Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, October 30, 2013

ĐỌC "HÀ NỘI CŨ" CỦA ĐINH TẤN PHƯỚC - Hoàng Dục


Nhà thơ ĐINH TẤN PHƯỚC


Mấy ngày này, tôi nhận nhiều thư của một em học trò cũ đang ở Hà Nội. Em bảo thích Hà Nội, có khi đang sống ở Hà Nội mà lại nhớ Hà Nội nữa. Tình cảm em dành cho Hà Nội thật sâu sắc và mãnh liệt làm tôi nhớ bài thơ Hà Nội cũ của Đinh Tấn Phước trong tập thơ “Gió mùa” mà bạn tặng đã lâu.
   
có một Hà Nội rất cũ
như bờ đê
chiều Yên Phụ
           lối mòn gót cỏ
gánh hàng hoa tan chợ đi về

có một Hà Nội rất xưa
như là cổ tích
những mái đình cong võng điệu thời gian
một Hà nội rêu phong
ven dòng sông Tô Lịch
ông đồ nho vẽ chữ
           bán bên đường

có một Hà Nội mùa đông
những cây bàng đỏ bầm chết rét
tiếng dương cầm lạnh ngắt
rơi từng giọt khói sương

có một Hà Nội rất thơ
như mùa thu và giọng nói
một Hà Nội cửa ô, một Hà Nội ả đào
ba mươi sáu phố phường
        bờ hồ liễu rủ…

anh vẫn yêu Hà Nội cũ
chưa cầu Thăng Long
không xe cộ ngợp trời
không nhà mái bằng
không chợ người khổ lụy…

khi Hà Nội còn trong anh… rất trăng!

         Tập thơ "Gió mùa" của Đinh Tấn Phước do Nxb Hội nhà văn, Hà Nội xuất bản vào tháng 12 năm 2003. Tập thơ có ba bài biểu lộ cảm xúc của tác giả về Hà Nội, đó là “Hà Nội cũ”, “Thu Hà Nội” “Hà Nội”, nhưng tôi thích nhất là “Hà Nội cũ”, bởi tôi có cảm giác tác giả qua bài thơ này nói hộ lòng tôi.

        Ngay từ đầu, chỉ thoạt đọc tựa đề “Hà Nội cũ”, tôi cũng cảm thức được cảm hứng sáng tạo của tác giả. Xưa nay, nói đến cảm hứng sáng tác văn chương, người ta thường khẳng định chắc nịch rằng, sáng tạo văn học là một cảm xúc hoài niệm, hoài cổ. Có lẽ cũng không cần bàn cãi gì điều này vì cái lí nó sờ sờ ra đấy. Ngoại trừ những tác phẩm khoa học giả tưởng, còn tất cả mọi tác phẩm thuộc các thể tài văn học đều tái hiện – tái tạo hiện thực cả. Cho nên, không phải ngẫu nhiên chút nào khi cụ Nguyễn Du lại viết : “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Viết là thể hiện tình cảm, bày tỏ thái độ của người tạo tác trước hiện thực đang phơi mở trước mắt nhà thơ.  Nói cho cùng, sáng tác là nhớ lại những gì đã diễn ra trong hiện thực qua cái nhìn của người cầm bút, rồi biểu hiện nó bằng hình tượng với công cụ là ngôn từ nhằm gởi gắm một tình cảm thẩm mĩ nào đó đến người đọc ở tương lai. Nhưng với Đinh Tấn Phước thì có khác, đó là sự nhớ lại trong nhớ lại, đó là nỗi hoài nhớ được bao bọc trong hồi ức tuổi xưa. Không thế, sao lại có tựa là Hà Nội cũ!

       Tôi nghĩ, tác giả cũng như tôi đã có một Hà Nội cũ qua những tác phẩm của “Tự Lực văn đoàn”, qua thơ ca lãng mạn, qua những bài hát mang màu sắc hoài niệm khắc khoải của những người con Hà Nội đang sống ở miền Nam. Bởi chúng tôi cùng thế hệ, được học dưới mái trường trung học những năm 60 của thế kỉ XX và cùng đặt chân vào giảng đường đại học Huế năm 1971. Cho nên, khi tác giả đến với Hà Nội của thời điểm hiện tại, tâm thức bỗng có một Hà Nội xưa ùa về, chảy tràn thành thơ.

      Bài thơ, với cảm xúc ấy nên mới có cấu trúc đối lập một Hà Nội xưa và nay, một Hà Nội qua những trang viết, qua những giai điệu lãng mạn với một Hà Nội hiện thực không như là mơ. Và cũng vì thế mà cấu trúc đối lập ấy không cân đối chút nào. Cảm xúc thơ nghiêng về Hà Nội xưa, Hà Nội của kí ức đẹp; còn Hà Nội nay tác giả chỉ tái hiện qua một khổ thơ ngắn.

     Qua những khổ thơ đầu, những vẻ đẹp của Hà Nội xưa hiện hình cùng một kiểu lập ý : “có một Hà Nội rất… như là…”  và qua sự tăng tiến của ngôn từ : “rất cũ”, “rất xưa” “rất thơ”. Chính những phương thức nghệ thuật này đã xếp bức màn thời gian lại cho ta chiêm ngưỡng một Hà Nội đẹp như cổ tích, mang màu sắc cổ điển. Để rồi ta cảm giác như lạc vào một mê cung Hà Nội thơ,  một Hà Nội của thi hứng, của cảm xúc trữ tình. Ta như bâng khuâng giữa “chiều Yên Phụ”, bâng khuâng thả hồn theo : “lối mòn gót cỏ – gánh hàng hoa tan chợ đì về”. Ta nghe hồn mình buông chùng mềm mại theo “những mái đình cong võng điệu thời gian” soi bóng xuống dòng Tô Lịch. Ta say mê ngắm nét bút “như phượng múa rồng bay” của ông đồ nho đang “vẽ chữ bán bên đường”. Ta cũng thả hồn bay theo chiếc lá vàng thu bên Hồ Tây liễu rủ và :  
 
… giọng nói
một Hà Nội cửa ô, một Hà Nội ả đào
ba mươi sáu phố phường
                bờ hồ liễu rủ…

      Hà Nội lung linh trong kí ức được hình thành từ trang văn đã học đã đọc, từ ước mơ là thế.

      Bên cạnh Hà Nội rất thơ lại chen ngang một Hà Nội :

anh vẫn yêu Hà Nội cũ
chưa cầu Thăng Long
không xe cộ ngợp trời
không nhà mái bằng
không chợ người khổ lụy…

      Khổ thơ khẳng định để phủ định. “Anh vẫn yêu Hà Nội cũ” có nghĩa là anh không có một chút tình cảm nào với Hà Nội thực tại, của thời hiện đại, của buổi kinh tế thị trường. Nói như thế không có nghĩa là Hà Nội hiện đại không đẹp. Hà Nội ngày nay vẫn có nét đẹp riêng, nhưng không thể thay thế được vẻ đẹp đã  làm tổ rất lâu trong kí ức tác giả. Đọc khổ thơ này tôi càng thấy rõ cảm xúc của tôi qua tâm tình của tác giả. Năm 1978, tôi lần đầu đến Hà Nội và sau đó trở lại nhiều lần nữa, ngắn thì một tuần, dài thì một tháng. Tôi đã ngỡ ngàng thấy một Hà Nội không trùng khít với  Thăng Long trong những trang văn tôi đã đọc, qua những giai điệu mượt mà tôi đã nghe. Những gì tôi chứng kiến là một Hà Nội thời bao cấp, một Hà Nội thời kinh tế thị trường, bùng nổ việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà chóp, chợ người đường Giảng Võ,… Cho nên, dù tôi biết Hà Nội nay vẫn đẹp nhưng tôi vẫn đồng điệu với những chữ “không”, chữ “chưa” trong khổ thơ. Và tôi vẫn giữ mãi một lòng yêu Hà Nội cũ như Đinh Tấn Phước, khi bạn khép lại bài thơ, cũng là chốt lại một thái độ, một cái nhìn nghệ thuật về Hà Nội trong thơ:
khi Hà Nội còn trong anh… rất trăng!

     Câu thơ là một khổ thơ, nhưng không tạo cảm giác chông chênh, ngược lại vẫn cân bằng bởi có sự thống nhất tư tưởng, tình cảm của tác giả. Cho dù, thời gian có chảy trôi, không gian có đổi dời, trong tâm hồn của tác giả vẫn luôn hằng hữu một Hà Nội “rất trăng”.

      Và đó cũng là một Hà Nội trong tôi.
  

   HD, 4-12-2011
READ MORE - ĐỌC "HÀ NỘI CŨ" CỦA ĐINH TẤN PHƯỚC - Hoàng Dục

VỀ " n BÀI THƠ NGẮN " - GS. Trường Lưu *




                                                                             

... Qua  "n Bài Thơ Ngắn" của Đinh Tấn Phước (Nxb Văn Học, 2012), ta bắt gặp một kiểu cấu trúc tân kỳ mang tính thể nghiệm, và tiếp xúc một tâm hồn thơ phóng khoáng : thoát ly mọi ràng buộc của cảm xúc sáo mòn trong một khung cảnh chật hẹp. Tác giả vừa làm nghệ thuật ngôn từ trong những bài thơ ngắn đến mức vượt giới hạn cô đúc, vừa phi lộ: "nội dung có thể nằm hoặc không ở những câu chữ". Không hẳn tác giả đưa triết lý toán vào thơ như có người đã cảm nhận, song nếu không có toán học trong con người thi sĩ Đinh Tấn Phước thì vị tất đã xuất hiện "n Bài Thơ Ngắn"!

Thơ vốn không phải bao giờ cũng biểu hiện cái cụ thể. Cái không cụ thể trong tình ý sâu xa ở đây, gắn với ý niệm ngắn của bài thơ, câu thơ, lặn sâu vào những câu chữ tưởng chừng mông lung và hư ảo, tạo nên hình tượng và dáng vẻ thơ độc đáo. Phong cách thơ Đinh Tấn Phước bắt đầu từ đấy.

Những cái có vẻ mới và lạ trong "n Bài Thơ Ngắn", tuy không ngoại lệ song cũng không là thông lệ. Thơ là "lĩnh vực của vô cùng" cho mọi ý tưởng sáng tạo. Trong thời đại văn minh trí tuệ như hiện nay, thơ càng tiến xa vào nhiều vùng tìm tòi, khám phá. Đi trong thời đại ấy, Đinh Tấn Phước từ "Chạm Bóng" (Nxb Văn học, 2009)  đến "n Bài Thơ Ngắn" đã góp tiếng nói có phong vị và hương sắc riêng vào nền thơ Việt Nam. 


(*): Nguyên Viện trưởng Viện Văn hoá
READ MORE - VỀ " n BÀI THƠ NGẮN " - GS. Trường Lưu *

Tuesday, October 29, 2013

CHỜ XUÂN - thơ Bình Địa Mộc





kìa hoa, xinh thế là vừa
nếu thêm chút nữa e chưa sẵn lòng
còn bao nhiêu bướm với ong
nấp trong rừng cuốn cuồn mong xuân về

cỏ ơi, cứ thế nỉ nê
khép mình lại dẫu sương tê tái dầm
nắng lên mới được thì thầm
rằng xuân đang đến dâng mâm quả đầy

cánh chim én xỏa trời mây
cố lên, nhưng chớ tách bầy biếc xanh
bóng trưa đổ cạnh chùa lành
đợi xuân về hẳn hót lanh lảnh mùa

bến sông sóng sắp già nua
tiễn con đò lắc lư khua mỗi ngày
ô hay, mới bửa qua này
bỗng dưng trẻ lại nước xoay xuyến vòng

thì ra, tự phía mơn mong
ngự trong tim chúng con rồng cháu tiên
mỗi năm xuân một sắc riêng
về pha thắm lại những triền dâu bên

khoan khoan, đợi với triều lên
vỗ tôi năm tận tháng hềnh hệch đau
em như quang gánh nhẹ nhàu
quẳng lo toan nhặt tôi mau mắn về ...

Bình Địa Mộc

Sài Gòn, 2013
READ MORE - CHỜ XUÂN - thơ Bình Địa Mộc

BỐN MÙA TINH KHÔI* - thơ Nguyễn An Bình

*Tặng nhà nhiếp ảnh Võ Thạnh Vân



Chiều XUÂN thung lũng hoa vàng
Em tung tăng giữa bạt ngàn sắc hương
Chập chờn bướm lạ chiều sương
Ngẩn ngơ ốc quạnh hiu buồn giả hoa.


Cuối mùa HẠ trắng non xa
Hải âu vỗ cánh trăng tà thinh không
Biển thầm đá sỏi vô ngôn
Ngọc quỳnh ráng ửng hoàng hôn ven đường.


Nụ hồng sắc áo THU vương
Nghìn năm hóa đá vàng ươm mây ngàn
Lưng trời cánh hạc bay sang
Hoa vô ưu nhỏ lệ tràn hương phai.


Tàn ĐÔNG cành khẳng khiu gầy
Anh như ốc mượn hồn xây tình nồng
Đành thôi nhụy rã phai hồng
Đời như cát bụi thinh không giang hà.


Hạc xưa về khép cánh tà
Trăng treo điếm cỏ la đà cầu sương
Nét tranh vân cẩu vô thường
Em liêu trai giữa phố phường thế gian.

Tháng 10/2013 

Nguyễn An Bình


* Ý bài thơ phần lớn lấy từ tên các chủ đề trong bộ thư viện ảnh của Võ  Thạnh Vân.
READ MORE - BỐN MÙA TINH KHÔI* - thơ Nguyễn An Bình

ĐI LÊN, VIỆT NAM - chùm thơ Trường Hải




ĐI LÊN, VIỆT NAM
(Kính tặng Tổ quốc Việt Nam) 

Đất nước Việt Nam bốn nghìn năm dựng nước,
Dòng giống Tiên Rồng lịch sử dài lâu.
Từ Lũng Cú-  Đồng Văn đến tận Mũi Cà Mau,
Năm tư dân tộc anh em cùng dòng máu đỏ.
Đánh giặc ngoại xâm từng anh hùng một thuở,
Tiếp bước cha ông, con cháu giữ nước nhà.
Đã qua rồi thời máu lửa chiến tranh,
Nay vượt đói nghèo con đường dài phấn đấu.
Nhân dân cần lao- những con người yêu dấu,
Cùng nắm tay nhau ta xây dựng cơ đồ.
Ôi, bốn nghìn năm đất nước đẹp bài ca,
Tự hào Việt Nam sánh vai toàn nhân loại.
Bão nổi triều dâng nay thời cơ đổi mới,
Hãy xua tan đi những u ám cuộc đời.
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc cho muôn nơi,
Đi lên, đi lên, Việt Nam , Tổ quốc ơi! 

Đỉnh Sơn, 24/10/2013
Trường Hải Lê Văn Đông



NHỮNG NỤ CƯỜI CHIẾN THẮNG 

Ảnh chiến tranh- những bức hình đen trắng,
Ghi lại một thời anh dũng, đau thương!
Phóng viên chiến trường những người chiến thắng,
Có được tầm hình , đổi cả máu xương !


Khoảnh khắc thu vào đa chiều cuộc chiến,
Xám xịt khói bom, thấp thoáng con người!
Cô Thanh niên xung phong nụ cười trắng lóa,
Phá đá, san đường giặc đánh đêm qua!


Bên Thành cổ ngổn ngang gạch đá,
Rạng rỡ nụ  cười lính trẻ hai mươi.
Trông yêu quá, khói bom còn rám má,
Trong chiền hào cuộc sống vẫn xanh tươi!


Giữa sói lang , Võ Thị Thắng nhoẻn cười,
Ngời khám Chí  Hòa  nụ cười anh Trỗi.
Vào trận đánh những nụ cười nở vội,
Thắng trận về thỏa sức nụ cười vui!


Bảo tàng chiến tranh lưu những nụ cười,
Giữ lại cho đời niềm tin chiến thắng.
Nụ cười Việt Nam bừng bừng sức sống,
Trong bùn đen sen vẫn nở sắc hồng! 

Đỉnh Sơn , 26/10/2013

Trường Hải Lê  Văn Đông
READ MORE - ĐI LÊN, VIỆT NAM - chùm thơ Trường Hải

Chùm thơ "Tình đã chết" - Phạm Ngọc Thái

 


HỠI MẶT HỒ XANH

Ta đi lại con đường nàng từng bước
Sống những giờ trong hồ ngọt thiết tha
Nghe bên tai bao âm thanh dội vọng
Bóng nàng về say đắm trời xa.

Hàng cây có nhớ lời nàng nói?
Hỡi mặt hồ xanh thăm thẳm sóng vơi đầy
Tất cả đã cùng ta hạnh phúc
Liễu bên bờ, làn nước, trời mây…

Bóng câu đi qua nghe mùa lá rụng
Thềm cũ thẫn thờ xanh vắng bờ rêu
Ôi! Cuộc đời chơi vơi toàn sỏi, đá
Tạc vào tháng năm trái tim của tình yêu!

Em hiển hiện giữa chiều hoàng sẫm đỏ
Ta nhìn thấy mắt em trong bóng gió đang bay
Nụ cười xưa vẫn dịu dàng bên ta đó
Người đàn bà của lòng anh mê say.



 VĨNH BIỆT CUỘC TÌNH

Thôi! Vĩnh biệt cuộc tình êm ả
Khúc nhạc đời chan chứa tuổi thanh xuân
Bên hồ liễu những đêm trăng tỏ
Đã lùi vào trong gió bụi trần gian.

Anh trở về như Na-pô-lê-ông đi tù ngoài hoang đảo
Ông dành thời gian viết hồi ký thuở tung hoành
Anh lấy tình xưa xây giấc mộng thi nhân
Chỉ tiếc nuối tình sao ngắn ngủi.

Anh cứ bước lang thang lòng bối rối
Nhớ những khuya nào đã ân ái cùng em
Bao trai gái quanh mình vẫn tha thiết yêu đương
Thơ xót đắng bởi tình xưa như rượu ngọt.
  


TÌNH TRONG CHIỀU BUÔNG

Chiều buông xuống anh ngồi bến vắng
Bao âm thanh bờ bãi vô cùng
Ai cứu nổi hồn ta trong bóng lạnh?
Nghe thành sầu đổ vỡ tan hoang.

Chiều rơi rơi và lằng lặng bóng
Đời buồn như chấu cắn, người ơi!
Những năm tháng mây trôi lờ lững
Cuộc sống xô bồ, thời thế đảo điên ôi...

Chiều tàn tạ, hoàng hôn bềnh bệch
Anh đứng chờ đêm ngóng trăng vàng?
Tuổi trẻ - tình yêu ư? Một bóng mình hiu quạnh...
Em dịu hiền lòng anh đắm miên man.

Tiếng mõ chùa rơi trong tịch lặng
Hồn phiêu diêu cõi trần hoang
Bảng lảng Tây Hồ màn sương khói

Chôn mình trong ảo mộng vô phương.

Phạm Ngọc Thái
READ MORE - Chùm thơ "Tình đã chết" - Phạm Ngọc Thái

BÓNG TỐI CUỘC ĐỜI, THÁNG GIÊNG XANH - thơ Phan Minh Châu




Bóng tối cuộc đời

Một chuyến tàu đêm hay một cuốc xe chiều
Mai em đi, đi về miền bão nổi
Một khối u vừa chèn ngang thành phổi
Chèn ngang cuộc đời đang ngưỡng tuổi yêu thương
Em đi vào trong đó có xanh hơn
Chiều bịnh viện mây đùn lên trắng xóa
Những mảng tường vôi hoen màu thổ mộ
Những chiếc giường…. năm tháng bổng cô đơn.
Cũng vừa qua đợt nắng ấm mùa xuân
Màu phượng đỏ đang trong mùa thả nổi
Cái màu phượng cháy như than củi
Đã một thời đốt cháy trái tim em
Anh thầm mong ngày mới bớt đau hơn
Khi hai đứa đã qua thời son trẻ
Những đứa con chúng ta lớn lên vẫn còn đeo yếm mẹ
Đêm tằn mằn như thuở tuổi ru nôi
Em đi rồi anh bổng thấy đơn côi
Cứ quanh quẩn trong ngôi nhà trống trải
Đêm ú ớ những cơn mê rồ dại
Những cơn mê thiêm thiếp… tuổi xa người
Anh tật nguyền năm tháng đã mồ côi
Cứ eo óc như tiếng gà gáy sáng
Cứ leo lét như bấc dầu đã cạn
Bấc dầu hao vụt dậy sớm mai này
Em đi rồi heo hắt một bàn tay
Một lối nhỏ dẫn vào con hẻm cụt
Một nỗi đau ấm như dòng nước mắt
Sẽ chảy hoài trong suốt những ngày đông

                     PHAN MINH CHÂU




Tháng giêng xanh

Những chuyến xe dừng những bàn tay với
Vẩy Tuy Hòa tròn tuổi bốn trăm năm
Người khách lạ neo mình ở lại
Tháng giêng xanh chớm hội trăng rằm
Đêm sập cửa trời trong như phố núi
Những con đường khép lại tuổi không tên
Người khách lạ gióng tình yêu mê mãi
Bên này sông sáng lại thưở bưng biền
Tiếng nhac xập xình những bài ca mỏi
Nghe dư âm vọng lại tháng ngày….
Trăng núi Tháp sáng bên thềm Thiên Mụ
Để Tuy Hòa mang dáng Huế xa xăm
Rót chén rượu mừng quê người thêm tuổi
Những con đường lạ đó bổng thành quen
Mây thiếu nữ hồn nhiên cài thêm nụ
Để trăng lên lồng lộng phố không đèn


                       PHAN MINH CHÂU
READ MORE - BÓNG TỐI CUỘC ĐỜI, THÁNG GIÊNG XANH - thơ Phan Minh Châu

CHIẾC LÁ VÀNG - thơ Trương Nguyễn




Sáng trước sân nhà tôi
Từng chiếc lá vàng rơi
Lung linh như vẫy gọi
Thầm nhắn nhủ bao lời

Long lanh trong sương mai
Chập chờn cánh bướm bay
Trở về nơi nguồn cội
Nghe có tiếng thở dài

Lá cũng như phận người
Từ mầm xanh tươi vui
Qua đi thời nhan sắc
Theo dòng đời buông xuôi

Đọng lại trên cành cây
Trăm năm chỉ thoáng giây
Buồn vui thành bụi khói

Giữa cuộc đời đổi thay.

Trương Nguyễn
READ MORE - CHIẾC LÁ VÀNG - thơ Trương Nguyễn

VÌ ĐÂU? HỠI THƯỢNG ĐẾ - Chùm thơ Tuyền Linh




Vì đâu? Hỡi Thượng Đế !

Con được sinh ra từ Cha từ Mẹ
Con lớn lên bằng trái tim nhân ái của mọi người
Sao con không được lành tay để ôm sách vở đến trường
không được lành chân để xếp hàng vào lớp?
Mắt bị mù lòa, chẳng nhìn được
những tấm lòng bao dung rộng mở
những trái tim nhân ái sớt chia
nhìn con đường tuổi thơ trước mặt
Sao ngày không là ngày
đêm cũng chẳng là đêm?
Những ước mơ tuổi thơ rồi vụt tắt

Khi biết mình hình hài không nguyên vẹn
con chợt nhận ra rằng
hư là Thực…thực là Hư…
Chẳng lẽ nào Thượng Đế nhồi nặn sai (?)
đôi bàn tay
đôi cẳng chân
đôi mắt trong lành từ thuở nguyên sơ vốn có
Vì đâu? Vì đâu?
Hỡi Thượng Đế! Người có thấu rõ ?
chất độc da cam nào cướp đi quyền sống của con ?

Hãy trả lại cho con cuộc sống bình yên
như cây cỏ trên non
đứng vươn mình hít thở khí trời mỗi sáng
như con chim vành khuyên
con chiền chiện
ríu rít gọi đàn mỗi sớm bình minh
Hãy trả lại cho con hình vóc nguyên lành
như mặt trời mỗi ngày vẫn mọc…
Hỡi Thượng Đế! Vì đâu? Vì đâu?
Con gánh chịu ! ?

Tuyền Linh


Em là chứng tích

Nhìn những hạt sương bay
tôi lại nghĩ tới em
những trẻ thơ nhiễm chất độc da cam
đớn đau phận số
Em còn lại gì sau cơn dông bão ?
đôi mắt mù lòa
đôi chân què quặt
tay chẳng lành tay

Em ơi em !
Số phận hôm nay
là chứng tích ngày mai
là nỗi đau của đàn em đẻ ra sau
cha, anh sinh ra trước
của loài người tiến bộ gần xa
Qua bào mòn, cục đá cũng thấy đau
huống chi chúng tôi
những đồng bào bằng xương bằng thịt
Chúng tôi rất biết ơn em
bởi em là chứng tích
Tay em què quặt
đã vẽ được chân dung
kẻ bạo lực ngông cuồng
Mắt em mù lòa
nhưng cho cả thế giới sáng chung
ánh sáng công bình, bác ái
Chúng tôi ghi ơn em mãi…
em đã nhận chịu
cho đêm tối lại
để ngày sáng lên

Chúng tôi đang xót xa gọi tên em
Hỡi em có nghe thấy ! ?

Tuyền Linh


Chỉ có Trái Tim Nhân Ái

Một ngày đã qua…
Ba vạn sáu ngàn ngày cũng sẽ qua
Mặt trời trong ta rồi cũng bỏ ta đi
vườn khuya trăng chếch bóng
hạt sương đêm rơi trắng cả mái đầu

Ta còn lại gì
nơi vùng miên viễn chiêm bao ?
Hỡi hạt bụi phù sinh chờ ngày hóa kiếp !
của cải, bạc tiền
chức quyền, ngôi vị
cũng theo nhau xuống biển…về nguồn…
Rồi dòng đời phẳng lặng vẫn trôi
chẳng còn ai nhắc đến tên ai nữa

Duy, chỉ có “ Trái Tim Nhân Aí “
vẫn sống mãi…sống mãi…trên trần đời

Xin hãy thắp lên môi đám trẻ những nụ cười
nụ cười hồn nhiên trong sáng
Ôi, những trẻ cút côi không cha không mẹ
những bé thơ bất hạnh cuộc đời
Da thịt nào mà chẳng thấy đau !
Nước mắt nào mà không nhỏ xuống !

Xin hãy chia sớt cho nhau những gì có thề
Cõi nhân sinh vốn dĩ vô thường
Mỗi con người chỉ có một trái tim
Xin hãy là “ Trái Tim Nhân Aí “ !
cho con tim được luôn sống mãi…


Tuyền Linh
READ MORE - VÌ ĐÂU? HỠI THƯỢNG ĐẾ - Chùm thơ Tuyền Linh

LẶNG THẦM - truyện ngắn Hoàng Đình Chiến


                                     

Trước khi đọc các mục khác, ông Minh thường lướt qua mục cáo phó. Mắt ông bỗng nhòe đi và dừng lại trước dòng chữ in đậm: Huỳnh thị Thu Nguyệt.

Vẫy chiếc taxi,  ông lên xe mà không biết mình đi đâu. Người lái xe phải hỏi đến lần thứ ba. Xuống xe ông quên trả tiền. Người lái xe lại nhắc. Một cô gái mặc bộ đồ tang chạy ra dắt ông lên sảnh. Ngồi bên chiếc bàn ông hỏi cô gái:

Má ra đi sao con?

Má con đi tối qua. Đi nhẹ nhàng mà như chờ đợi. Má dặn đưa tận tay bác.

Ông run run đón lấy bì thư. Một tấm hình úa màu thời gian rớt ra. Trong hình một đôi trai gái ngời ngời hạnh phúc. Đó là tấm hình ông cách nay hơn ba mươi năm. Đằng sau tấm hình là dòng chữ nắn nót, trân trọng: “Mãi bên anh”.

***

Minh đang học Đại học Văn Khoa Sài Gòn.Tết Mậu thân. Nhóm sinh viên cùng giải phóng chiếm đài phát thanh, chỉ mỗi Minh dính thương. Một cô gái có khuôn mặt như trẻ thơ với bàn tay có những ngón thuôn dài búp măng băng bó cho anh.

Sau Mậu Thân, Nhựt Minh là bút danh của anh ở báo Giải Phóng. Minh thích nghi nhanh với cuộc sống ở rừng và có nhiều bài viết được đánh giá cao. Anh được cơ quan cử đi công tác tại Đại hội phụ nữ toàn Miền. Hôm khai mạc đại hội, Minh ngạc nhiên thấy phía cuối hội trường có vài hàng ghế được quây thành ô vuông, che vải kín mít. Hỏi ra, Minh được biết đó là khu giành cho đại biểu đang hoạt động bí mật trong nội thành. Anh càng tò mò hơn khi nghe các báo cáo viên trùm khăn kín mặt như những phụ nữ Hồi giáo.

Ở rừng, trời sập tối nhanh. Theo kế hoạch, tối nay Minh tiếp xúc với điển hình nội đô. Anh nóng lòng vì ngoài thành tích nổi bật, người báo cáo chiều qua còn có đôi mắt rất quen. Khu lán đại biểu “trùm mặt” nằm riêng rẽ, khuất sau hàng bằng-lăng tím…Minh ngồi chờ bên chiếc bàn ghép bởi những cây bói rừng. Anh định đứng lên đi lại cho bớt căng thẳng thì một bóng người đi tới. Chiếc khăn rằn che gần hết khuôn mặt, tay cầm cây đèn được chế từ một lọ thủy tinh có những hạt nhựa xanh đỏ. Minh thầm nghĩ, con gái có khác, chiến tranh vẫn làm đẹp.

Nhà báo đợi lâu rồi hả, Xin lỗi nha! -Một chất giọng nhẹ và ấm làm anh bồi hồi.

Tôi vừa tới. Mời chị…à mời đồng chí ngồi (kêu đồng chí cho chắc ăn-Minh nghĩ )

Cuộc phỏng vấn kéo dài gần 3 giờ. Minh say sưa với những trận đánh của nữ biệt động Sài Gòn vào bót cảnh sát Thị Nghè, giết ác ôn ngay giữa chợ Tân Định và những ngày nổi dậy Xuân Mậu Thân. Chần chừ mãi, Minh đánh liều hỏi:

Hồi Mậu Thân đồng chí có ở Đài phát thanh Sài Gòn không?

Một thoáng bối rối mà Minh cảm nhận được từ đôi bàn tay cứ xoa xoa liên hồi. Đôi bàn với những ngón thuôn dài…từng ám ảnh anh hình như đang ở trước mặt. Phải chi không có chiếc khăn rằn, phải chi không dưới ánh đèn dầu chắc chắn Minh đã có câu trả lời:

Hồi Mậu Thân…. tôi ở phía… cầu Chữ Y. Sao đồng chí hỏi vậy?

Tôi bị thương ở Đài phát thanh. Một nữ biệt động đã băng bó cho tôi -Một phút im lặng. Bàn tay trước mặt Minh lại tiếp tục xoa xoa vào nhau.

“Nữ biệt động T. N” là nhan đề bài báo đưa Nhựt Minh trở thành nhà báo tên tuổi ở R.

***

Sau 30-4-1975, Minh được Tòa soạn cử đi viết về Đại hội phụ nữ thành phố. Minh gặp lại đủ mặt những chị em năm xưa. Riêng nữ biệt động T. N, người mà Minh mong gặp lại không có. Linh tính mách bảo: Nguyệt không thể hi sinh. Và Minh tự an ủi: không biết mặt, giáp mặt chắc gì nhận ra. Chỉ còn đôi mắt và những ngón tay ... Nhưng, tìm một đôi mắt, kiếm đôi bàn tay lúc này khác chi mò kim đáy nước. Ngày cuối Đại hội, cô gái lễ tân đến bên Minh hỏi nhỏ: ”Có phải anh là nhà báo Nhật Minh?”. Rồi tiếp: ”có người gửi cho anh cái này”. Minh lướt nhanh tờ giấy : ”K/g nhà báo! tôi muốn gặp anh tại… ”. Minh đinh ninh đó là T. N.

Trước căn nhà tồi tàn nằm sâu trong hẻm cụt, chưa kịp bấm chuông, Minh đã thấy bóng người chờ sẵn. Bàn tay với những ngón thuôn dài búp măng nhẹ nhàng tra chìa vào ổ khóa. Minh nghẹn ngào nhìn vào đôi mắt không còn trẻ thơ mà phảng phất nỗi buồn u tối. Minh bước theo như mộng du. Giữa không gian ngột ngạt chìm trong tiếng quạt lạch cạch, phải một lúc lâu, uống gần hêt ly nước đá , Minh nói trong hơi thở:

Tôi tìm đồng chí suốt, cứ nghĩ đồng chí dự đại hội… -Chưa kịp dứt lời, cái giọng Sài Gòn nhẹ mà ấm đã hờn mát:

Tôi đâu có diễm phúc. Tôi nghĩ anh quên hết rồi. Sao! anh thế nào? đã có gia đình chưa? mấy cháu rồi? -Khóe miệng với hàm răng trắng đều lần đầu hiện ra trước mắt Minh sao mà chua chát.  Những câu hỏi liên hồi như xả bớt nỗi đầy vơi mấy ngày nay và cả mấy năm qua. Dù cố nén nhưng càng nén, càng bật ra dữ dội.

Như ngày ở R thôi đồng chí ơi! -Minh giả lả cho không khí bớt nặng nề - sao đồng chí biết mà gửi giấy vậy?

Trên tivi đó. Thấy mặt hoài. Phát ghét. Tôi không dự nhưng biết hết. Bộ có việc gì mà xăng xái chỗ này chỗ kia vậy?

Thì tìm đồng chí . Mắc cười, không biết mặt mà ráng tìm. Vậy mà cũng gặp. Đồng chí thấy giỏi hông. -Minh nhại tiếng nhẹ tênh Sài Gòn.

Anh làm ơn dẹp cái “đồng chí”của anh đi. Bộ anh đến để họp hả?

Rồi, rồi. Xin tuân lệnh đồng chí.

Lại nữa! Anh mà còn “đồng chí” là khỏi nói chuyện luôn đó.

Minh nhìn thẳng vào đôi mắt âu sầu giờ đã thơ trẻ lại như ngày nào.

Thu Nguyệt bị bắt và đày ra Côn Đảo sau ngày ở R về. Sau giải phóng, Tổ chức chưa phân công tác cho Nguyệt. Họ chờ xác minh  những ngày Nguyệt ở Côn Đảo.
Một buổi chiều nắng dịu nhẹ công viên. Ngồi xuống chiếc ghế đá xỉn màu sạch sẽ, Minh choàng một tay lên bờ vai Nguyệt, ghé sát định đặt nụ hôn lên môi người con gái anh thương vụng nhớ thầm. Không ngờ, Nguyệt né sang bên . Đôi mắt sâu thẳm và xa xăm nhìn thẳng vào Minh:
Em thương anh, nhưng hãy giữ cho nhau một tình bạn sáng trong . Không đáp lại tình yêu, em đau khổ không kém anh đâu. Em thương anh nhiều lắm… -Minh chết lặng. Nguyệt như nói với chính mình:

Chúng tra tấn đến nỗi em không còn khả năng làm mẹ. Em gánh chịu một mình. Anh phải có vợ và những đứa con. Đó là niềm mong mỏi… Vì nó, ta đã vượt qua tất cả để còn nhau… -Tiếng Nguyệt đứt quãng trong nấc nghẹn . Minh im lặng. Nước mắt chảy vào trong. Không khóc được, nỗi đau nhân lên gấp bội. Cả hai lẳng lặng nhìn bóng mấy cây cổ thụ đổ dài gẫy gập vào hoàng hôn.

Minh rủ Nguyệt đi chơi vài lần nữa nhưng Nguyệt từ chối khéo. Nguyệt chỉ đồng ý đi với Minh đến thăm một người quen cũ. Lần đó, Minh cố tình dừng lại giữa đường và rẽ vào một quán cà-phê. Vùng vằng mãi,  Nguyệt mới vào theo. Ngồi một lúc, Minh nghiêm trang:

Anh quyết định rồi. Chúng ta làm đám cưới. Anh không thể sống thiếu em …Nguyệt cúi đầu không nói gì cho tới khi rời quán.

Lần cuối cùng Minh đến, căn nhà tồi tàn đã sửa lại. Một bà sồn sồn cho biết bà là chủ nhà. Chị Tư Măng đầu hẻm đưa cho bức thư của Nguyệt, Minh vội sà vào quán ca-phê cóc, đọc ngấu nghiến: ”Anh Minh. Em được minh oan và bố trí công tác. Em sẽ rời Sài Gòn và xin con nuôi. Đừng tìm em. Vĩnh biệt ”. Minh thần người như bị trúng gió. Ly cà-phê đen nguội lạnh trong khi cổ anh đắng nghét.
Cả tháng, Minh chạy xe lòng vòng tìm Nguyệt một cách vô lý. Nhưng với Minh, vô lý còn hơn vô vọng. Kẻ đang yêu không chấp nhận thực tại phũ phàng.

Gần đây, Minh mới biết ngày đó Nguyệt vẫn ở Sài Gòn. Chị đảm trách chức Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ huyện ngoại thành trước khi nghỉ hưu. Nguyệt vẫn đọc không sót một bài báo nào của Minh. Con nuôi của Nguyệt ra đón Minh hôm tang lễ. Cháu đã có gia đình, rất thương mẹ và thương cả mối tình lặng thầm của mẹ./.



HOÀNG ĐÌNH CHIẾN
READ MORE - LẶNG THẦM - truyện ngắn Hoàng Đình Chiến