô, may đẹp xấu, mỹ thuật hay không tuỳ theo. Bao có ba ngăn: ngăn đựng thuốc, ngăn đụng giấy, ngăn đựng máy đèn.
        Mỗi lần hút thuốc, khi vấn (cuộn thuốc vào trong giấy thành điếu), ba đưa điếu thuốc cho tôi biểu đi thắp. Khi thắp (đốt) thuốc thì phải hút thuốc mới cháy thành ra quen dần lớn lên nghiện thuốc. Trẻ con thôn quê hay hút thuốc là vậy.
2.   Cha mẹ đi ra đồng cày, cấy, bón phân hay làm cỏ nên phải tắt hết lửa củi trước khi đi làm bỡi vì đa số nhà thấp, lợp bằng  tranh dễ cháy, đun bếp ba mùa xuân, hạ, thu đều bằng rơm; củi hiếm để dành cho mùa đông rét mướt, có than để sưởi bỏ vào lồng ấp hơ ấp hai tay. Khi cha mẹ về nấu ăn sai con đi hàng xóm, có người ở nhà  xin lả (lửa) về nấu cơm, chạy ra sau cây rơm rút một nắm xoáy tròn bằng tổ chim rồi bóp dẹp lại, một đầu để cầm đầu kia banh ra bỏ cục than đang cháy vào, chạy nhanh về nhà cho mẹ. Đôi khi lửa bén nhanh quá chạy không kịp bị lửa cháy phỏng tay.
        Ông già bà lão, mùa lạnh ở quê Quảng Trị mình  không có bếp lửa là không ổn. Họ làm một dụng cụ gọi là lồng ấp, vót tre đan cái lồng trên có miệng, ở giữa eo vào để bỏ cái tréc (cái nồi cạn làm bằng đất nung) đựng tro và than, cái lồng để giữ cho áo quần khỏi dính vào lửa khi ôm lòng ấp.
        Mùa lạnh ra đông, người ta lấy rơm bện thành “con cúi”, hay “bông mai”, bỏ cục than đang cháy đỏ vào cho bắt lửa, rồi nó âm ỉ cháy ngún không bốc thành lửa ngọn, giữ lửa suốt ngày đêm tuỳ theo “con cúi” dài hay ngắn.
3.  Về mùa thu hoạch lúa, nông dân rất vất vả, ban ngày đi gặt lúa, đêm về phải đạp lúa. Thường người ta gặt lúa để ngay ngắn từng đống rồi lấy lạt (dây cột, cứng) bó thành từng bó dùng đòn xóc đâm vào hai bó lúa đưa lên vai gánh về chất thành đống cao nghệu, để vài ba ngày cho lúa chính bết mới đem đạp cho lúa hột rụng ra khỏi rơm. Người ít lúa, không có trâu bò, họ đạp chân – chân trần, không mang giày bảo hộ. Làm gì có. Cột một cái sào tre ngang trên bụng vào hai cột nhà để tì vịnh tay vào, mở bó lủa ra chia làm hai hay ba rồi đứng lên chà xát dẫm bàn chân lên ngọn lúa cho lủa lột rụng hết. thật là gian khổ.
        Đạp lúa trâu, bò thì khoẻ hơn, nhanh hơn đạp bằng sức người. Khoảng 5 giờ chiều, hai ba người đàn ông, quét “cươi” (sân) sạch sẽ, ôm lúa bó mở ra trải lên sân, ngay ngắn thứ lớp đàng hoàng, dày mỏng còn tuỳ ít hay nhiều lúa bó, thường dày khỏang 40 đến 50 phân, tròn, đường kín 6 đến 10 mét. Chuẩn bị bổ cào 6 răng, mõ xảy (xảy một, xảy đôi – dụng cụ rủ rom, phơi rơm), giỏ đựng phân trâu. Xong xuôi, sáu giờ, sau khi trâu bò đã ăn no, người cũng ăn xong, cho trâu bò lên giả lúa đi quanh , người điều khiển đàn trâu bò từ ba bốn con, con đi đầu phải có dây dò mũi. Đi quanh đạp chừng 10 phút nghe người điều khiển hô: Trâu ẻ… trâu ẻ (ỉa) là người phụ ở ngoài bưng giỏ có lót rơm chạy vào hứng sau đít trâu kẻo trâu ỉa ra lúa, lúc này cả bầy, hết con nầy đến con khác,  liên tục ỉa làm người phụ ngoài mệt đừ
        Độ một tiếng rưỡi đồng hồ, phía trên mặt đã rụng, người ta lấy bớt chung quang, rủ thật lộn búi rải đều lên trên một lớp cho đi tiếp, nửa giờ sau, lớp này không còn dính lúa hột nũa, lấy cào và xảy đưa rơm ra ngoài rủ sạch, bỏ thành đống ngày mai phơi. Tiếp tục một hai lần lấy bớt như vậy khi giả lúa thấp xuống, cho trâu bò nghỉ, ăn cỏ lót dạ, mọi ngươi xúm nhau rủ búi tất cả số còn lại, sửa sang lại, cũng ăn lót dạ chén cháo gà, chén chè hay đĩa xôi rồi đưa trâu, bò vào đạp tiếp, khi xem lúa không còn dính vào rơm nữa, cho trâu ra nghỉ, người rủ sạch hết số còn lại nầy, đưa rơm ra khỏi sân chất thành đống thì cũng đã 12 giờ đêm. Cứ vậy, ba bốn hôm lại đạp lúa trâu một bữa cho đến hết mùa.
       Với đàn ông thanh niên là vậy, còn với phụ nữ và trẻ 10 trở lên 18 thì có công việc thường lệ hơn cho mỗi buổi tối. Như có bảng phân công bất thành văn mà mỗi người phải ghi nhớ để thực hiện. Sau khi ăn cơm tối xong, mẹ tranh thủ rửa chén bát, dọn dẹp, các con lấy lúa đổ vào cối xay, mẹ làm xong việc dọn dẹp, dọn nẻn (cái nia), sàng ra, lấy lúa đã xay sàng vào trong nia, bỏ trấu (võ lúa) ra ngoài, lấy gạo lứt (gạo chưa bóc cám) bỏ vào cối đá hay cối gỗ giả cho phần cám (võ lụa bám mỏng ngoài hạt gạo) bung ra hết, phải xem cho kỹ, lúc nầy cám và gao đã giả trắng trộn lẫn nhau, mẹ lấy nia trải ra, lấy giần,  giần để loại cám xuống dưới còn gạo lẫn trấu heng (trấu nhỏ) còn lại trên giần. Bây giờ lấy cái trẹt to (nia nhỏ) sảy cho trấu nhỏ bay hết còn lại gạo sạch hoàn toàn, đổ vào dụng cụ chứa gạo để mấu cơm ngày mai.


    

                 
               

       Trừ cối giả gạo làm bằng đá hay gỗ, chày giả làm bằng gỗ ra, còn lại thúng, mủng (thúng nhỏ), trẹt to, trẹt nhỏ sàng giần, cối xay đều đan đát bằng tre. Giả gạo, sàng giần gao là cả một nghệ thuật, không hiểu, không quen chắc chắn sẽ không làm được.







       Có ba loại chày giả gạo:  Một là chày tay, một khúc gỗ dài chừng 1,4 mét, đường kính chừng tám phân đến một tấc, bào tròn, ở chunhs giũa đẽo chuốt nhỏ lại bằng cổ tay để dễ cầm, đứng giẩ. Hai là chày đạp, thường để một chỗ cố định. Cối được chôn thấp xuống, chày nặng hơn, giống chữ L, cán chày dài khoảng 2 mét, đầu chày nhỏ hơn , ngắn khoảng 4 tấc, đầu kia, cách đầu chừng 8 tấc, đục xuyên cán chày làm một trục ngang, trục ngang này tựa vào hai cột chôn vững xuống đất, cách nhau chừng 8 tấc. Chày nầy như là một đòn bẩy , người giả đứng phía sau đạp nhún để cho đầu kia cất lên rôi thả xuống, chày sẽ giả vào côi. Chày nầy có thể xử dụng hai người. Ba là chày vồ, chày có cán tre ở giữa như chữ T, chày giả được hai đầu, cán nhỏ dài chừng 7 tấc, nhỏ để dễ câm, ngồi trên ghế để giả

      Giả gạo một người, hai người còn dễ chứ ba, bốn người,  thì càng khó. Thứ tự theo vòng quay ngược kim đồng hồ, người này giả xuống cất chày lên tiếp người bên phải cứ như thế hết người thứ tư mới đến người đầu trở lại, rất nhanh không để người khác chờ, cũng không xuống trước sẽ gỏ chày trúng nhau. Khi đã quen, thuần tục thì giả đuổi nhau thi nhau nữa, ai mệt sẽ bỏ cuộc ngay. Đôi khi đánh trúng chày người khác làm chày họ giả vào tai cối làm bể hay sứt mẻ cối. 


               

       Thấy cảnh giả gạo chày tư rất thú vị. Còn sàng, giần, cằn, sảy làm sạch gạo là cả một nghệ thuật, học hỏi, kinh nghiệm lâu ngày chứ không đơn giản chút nào. Chỉ những bà mẹ quê từng trải mới làm tốt thôi. Không tin cứ về quê giả gạo làm gạo sẽ biết liền. Trong khoảng 3 ký gạo trộn chừng 15 hạt lúa, chắc chắn mình sẽ tìm cả giờ chưa hết chứ một bà mẹ quê sành sỏi họ lấy sàng ra bỏ lên sàng ba phút sau tất cả các hạt lúa đểu nhóm lại ở chính giữa sàng chỉ lây tay nhón một cái là xong ngay. Vậy đó
        Ai  đã từng có thời son trẻ sống ở vùng nông thôn nghèo mới biết và hiểu được cảnh cơ cực suốt một thời gian dài, vì chiến tranh, lạc hậu. Giờ tuổi trẻ, đầy đủ tất cả mọi tiện nghi, vật chất, khoa học kỹ thuật phát triển gấp cả trăm lần, khi ông cha nhắc  đến thời thời kỳ ấy với những từ ngữ địa phương nữa cắc chắn chúng sẽ ngơ ngác chẳng biết gi hay hình dung được như thế nào cả. Còn lớp già sống vào những thời đó thì nay cũng đã 60 tuổi trở lên, gặp nhau đâu đó. Bên tách cà phê tâm sự hay ly trà hàn huyên hay tranh nhau kể về quá khứ của mình, lòng vướng chút tự hào, chút hoài niện, chút ưu tư mà lòng se lại…

                                                                       Hoàng Kim Liên
READ MORE - KÝ ỨC - Hoàng Kim Liên

Sunday, April 13, 2014

CÒN GÌ ĐÂU NHỚ MÀ QUÊN - Hoàng Anh 79

Tác giả Hoàng Anh 79


Ngày em bỏ học về xứ lụa
Ngã ba sông chiều con nước đau
Áo champa bao mùa mưa nắng
Chắc hẳn giờ đây đã bạc màu.

Khói đồng ai đốt cay khóe mắt
Đò đưa mấy lượt khách sang sông
Biết tóc em còn đen óng mượt
Hay khóc từng đêm nhuốm sợi buồn.

Trông phía Cồn Tiên mờ khói sóng
Ngày về An Phú chẳng có em
Lỗi hẹn mấy mùa điên điển nở
Còn gì đâu nhớ để mà quên.

Nhánh phượng treo sầu trời hạ đỏ
Từng đêm tiếng quốc gọi trong sương
Như em khe khẽ lời kinh nguyện
Vẫn lạc tình nhau góc thánh đường!
                     Ngày 12/06/2014
                       Hoàng Anh 79

Họ và tên: Hồ Mạnh Phi Hùng
Bút Danh: Hoàng Anh 79
Sinh ngày 14/09/1973
Mail: homanhphihung.mt@gmail.com
Blog: http://hoanganh79.blogspot.com/
Điện thoại: 0918.974.522
Địa chỉ:  Long Xuyên, An Giang.


READ MORE - CÒN GÌ ĐÂU NHỚ MÀ QUÊN - Hoàng Anh 79

NÓNG – LẠNH - thơ Trường Hải Lê Văn Đông

Tác giả Lê Văn Đông



Trời đất sinh ra những cơn nóng – lạnh,
Để có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. 
Khí mậu dịch chuyển giao từ đâu đến?
Hầm hập mùa hè, lạnh giá mùa đông!

Loài người xưa nay tồn tại với thời gian,
Biết thích nghi để duy trì sự sống. 
Biết dùng quạt tay xua tan nắng nóng,
Nhóm bếp lửa hồng chống lại đêm đông!

Trong cuộc đời nhiều nóng – lạnh, bão giông,
Những cuộc chiến tranh con người hâm nóng.
Gieo rắc đau thương, khí lạnh tràn về 
Vết sẹo hằn sâu mặt người, mặt đất !                                                                                                          
Thế giới ngày nay, nóng – lạnh trong ngoài,
Nóng khu vực, cả địa cầu nóng bỏng! 
Lạnh vùng miền, lạnh trong mỗi quốc gia,
Nóng – lạnh của mình, nóng – lạnh người ta!

Nóng – lạnh nhập vào, nóng – lạnh tách ra,
Biển đảo, đất liền tranh giành diễn biến. 
Kinh tế toàn cầu phập phù lùi tiến,
Nóng – lạnh kinh niên độc lập, chủ quyền!

Chống nóng – lạnh đất trời,nay có điện,        
Nóng – lạnh con người, biết chống sao đây? 
Lấy nhân nghĩa chống tham tàn, bạo ngược,
Gốc rễ Nhân Dân, hạnh phúc lâu bền.

Đỉnh Sơn , 12/4/ 2014
Trường Hải Lê Văn Đông


READ MORE - NÓNG – LẠNH - thơ Trường Hải Lê Văn Đông

RỒI THẾ NÀO HÒA BÌNH CŨNG PHẢI ĐẾN - thơ Nguyễn Văn Gia


Tác gỉa Nguyễn Văn Gia


Rồi thế nào hòa bình cũng phải đến
Như mặt trời thức dậy cuối đêm đen
Hỡi mẹ, hỡi em, hỡi da vàng Đông Á
Xin vẫy tay chào người - bạn - chiến - tranh

Mẹ già ơi hãy sẵn sàng quang gánh
Ta trở về xây dựng lại quê xưa
Thôi từ giã phố phường - chuỗi ngày đói rách
Ơi lúa, khoai đang ngóng đợi ta về

Kìa lũ cau trước sân lũ dừa trước ngõ
Nghe tin hòa bình cũng chợt hồi sinh
Chào chim sẻ, chim cu của ngày còn bé
Rủ nhau về sau năm tháng mù tăm

Trên cánh đồng hòa bình đầy dấu đạn
Mẹ và em chung sức cấy niềm tin
Và khi đó anh xin làm một thầy giáo trẻ
Dạy dỗ bầy em dưới mái trường làng

Mùa tháng ba ta sẽ ăn mừng cơm mới
Ơi lúa ba trăng vẫn mãi mãi ngọt bùi
Mẹ chắc lưỡi nhắc thằng Năm, thằng Sáu
Đứa mất bên kia đứa chết bên này

Rồi thế nào hòa bình cũng phải đến
Như mặt trời thức dậy cuối đêm đen
Phải không mẹ , phải không em , phải 
không bạn bè đứa còn , đứa mất
Phải không người, phải không hỡi chiến tranh ?

                           Nguyễn Văn Gia
                               Huế 1972
(Tháng ngày chiến tranh ác liệt, ta mơ về một ngày hòa bình xa xăm )
READ MORE - RỒI THẾ NÀO HÒA BÌNH CŨNG PHẢI ĐẾN - thơ Nguyễn Văn Gia

Tiểu phẩm THẦN ĐỐNG THƠ TỰ DO - Kha Tiệm Ly


  
Tác giả Kha Tiệm Ly


Lễ phát giải cuộc thi thơ tự do TÌM TÀI NĂNG MỚI được tổ chức hoành tráng tại một tỉnh của nước… “Lèo”, dưới sự có mặt đông đủ  của các khách mời danh dự là chánh quyền địa phương, các văn thi sĩ có tên tuổi có nhiều tác phẩm lớn (nhưng ít người đọc) cùng các đại gia có máu mặt tài trợ, vân vân

Bài đoạt giải nhất là bài THƠ TÉ GIẾNG. Theo sự đánh giá của Ban Giám Khảo, đây là một bài thơ vượt không gian, vượt thời gian, là bài thơ có ý tưởng cao vời vợi, cao đến tận mây xanh, mà những đầu óc tầm thường, thì không bao giờ thấu hiểu được! Theo quý vị ấy thì những vần thơ cao siêu thì không cần vần, không cần điệu, đọc lên càng khó hiều càng hay, cáng nói lên đẳng cấp…tửng tửng của tác giả!

Bài thơ đó bốn câu đầu như sau: (xin phép không chép hết mà phí phạm giấy mực).

“Một tràng hoa tặng bịnh trĩ
Điện thoại  chuyên rút hầm cầu
Yêu anh yếu sinh lý
Sữa mẹ thần kinh tọa…”

Ban Tổ Chức còn nói thêm, đây là một bài thơ rất xứng tầm (tất nhiên, đoạt giải nhứt mà lỵ) vì nó rất “thật” với đời thường, với lời thơ mộc mạc, bình dị nên nó đã ăn sâu vào tim gan phèo phổi của người đọc. Nói chung,  THƠ TÉ GIẾNG là bài thơ sáng giá  nhất trong  năm chục năm trở lại đây của đất, xin lỗi,  của nước “Lèo” (nước lèo không có đất!)

Khi  trao giải, người xem đều ngạc nhiên, cùng loạt “ồ” lên một tiếng, tột cùng kinh ngạc vì người chiếm giải nhứt lại là cậu bé mười tuổi! Tiếng vỗ tay muốn bể khán phòng cùng không biết bao nhiêu ánh đèn “nhá nhá” từ máy chụp hình của các phóng viên; nhiều người xem cũng rời ghế đến gần sân khấu cũng “nhá nhá” lia lịa, quyết không để lỡ cơ hội ghi ảnh thần đồng!

Sau lễ phát giải là cuộc phỏng vấn riêng giữa thần đồng (TĐ) và Ban Tổ Chức (BTC):

BTC: Em cho biết em làm thơ từ bao giờ , và bài THƠ TÉ GIẾNG được làm từ lúc nào?

TĐ: Em mới làm thơ từ khi BTC tổ chức cuộc thi, và bài THƠ TÉ GIẾNG là bài đầu tiên!

BTC (nhìn nhau): Ô! Rõ là thiên tài! (nhỏ giọng) Nói em đừng cười nhen! Bài thơ của em có ý tưởng rất cao siêu, vì cao siêu nên có nhiều chỗ khó hiểu, vả lại bố cục lộn xộn. Em có thể giải thích cho chúng tôi “mở rộng tầm nhìn” không?

TĐ (ngơ ngác): Giải thích vụ gì?

BTC::Thì… Thì… sao mà: ““Một tràng hoa” sao lại “tặng bịnh trĩ”;Điện thoai” sao lại “chuyên rút hầm cầu”; Sao mà  “Yêu anh yếu sinh lý”.  Ạ!...Ạ… chắc  là tình yêu cao thượng, không nhục dục, phải không? Hay! Nhưng sao lại “Sữa mẹ thần kinh tọa…” là gì chúng tôi khó hiểu quá?

TĐ (thản nhiên): Em biết chết liền!

BGK (ngạc nhiên): Không biết? Em giỡn chơi hoài! Không biết sao em làm được những vần thơ trác tuyệt như vậy chớ? Hè hè! Giấu nghề hoài!

TĐ (giải thích):  Thiệt mà! Em đâu có làm! Vầy nè: Em trải tờ báo ra, rồi em nhắm mắt, rồi em lấy cây viết, rồi em chỉ đại ngay chữ nào thì em viết chữ đó vào giấy, rồi em lại nhắm mắt, rồi em lấy cây viết chỉ đại vào chỗ khác nữa, nhằm chữ nào, em lại viết tiếp chữ đó vào tờ giấy.  Bảy tám chục lần như vậy, em được một bài thơ. Dễ òm hè!

BTC nghe xong, kẻ lau mồ hôi, người té xỉu!

                                                          Kha Tiệm Ly


READ MORE - Tiểu phẩm THẦN ĐỐNG THƠ TỰ DO - Kha Tiệm Ly

CHỊ TÔI - thơ Linh Thy



Mười tám xuân xanh pháo đỏ nhà
Về bên sông ấy với người ta
Mùa trăng chưa vẹn anh ra trận
Chị cũng lên đường vào tuyến xa

Hút gió đèo mây bom Mỹ trút
Lấp đường, cờ phất vẫy xe qua
Bấy năm biền biệt tình đôi ngả
Thống nhất gặp đây nước mắt nhoà..!!!

Linh Thy

BT
READ MORE - CHỊ TÔI - thơ Linh Thy

CÁNH MAI CUỐI RỪNG - thơ Phan Minh Châu





Người đi xa biển chiều nay
Tìm em không phải khuy cài yếm che
Hoa vàng cánh mỏng chân quê
Mỗi năm là mỗi chuyến về phố xa
Duyên xưa lại bén trong nhà
Ba ngày xuân ngậm sương trà móc câu
Chập chùng sóng nước bể dâu
Hồn mai vẫn sáng một màu thủy chung
Người đi ta cũng theo cùng
Mảnh trăng đầu núi hoa loang cuối rừng
Áo vàng chạm nắng rưng rưng
Nhã ra một thoáng hương rừng đãi xuân

          PHAN MINH CHÂU
3b Âu Cơ Nha Trang Khánh Hòa
             D.Đ 0922992662

READ MORE - CÁNH MAI CUỐI RỪNG - thơ Phan Minh Châu

NGÀY TẾT ĐI CHỢ TỈNH - Nguyễn Ngọc Luật





Làng tôi là một miền quê hiền hòa nằm ven bờ sông Vĩnh, cái nghèo lưu cửu ngự trị nơi đây từ bao đời với những mái nhà tranh xơ xác ẩn mình sau những rặng tre xanh. Thế nhưng tuổi thơ tôi đã trãi qua những năm tháng thật êm đềm và mái tranh nghèo, mãnh vườn nhỏ nơi chôn nhau cắt rốn đã cho tôi những kỷ niệm thật đẹp không bao giờ phai mờ trong ký ức, mặc dù tôi chỉ được vui sống ở quê nhà mười mấy năm. Phần còn lại của đời người là những năm tháng lưu lạc nơi xứ người, mang kiếp tha hương nhưng lòng vẫn canh cánh một nỗi niềm hoài niệm về cố hương và những năm  tháng đẹp nhất của đời người. Thế cho nên mỗi lần nghe tiếng hát Thái Thanh cất lên cao vút “làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói, có những cánh đồng cát dài, có lũy tre còm tả tơi…” là lòng tôi như chùng xuống và nỗi nhớ cứ tuôn trào…

 Trong cái se se lạnh của một sóm mai những ngày cuối đông nơi miền Nam nắng cháy này bổng nhiên có những cơn gió hiu hiu lành lạnh, có sương mù bảng lãng buông xuống làm cho cảnh vật như lung linh, mờ ảo khiến cho nỗi nhớ quê nhà như thôi thúc, réo gọi. Ký ức mù sương những tháng ngày thơ ấu xa xưa chợt hiện về như thực, như mơ…

… Những ngày giá rét cuối đông cũng đã bớt đi đôi chút khi có nắng ấm  và những cánh én báo tin xuân về chao lượn trước hiên nhà, những cánh mai vàng đang hé nụ chào đón gió xuân, mùa xuân đang đến thật gần nơi làng quê nghèo. Chị tôi ngoài những lúc phụ cha mẹ công việc đồng áng còn có thêm một nghề phụ nữa là “đổ giá”, tức là ngâm đậu xanh vào những cái thùng, cái đôộc bằng sành, hàng ngày cho nước vào và đổ nước ra khoảng năm bảy bữa chi đó thì đậu xanh trong thùng đã ra mộng và trở thành cây “giá”. Khi “giá” đã đúng ngày chị tôi đổ ra  thúng và gánh ra chợ tỉnh bán. Công việc tưởng chừng như đơn giản nhưng thực ra cũng lắm công phu và phải chắc tay nghề mới làm được, trước hết đậu xanh mua về phải huy động cả nhà chia nhau đổ ra sàng lượm thật kỷ những hạt bị sâu, mọt, teo tóp hay bị bể v.v…nếu để sót những hạt đậu xấu nó sẽ làm hư cả thùng giá, nước đổ giá phải trong và sạch, nếu trời lạnh quá phải đun nước vừa đủ ấm, cho nước vào ra phải đúng thời gian và còn nhiều bí quyết nữa… Cây giá khi đổ ra bán phải dài chừng chỉ một lóng tay, mập mạp trắng ngần như bắp chân em bé, rể không có hoặc thật ngắn và lá mầm chưa lè ra khỏi hạt đậu, nếu không khéo hoặc tay nghề lơ mơ thì giá sẽ hư thối, to đầu hoặc ốm tong teo thì xem như hỏng bán chẳng ai mua thì sẽ lỗ vốn là cái chắc!. Sau này vào miền Nam mỗi lần ăn phở hoặc hủ tiếu nhà hàng mang ra dĩa giá dài ngoằng ốm tong teo và hai chiếc lá mầm xanh lè thò ra ngoài hạt đậu như lưỡi rắn tôi chợt nghĩ.

Miền Nam ăn sang hơn miền Trung nhiều thứ, nhưng về khoản giá sống thì dân Trung “hào hoa” hơn nhiều! 

(Về cái nhận xét này thì tôi đoan chắc hầu hết dân miền Trung đều đồng tình với tôi).

Những ngày giáp tết nhà trường đã cho học sinh nghỉ học, tôi lại có những ngày vui chơi thoái mái và vùi mình trong chăn ấm ngủ nướng mà không sợ bị dựng dậy chuẩn bị đi học, riêng chị tôi thì phải “tăng năng xuất” đổ thêm nhiều lứa giá để có đi bán hàng ngày và có tiền mua sắm tết cho gia đình. Vì quá ao ước được lên tỉnh nên tôi cứ đi theo xin chị cho đi chợ tỉnh, chị thì không muốn tôi đi theo  vì sợ làm vướng chân, nhưng trước sự năn nỉ của tôi cũng như mẹ cũng nói phụ thêm vào nên chị đành xiêu lòng chấp nhận với điều kiện là lên chợ tỉnh không được đi đâu (vì sợ lạc) và không được đòi hỏi mua bất kỳ thứ gì, dù không vui mấy nhưng dĩ nhiên là tôi chấp nhận.

  Thế là suốt hôm đó tôi cứ trằn trọc không ngủ được lòng cứ nôn nao trông chờ trời sáng, phần thì sợ ngủ quên chị tôi sẽ bỏ lại, cứ trăn qua trở về cho đến lúc mệt quá tôi thiếp đi lúc nào không hay. Gà gáy sớm là nhà tôi đã thức dậy, tôi cũng được mẹ kêu dậy, mặc dầu còn ngái ngủ và sợ lạnh không dám tung mền nhưng khi nghe dọa cho ở nhà là tôi bật dậy như có lò xo, vội vàng đi rửa mặt và thay bộ quần áo đẹp vào. Nói cho tội chứ áo đẹp hồi đó là cái áo vải phin trắng có thêu con chim màu xanh nơi túi áo mới được mẹ mua, còn quần thì vẫn chiếc quần dài xanh may đã lâu nhưng khá mới vì chỉ được đem ra mặc vào những ngày “trọng đại”.  Cả nhà người nào việc nấy tất bật, mẹ thì thổi cơm, chị thì đổ giá ra thúng, người khác thì chuẩn bị quang gánh, còn tôi thì cứ ngồi co ro ngắm nhìn con chim xanh trên túi áo một cách thích thú. Chị và tôi ăn qua loa chén cơm nóng với cá kho, sau khi sắp xếp gọn gàng đâu vào đó chị xếp chiếc áo dài bằng phin trắng cho vào thúng rồi quảy gánh ra khỏi nhà, tôi cất bước theo sau.

 Trời vẫn còn tối lắm, trong màn trời đêm giá lạnh những vì sao nhấp nháy và ánh trăng hạ tuần bàng bạc soi đường cho hai chị em tôi.  Hai chị em mò mẩm đi trong đường làng quanh co nhỏ hẹp độ hai cây số thì đến chợ Ngô Xá và lên đường số 8 thì nghỉ lại để chờ những người trong xóm cùng đi. Đây là một giao ước đã có từ lâu, bất kỳ ai trong làng đi chợ tỉnh cũng nghỉ lại khi bắt đầu vào đường số 8 để chờ nhau cùng đi. Làng tôi cách thị xã Quảng Trị chỉ độ 7, 8 cây số là cùng nhưng thời đó sao mà thấy xa lắc, chị tôi cùng bạn bè trong làng quảy gánh đi thật mềm mại, tiếng đòn gánh kêu kẻo kẹt đều đều theo nhịp chân bước, còn tôi thì phải chạy lúp xúp mới theo kịp.

Ra tới cầu Ba Bến thì trời mờ sáng nhưng vẫn chưa rỏ mặt người, chị em dừng lại nghỉ ngơi trò chuyện rôm rả không ai thấy mệt nhọc gì cả, riêng tôi thì mồ hôi đã vã ra ướt lưng áo và bàn chân đã thấy đau ê buốt vì mang dép không quen, tuy thế khi nghe chị hỏi “ Em mệt không” thì tôi tươi cười đáp “Dạ không mệt” cho chị yên lòng.  
 Nghỉ ngơi chốc lát, chị tôi lấy chiếc áo dài trắng trong thúng ra mặc vào, mấy chị em khác cũng thế. Cái thời đó đàn bà, con gái đi ra đường là phải mặc áo dài, cho dù đi ăn giỗ, đi chợ hay đi buôn cũng thế, dù chỉ là chiếc áo dài cũ kỷ bằng vải phin hay popoplin nhưng không có là không được!

Trời sáng dần, trên đường đã có nhiều người đi bộ và xe cộ qua lại, tôi vẫn chạy lúp xúp sau lưng chị và được thấy cái dáng thật mềm mại, uyển chuyển của chị trong tà áo dài, những bước chân đều đặn với đôi quang gánh trên vai.

Vào tới Góc Bầu đặt chân lên đường nhựa là đã bước vào địa phận thị xã Quảng Trị. Hồi đó  thị xã Quảng Trị thật ra rất nhỏ bé nhưng dưới cặp mắt của đứa bé nhà quê mười tuổi như tôi lần đầu lên tỉnh thì thấy nó lạ lẫm và to lớn lắm, chân bước mà mắt cứ nhìn chớp ngớp bên nọ sang bên kia. Ở nhà ngày qua ngày chỉ thấy toàn nhà tranh núp dưới những lũy tre già và đường làng nhỏ hẹp quanh co với đồng lúa, nương khoai, bạn học thì áo quần tềng toàng, nhếch nhác, đi chân đất lấm lem bùn. Ra đây như lạc vào một thế giới khác trông cái gì cũng sang trọng, nhà cửa thì san sát bán hàng hóa đủ thứ và chất đầy nhà, phố xá thì  xe cộ tấp nập, người ngược kẻ xuôi áo quần đẹp đẽ. Đoạn đường từ Góc Bầu đến cửa chợ không biết bao xa nhưng tôi cứ vừa đi vừa ngó ngang ngó dọc nhiều lúc muốn đâm sầm vào người đi ngược chiều, chị tôi sợ bị  xe đụng cứ nhắc nhở tôi hoài.

 Hồi đó hàng giá của chị tôi bán ở cửa chợ đường Phan Bội Châu, khi chị tôi đến nơi ngồi bán hàng thì tôi chỉ được phép di chuyển trong bán kính mười mét, tức không được ra khỏi tầm mắt của chị vì chợ tết tấp nập kẻ bán người mua đông đúc nên tôi mà đi lớ ngớ lạc mất thì khốn! Vậy là trong lúc chị bận bán hàng thì tôi đứng bên cạnh ngắm nhìn các cửa hiệu chung quanh. Tôi còn nhớ hiệu ảnh LIDO phía bên tay phải có chưng thật nhiều ảnh lớn có nhỏ có mà cô cậu nào trông cũng thật đẹp, có một dãy nhà lầu đề tên là “Trung Hoa hội quán” với những cửa hiệu bán bia, nước ngọt và hàng tạp hóa. Phía sau lưng hàng giá là tiệm tranh kiếng Phúc Thịnh treo đầy những tranh vẻ vào gương thật đẹp và lạ mắt, tranh vẽ hai con chim có hình trái tim và dòng chử “sắt cầm hòa hiệp” hay “loan phụng hòa minh” người ta mua để đi tặng đám cưới, còn tranh vẽ những chú nai uống nước bên dòng suối dưới ánh trăng vàng đề chử “tân gia đại cát” người ta mua để đi tân gia…Phía trước mặt là hai tiệm vàng Kim Yến và Tân Mỹ nhìn vào thấy chóe mắt vì nào là nhẫn, giây chuyền, vòng vàng… sáng lóa trong tủ lại thêm các mặt kiếng tủ đều tráng thủy nên nhìn vào thấy trùng trùng, điệp điệp cơ man nào là vàng. Hồi đó trong trí óc non nớt của tôi chỉ nhìn ngắm mà trầm trồ thôi chứ chưa hề nảy sinh sự ao ước được sở hửu những nữ trang quý giá này.

Cứ thế, thời gian dài nên tôi tha hồ ngăm nhìn và để cho trí tưởng tượng bay bổng và thấy thật thích thú, có lúc trí tò mò thôi thúc không cưởng được tôi mon men đến trước mấy hàng vàng hoặc hiệu ảnh LIDO mà xem cho đã. Có lẽ thấy bộ dạng ngố ngáo của thằng bé nhà quê không có gì nguy hiểm nên những người đàn bà sang trọng môi son má phấn, tóc phi-dê quăn tít ngồi trong quầy không thèm đuổi đi chăng?!

 Khoảng mười giờ là chị tôi đã bán hết sạch mấy thúng giá và kéo tôi đi theo mua một ít hàng tết cho gia đình, sau cùng là đem tôi đến nơi bán xi-rô xanh xanh, đỏ đỏ ở góc chợ mua cho tôi một ly. Tôi uống ly xi-rô ngọt ngọt, chua chua với cái lạnh của nước đá làm buốt răng nhưng mà cũng thật thích thú “ngậm mà nghe” vì ở nhà cả năm cũng không biết mùi vị nước đá như thế nào! Tiếp theo là mua hai ổ mì xíu gói trong giấy đem về để hai chị em ăn dọc đường, ghé vào ông già bán  tò he mua cho tôi mấy con tò he nho nhỏ được nhuộm màu vàng xanh tím đỏ trông thật bắt mắt để tôi chơi trong mấy ngày tết và hãnh diện đem khoe với mấy đứa bạn nhà quê hàng mua tận chợ tỉnh!, cuối cùng là một cây cà-rem đá vừa đi vừa mút trên đường theo chị về nhà…

 Một buổi đi chợ tết thuở bé thơ của tôi chỉ có vậy mà sao mỗi lần được chị cho đi theo là tôi cứ nôn nao mong ngóng. Giờ đây đường đời đã ngã bóng về chiều, mấy mươi năm lưu lạc đất khách quê người mỗi lần nhớ lại chuyện đi chợ tỉnh ngày tết lòng tôi lại nôn nao một nỗi nhớ nhung khó tả…

                                                        Nguyễn Ngọc Luật
                                                     pt.tamle@yahoo.com.vn

READ MORE - NGÀY TẾT ĐI CHỢ TỈNH - Nguyễn Ngọc Luật

AN GIANG NGÀY VỀ - thơ Nguyễn An Bình

Tác giả Nguyễn An Bình


Về trong cơn mưa chiều mù mịt
Thành phố xưa sao chẳng quên người
Thời gian thoáng qua như hạt bụi
Rớt trên tay nỗi nhớ ngậm ngùi.

Đi trên phố như người khách lạ
Dù mỗi góc đường bước chân quen
Từng viên đá lát mùa lá rụng
Bởi ngày xưa đã từng có em.

Vẫn nhớ trong tôi đèn ba ngọn
Đại học Hòa Hảo những chiều mưa
Có một con đường tên rất lạ
Hương Lộ Núi Sập còn như xưa?

Chợ Mới cù lao mùa gió thổi
Em về có qua bắc An Hòa
Chuyến phà ngày ấy còn xuôi ngược
Cát lở sông bồi tiếng sóng xa.

Chợt thấy em qua cầu Hoàng Diệu
Thoại Ngọc Hầu trắng áo nữ sinh
Tôi đứng đợt em giờ tan sở
Góc phố xưa sao mãi nặng tình?

Tôi về lại đi nào ai biết
Em còn biền biệt trời mưa bay
Đừng trách hẹn xưa rơi theo sóng
Thương cánh bèo trôi nhớ sông dài.
                   Tháng 4/2014
                Nguyễn An Bình         




READ MORE - AN GIANG NGÀY VỀ - thơ Nguyễn An Bình

Thơ Thúy Ngân - TÌNH XƯA, RAY RỨT



TÌNH XƯA

Anh nói yêu em
Một thoáng thôi
Em mơ tím ngát cả khung trời
Một thoáng

Anh chỉ yêu em
Một lần thôi
Mà nghe tim vỡ
Một quãng đời

Yêu em thật sự một lần thôi
Dễ gì - tình nối bạc tựa vôi
Ngày bước chông chênh, đêm mộng mị
Một thoáng người đi mãi không về

Ôi! Một thoáng tình.
                                        

         

RAY RỨT

Nhịp đầu đã gác núi xa
Nhịp sau tới lại thật là... chông chênh
Vai anh em tựa đôi lần
Đôi lần ray rứt, chòng chành bão giông
               
Tình riêng, riêng nặng gánh gồng
Lao xao một cảnh mà lòng hai quê
Về - đi vương vấn con thơ
Lệ chan thấm mặn đôi bờ môi em

Ta về ngăn sóng dòng êm
Để cho tình lại bên thềm mộng mơ.
                                                         Thúy Ngân

                                               Bưu điện tỉnh Bình Thuận
READ MORE - Thơ Thúy Ngân - TÌNH XƯA, RAY RỨT