Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, December 14, 2012

DA DIẾT QUÊ NHÀ ... - Phạm Xuân Dũng


          (Nhân đọc tập thơ "Chiêm bái quê nhà" của Trần Bình)

Nhà thơ TRẦN BÌNH đọc thơ tại buổi ra mắt tập thơ CHIÊM BÁI QUÊ NHÀ của anh.
                            
       Mấy năm trước, một sự kiện gây tiếng vang trong làng văn nghệ Quảng Trị khi phu nhân nhà thơ Trần Bình có một quyết định mang tính đột phá: thịt một con heo gần bốn mươi cân sau bao ngày rau cám để tài trợ chính cho tiệc thơ chồng ngay tại quê nhà làng An Nhã, xã Do An, huyện Do Linh.   
                 
      Giữa thế kỷ 21 trong tình cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, gạo châu củi quế, lạm phát thơ, lại có một người vợ quê chịu thương chịu khó dũng cảm hiến tặng cả một gia tài không nhỏ cho một cuộc chơi mà thiên hạ cho là phù phiếm khiến nhiều người choáng váng và phát ngộ khi nhìn nhận lại thi ca. Nhà báo Lê Đức Dục bình luận sự kiện văn nghệ này bằng giọng hài hước, hân hoan pha chút ngậm ngùi: "Tôi cũng là người làm thơ, đăng tải nhiều nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy có người vợ Trần Bình dám đem heo đãi  thơ. Giá như ngày trước, tôi cũng được vợ tôi tặng cho một đùi gà vì thành tích làm thơ thì chắc bây giờ tôi đã là một nhà thơ thành đạt. Điều đáng nói ở đây, tôi nhấn mạnh, chưa phải là thơ mà là cách ứng xử với thơ!" Quả thật, tiệc thơ Trần Bình đã thu hút nhiều bạn bè, anh em văn nghệ trong và ngoài tỉnh. Còn ở quê nhà thi sĩ, vốn quan niệm truyền thống thường tình thịt heo là để việc làng thì từ đây đã có thêm một ý nghĩa khác: việc thơ !
       
       Dễ nhận ra trong thơ Trần Bình là tình quê da diết. Những bài thơ chiếm được cảm tình người đọc thường giống nhau ở chỗ mộc mạc, lấm láp chân tình. Trong "Cò ơi thao thiết", anh viết:

            Gian khó đè lên hai đầu quang gánh mẹ tôi
            Triêng thúng cả một mùa màng ra chợ
            Cha cúi gập mình trên những đường cày ải vụ
            Cái nghèo, cái khổ  
            đeo bám còng lưng!

            Bước chợ đường quê mẹ nuôi chúng tôi khôn
            Cha nhường phần ngon che chiều nhỏ dại
            Vô tư vốc nghịch, ăn đất nằm rơm
            Chúng tôi lớn lên những điều mê mải ...

       Đứa con làng quê trong thơ Trần Bình bao giờ cũng là đứa con  dại ngộ dẫu lớn khôn, thành đạt đến mấy vẫn thấy mình có lỗi, vẫn thấy mình mắc nợ với quê hương:

           Mẹ ơi!
           Sáng nay về tạ lỗi mùa màng
           Mẹ cha mồ yên, mả vắng
           Con bỗng thèm một gốc quê da diết nắng
           Con bỗng thèm một lời ru...

           Cò ơi thao thiết
           Cò ơi tìm về ...

        Người mẹ quê trong thơ Trần Bình cứ thúng mủng gánh hai đầu tao loạn, băng qua biết mấy chiến chinh, ly tán, để dắt dìu, che chở đàn con. Người đọc dễ đồng cảm với người mẹ nhà thơ chân chất và cao quý vô ngần:

           Mạ tôi cả ngày dang nắng
           Còng lưng trưa má, ruộng lầy
           Đi qua tháng ngày cùng cực
           Rách lành no đói lắt lay

           Chiến tranh một thời bom đạn
           Người quê ly loạn khắp vùng
           Đèo bòng mạ tôi thúng mủng
           Ôm đùm che chắn các con
                                        (Mạ tôi 1)

         Cũng vì da diết tình quê nên khi có dịp đi xa, Trần Bình luôn nặng lòng với những gì là quê cha đất tổ, là chôn nhau cắt rốn, là thương cội nhớ nguồn và lấy đó làm thước đo phẩm giá con người. "Đồng hương" cũng là nơi bộc trực Trần Bình :

        Có cả một hội đồng hương làng ở phố
        Những bạn bè thành đạt của tôi
        Cái sự đổi đời từ thôn ra thị
        Nghe cứ như là chuyện chơi

        Nghiêng chén tràn đêm say phố
        Bên em mắt lúng liếng cười
        Ước ao chặn nghẹn nơi lồng ngực
        Cho ta thành dân phố chút thôi
     
        Vô tư đi. Cứ vào Nam mà sống
        Chả nhẽ rời quê - muôn kiếp mặn mòi
        Chả nhẽ vì mẹ cha nghèo cực
        Mà ta mơ thành một kẻ mồ côi!
         …
        Có cả một hội đồng hương làng ở phố
        Thương đến nghẹn ngào cái giọng miền Trung
        Sao nỡ nói tiếng Nam, tiếng Bắc
        Để mô, tê, răng, rứa ...ngại ngùng.

        Thơ Trần Bình được nhiều tâm hồn đồng điệu bởi tình quê sâu nặng, lời lẽ thật thà, chân chất được tuôn chảy từ một tấm lòng lúa khoai có chi nói nấy. Khó tìm thấy kỹ xảo hoặc các thủ pháp tân kỳ trong thơ anh dù rằng người viết vẫn dụng công. Những bài thơ khá hay hiện lên một chân dung thơ người cầm tinh tuổi cọp hồn nhiên mà vẫn không kém phần lắng sâu, trăn trở. Cũng mong rằng anh vẫn là chính anh trong sáng tác, có điều chọn lọc và tiết chế hơn để có những bài thơ thực sự mang dấu ấn Trần Bình.

       Chúng ta sẻ chia và hy vọng vào một hồn thơ tươi trẻ mà sâu lắng như chính mùa xuân.

PHẠM XUÂN DŨNG
dpthachthao@gmail.com

                  

READ MORE - DA DIẾT QUÊ NHÀ ... - Phạm Xuân Dũng

Thursday, December 13, 2012

CA BÌNH MINH- GIỌNG CA NHÂN ÁI, GIÀU TÍNH TRIẾT LÝ VÀ MANG NHIỀU HOÀI NIỆM - Nguyễn Văn Hòa

(Nhân đọc Ca bình minh của Lý Phương Liên, Nhà xuất bản Văn học, 2011)






Ca bình minh của thi sĩ Lý Phương Liên là một tập thơ mà nó chất chứa  biết bao tình cảm thiết tha, nồng ấm. Cả tập gồm 46 bài, phần lớn là thơ tự do, chỉ có 14 bài lục bát nhưng tôi đánh giá cao những bài thơ lục bát của chị bởi lối viết uyển chuyển, sáng tạo và có sự cách tân. Dù số lượng thơ lục bát không nhiều nhưng nó làm nên chất đằm thắm, dịu dàng, hồn nhiên, trong sáng của hồn thơ Lý Phương Liên. Việc chị ưu tiên sử dụng thể thơ tự do trong sáng tác của chị cũng có cái lý của nó. Phải chăng Lý Phương Liên chọn thể thơ ấy để dễ bày tỏ tình cảm, cảm xúc, thể hiện một cách tận cùng sâu thẳm mọi cung bậc cảm xúc và mọi ngõ ngách của tâm hồn. Điều đặc biệt ở Ca bình minh, đó là tất cả 46 bài thơ đều được chị viết vào thời điểm những năm của thập niên 60, 70 của thế kỉ XX. Viết ở thời điểm ấy mà chị có những cách tân và sáng tạo trong ý tứ, câu chữ, thể thơ như vậy thì quả là điều đáng được ghi nhận.

Danh hiệu nhà thơ theo đúng nghĩa của nó vô cùng cao sang và đáng trân trọng, càng đáng ghi nhận và tôn vinh hơn nữa nếu họ có những bài thơ để đời sống mãi với thời gian. Lý Phương Liên xứng đáng là nhà thơ theo đúng nghĩa của từ này. Chị đến với thơ khá sớm, ngay từ những năm chị mười tám đôi mươi, chị làm thơ không phải với ý định muốn mình trở thành một nhà thơ tên tuổi, thực thụ mà chị làm thơ để ghi chép lại những cảm xúc, những tiếng lòng, những nỗi niềm gan ruột của cuộc đời mình. Có lẽ vì vậy mà thơ Lý Phương Liên thực sự hay, thực sự có giá trị và sống được trong lòng bạn đọc. Dù rằng tên tuổi của Lý Phương Liên xuất hiện chỉ vài năm rồi đột ngột im hơi lặng tiếng trên thi đàn. Sự im lặng và vắng bóng của một giọng thơ lạ và tài hoa ấy nó càng gây thêm sự tò mò, chú ý của những người yêu thơ và thực sự quan tâm đến thơ suốt hơn 40 năm qua. Thơ chị viết ra là những cảm xúc chân thực, không hề giả tạo, nó cứ dạt dào tuôn chảy theo dòng cảm xúc, nói bằng chính con tim, bằng những gì chân thành và sâu thẳm nhất tận đáy tâm hồn mình chứ không hề có sự đẽo gọt, trau chuốt chữ nghĩa một cách cầu kỳ, giả tạo. Nói thế không có nghĩa là thơ chị không sử dụng ngôn từ độc đáo mà có chỗ chị dùng rất đắc địa. Do vậy, không khó để người đọc tìm ra những bài thơ hay, câu thơ hay, tứ thơ lạ trong tập Ca bình minh. Nhiều bài thơ của chị đã được các chiến sĩ chép vào sổ tay mang ra chiến trường trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, họ đọc cho nhau nghe với một niềm yêu mến và kính phục. Có thể kể ra một số bài thơ để lại ấn tượng sâu đậm, được nhiều người nhắc đến khi nói về thơ Lý Phương Liên như: Ca bình minh, Trò chuyện với Thúy Kiều, Em mơ có một phiên tòa, Lời ru với anh, Lời ru trong đêm, Chờ anh dưới cột đồng hồ, Xin phép mẹ đi lấy chồng …

Nhà thơ Lý Phương Liên
Điều đáng quý ở Lý Phương Liên đó là sự khiêm tốn, một sự khiêm tốn đáng kính trọng, dù tên tuổi đã nổi tiếng một thời, thơ chị cũng đã sống được và khẳng định giá trị đích thực của nó với thời gian nhưng chưa bao giờ chị nhận mình là nhà thơ. Chị từng giãi bày: “Lý Phương Liên tôi, cha mẹ mất sớm, thất học, vì thế thơ tôi chỉ là đôi ba hoa cỏ, ghi chép lại chính cuộc đời mình, nào ngờ thành tiếng mõ cầu rung lên hỉ ái, và cũng là sấm sét nộ ố những năm 1970 và dài theo nhiều năm sau đó”. Thi sĩ Lý Phương Liên cũng từng khẳng định: “Thơ tôi chỉ là thơ học trò bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường, ăn may là do hoàn cảnh éo le đắng đời nên lấy được nước mắt của người đọc mà thành thơ. Tôi trở nên nổi tiếng có lẽ là cơ may, vậy thôi! Có biết bao nhiêu người tài hoa thời ấy, được học hành bài bản, được đào tạo qua các lớp chuyên môn thì tôi làm sao dám sánh với họ”.

Con đường đến với thơ của chị như một cơ duyên, chị mượn thơ để nói lên tấm chân tình của mình, lấy thơ để ghi lại những gì xảy ra trong cuộc sống của chính mình, quanh mình và của thời đại mình. Cũng chính vì thơ, yêu thơ mà người thi sĩ họ Lý kia phải chịu bao hệ lụy đáng tiếc. Tai nạn nghề nghiệp là cái rủi cho thi sĩ Lý Phương Liên và gia đình chị nhưng cũng là cái may cho nền văn học nước nhà. Vì có được thêm một giọng thơ lạ và độc đáo.

Có thể nói rằng, chị đã quá may mắn khi được gặp Nguyễn Nguyên Bảy và hạnh phúc khi phu-thê cùng Nguyễn Nguyên Bảy. Đời thơ, đời người với bao thăng trầm, bao dâu bể, lên thác xuống ghềnh của Lý Phương Liên đều liên quan và gắn liền với Nguyễn Nguyên Bảy. Có lẽ vì thế mà chị có rất nhiều bài thơ viết về “anh”, nhắc đến “anh” với một niềm kính trọng và yêu thương da diết (trong tập thơ Ca bình minh có khoảng 2/3 số bài thơ chị viết về Nguyễn Nguyên Bảy). Cho nên chị có ước muốn: Em muốn anh như bàn tay/ Xòe ra là gặp. Dù có đi đâu, làm gì, hình ảnh của “anh” vẫn luôn hiện hữu, vẫn luôn thường trực trong trái tim của chị. Để rồi có lúc chị phải thốt lên: Xa anh nói nhớ làm sao/ Chân đứng tổ kiến lòng chao gió cành/ Lẽ nào em buộc cánh anh/ Buộc cánh anh/ Buộc cánh anh cũng chẳng thành tình yêu.

Có đau khổ, mất mát nào lớn hơn khi mà mình không còn bố, không còn mẹ? Càng hụt hẫng và đau đớn gấp bội phần khi bố mẹ mình mất trong thảm cảnh? Chị đã phải gánh chịu liên tiếp những nỗi đau chồng chất. Chị không những đau nỗi đau riêng của gia đình mình mà còn thêm nỗi đau cho đất nước, cho nhân dân; nỗi đau của một người dân sống trong cảnh chiến tranh tang tóc:

Tôi sinh ra giữa cơn lốc xoáy tròn đất nước
Một nghìn chín trăm năm mươi
Cả dân tộc đổ xuống đầu giặc Pháp
Cơn phẫn nộ muốn làm người
Gian nan chỉ thấy môi cười
Bao máu đỏ nhuộm nên cờ chiến thắng
Hai mươi năm không ai ngồi đếm ngày đếm tháng
Những ngày sáu chín bảy mươi
Chẳng có nơi đâu tuyệt diệu con người
Vai gánh nặng cuộc chiến tranh hủy diệt
Mỗi người dân đều nhận phần mất mát
Chia đều nhau bom đạn với cơm ăn
Khổ chẳng riêng ai nên khổ chẳng một mình
Chung số phận với nhân dân mà chiến đấu
Thúy Kiều ơi, thời tôi sống biết bao người đổ máu
(Trò chuyện với Thúy Kiều)

Đất nước những năm chiến tranh đã đặt ra cho con người không ít những thử thách, đặc biệt là trong việc chọn lựa lẽ sống: Em tuổi hai mươi như tất cả mọi người/ Chọn số phận ở thời mình đang sống.

Hoàn cảnh lịch sử không cho phép con người ngủ yên trong đời chật mà phải ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc và nơi họ gặp nhau không đâu khác chính là nơi chiến trường. Họ ra đi vì nghĩa lớn nên có cùng chung một mục đích, một lý tưởng, một con đường, một niềm tin vào tương lai là đất nước sẽ được giải phóng, nhân dân sẽ được sống trong hòa bình: Đất nước chiến tranh nhân dân còn cơ cực/ Khi cái chết vãi từ trên phản lực/ Bom chùm bom lửa bom bi …/ Đời còn nhiều gian khổ phải qua/ Để đến được mùa hoa sai quả trĩu/ Cơ thể của nhân dân cơ hàn đang phải chịu/ Số phận mình là số phận của nhân dân.

Hiện thực đau thương trở thành động lực sống và khát khao về một thế giới hòa bình, đất nước độc lập, nhân dân hạnh phúc là động lực để họ vượt qua mọi nhọc nhằn, khó khăn của cuộc sống: Đường ra biển có thể dài năm tháng/ Mất mát nhiều hơn gian khổ cũng nhiều hơn/ Nhưng một điều chắc chắn phi thường/ Chúng tôi sẽ lên bờ vào một ngày nắng đẹp (Trò chuyện với Thúy Kiều).

Đế quốc Mỹ- kẻ cướp nước, làm những điều phi nghĩa, trái với lương tâm đạo lý nên chắc chắn sẽ thất bại. Chân lý thuộc về lẽ phải, chính nghĩa sẽ thuộc về ta. Cái chết bi thảm của người mẹ Lý Phương Liên và 50 con người xấu số khác vào một buổi chiều định mệnh (Trong một chuyến đò ngang trên con sông Hồng trong một trận bom Mỹ đánh phá cầu Long Biên vào năm 1966) là một minh chứng cho tội ác tày trời của đế quốc Mỹ. Trước tội ác của giặc, chị lại có ước mơ là sẽ có một phiên tòa mở ngay trong nhà chị để kết tội kẻ gây ra bao tội ác. Để chúng hiểu rằng gia đình chị và biết bao nhiêu gia đình khác trên nước Việt Nam này đã và đang gánh chịu không biết bao nhiêu nỗi đau do chúng gây ra. Em mơ có một phiên tòa là một bài thơ đã làm lay động không biết bao nhiêu con tim, đặt ra bao điều nhức nhối về lẽ sống, về lương tri, giá trị nhân bản của con người và thời đại:

Bom và súng/ Giết một dòng sông/ Giết một con đò/ Có mẹ em và năm mươi cuộc sống./Bom và súng/ Ai dạy mi giết người?/ Bầy giặc lái cúi đầu im lặng/ Có khác chăng sông Hồng/ Dòng PôtôMác nước xanh/ Nước xanh nước hồng đâu cũng nước dòng sông/ Nếu bom đạn Việt Nam đổ xuống dòng Pô Tô Mác?/ Em trừng mắt nhìn lũ người làm giặc/ Chúng im lặng cúi đầu… / Chúng bắn dòng sông Hồng/ Ta không bắn dòng sông PôtôMác/ Chúng đốt nhà ta/ Ta không đốt những vườn nho của chúng/ Chúng giết mẹ ta/ Ta không giết mẹ chúng/ Chúng đến Tổ quốc ta/ Việt Nam/ Ta không sang/ Nước Mỹ/ Không phải dài lời về chân lý/ Súng và bom/ Bom và súng/ Chúng giết ta/ Thì ta tiêu diệt chúng…    

Nhà thơ Hoàng Xuân Họa nhớ lại: “Hồi đó ở một cánh rừng già biên giới miền Trung đầy bom đạn, cánh lính trẻ chúng tôi chụm đầu đọc cho nhau nghe bài thơ trên. Nghe xong cả tiểu đội giàn giụa nước mắt, chẳng ai bảo ai, tất cả đều phẫn uất cầm lấy súng hướng lên chốt giặc”.

Dù phải gánh chịu bao nỗi đau, nhưng những điều đó không làm cho chị gục ngã, chị vẫn sống, vẫn cố gắng vươn lên, hướng đến một ngày mai, một tương lai tươi sáng: Tôi cứ đi chuyên cần bền bỉ/ Trông xa về phía trời hồng.

Trong những lúc đi làm ca ba tại nhà máy điện Hà Nội, Lý Phương Liên vẫn hăng say, nồng nhiệt, vui vẻ và gọi ca ba đó là ca bình minh:

Em đi làm ca ba/ Đêm buông dày đường phố/ Hà Nội vào giấc say trẻ nhỏ/ Em đi giữa lòng đường/ Hát khẽ …/ Tuổi ca ba rất trẻ/ Đêm ca ba lại dài/ Mười tám, đôi mươi/ Tuổi như em khỏe ăn khỏe ngủ/ Bạn bè em có nhiều ý lạ/ Khi nói tới ca ba/ Ca của những đêm hè trời đầy sao hoa/ Ca của những đêm đông bập bùng ánh lửa/ Còn em với niềm vui bé nhỏ/ Em gọi ca ba là ca bình minh (Ca bình minh).

Từ lời ru của mẹ thuở nào gợi lên trong chị bao suy ngẫm về cuộc đời, về những tháng ngày khó khăn cơ cực, về những hụt hẫng, niềm đau xót đến tận cùng gan ruột. Để rồi có lúc chị lại tự vấn bằng những lời nghe ai oán, não ruột làm sao: Có lẽ nào những lời ru của mẹ/ Hóa những lời tiên tri/ Cò cha cò mẹ bay đi/ Cò con côi cút lấy gì nuôi nhau… Bằng cách nói ẩn dụ : “cò cha”, “cò mẹ”, “cò con” gợi lên cho người đọc bao thương cảm, xót xa.

Mới tám tuổi đầu/ Cha mất/ Mẹ lặn lội thân cò phố chợ bến sông…(Từ lời ru của mẹ).

Bằng nghị lực, niềm tin, sự yêu thương đùm bọc của bà con hàng xóm- đặc biệt là “những bà mẹ láng giềng”, đã giúp chị và gia đình chị vượt qua thảm cảnh: Nào ngờ thuyền chúng con bị cuốn vào bão lớn/ Năm chị em ôm nhau/ Mẹ mất/ Lời tiên tri đúng thật/ Con là cây buồm mười tám tuổi chông chiêng/ Ôm chúng con là những bà mẹ láng giềng/ Rá gạo mớ rau/ củi lửa/ Con thuyền xô nghiêng, con thuyền xô ngửa/ Cả xóm chung tay không để thuyền chìm... (Từ lời ru của mẹ).

Từ cuộc đời với những tháng ngày nếm trải bao tủi hờn, cơ cực- Lý Phương Liên nghiệm ra rằng:

Cái nghèo chẳng dễ hiểu đâu
Xa sâu như tiếng đàn bầu trong khuya
Linh thiêng lời mẹ dặn dò
Kiếp người là một gánh lo hãi hùng

Tình yêu mà chị dành cho người yêu của mình cũng có nhiều điều đặc biệt, thể hiện sự bao dung, nhân ái, hiếm có của một người đang yêu. Tâm lý thường tình của những người con gái đang yêu khi hẹn hò, chờ đợi người tình của mình đến nếu không đúng giờ thì hay dỗi hờn, trách móc; thậm chí còn có những lời lẽ không hay, xúc phạm đến người yêu. Với chị, chị có một thái độ bao dung hiếm có. Lý Phương Liên tin rằng “anh” sẽ không lỡ hẹn, và nếu có lỡ hẹn đi chăng nữa âu đó cũng là chuyện bất đắc dĩ mà thôi. Biết vậy nên chị đã cố gắng và kiên trì đợi chờ “anh” mãi  … Điệp khúc “Anh không nhỡ hẹn bao giờ” trong bài “Chờ anh dưới cột đồng hồ” được lặp lại 4 lần, đã cho thấy sự tin tưởng tuyệt đối và lòng vị tha của chị .

Anh không nhỡ hẹn bao giờ/ Chẳng giận anh đâu/ Chỉ muốn vặn lại kim đồng hồ (Kim ngắn chỉ vào số bảy/ Kim dài chỉ số mười hai …) / Để anh khỏi áy náy/ Để anh khỏi xin lỗi em (Chờ anh dưới cột đồng hồ).

Có lắm lúc, chị thật hồn nhiên trong tình yêu. Cách yêu của chị cũng khiêm tốn, chậm rãi, không phải vội vàng, hời hợt. Lời lẽ dịu dàng, nhẹ nhàng, đằm thắm và sâu sắc lắm: Anh hay bỏ quên đồ đạc/ Em muốn khuyên anh/ Em lại muốn khuyên anh/ Đừng bỏ cơm nhỡ bữa/ Ăn vội mẫu bánh mì quanh phố/ Em lại muốn khuyên anh/ Trà chén năm xu đừng nghiện/ Chuyện ngồi lê đôi mách đừng nghe/ Em lại muốn khuyên anh ngủ sớm/ Đêm đông đừng lấy rượu làm bạn/ Đêm hè đừng đốt thuốc tàn canh... (Bài thơ về những điều khó nói). Nhưng cũng có lúc tình yêu và nỗi nhớ trong chị trào dâng một cách nồng nàn, mãnh liệt: Biết anh vắng nhà/ Sao em vẫn đến/ Bởi trong lòng em/ Lửa nhớ đã chín/ Biết anh vắng nhà/ Sao em vẫn đến/ Tình chẳng muốn xa/ Nên lòng cứ hẹn … (Hẹn).

Lòng em như bãi cỏ khô
Tình anh gieo lửa đốt cho mỡ màu
Và từ ngày ấy yêu nhau
Cây đời đã nẩy lộc đầu non xanh
(Bài lục bát nháp dưới lá thư anh)

Lòng em như cốc nước đầy
Cốc nước đầy để trên bàn nhỏ
Cuộc địa chấn yêu rung từng nhịp thở
Sóng sánh nước tràn ra
…………………………
Anh ùa vào đời em như gió như hoa
Như cánh buồm nâu ùa ra cửa biển
Ngoài cửa sổ đôi cánh chim chao liệng
Trên bàn yêu một đĩa sấu chín vàng
                                                                         (Đôi ta)

Biết bao gánh nặng áo cơm đè lên đôi vai gầy của Lý Phương Liên, một người con gái mà cả tuổi thơ phải gánh chịu bao nhọc nhằn, cay đắng. Sinh ra trong gia đình đông em và trong thời buổi loạn lạc, bố mẹ lại mất sớm. Cứ nghĩ rằng người con gái chân yếu tay mềm ấy sẽ khó vượt qua. Nhưng với nghị lực phi thường, tình thương và niềm tin đã giúp chị vượt qua mọi thách thức, mọi khắc nghiệt của cuộc đời.

Sông Hồng là đối tượng mà chị cũng thường hay nhắc đến. Có lẽ chính con sông này đã gắn với bao ký ức niềm thương, nó cũng là chứng nhân lịch sử, nó cũng bao dung, nhân hậu, cũng đau đớn trước cảnh tan tác đau thương. Bằng cách dùng thủ pháp nhân hóa, Lý Phương Liên đã cho người đọc thấy rõ điều này:

Chào sông Hồng/ Sao mỗi lần gặp em mặt sông rầu rĩ thế?/ Em hát cho sông nghe lời ru của mẹ/Dẫu gian khổ mấy đừng buồn …/ Sông Hồng ơi cái nắng buổi mai
………………………

Em yêu con sông bởi lẽ chân thành/ Sông là bạn của mẹ em sớm khuya vất vả/ Mẹ thường kể: sáng nay sông êm ả/ Chiều qua sông giận dữ ầm ào …/ Mẹ sang sông về sông không bỏ buổi làm nào/ Sông thương mẹ vẫn cặp đò đúng bến.

Thế rồi một buổi chiều định mệnh, cũng chính từ nơi con sông Hồng phù sa đỏ nặng ấy, mẹ chị lại vĩnh viễn ra đi:

Một buổi chiều sắc tím/ Buổi chiều này có thật hay không?

Cái chết thảm khốc của người mẹ là một sự mất mát quá lớn lao và đột ngột nên chị nấc nghẹn trong một câu hỏi đầy nghẹn ngào:

Buổi chiều này có thật hay không?
Mẹ trôi sông
Gió khản hơi đuổi hoài bóng mẹ …
Những quả bom giặc Mỹ
Để lại cho đời bao trẻ mồ côi
Sông Hồng ơi! Sông Hồng ơi!
Khóc lóc bao nhiêu cũng chỉ là nước mắt
Phù sa đỏ hãy vì đời bồi đắp
Mẹ hồi sinh trong cuộc sống mỡ màu
Qua mất mát này chúng ta thêm yêu nhau …

Lý Phương Liên tin tưởng và hy vọng rằng: “Mẹ sẽ hồi sinh”, mẹ sẽ sống, mẹ sẽ luôn dõi theo từng bước trưởng thành của chị và các em của chị.

Những triết lý về cuộc đời, về lẽ sinh tử, mất còn được nhà thơ nói đến một cách sâu sắc. Chị nghiệm ra rằng: Khóc lóc bao nhiêu cũng chỉ là nước mắt. Cái quan trọng nhất bây giờ là phải sống, phải sống sao cho đúng nghĩa, sống sao cho thực sự giá trị người. Chị đã ý thức như vậy nên khi bố mẹ không còn trên cõi đời này nữa, cô gái trẻ Lý Phương Liên vẫn nhớ như in những lời mẹ dặn, về niềm tin và lẽ sống: Đời con còn đó mai sau/ Sống là điều mẹ nguyện cầu cho con; Em đón nhận đời em sau một thoáng hãi hùng/ Chôn mẹ nuôi đàn em thơ dại/ An phận ư? Mơ hồ sợ hãi/ Sống vẫn là lời mẹ dặn thiêng liêng (Trò chuyện với Thúy Kiều).

Ngày người em trai duy nhất lên đường ra mặt trận, để động viện, tiếp thêm sức mạnh, ý chí và niềm tin cho em, Lý Phương Liên  đã dặn dò em trai của mình bằng những lời lẽ cảm động, sâu sắc và mang nhiều ý nghĩa: Nhà ta có mình em ra trận/ Chị nhắc lại điều này vì chị muốn như em/ Thành tầm bay của những mũi tên/ Nhưng chị đã thành trụ cột gia đình ta mồ côi cha mẹ/ Em hãy coi chị như người chiến sĩ/ Dù gia đình ta mình em được lên đường…

Lý Phương Liên dặn em trai rằng: Em sẽ lên đường và chiến đấu, vì mẹ vẫn luôn ở bên em, mẹ cũng sẽ “về” để đưa em lên đường ra mặt trận. Em có nghe hình như đâu đây vẫn còn những tiếng kêu thương thảm thiết của mẹ dưới làn bom của Mỹ?

Hãy lên đường em nhé/ Yên tâm/ Đành là chị ở nhà phải gánh phần vất vả/ Nhưng vất vả nhất là nơi bom lửa/ Nơi ngày mai em tới đạn lên nòng…/ Hãy hoàn thiện đàn ông bằng đời chiến sĩ/ Và nhất định phải trở về… (Dặn em trai).

Cái đáng yêu của Ca bình minh là những cảm xúc tinh tế, nhẹ nhàng, nhiệt thành mà hồn hậu, những ký ức tuổi thơ, tình cảm với quê hương, người thân, những người ở nơi xóm nhỏ, anh thợ kính, chị tráng bánh đa nem, bà bán cau, bác thợ điện… lần lượt ùa về, gợi lên cho người đọc bao nỗi niềm ray rứt.
Chị viết về người cha đã khuất của mình bằng những lời thơ tha thiết, nằng nặng nỗi niềm thương nhớ; hình ảnh người cha như ẩn hiện đâu đây: “Con nhớ dáng ngồi lặng lẽ của cha”, “Khi mắc dây cha thường huýt sáo”, “Bàn tay cha săn như gọng kìm”Cha của chị dù ra đi đã lâu nhưng bà con vẫn còn nhắc hỏi, bởi vì: Cha em là công nhân sở điện Bờ Hồ/ Điện là bạn của người dân Hà Nội/ Nên cha em vắng lâu rồi bà con còn nhắc hỏi (Về người cha đã khuất).

Nghệ thuật cũng là một cách lý giải cuộc sống. Thay vì dùng một chuỗi luận lý để tìm cách chứng minh, thuyết phục. Lý Phương Liên đã dùng những từ ngữ, lời lẽ, hình ảnh, cảm xúc chân thành, giản dị từ chính trái tim mình- giống như lời trò chuyện, lời thủ thỉ, giãi bày mọi ngõ ngách tâm hồn mình. Vì thế mà thơ chị việc dùng điệp từ, điệp ngữ lặp đi lặp lại với tần số cao và hầu như bài nào cũng có. Phải chăng đó là một trong những nét riêng của thơ Lý Phương Liên và đó là sự thành công của chị trong việc tạo ra những vần thơ êm ái dễ đi vào lòng người, tăng sức biểu hiện, tăng nhạc tính của câu thơ. Nghệ thuật điệp có tác dụng nhấn mạnh ý, vừa tạo ra những điệp khúc độc đáo: Nuôi con suốt đời là dòng máu đỏ/ Gia tài của mẹ của cha/ Nuôi con suốt đời là dòng sữa mẹ/ Con đi hết đường xa …/ Dòng máu đỏ của mẹ cha/ Không phải là sắc màu tưởng tượng/ Không phải là thứ gì dễ trộn/ Chắt từ sắc đỏ của dòng sông/ Từ vị ngọt của lúa thơm/ Từ hương mát của hoa trái/ Từ sức gió chạy trên đồng hoang dại/ Từ bong bóng mưa tháng năm (Cội nguồn).

Cảm thức thời gian cứ trôi chảy cùng cảm thức về đời người, những hoài niệm về quá khứ đã trở thành nỗi khắc khoải, lo âu và cả sự đau đớn, nghẹn ngào: Lịch sử đã bao lần lặp lại/ Một dòng sông xâm lược một dòng sông/ Sông trời thác dữ mênh mông/ Sông quê em ngược lên chống giặc (Viết cho sông Kỳ Cùng).

Trong những bài thơ đặc sắc của Lý Phương Liên, chị đã có những suy nghĩ, khái quát có tầm triết lý về số phận con người, về quá khứ, hiện tại, về sự sống và cái chết, về vẻ đẹp của thời đại và con người Việt Nam.
Bên cạnh những thành công, Ca bình minh của Lý Phương Liên cũng có những điểm hạn chế nhất định. Vì viết theo mạch cảm xúc, lời thơ giống như lời trò chuyện, lời nói hằng ngày nên ở một vài bài chị còn kể lể dài dòng, từ ngữ không được đẽo gọt nên dễ gây cảm giác nhàm chán đối với người đọc.

Đời thơ của chị phải trải qua sóng gió, sau sự kiện bài thơ Nghĩ về Thúy Kiều (sau này đổi tên là Trò chuyện với Thúy Kiều) đăng trên Báo Văn nghệ năm 1970, chị bị phạt “lên ruộng,xuống bờ”. Thế là hồn thơ tài năng Lý Phương Liên từ đó bỗng dưng biến mất. Gia đình chị phải chịu bao hệ lụy vì nó. Cũng chính từ đó chị có lời nguyền không làm thơ, không công bố thơ, thậm chí cả những người thân yêu nhất như Nguyễn Nguyên Bảy- chồng chị, chị cũng chẳng dám đưa thơ mà đọc. Dù trong tâm can, huyết mạch chị thơ vẫn âm ỉ và dạt dào tuôn chảy:

Thỉnh thoảng buồn em vẫn ghi thơ
Trôi trên giấy điệu vần thương nhớ
Ạ ơi những lời ru cũ
Cánh cò chít trắng tang mây …
Chẳng dám chép tặng anh sợ rồi lại vạ
Thơ thương ta thơ đừng làm anh khổ
Em đơn chiếc một cánh cò
Mà trời bao la quá
Em chép lại đôi ba bài thơ nhỏ
Chỉ để nhớ để thương thơ …

Thật đáng tiếc cho hồn thơ tài năng Lý Phương Liên đã không gặp thời, để rồi lại phải im lặng trong suốt hơn 40 năm qua. Điều đáng mừng là qua sự sàng lọc, kiểm chứng của thời gian những gì thuộc về giá trị đích thực của văn chương đã được thừa nhận và trả về vị trí xứng đáng của nó. Ca bình minh ra đời năm 2011 không chỉ là niềm vui riêng của Lý Phương Liên và gia đình chị mà đó còn là niềm vui cho những người yêu thơ chân chính nước nhà.
Tác giả NGUYỄN VĂN HÒA

Một ngày mùa thu tháng tám năm 2012, tôi có dịp ghé thăm nhà người em gái thứ tư của chị, tại số 1 Quán Thánh, Quận Ba Đình, Hà Nội. Tôi mới hiểu và biết nhiều điều hơn về Lý Phương Liên. Em gái của chị kể trong lời nghẹn ngào, xúc động về người chị gái thân yêu của mình. Tôi cũng được trực tiếp xem bức ảnh mà gia đình chị đã vinh dự chụp chung với Bác Hồ, khi Bác về thăm gia đình  Lý Phương Liên vào 19h tối 30 Tết Nhâm Dần - 1962.

Thời gian đã qua đi, cô gái trẻ Lý Phương Liên thuở nào giờ đây mái tóc đã nửa xanh nửa bạc, và dù đã xuất hiện những nếp nhăn, nhưng trên gương mặt chị vẫn mang nét thanh tú, lịch lãm của một người con đất Hà thành. Dù đã xa Hà Nội mấy chục năm nhưng trong tâm can chị vẫn nhớ về nơi đất Bắc, nơi gắn với bao ký ức, niềm thương và cả những nỗi đau xót đến tận cùng.

Ca bình minh được in vào năm 2011 cũng là dịp để Lý Phương Liên trở lại với thơ, trả ơn những nguời yêu mến thơ chị một thời và đó cũng là dịp chị được thăm lại những người bạn vong niên; được gặp gỡ, được trao đổi, thông tin với những người đã từng yêu mến thơ mình trên khắp mọi miền Tổ quốc. Ca bình minh của Lý Phương Liên, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2011 thực sự là một tập thơ mang nhiều ý nghĩa và có giá trị đặc biệt.


NGUYỄN VĂN HÒA
Giáo viên Trường phổ thông cấp 2-3 Xuân Phước
huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên 
                       Điện thoại: 0984.833.247
Email: nguyenvanhoaphuyen@gmail.com
READ MORE - CA BÌNH MINH- GIỌNG CA NHÂN ÁI, GIÀU TÍNH TRIẾT LÝ VÀ MANG NHIỀU HOÀI NIỆM - Nguyễn Văn Hòa

SÁNG TỐI - thơ Ngọc Tình

Tác giả NGỌC TÌNH











Trời đã sáng rồi trời lại tối
Như hoa kia xòa nụ rồi tàn
Như tình yêu hợp và tan
Có và không rồi không lại có

Vâng biết vậy nên chi trách nữa
Anh với em hai đứa ở hai bên
Sông cuộn trôi sông nào có ả êm
Đứng nhìn nhau mà trái tim dậy sóng

Đâu nào phải tình kia phẳng lặng
Nhưng tiệc vui rồi tiệc cũng tan
Một nụ hôn và anh nói vội vàng
Anh yêu em rồi chia xa em nhé

Cám ơn đời tình cho ta chút lửa
Cám ơn em cho anh chút nồng say
Trời sáng tối trái đất một vòng quay
Yêu và xa một cuộc tình rất thật.

Tây Ninh, 10-12-2012
Ngọc Tình
nguyentinhtn@yahoo.com.vn

READ MORE - SÁNG TỐI - thơ Ngọc Tình

Thế Lộc - GỞI BÍCH NGỌC - LỖI HẸN

Tác giả THẾ LỘC


GỞI BÍCH NGỌC

Người vô trong nớ quá lâu
Không ra lại Quảng cho trầu thêm vôi
Người vô trong nớ xa xôi
Không ra lại để cho tôi đợi chờ
Vô luôn trong nớ chẳng thơ
Mình tôi ngoài Quảng mắt mờ ngóng trông
Nếu mai Người có theo chồng
Tôi xin được thắp cho lòng nén hương.



LỖI HẸN

Ta ở bên này nhánh sông
Người về ta gởi tấm lòng nhớ quê
Bao năm lần lữa hẹn về
Mà đời lẩn quẩn trên đê dưới sình
Xa quê ôm ấp mối tình
Mồ cha mộ mẹ tiên linh ông bà
Xuân về vạn vật đơm hoa
Còn ta cứ vẫn ta bà lửa cơm.

THẾ LỘC 
theloc108@yahoo.com.vn
READ MORE - Thế Lộc - GỞI BÍCH NGỌC - LỖI HẸN

Wednesday, December 12, 2012

NGÀY CON TRÒN TUỔI HAI MƯƠI - thơ Trần Bình

Viết cho con gái Hồng Ngọc nhân sinh nhật 12/12/2012

Tác giả TRẦN BÌNH và con gái Hồng Ngọc năm 16 tuổi


Ngày con tròn hai mươi tuổi
Trời trong và nắng hanh vàng
Cơn gió se mùa áo lạnh
Tiết đông cuối ngày tìm sang

Ở xa con không về được
Bận bịu mùa thi giữa kỳ
Tiệc sinh nhật làm đơn giản
Mấy đứa bạn cùng nhâm nhi

Hôm nay là ngày đặc biệt
Dãy tròn con số mười hai
Cứ như đất trời sắp đặt
Cho con vóc dáng hình hài

Và ba ngồi tha thẩn nhớ
Vẫn vơ một thời xa xanh
Có một ngày vừa sáng sớm
Vườn nhà mình đầy tiếng chim

Ngày ấy hai mươi năm trước
Mẹ con đêm trở dạ sinh
Cơn đau tái niềm hoan hỉ
Cho con gái chào bình minh

Tiếng con khóc rất kiêu hãnh
Gọi bao niềm vui bật mầm
Hạnh phúc trào dâng nước mắt
Rưng rưng trong mỗi ánh nhìn

Cái ngày ấy rất đáng nhớ
Cho ba bao nhiêu nỗi niềm
Anh trai con vừa hai tuổi
Lần đầu bập bẹ gọi em

Từ đó ba như đổi khác
Bởi có hai con trên đời
Mọi việc trở thành đơn giản
Trước mỗi ánh mắt con vui

Từ đó con dần khôn lớn
Xinh đẹp, thông minh, ngoan hiền
Trang sách theo cùng năm tháng
Con gọi chân trời bay lên

Với ba, con là tất cả
Tình yêu, nỗi nhớ, niềm tin…
Ngày con tròn hai mươi tuổi
Chừng xuân đến sớm nhà mình!

                            12/12/2012
                           TRẦN BÌNH

***

Võ Văn Hoa gởi đăng

READ MORE - NGÀY CON TRÒN TUỔI HAI MƯƠI - thơ Trần Bình

LỜI TỎ TÌNH - thơ Phạm Bá Nhơn



Võ Văn Hoa và Phạm Bá Nhơn bên Hồ Khe Chè

Từ dạo ấy khi tâm tình đã ngỏ
Phút bất ngờ đánh mất chút bình yên
Lòng ngại ngùng trao trút nỗi niềm riêng
Rồi lo sợ hoàng hôn khi chợt tắt.

Lời khe khẽ như dòng sông trong vắt
Góp nhặt từ ánh mắt rót bên tai
Bởi bao năm chưa từng trải yêu ai
Nên một thoáng hóa ngày xưa thơ dại.

Em cúi mặt nâng bàn tay mềm mại
Mang ân tình pha trộn mớ dư hương
Vấn vương nhiều nhưng chưa dám nói thương
Lòng ấp ủ một tình yêu tối thượng.

Ta hỏi khẽ cùng đất trời muôn hướng
Chính em là thần tượng giữa lòng anh
Cây tốt tươi và mãi mãi còn xanh
Lời anh ngỏ chỉ dành riêng em đó.

            Phạm Bá Nhơn

***

Võ Văn Hoa gởi đăng


READ MORE - LỜI TỎ TÌNH - thơ Phạm Bá Nhơn

Tuesday, December 11, 2012

GIẤC MƠ LƯƠNG THIỆN - Hoàng Đình Chiến





                                    Cho ta vay chút tình hờ
                        Làm người lương thiện bên bờ sông đêm
                        Tiếng gà gáy đốt môi em
                        Trăng vàng trải chiếu bên thềm diết da.

                        Nở ơi! Em thật đàn bà
                        Cho “thằng rạch mặt” nhớ là đàn ông
                        Hương hành cháo ấm còn không?
                        Xôn xao tiếng cá mặt sông quẫy chèo.

                        Giấc mơ lương thiện Chí Phèo
                        “Cái lò gạch cũ” mốc meo luân hồi.

                                                             8-2005
                                               HOÀNG ĐÌNH CHIẾN 
READ MORE - GIẤC MƠ LƯƠNG THIỆN - Hoàng Đình Chiến

THƠ TẶNG QUÊ NHÀ – Trần Ngộ

Quảng Trị mùa mưa


HẸN ƯỚC

Anh không về nơi hẹn ước nữa sao?
Nơi đồng lúa đang xanh và ráng chiều vẫn đỏ
Mây vẫn bay trên trời quê lộng gió
Trăng vẫn tròn vành vạnh giữa giòng sông
Ta đã về với đồng ruộng mênh mông
Với giọng hát đò đưa 
Với ngã đường quen lối
Ta đã về với đồng xanh gió nội
Giòng sông trôi êm ả chở nắng chiều!


TA VỀ

Ta về với bến sông 
Đêm nằm nghe sóng vỗ
Nguồn trôi êm muôn thưở
Buồn vui ai hiểu lòng
Ký ức bồi hồi nhớ 
Trăng vàng xa mấy đông 
Trời quê xanh vời vợi
Bên non dải mây hồng !


MAI VỀ

Mai về quê lòng háo hức trăm nỗi
Gặp người thân gặp lại bạn bè
Mai về quê 
Lòng sướng vui không tả
Như trẻ thơ mừng mạ chợ về
Mai đã về nguồn cội của tôi
Bên dòng nước trong xanh 
Bên ghành kè thời gian rêu phủ
Đêm nằm nghe thì thầm sóng vỗ
Dòng Ô Giang ai tạo dựng bao giờ ?
Đây An Hồ, Câu Lảm ngàn xưa
Đất văn vật nghìn đời không thay đổi
Đây bút tháp cồn thiêng 
Đây đá rùa vang vội
Địa linh nhân kiệt
Lúa dẹp ba bồ.
Mai về quê!
Để lắng nghe điệu hát câu hò
Có trăng treo đầu núi
Gió chiều bên sông!

Chú thích:
An Hồ: tên cũ làng Hà Lỗ xưa.
Câu Lảm: tên cũ làng Câu Nhi xưa.

Trần Ngộ
tranngobl@yahoo.com.vn
READ MORE - THƠ TẶNG QUÊ NHÀ – Trần Ngộ

TẢN MẠN CÙNG "CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN" - Đoàn Anh Kiệt


Đoàn Anh Kiệt là con trai út của nhà thơ La Thuỵ Đoàn Minh Phú. Có lẽ cháu Kiệt cũng đang vương mang hệ luỵ kiếp tằm với những giăng mắc "ngó ý tơ lòng" của nghiệp bút như cha của mình. Ngoài truyện ngắn TRĂNG KHUYẾT đã đăng, VNQT giới thiệu một bài viết khác của cháu Đoàn Anh Kiệt.


        Ảnh tác giả Đoàn Anh Kiệt


Tới giờ mới viết về phim Cánh Đồng Bất Tận quả thật đúng là … người lỗi thời: D! Nhưng mà tôi vốn là người xem phim cũ không chán, không ngại và không sợ! Hehe.

Đọc nhiều bàn luận, chê khen trên mạng, có cả những người bạn mình quen, rồi tất nhiên giống như những phim khác, trên mạng chắc chắn sẽ có bản phim, tôi coi phần nhiều là vì tò mò, thứ nữa là tôi thích giọng văn của chị Nguyễn Ngọc Tư, chất phác, mộc mạc mà không quê mùa!

Không bàn nhiều về hình ảnh và âm nhạc trong phim, thứ nhất là vì tôi vốn thuộc dạng mù màu, mù nhạc, thứ hai là bản phim tôi xem là bản “draft cut copy with sample music for screening purpose only”!

Phim mở đầu ấn tượng bằng một cuộc săn đuổi, và bằng một sự tàn ác trần trụi! Có người bạn tôi bảo rằng coi Hải Yến đóng vai Sương nói giọng Bắc kờ rất khó chịu, nhưng tôi lại thấy Yến đóng rất tốt, hơn nữa, vai diễn cần sự trâng tráo tự nhiên thì giọng Bắc kờ diễn tả rõ là không chê vào đâu được, ngay cả những trường đoạn nghẹn ngào chua xót, Yến diễn khá tự nhiên, nỗi đau trào lên đôi mắt, gương mặt.

Ngay cả vai diễn của Điền, luôn chảy nước mắt sống, có cái gì đó trên gương mặt em mà người ta nhìn vào đều cảm thấy đớn đau, nghẹn ngào và uất hận. Cậu bé mới lớn, mới chớm biết yêu, lại mù mờ trước cô gái ăn sương dày dạn. Hai mảnh đời vốn rạn vỡ sẵn, chợt gặp nhau, lại càng thêm đớn đau và rạn vỡ.

Dustin Nguyễn cũng có một vai diễn rất hay, dáng vẻ trầm buồn vắng lặng, hòa lẫn vẻ cục súc nôn nóng, và nét hiền hòa, đau đáu khiến cho một Út Võ từ truyện bước lên phim rất thành công. Trường đoạn Út Võ nổi nóng đập phá nhà, rồi sau đó đốt nhà bỏ đi, dáng người đàn ông mỏi mệt đứng trên ghe nhìn căn nhà bừng cháy không khỏi khiến người xem nghẹn ngào. Khi đọc truyện, tôi chẳng thể ghét được Út Võ, khi xem phim cũng thế, cái kiểu cục súc, gầm gừ thô bạo của ông như đang che đậy trái tim mềm yếu của mình, như câu nói của Sương nhận xét về ông: "Coi vậy chứ chẳng phải vậy đâu!”

Và, nếu như bầu cho diễn viên hay nhất phim này, tôi chọn Lan Ngọc cho vai Nương. Nét trong sáng, tinh tế, và cả vẻ cam chịu khiến cho cô gái có khuôn mặt, nụ cười thiên thần này lột tả được hết niềm đau đớn của thân phận người trôi nổi giữa những dòng đục trong của người lớn. Em diễn tự nhiên cứ như cuộc đời vốn thế, khắc khoải và chấp nhận, thỏa hiệp và thương yêu.

Vai diễn tệ nhất, theo tôi, chính là Tăng Thanh Hà trong vai vợ Út Võ, nét diễn có gì đó cứng ngắc, điều duy nhất cô để lại ấn tượng cho tôi là cảnh cô khoác mảnh vải lụa, và đứa nhỏ nói: "Mẹ con xa lạ sao lại mừng?” Ấn tượng là vì câu nói của đứa nhỏ, chứ không vì gương mặt, thân hình hay nụ cười của cô. Ước gì, trường đoạn cô bỏ đi đừng quá vội vã, chỉ cần một ánh mắt vừa đau đớn vừa quyết liệt cho khung hình cô ôm Điền thì có lẽ cũng tròn vai.

Cảnh nóng nhất trong phim, cảnh ân ái giữa Sương và Út Võ, nói thật, đây là lần đầu tiên tôi xem trong phim Việt mà không phản cảm! Cái khát tình bản năng của Sương, của Út Võ được miêu tả đầy đủ theo từng cung bậc và góc cạnh khuôn mặt. Đồng thời, ngay cả Sương, một cô gái điếm nghiện tình dục, vẫn còn hoang hoải theo những cung bậc cảm xúc thật sự, cảnh quay cô tìm đến bờ môi Út Võ, cảnh quay Út Võ gấp gáp đắm chìm trong cơn hoan lạc, thật sự, ở mức độ nào đó, đã tạo cảm xúc cho người xem.

Bình luận về phim thì tôi vốn là dân ngoại đạo. Nhưng Cánh Đồng Bất Tận dàn trải quá, khó tạo điểm nhấn, coi phim dễ … buồn ngủ! Hơn nữa mạch văn trong truyện khác với trong phim! Truyện của chị Tư thì nhân vật trâng tráo hơn, nhưng cũng dễ vỡ hơn, và lại càng biết cách che dấu cảm xúc, che dấu con người hơn!

Phim diễn tả rất có hồn, rất hợp lý, tạo ra những cảnh xúc động đến nghẹn ngào của Sương trong phim, của cái đau đớn kêu cứu đến lạc giọng của Nương, khác xa với truyện, Sương trâng tráo trước sự xúc phạm của Út Võ, Nương bình thản ngay cả đối mặt với nỗi đau lớn nhất của đời người, nhưng bằng vào những cách ứng xử bình thản của nhân vật trên từng câu từng chữ, nỗi đau của Cánh Đồng Bất Tận đã được chị Tư đẩy đến cái tận cùng, và chỉ dịu xuống nhờ chút cung bậc yêu thương của Nương trong đoạn cuối.

Và, một điều cuối, kết phim tròn trịa quá, giống như kết cục của những phim truyền thống! Tròn trịa chưa hẳn là không hay, nhưng nếu để chơi vơi một chút thì cảm xúc của người xem sẽ khác hơn! Ly nước đã đầy là ly nước không thể chứa thêm!

Truyện Cánh Đồng Bất Tận là ly nước còn vơi, còn phim thì lại là một ly nước đã quá đầy!

P/S: Ghét nhất là phần phụ đề tiếng Anh, không dưng lại dịch Cánh Đồng Bất Tận thành Floating Lives! Đọc cái tựa tiếng Anh, tôi đoan chắc 100% sẽ dịch thành Những phận đời trôi nổi!
                                                                
                                        ĐOÀN ANH KIỆT 
                                                 Tháng 4/2011                                                                               

READ MORE - TẢN MẠN CÙNG "CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN" - Đoàn Anh Kiệt