Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, August 24, 2011

ĐỘC HÀNH - TRÂM LÝ XƯA


Sau bao nhiêu năm tha phương cầu thực, dành hết thời gian và công sức để kiếm miếng cơm manh áo, nay đến tuổi nghỉ hưu, nỗi nhớ quê hương từ lâu tưởng chừng như đã nhạt phai nay chợt bùng lên da diết, quắt quay khiến nhiều người dù không phải là nhà văn, nhà thơ cũng phải cầm bút để trang trải nỗi lòng.
Anh Võ Thần, sinh 1950, bút danh Độc Hành, quê quán làng Trâm Lý, Quảng Trị là một trong những đồng hương như vậy.
Hin thường trú: T 11 - p 4 - LÂM SAN - CM M - ĐNG NAI
Mobile: 0977.526.573
Email: dochanh75@gmail.com

TRÂM LÝ XƯA

Làng Trâm có lũy tre xanh
Quanh năm xa bóng che quanh đường làng
Mát chân các cu các nàng
Mùa v sãi bước rn ràng xóm thôn
Làng Trâm có mt cái cn
Đt giàu màu m lũ dn phù sa
Xanh tươi lung t lung cà
Đu ngô khoai sn đm đà tình quê
Làng Trâm có mt con đê
Trung thành trn gi lũ v xóm thôn
Có năm mưa lũ dp dn
Bà con Trâm Lý vinh tôn đê mình
Làng Trâm có mt cái Đình
Mười hai tháng chp trng thùng thình vang
Nh ngày to m cúng làng
Ly hương phi nh tìm đàng t tông
Làng Trâm có mt con sông
Quanh năm nước chy xanh trong hin hòa
Các cô các cu làng ta
Đêm trăng tm mát múa ca ch hng
Làng Trâm có cánh đng bng
Mùa v trĩu hat “ lim vng” ra quân
Hè thu cho đến đông xuân
Trúng mùa go lúa đy sân ngp nhà
Đến chùa Trâm Lý quê ta
Muôn rm t quý tr già dâng hương
Khói thơm ta ngát bn phương
Cu xin Pht t quê hương an lành.

Đ.H
READ MORE - ĐỘC HÀNH - TRÂM LÝ XƯA

Tuesday, August 23, 2011

HOÀNG KIM LIÊN – LÀNG AN MỸ CỦA TÔI


Tôi sinh ra, lớn lên tại làng An Mỹ, một làng quê hẻo lánh, nghèo nàn nhất ở phía Đông Bắc huyện Gio Linh, cách huyện lị khoảng chừng năm cây số. Dân làng đa số làm nghề nông, suốt năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời vẫn không khấm khá được, họa chăng chỉ đủ ăn, có đâu giàu có. Những nghề khác mang tính cách cải thiện cuộc sống hay để hổ trợ cho nông nghiệp mà thôi. Giao thông cách trở sông hói, chưa mưa đã lụt, mưa xuống thì đường sá lầy lội. Do đó, những thông tin, văn hóa, văn minh mới mẻ khó mà đến với làng tôi sớm được.

Chuyện kể rằng: “Ngày xưa, hai làng An Mỹ và Cẩm Phổ giao hảo với nhau rất hiếu hòa, con gái của hội chủ làng An Mỹ gả cho con trai hội chủ làng Cẩm Phổ. Làng Cẩm Phổ đất hẹp, dân đông nên người con gái về xin cha mình cho làng chồng thêm một ít ruộng để làm ăn. Ngay giữa ranh giới hai làng có một cục đá giống như cái bia cao khoảng một mét, lớn chừng một ôm người lớn . Ông cha bảo với đứa con gái rằng: lần sau, khi về thăm lại cha, con hãy nhắc cục đá đi qua khỏi ranh giới, được chừng nào mà con không nhắc nổi nữa thì chỗ đó là ranh giới của hai làng. Cục đá trơn láng như vậy cô gái dùng năm ngón tay bấu thật chặt vào đá, đá thũng vào rồi xách đi. Mới đi được khoảng 150 mét, vì gắng sức nên tuột quần (ngày xưa, quần không cột lưng bằng dây mà lấy hai mối quấn với nhau rồi nhét vào hông), bà ta phải để cục đá xuống mà vận quần lại rồi nhắc tiếp. Không ngờ khi để cục đá xuống rồi, bưng lên không bao giờ nổi nữa”. Diện tích làng mất thêm một ít . Khi bà ấy chết, làng Cẩm Phổ nhớ ơn Bà, cho lập miếu thờ gần chỗ cục đá. Hiện cục đá có dấu năm lỗ bấu tay và nền miếu vẫn còn. 
Phía sau làng là những đồi cát trắng, cao chạy dài từ đầu làng đến cuối làng, phía sau nữa giáp với thôn Phường Mới (thôn 9,của xã Gio Hải) là đồng cát cỏ mọc, bằng phẳng, rất rộng, chừng 500 mẫu ta. Ở giữa có một đồi cát trắng rất cao gọi là đôộng “Cồn Dôn” và gần đó có một hồ nước sâu. Các cụ xưa nói rằng : trước đây, đó là một khu rừng thấp gọi là “rú”, cây tự nhiên như trâm bầu, tràm, ngút, nổ, săng mả v.v…cao chừng năm mét, rất rậm rạp, đến mùa sinh sản chim cò về đây làm tổ rất đông. Vì trong làng ít nam, nhiều nữ, làng động viên sinh nam, ai sinh con trai được ra sau rú đốn mười cây về làm nhà hay làm củi đốt…, rồi có kẻ lợi dụng làm cho rú tan hoang, lâu ngày mưa gió xói mòn lớp đất trên mặt bây giờ còn lại chỉ toàn cát trắng. Lúc lớn lên khoảng mười tuổi, đi chăn trâu ở vùng nầy, tôi thấy gốc cây mục còn sót lại nhiều lắm, thỉnh thoảng thấy một vài cái chum bị gió thổi trốc lên ở trong thấy có xương hoặc đất màu đen đen, người ta nói đó là mã hời, ai đụng đến sẽ bị ma hời bắt chết, nên rất sợ. Nhiều cồn cát cao trên 20 mét. Mùa đông, gió đông nam thổi cồn cát di chuyển về gần làng, rồi mùa hè, gió nam lào thổi ngược lại, cồn cát lại chuyển ra xa hơn. Cứ thế năm này qua năm nọ. Mùa nắng từ 9 giờ đến 16 giờ không ai có thể đi trên cát đó được vì rất nóng. 
Phía trước mặt làng, có một bàu nước sâu; phía tây làng giáp giới với làng Lại An, làng Phước Thị là con sông đào vào thời nhà Nguyễn nối sông Hiền Lương cửa Tùng và Hiếu Giang cửa Việt gọi là sông Bến Ngự. Bàu và sông ấy là cả một kho thực phẩm cho dân làng An Mỹ và những làng chung quanh. Bởi ở đó cá tôm quanh năm, ai cũng có thể đánh bắt để cải thiện cuộc sống. Khi nước rút xuống, lúc nghỉ ngơi, dân làng rủ nhau ra chơm cá, nhủi tôm tép, mò cua ốc về ăn. Bây giờ không còn nữa bởi sông thì bị ngăn chận hai đầu, ở giữa thì phân chia nhau đấu giá. Bàu trước làng cũng đã được một số ít người ỷ thế, cậy quyền lập mưu đấu với giá rẻ còn hơn cho. Quyền lợi nầy bây giờ vào tay một vài người. 

Làng có một con đường liên hương lộ nối từ cữa Tùng qua Cát Sơn,Thủy Ban,Thủy Khê, Cẩm Phổ, An Mỹ, Nhĩ Thượng, Nhỉ Trung, Nhỉ Hạ, Lâm xuân…Cửa Việt. Một con đường chính ngang qua làng từ Phường Mới ( thôn 9) đến làng qua Cầu sắt (trước đây là cầu tay vựơn, bây giờ chận sông hẹp lại đúc máng cho nước chảy dưới người đi trên đến Phước Thị, Lại An…lên Hà Thượng, Quốc lộ 1. Ruộng, vườn, nhà có khoảng 350 mẫu ta, ruộng có chỗ hai vụ lúa, có chỗ một vụ lúa, một vụ khoai hay bỏ hoang cho trâu bò ăn vì mùa hè không có nước. Sau năm 1975, có đập “Ông Búp” dẫn nước về nên tất cả ruộng đều làm hai vụ. Thế nhưng ruộng ít, người đông, hơn nữa ruộng đa phần canh tác bằng thủ công, chia ra nhỏ lẻ nên khó bề phát triển. Dân trong làng đã đi vào Nam, Tây nguyên lập nghiệp hơn nữa, người ở lại bám đất giữ làng không còn nhiều nhưng không còn đủ đất làm nhà, phải lên bớt vùng trung du một ít. Số thanh niên còn lại cũng tìm vào thành phố làm công nhân kiếm sống, trong làng bây giờ còn lại một số lao động già, ông già, bà lão và trẻ em.

Trước năm 1970, ít có người cho con cái đi học. Con phải giúp cha mẹ trong công việc đồng áng, chăn trâu, giữ bò hoặc gia đình nghèo không thể đi học được, không đủ điều kiện đi học gần nói chi chuyện đi học xa. Hơn nữa, chiến tranh Pháp mới kết thúc thì nội chiến, người dân đói khổ. Số người đi học đếm được đầu ngón tay. Những người thức thời cố vươn lên thì ít mà an phận thì nhiều, có cố gắng hoặc may mắn lắm thì mới học xong bậc tiểu học là tốt rồi. Ngày trước, những nhà giàu cũng có mời các thầy đồ về nhà dạy cho con cái họ học chữ Nho, cốt để sử dụng đọc văn tế trong các buổi lễ cúng tế của làng. Chữ quốc ngữ chỉ học xóa mù chữ như phong trào “bình dân học vụ” mà thôi. Ban ngày đi làm, đi chăn trâu bò đêm về mỗi người một cái đèn dầu lửa, một vài quyển vở, cây viết nhúng mực do vài người trong làng mới biết đọc, biết viết truyền lại cho. Sau này, khi chiến tranh kết thúc, người ta mới ý thức được sự quan trọng của văn hóa, kiến thức trong đời sống hàng ngày mới đầu tư cho con cái học hành. Làng hiện thời có vài ba ông tiến sĩ; thạc sĩ năm bảy người; bác sĩ, kỹ sư, cử nhân cũng nhiều rồi.


 Xin nói thêm một chút về chuyện học hành làng tôi . Năm 1955, xã Gio Mỹ có một trường, được ba lớp, đó là trường Diêm Hà Trung. Diêm Hà Trung là một làng ven biển của xã, không có học sinh học nên chuyển về làng Nhỉ Thượng, không có lớp nhì, lớp nhất. Làng tôi đi học được khoảng 10 người, đa số con nhà khá giả. Năm ấy tôi đã 11 tuổi, vì gia đình quá khó khăn nên chưa được đi học. Năm sau, 1956, tôi ghi tên vào học lóp ba, vì tôi đã có học Bình dân học vụ, đã biết đọc, biết viết, biết làm toán cộng trừ. Lên lớp nhì, làng tôi gồm sáu bạn và tôi phải xin qua học Trường Tiểu Học Gia Môn,Thầy Nguyễn Đức Đích (ở làng Lễ Môn) làm Hiệu trưởng, Thầy Nguyễn Kim Đính (ở làng Lan Đình) dạy lớp Nhì; lên lớp Nhất, Thầy Đoàn Văn Quả dạy. Đến khi thi Tiểu học, làng tôi đi thi bảy người, mặc dù cả bảy đều học rất khá, thường chiếm vị trí từ thứ nhất đến thứ bảy nhưng bị hỏng một. Còn sáu người thi vào lớp Đệ thất Trường Trung Học Gio Linh, lần nầy hỏng năm, chỉ đậu được một.Tôi là người đậu, được vào lớp Đệ thất năm 1960 – 1961, Nguyễn Hửu Tỷ đậu đầu, Nguyễn Út đậu thứ hai, tôi và Trần Lương Tứ đậu thứ ba trên sáu mươi học sinh, là thế hệ thứ hai của Trường Trung Học Gio Linh. Cho đến thời điểm nầy, làng tôi mới có ba người học trung học. Anh Mai Văn Cẩn đậu Tú tài ll năm 1959, anh Dương Bá Cẩm học lớp Đệ tứ trường Bán công Gio Linh và tôi mới vào lớp Đệ thất. Bốn năm học tại Trường Trung Học Gio Linh, Thầy Nguyễn Bảo luôn là người Thầy theo sát lớp tôi, thầy vừa dạy toán vừa cố vấn lớp. Thầy được học sinh yêu mến và kính trọng nhất. Thế rồi bốn năm học trôi qua, tôi thi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp hạng Bình thứ, tôi chọn ban B ,vào học Trường Trung Học Nguyễn Hoàng Quãng Trị, sinh ngữ chính là Anh văn, nhà trường sắp tôi vào học lớp B4 cùng với Nguyễn Út, Nguyễn Hửu Tỷ, Nguyễn Thừa Trương Thỉu ở Gio Linh, Nguyễn Thắng, Nguyễn Đăng Chương Dương, Nguyễn Đăng Yên Trúc, Trần Xuân Trường ở Quãng Trị, Đặng Bá Sô, Đặng Bá Khoái ở Cu Hoan Hải Lăng. Các bạn nầy học rất giỏi, Thầy Phan Khắc Đồ dạy toán rất hay.Thế hệ sau tôi, học sinh làng tôi vào học Trường Trung Học Nguyễn Hoàng có : Mai Văn Đạm, Mai Văn Thi, Mai Chức, Dương Bá Lữ, Dương Thành, Dương Thức… còn lại sau nầy tôi không nhớ hết. Số học sinh được đi học là do gia đình khá giả về kinh tế hoặc cha mẹ thức thời cố gắng lắm mới được. Ba tôi rất thông Nho học. Ông cũng thức thời, rất thao thức về việc học hành của con cái nhưng gặp lúc thời vận sa sút tôi đành thất học bốn năm năm. Làng tôi có một hội gọi là Văn hội, thờ Ông Khổng Tử, làng có dành cho hội năm sào ruộng để lo việc cúng tế. Có khoảng mười hội viên, ai thông Nho học hoặc đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp trở lên mới được vào hội .Tôi cũng được vào hội. 
Trong làng có năm cái giếng cỗ rất sâu, xây bằng đá tổ ong, vuông, rộng chừng một mét sâu khoảng hai ba chục mét. Các giếng nầy đào từ lúc nào không ai biết, nó không nằm trong khu dân cư mà rải rác ngoài đồng, chỗ những cồn đất, cũng không phải để lấy nước xài. Các cụ xưa bảo rằng vùng này có long mạch nên các thầy Địa lý của Tàu họ âm thầm đào giếng để đoạn đứt long mạch không cho trong làng phát tướng, phát quan được. Trong thời Nhà Nguyễn, làng cũng có người làm quan lớn trong triều, cũng có người làm tướng có sắc phong của vua ban thờ ở miếu Thần hoàng.

Đặc biệt làng tôi có giữ được một trò chơi từ xưa truyền lại mang bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc mà có lẻ vùng Gio linh không nơi nào có được. Nghe nói ở làng Kim Long huyện Hải Lăng cũng có trò chơi nầy nhưng không biết bây giờ còn không. Trò chơi “đánh cù”. Những hòn cù (hòn cầu) to bằng quả bưởi, nặng khoảng từ 2 đến 2,5kg, tròn, làm bằng gốc cây chuối. Mỗi năm tổ chức chơi một lần vào dịp đầu năm âm lịch, sau khi ăn tết Nguyên đán xong, khoảng ngày mồng 7 tháng giêng. Mục đích của trò chơi là gia tăng tinh thần đoàn kết, thương yêu nhau, cầu mưa thuận, gió hòa, được mùa…Trò chơi không biết có từ lúc nào, khi lớn lên tôi đã thấy rồi cho đến bây giờ vẫn còn (trừ những năm chiến tranh ác liệt làng phải tản cư đi nơi khác). Tết năm 2008, đài truyền hình VTV có về làng tôi quay phim, ghi hình phát trên sóng VTV1 lúc 19 giờ.

Làng có tất cả sáu họ tộc, họ Hoàng đến trước là tiền khai khẩn, đến họ Dương – họ đông nhất làng – đến họ Trương, họ Mai, họ Trần, họ Nguyễn (hai họ Trần, Nguyễn ít người nhất). Tất cả sống với nhau rất hòa thuận, đoàn kết. Mỗi họ đều có nhà thờ họ; làng có đủ đình, chùa, miếu…, chỉ có một tôn giáo độc nhất là Phật giáo.

Về ẩm thực, vào tháng hai, tháng ba âm lịch, khi lúa vụ chiêm sắp trổ đồng, có một loại cá nhỏ sinh sống ở giữa ruộng lúa, loại cá ruộng cạn nầy con lớn nhất bằng đầu mút lớn đũa; con nhỏ nhất nhỏ hơn que tăm, dài từ 1,5 đến 3 cm gọi là cá mủ hay cá bống mủ. Còn sống trong nước có màu xám như đất, khi bắt lên khỏi nước vài phút thì chuyển sang màu đen đen. Người ta dùng một dụng cụ để đánh bắt gọi là cái “dẹp” hay cái “đó”, bện bằng tre với dây “dôốc”(loại cây leo có rễ phụ thòng xuống rất dai). Cái dẹp có một cái mợng hay cái hom để cá vào nhưng không ra được. Khi nước sắp cạn ở ruộng, người ta khơi một rảnh cho nước mát từ đám ruộng trên chảy vào ruộng cạn nước đó. Cá mủ ở ruộng nầy đều tìm nước mát đi ngược lên, người ta đơm ngay cái “đó” ở trên dòng, cá đi lên sẽ vào hết trong cái “đó” đó cả. Sáng sớm đem “đó” ra đơm, khoảng 8 giờ, gió nam lào thổi nhẹ, cá bắt đầu đi lên, người ta đem rổ ra lấy “đó” lên đổ cá vào rổ rồi đặt “đó” lại chỗ cũ. Buổi sáng đổ cá hai lần, đến trưa gió mạnh, nắng, nước nóng cá đi trốn không lên nữa, người ta ngăn nước lại đem dụng cụ đánh bắt về ngày mai đơm tiếp. Một cái “đó” mỗi ngày đem ra đơm đổ được chừng 100gram cá, nhưng chục cái được chừng 1kg thế là nhiều lắm rồi. Cá mủ đơm ngược nước thế này không có rác bẩn, rất sạch sẽ người ta chà rửa sạch độ 200gram đem xào với nước mắm cho cá chín tới xong, đổ thêm vào nồi 1,5 hoặc 2 tô nước (tùy theo ăn ít hay nhiều người) đun cho sôi lên. Bầu tươi non đang ở ngoài dàn, ra cắt môt trái nhỏ độ 1kg hoặc cắt ngang một nửa trái lớn hơn, nửa còn lại cho thỏng dưới dàn cho lớn thêm, ngày mai cắt tiếp. Bầu gọt vỏ rửa sạch, để đứng, băm dọc xuống nhiều nhát dao rồi xắt ngang từng lát mỏng chừng hai ly. Khi nước trên nồi sôi, đổ bầu vào, lấy môi hay vá đảo qua đảo lại vài lần rồi bắc xuống ngay, nêm vào một tý bột ngọt, một muỗng cà phê muối, ném củ giả nhỏ với trái ớt mọi xanh (ở ngoài vườn lấy vào), đảo đều, múc ra tô còn bốc khói đứng cách vài chục mét mùi thơm của món canh nầy xông vào mũi thì chắc rằng không ai mà không thích. Mùi thơm và khẩu vị của nó khó diển tả được. Khỏi nói. Ngon tuyệt ! Món ăn nầy bây giờ không còn nữa, cái gì cũng có nhưng vật liệu chủ yếu: cá mủ không còn vì ruộng bón vôi, phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc nổ bom đạn…đã làm tiệt chủng loại cá mủ ruộng cạn nầy rồi. Tiếc thay ! Món ăn đặc trưng không còn, hồi tưởng lại mà thấy thèm. Một món ăn tự tạo hoàn toàn không độc hại, không tốn tiền kể cả nước mắm cũng tự làm lấy (bằng loại cá mủ nầy), khỏi cần bột ngọt, thay vào đó, người ta nêm một chút ruốc ngon là được rồi. Ai đã một lần ăn thì nhớ mãi. 


Theo đà tiến triển của xã hội và khoa học, nghề nông cũng phải thay đổi cách canh tác, sản xuất, phải cơ giới hóa, công nghệ hóa, công nghiệp hóa. Để bớt tốn công sức, bớt tốn tiền, năng suất cao thì phải mất đi một cái gì đó. Đó là điều không sao tránh khỏi. Mặc dù về mọi mặt, làng tôi không có gì nổi trội cả nhưng có một điều đáng trân trọng là người dân làng tôi có một nếp sống giản dị, tính tình chất phác, thật thà, hiền lành, luôn luôn đối xử với nhau rất chân tình, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Nhà nào có đám đình, cúng giỗ là hàng xóm đến giúp đỡ không nề hà, tính toán thiệt hơn. Nhà có lon nếp, biếu lon nếp, có quả trứng, biếu quả trứng, có con gá, con vịt, biếu con gà con vịt. Họ xem nhau như ruột thịt. Luôn tuân thủ pháp luật, không bao giờ con dân làm điều gì mang tiếng xấu ảnh hưởng đến danh dự của làng. Thuần phong mỹ tục được giữ gìn cẩn thận. Người dân luôn tin tưởng một điều gì đó. Họ nghĩ rằng bất cứ một việc làm gì dù tốt hay xấu đều có ảnh hưởng đến nếp sống hiền hòa của họ. Ai đã từng sinh ra, lớn lên trên quê hương của mình, đã từng một lần xa quê hương mới cảm thấy tình yêu quê hương nó đậm đà tha thiết biết bao. Những người cùng quê hương đi xa khi gặp nhau đâu đó ở quê người thường hay kể lại cho nhau nghe về những kỷ niệm tuổi thơ, ôn lại những gì thời trai trẻ mình có được ở quê hương mình. Quê hương, ở đó có rất nhiều, rất nhiều thứ, rất nhiều điều không sao nói hết được. “Quê hương, nếu ai không nhớ sẽ không lớn nỗi thành người”. Dù ở đâu, chân trời góc biển nào càng xa ngái thì tình quê lại càng dạt dào, tha thiết hơn, khi nhắc đến Quê hương không ai mà không ngậm ngùi xúc động…cảm thương.
15.8.2009
Hoàng Kim Liên
READ MORE - HOÀNG KIM LIÊN – LÀNG AN MỸ CỦA TÔI

Sunday, August 21, 2011

NGUYỄN KHIÊM - NƠI ẤY CÁNH ĐỒNG THƠM RƠM


Nếu ai hỏi trong những mùi hương tôi thích mùi gì? Tôi sẽ trả lời không đắn đo là mùi… rơm.
Quê tôi nằm trên một cù lao bao bọc bởi hai dòng sông, hai dòng sông mang trong mình văn hóa và lịch sử: sông Thạch Hãn và sông Hiếu. Nghề làm nông ở đâu cũng có những nỗi vất vả, cơ cực khác nhau mà cơ cực để đủ ăn, đủ mặc thì chẳng nói làm chi, còn quê tôi luôn thiếu đói vì ruộng chỉ làm được một vụ, đến mùa nước lợ không làm gì được, ruộng chuyển qua trồng rau, đậu, cà…
Trong ký ức tuổi thơ của một đứa trẻ, nhà tôi ở cuối làng, nằm sát bên cánh đồng, trước mặt là dòng sông trong xanh. Tôi thường được mẹ đưa đi đồng, cánh đồng lúa chín vàng thơm sữa đến kỳ lạ, men theo bờ đê cỏ xanh rì còn đẫm ướt giọt sương đêm, tôi thả dép đi chân, bàn chân mát rượi, gió từ ngoài sông thổi vào tạo nên những lớp sóng lúa trên cánh đồng.
Mẹ bảo: “Hạt lúa chắc thì quả trĩu xuống, hạt lúa lép thì ngẩng lên trời”, tôi mong sao cả cánh đồng lúa đều trĩu xuống. Còn bà tôi thường bảo hạt lúa phải một nắng hai sương, từ gieo cấy đến trổ bông, gặt rồi phơi là một quá trình đầy mồ hôi và nước mắt.
Nước mắt của bà con nhà nông là khi lúa chín vàng trên đồng, bội thu mà chưa kịp gặt, nước về ngập úng dài ngày, hạt nảy mầm, hạt theo nước cuốn đi; là lúc hạt lúa đã đưa về nhà, lụt cao nước dâng, không có chỗ cất giữ cũng bị ướt... Nói chung có trăm ngàn thứ khổ mà tạo hóa đã cày xới trên lưng người nông dân.
Cho nên mỗi lúc ăn cơm khi tôi vụng về để rơi vương vãi, mẹ thường nhặt lên để cho mèo, chó chứ không được bỏ đi. Còn bà mỗi lần dỗ em tôi ngủ thường ru: “Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”...
Nghe bà kể ba mẹ lấy nhau cũng nhờ những lần đi tát nước, đi làm cỏ dại. Khi đất nước thống nhất ba trở về quê, ruộng đồng bị quân giặc cày xới, cái đói cái khổ ập đến từng nhà nhưng ai cũng phấn khởi ra sức sản xuất vì đã chiến thắng kẻ thù!
"Lớn lên tôi đi học và công tác xa, mỗi lần về làng tôi chọn đúng mùa gặt.
Mùi thơm của rơm làm sống dậy tuổi thơ ngày nào, tôi dạo chơi trên cánh đồng chỉ còn lại rạ, lại thấy những đàn cò, đàn vịt đi tìm những hạt lúa sót! Rồi được bà nhóm bếp bằng lửa rơm để nướng củ khoai, củ sắn, mùi khói cay mắt, xanh lam trên nền trời bình yên".
Cũng như những người dân trong làng, tay ba vẫn cày, cuốc thật dẻo sau những năm cầm súng, ba gặp mẹ trên đồng đầy rẫy những hố bom sâu, dường như hai người tìm thấy mùi thơm của quê hương, mùi thơm của rơm rạ trong những giọt mồ hôi. Những hình ảnh để cuối cùng có được hạt lúa, hạt cơm sẽ theo họ đi suốt cuộc đời…
Lớn lên tôi đi học và công tác xa, mỗi lần về làng tôi chọn đúng mùa gặt.
Mùi thơm của rơm làm sống dậy tuổi thơ ngày nào, tôi dạo chơi trên cánh đồng chỉ còn lại rạ, lại thấy những đàn cò, đàn vịt đi tìm những hạt lúa sót! Rồi được bà nhóm bếp bằng lửa rơm để nướng củ khoai, củ sắn, mùi khói cay mắt, xanh lam trên nền trời bình yên".
Tôi thích đi trên những cánh đồng đã gặt xong, chợt thấy mình thanh thản đến lạ lùng và rêu rao câu hát của Trịnh “đời sao yên vắng, như đồng lúa gặt xong”. Rồi từng đàn vịt đi tìm những hạt lúa sót trên cánh đồng thơm rơm, như chui rúc tìm kiếm từng hạt ngọc không thể đánh rơi được kết tinh từ mồ hôi, nước mắt!
Khi mùa gặt đã xong, rơm được trải dài và phơi trên những con đường làng, những đứa trẻ tinh nghịch lăn dài, rúc mình vào hương rơm dù tối về thấy xót nhưng đứa nào cũng muốn. Rơm được chất thành từng đống để đưa về nhà nhóm lửa, phần còn lại để trên đồng gần đến mùa gieo lại thì đốt làm phân nuôi dưỡng những mầm non mới!
Lớn lên tôi đi học và công tác xa, mỗi lần về làng tôi chọn đúng mùa gặt. Mùi thơm của rơm làm sống dậy tuổi thơ ngày nào, tôi dạo chơi trên cánh đồng chỉ còn lại rạ, lại thấy những đàn cò, đàn vịt đi tìm những hạt lúa sót! Rồi được bà nhóm bếp bằng lửa rơm để nướng củ khoai, củ sắn, mùi khói cay mắt, xanh lam trên nền trời bình yên.
Để rồi theo chuyến đò ngang tôi qua sông về lại thành phố, mang theo mùi thơm của rơm, của rạ, của đôi mắt mẹ, bàn tay bà… Và đến mỗi khi nằm ốm li bì hoặc những lúc cuộc đời sóng gió, nhớ về nơi ấy có cánh đồng thơm rơm.
Nguyễn Khiêm
READ MORE - NGUYỄN KHIÊM - NƠI ẤY CÁNH ĐỒNG THƠM RƠM

Saturday, August 20, 2011

HOÀNG VĂN CHẨM - MỘT TÔI, MỘT EM, MỘT MÙA THU



Miệt mài nỗi nhớ bao lần
Xuôi theo mùa lá mới gần lại nhau
Thu về
Tóc rối nghe đau
Chút thương ở lại
Giữa màu mắt phai.
Thu về
Con nước chia hai
Nghiêng tay xô đẩy
Hình hài khuất xa.
Nợ nần trả giữa phôi pha
Ngỡ ngàng chăn chiếu người qua ngập lòng.
Nửa mùa thu chết bên sông
Nửa mùa thu ở lại cùng ban sơ.

08 tháng 08-2011
READ MORE - HOÀNG VĂN CHẨM - MỘT TÔI, MỘT EM, MỘT MÙA THU

Friday, August 19, 2011

MAI THANH TỊNH - TÌM THU XƯA



Tôi tìm mảnh thu xưa

Chơi vơi vết ngậm ngùi
Dán lên mùa thu mới

Hoen úa rũ không lời

Gió cũ về thoảng vội
Nắng già nhăn nheo phơi

Mưa xưa lăn bối rối

Lá nhớ gì chơi vơi

Lơ thơ mành rẻo lạnh

Chút xanh trời ởm ơ

Èo uột nắm mây thừa
Thoảng hồn giấc thu cũ

Thêm một mùa thu nữa

Thêm một mùa em xa

Một mùa tôi thay lá

Hạt tình chẳng phôi pha.


8/2008


MTT
READ MORE - MAI THANH TỊNH - TÌM THU XƯA

Wednesday, August 17, 2011

TRƯƠNG LAN ANH - THU SANG



( Gửi em Như Mai)
Mùa thu đã về trên dòng sông quê xanh thắm
Ở bên kia em có biết không?
Sông mỗi mai khẽ khàng chao sóng
Một thoáng mơ màng sương dăng dăng!

Hàng cau vườn mẹ như thầm đứng lặng
Cất quạt mùa sau đợi gió Tây về,
Cây bưởi ru đàn con trĩu cánh
Quả na xanh mở mắt đón thu sang!

Chuyến đò cuối chở mùa hạ đi ngang
Tiếng chim cuốc đã vắng teo gọi bạn,
Mưa ngâu về sông dềnh dàng xuôi chảy
Mang theo cánh lục bình trôi trôi!
Mùa thu đã về đó em ơi
Dịu dàng nàng thu đang may áo mới
Chiếc áo vàng lộng lẫy mùa trẫy hội
Cho đẩt trời xúng xính thu sang!
17/8/2011
READ MORE - TRƯƠNG LAN ANH - THU SANG

PHẠM NGỌC THÁI - CHÙM THƠ MÙA THU


Sau rằm tháng bảy, không khí bắt đầu dịu xuống, bầu trời đầy mây và lác đác có những cơn mưa. Đó là dấu hiệu đất trời đang vào thu, mùa tựu trường cũng là mùa của thi ca. VNQT dự định dành một tuần cho chủ đề mùa thu.

Nói đến mùa thu thì nhiều người liên tưởng đến Hà Nội với “cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ, nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thơm nâu”. Đó là mùa thu trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, một người không phải dân Hà Nội.

Có một người sống giữa lòng Hà Nội, là dân Hà Nội chính hiệu, yêu mùa thu nồng nàn và cũng yêu không khí văn nghệ trên trang Blog của chúng ta, từ lâu là độc giả thường xuyên mặc dù anh không là người Quảng Trị. Đó là Phạm Ngọc Thái, người tự nhận là một “nhà thơ tự do”. Anh đã có nhiều thơ và bài bình luận được đăng trên các báo trung ương và địa phương. Các tập thơ của anh đã xuất bản: Có Một Khoàng Trời (NXB Hà Nội, 1990), Người Đàn Bà Trắng (NXB Thanh Niên, 1944) và Rung Động Trái Tim (NXB Thanh Niên, 2009)

Chúng ta xin nhường anh bắt đầu tuần chủ đề về mùa thu bằng chùm thơ do chính tác giả gởi tặng VNQT.



ĐÊM THU PHỐ VẮNG

Đêm phố vắng anh đi hay là em không ngủ?

Thu đến rồi lay động trái tim...

Xào xạc lá, anh nghe, xào xạc lá

Thăm thẳm bóng hình em trong đêm.

Anh dẫn em con đường xưa cũ

Một thời nào từng in dấu chân thon

Trước tình yêu ta hoá thành đứa trẻ

Dẫu mái tóc anh giờ đã hoa sương.

Anh sẽ viết cho ai bài thơ đêm thu vắng?

Tiếng trong khuya em gọi vọng rất xa!

Trên thảm lá lòng ta say đắm

Tha thiết ôm em vì không muốn đêm qua.

Ôi, bài thơ cứ theo anh lang thang trong phố

Kí ức hồi sinh về với tuổi xuân xưa

Em lại ru êm như thưở trẻ

Tấm thân mềm đưa anh vào bến mộng mơ...

Phạm Ngọc Thái

2007



KÝ ỨC MÙA THU

Mùa thu khuấy lên bao kí ức

Xác thời gian trôi trên tóc em

Em đi trong trăng mùa thu thổi gió

Lá vàng rơi mênh mông

Em đi qua mùa thu không gian

Trăng mặc đồi con gái

Nhớ đến lâu cái hương con gái

Nó thơm say và rất nhẹ nhàng.

Đường dạo ấy trên đồi trăng sáng

Đêm chia tay em dúi cả vào anh

Để bóng lạc suốt đêm ngoài phố

Mây lãng phiêu mãi không về.

Giờ đây chắc trên đồi thông đó

Gió vu vi và trăng vu vơ

Em đi trong trăng mùa thu thổi gió

Mùa thu lang thang chẳng bến bờ...

1992



SÁNG THU VÀNG

Gặp lại em một sáng thu vàng

Nơi em đứng nắng tràn ngoài phố

Với trời xanh hồ xanh gió

Gió đưa làn tóc em bay...

Kỉ niệm Bích Đào

Gặp lại em sáng đó bên hồ gió

Sáng thu này trĩu cả hàng cây

Đô thành dịu mát,

Ông lão ngồi bên gốc cây

Bán những cây sáo trúc thổi vói lên trời

Bà xúc tép váy khều khào nước…

Một thời xa lắc

Em nghiêng chao về một thời xa.

Người con gái đã thành chính quả!

(phảng phất trên đầu đôi nét phôi pha)

Đôi mắt em bóng trúc bay xoà...

Đường phúc hậu vầng trăng đầy nở...

Nghe không gian đổ vỡ cả mùa thu!

Sáng thu vàng mông mênh mênh mông

Anh đứng trông em bên bờ sóng vỗ

Hồn đã mất trong rừng hoang thiếu nữ

Và trái tim cũng không còn.

Sáng thu vàng xang xênh xênh xang

Những con đường xưa tắm hơi em

Môi em cười...hoa lá nát đau thêm

Thời gian trôi cuộc sống buồn tênh

Một mùa thu lá lá

Nơi ấy giờ chỉ còn có cỏ

Bướm vàng hoa cũ vẫn bay ngang

Người đàn bà, em nuốt mùa thu tan...

Phạm Ngọc Thái

1995




PHỐ THU VÀ ÁO TRẮNG

Tà áo trắng em đi qua phố
Mùa thu rơi phủ mắt anh
Tà áo trắng của người sinh nữ
Anh nhìn xác phượng khóc rưng rưng.

Chỉ còn lại con tim rớm đỏ
Áo quệt vào máu rỏ hai tay…
Ôi, mùa thu mùa thu êm ả
Sao lòng anh tơi tả thế này?

Tà áo trắng trôi dưới dòng mây bạc
Lang thang vài cánh bướm bơ vơ,
Áo trắng in ngang trời - sét đánh!
Lưỡi dao nào cào nát tim thu?

Anh cũng có một thời bên áo trắng
Cũng bế bồng và cũng đã ru em!
Cái thời ấy chìm vào xa vắng
Phút gặp lòng đâu hết ngổn ngang.

Thêm một mùa thu, một mùa thu vỡ
Câu thơ nẩy những bông hoa buồn
Thôi, đừng hát để ướt lòng trinh nữ
Em đi rồi! Anh chết cả mùa đông.


9/1994

READ MORE - PHẠM NGỌC THÁI - CHÙM THƠ MÙA THU

Tuesday, August 16, 2011

ĐÌNH THU - SÔNG HIẾU


“Nỗi đau lớn nhất của một đời người là sống tha hương”
Cũng là sông
Sao sông chảy vào hồn
Tôi làm hành trang
Mang theo cuộc hành trình lưu lạc
Những lúc nhớ
Úp mặt vào uống cạn
Tay bụm tròn
Nghe khát
Một mùi quê
Cũng là sông
Sao sông nặng nghiã tình
Để khi khóc
Ta quay về tạ lỗi
Bờ đất lở
Bao lần ta sám hối
Chưa một lần
Về !!!
Níu kịp phía sông trôi…

ĐT
READ MORE - ĐÌNH THU - SÔNG HIẾU

VĂN KẾ THẾ - NGÀY EM ĐI




Em ra đi nên lòng anh biển vắng
Nổi buồn phiền vàng võ cả trăng sao
Đêm quá dài mà ngày thì rất ngắn
Này em đời thực hay chiêm bao ?

Rồi không biết đến ngày nào lành lặn?
Mỗi ngày qua sẽ là một ngày vui
Một ngày qua sẽ tiếc ngày quá ngắn
Thời gian ơi xin trả lại em tôi

Nếu trái đất quay chậm đi một tí !
Ta có thêm triệu phút triệu giờ
Tình yêu sẽ nhân lên tỉ tỉ
Sẽ không cần anh tha thiết làm thơ.

VKT
READ MORE - VĂN KẾ THẾ - NGÀY EM ĐI

Sunday, August 14, 2011

NGUYỄN KHIÊM - NGỌT BÙI Ở ĐẤT CÙ LAO


Dải đất gió Lào cát trắng Quảng Trị nghèo lắm. Cái nghèo đeo đẳng từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nhà nông. Thế nên, dường như trong sân nhà nào cũng hiển hiện củ khoai, củ sắn. Tôi nhớ về ngôi làng nơi tôi sống ở cù lao Bắc Phước bao quanh bởi con sông Thạch Hãn, đất chật người đông, ruộng chỉ trồng được một mùa lúa, những mùa sau nhất định trồng khoai hay đậu mới sống nổi. Do bao quanh là nước lợ nên việc trồng lúa trồng, màu chỉ… nhờ trời. Năm nào mưa nhiều thì có ăn, còn không thì đói nên việc ăn khoai, sắn thay cơm hay nầu cơm độn thêm khoai thêm sắn là chuyện bình thường.
Đến mùa khoai, nhà nhà chất thành từng đống. Mẹ tôi thường gánh khoai vượt hơn 10 cây số lên chợ tỉnh bán đổi gạo, thức ăn. Mỗi buổi sáng thức dậy “điểm tâm” bằng vài củ khoai chấm muối ớt, đến chiều sau khi rời khỏi lớp học về nhà cũng lót dạ bằng củ khoai. Những đêm học bài khuya, để “ấm lòng” cũng ăn một củ khoai nướng lúc chiều vùi trong lửa rơm còn nóng hổi. Khoai mẹ đem chợ bán không hết, một số nảy mầm nằm lăn lóc dưới nền nhà, số còn lại được mẹ đem luộc, để nguội sau đó bóc vỏ rồi thái mỏng, phơi nắng để làm kẹo. Nói là khoai kẹo chứ có tý đường nào đâu. Khoai phơi được nắng khô lại, cùng với lượng đường ít ỏi trong đó được gọi là kẹo khoai. Người dân quê tôi thường gọi thứ này là khoai luộc, muốn làm khoai luộc thật mềm và dẻo thì cần chọn loại khoai nghệ, bổ ra trong ruột có màu vàng, ngoài ra phải phơi cho được nắng thì lát khoai mới cứng lại, khi để lâu thì rất dẻo. Để cất trữ khoai luộc, bà con quê tôi thường cho vào thùng, vại lót dưới một lớp rơm sau đó cho khoai vào rồi đậy trên một lớp rơm nữa là có thể giữ khoai rất lâu mà không bị mốc hay chảy nước.
Những ngày mưa dầm, nước lũ về, nông dân gác cuốc nhìn mưa mà mong về một ngày lúa được mùa để thoát khỏi cái đói trong khi đó trẻ con thì được bố mẹ cho một nắm khoai luộc ngồi nhai! Hồi đó đám trẻ chúng tôi làm gì biết đến kẹo, mỗi lần thèm đồ ngọt thì đòi mẹ lấy khoai ăn, khoai luộc ngọt ngào và rất dai. Ăn mỏi cả miệng mà vẫn không biết chán. Riêng ngoại thì răng yếu, cái còn cái mất nên việc nhai khoai luộc là điều rất khó. Thế nên để làm món khoai luộc thật mềm cho bà ngoại, mẹ tôi thường bỏ một dúm khoai luộc vào hấp sau khi nồi cơm chín. Ăn khoai luộc hấp thì rất mềm nhưng không dai.
Giờ đây mỗi lần về quê chạp mộ hay đám giỗ, tôi thường ghé tìm mua một đùm khoai luộc làm quà cho những người bạn cùng trang lứa như tìm về một kỷ niệm ở làng quê đất mặn nước phèn. Đó là một món ngon trong ký ức đầy trẻ con của tôi khi nhớ về vùng đất này.
Bài và ảnh của Yên Mã Sơn - Nguyễn Khiêm
Nguồn: qdnd.vn
READ MORE - NGUYỄN KHIÊM - NGỌT BÙI Ở ĐẤT CÙ LAO

Saturday, August 13, 2011

ĐỘC HÀNH - NHỚ QUÊ XƯA


Người Quảng Trị xa quê thường gởi gắm tình hoài hương qua vần điệu. Gần đây, trang VNQT nhận được khá nhiều thơ văn của bà con đồng hương từ khắp mọi miền đất nước. Chúng tôi xin giới thiệu một bài thơ của Độc Hành, có lẻ là sáng tác đầu tay của anh.

NHỚ QUÊ XƯA
Tác giả: Độc Hành
Quê hương tôi là nơi Quảng Trị
Nhớ tuổi thơ đuổi bướm quanh Thành
Mỗi đêm qua – ngày lên nắng mới
Tay ôm cặp – mắt ngắm trời xanh.
Nơi đất khách quê người xứ lạ
Nhớ dòng sông tắm mát một thời
Nhớ Cầu Ga – Nguyễn Hoàng trường cũ
Khi chiều buồn gió thổi vi vu
Cô bé Nguyễn Hoàng nay bà "tú"*
Bước vào thuyền sóng vỗ lung lay
Lửa chiến vào máu tràn đất đỏ
Phu quân – bà yên giấc ngủ say
Tôi sẽ hứa một ngày trở lại
Khi xuân về muôn nẽo nở hoa
Hành trang của kẻ ở phương xa
Gói tém trọn chữ “tình, hiếu, thảo”
Kỷ niệm xưa khắc sâu vào não
Sóng ra khơi sóng sẽ vào bờ
Bến cũ là nơi thuyền nương tựa
Cội đa mất chim ngủ bơ vơ…
READ MORE - ĐỘC HÀNH - NHỚ QUÊ XƯA

VÕ LÀNG TRÂM - CHÙM THƠ


VÕ LÀNG TRÂM là bút hiệu của VÕ MẸO, sinh năm 1950.
Nguyên quán : Trâm Lý, Hải Quy, Hải Lăng, Quảng Trị.
Học Trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị và ĐH KH Huế
Đã công tác qua các nơi :
- TP Huế từ 1975 - 1984.
- TP Nha Trang từ 1985 – 1995.
- TP Hồ Chí Minh từ 1996 - 2005.
- KS Hoá, PGĐ Cty Nhựa Nha Trang, nghỉ hưu 2006.
Hiện thường trú : 89/12 Vân Đồn , Nha Trang.
Quan điểm sáng tác : làm thơ để rèn tâm dưỡng trí, vui chơi ...
Có thơ in chung :Tuyển Tập Thơ Đường luật W. Đất Đứng.

Mobile: 0983743308 ; Email : volangtram@yahoo.com.vn.


VU LAN NH M
Bao năm người đã mt ri
Tha hương nh mãi m tôi kiếp nghèo
M đi gia bui gieo neo
Đu năm sáu mt lèo tèo xóm quê
Ngày bun t đó kéo lê
Bn mươi năm y mãi lê trong đi
Lòng bun như chiếc lá rơi
Quê nhà xa ngái rã ri làm sao !
Đi m đã kh thế nào
Con còn lm ni lao đao phn mình
Công ơn cha m dưỡng sinh
Mười hai tui nh riêng mình thân non
M đi bnh tt héo hon
Phn nào lao lc nuôi con nhc nhn
Quê nghèo thiếu thn miếng ăn
Manh áo vá víu dành phn nuôi con
Thương con người mãi chăm bòn
Đám khoai vt sn rau non ti ngày
Vì con m sng lt lay
Da người rám nng đôi tay chai sn
S con hc tp khó khăn
Nên m kh lm muôn phn m ơi !
Gi đây con tui cui đi
Nuôi con mi hiu b tri công ơn
Dy con k rõ ngun cơn
Báo hiếu công đc chng sn khó khăn
Hôm nay qua bui nhc nhn
T đường tôn to m phn sa sang
Con m danh phn r ràng
Các cháu tiến b huy hoàng m ơi !
Vu Lan báo hiếu nh đi
Hương hoa tưởng nh bên tri m tôi . . .
Vu Lan 2011
THÀNH CỔ
Q ua đây viếng bạn ngắm tường nâu
U ẩn ức chưa nguôi lắm khổ sầu !
A i đó nhẹ nhàng trên thảm cỏ
N gười nằm quạnh quẽ dưới lòng sâu
G ió đưa hương thoảng vơi đời lạnh
T rời đổ mưa phùn vẫn nhói đau
R ục rịch đó đây tìm mộ chí

I m lìm mẹ khóc chỗ con đâu ?
MỘT THỜI NHỚ MÃI
Cuối đời nhớ lại chuyện xưa
Ba sáu năm ấy như vừa hôm qua
Ai người cùng cảnh can qua
Ngậm ngùi cùng với bạn già chút nghe !
Dạo ấy vừa mới chớm hè
Bom rền đạn nổ tiếng ve xé lòng
Người người chỉ có ước mong
Nhanh chân lánh nạn để hòng thoát thân
Tớ thì chẳng nghĩ xa gần
Loanh quanh Cứu Thế * nương thân sống nhờ
Nhưng rồi cũng chạy bơ phờ
Thuận An tìm đến bến bờ “tang thương”
Bên rút chạy – bên chặn đường
Ùm oành đạn pháo tai ương đổ về
May sao số phận chẳng hề
Nhóm người sơ tán trọn bề yên thân
Ba hôm tiếng súng im dần
Tìm lên với Huế dừng chân buổi đầu
Quảng Trị giải phóng khá lâu
Tìm về quê mẹ thăm cầu Hiền Lương
Hai mươi năm cảnh đoạn trường
Nhà tan cửa nát người thương chẳng còn
Bên mồ huynh đệ héo hon
Người vừa nằm xuống cỏ non phủ dày
Từ đường gạch ngói vương đầy
Vết bom lỗ chỗ tường xây đầu hồi
Bà quen thu dọn chỗ ngồi
Bữa cơm đoàn tụ than ôi nhớ đời !

*Dòng Chúa Cứu Thế - Huế
VỀ QUÊ
Ai đã sống một thời Quảng Trị
Hay từng nghe cuộc chiến Cổ Thành
Nên tìm về thăm qua phố mới
Cho lòng mình thấy lại đời xanh . . .
Chẳng lẽ nào cố tình xa lạ
Chóng quên đi cái thuở xưa xa
Dẫu mất tên trường xưa ngày cũ
Làng quê ta nay đẹp muôn nhà !
Giờ tan trường áo trắng vờn bay
Phố thêm vui đẹp lại tháng ngày . . .
Em xinh xinh làn da rám nắng
Liếc mắt nhìn hồn rạo rực say .
Bến sông xưa bên bờ nhìn lại
Nhớ ngày xưa bãi bắp trải dài
Năm tháng cũ vẫn đầy thơ mộng
Với bạn bè khoai sắn lai rai . . .
Vì chiến cuộc đành xa xứ sở
Quặn lòng đau thuyền đã xa bờ
Chốn quê nhà tìm về thăm lại

Chuyện xa xưa gợi mãi vu vơ . . .

Võ Làng Trâm

READ MORE - VÕ LÀNG TRÂM - CHÙM THƠ